1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn sư phạm Dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 theo phương pháp đọc - hiểu

111 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 723,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với thiết kế thể nghiệm hai bài học tác phẩm văn chương hai truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu: “Bến quê” và “Chiếc thuyền ngoài xa”, người nghiên cứu đã chuyển hoá những vấn đề lý thuyết

Trang 1

Nguyễn thị ngọc diệp

Dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh châu sau 1975 theo phương pháp đọc - hiểu

Khóa luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Trang 2

T¸c gi¶ khãa luËn xin ®­îc bµy tá sù biÕt ¬n vµ göi lêi c¶m ¬n tr©n träng nhÊt tíi c¸c thÇy c«

Do n¨ng lùc nghiªn cøu cã h¹n, kho¸ luËn ch¾c ch¾n kh«ng tr¸nh khái nh÷ng thiÕu sãt RÊt mong sù chØ b¶o, gãp ý cña c¸c thÇy c« gi¸o vµ c¸c b¹n

NguyÔn ThÞ Ngäc DiÖp

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài: “Dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 theo phương pháp đọc – hiểu” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội ngày 16 tháng 5 năm 2007 Tác giả khoá luận

Nguyễn Thị Ngọc Diệp

Trang 4

Mục lục

Trang

Phần 1 Mở đầu 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9

3 Mục đích nghiên cứu 11

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

5 Giới hạn nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 12

7 Đóng góp của khoá luận 12

8 Cấu trúc khóa luận 12

Phần 2 Nội dung 13

Chương 1: Đọc – hiểu và đọc – hiểu tác phẩm văn chương 13

1.1 Đọc – hiểu là gì? 13

1.1.1 Về quan niệm “đọc – hiểu” 13

1.1.2 Đọc – hiểu tác phẩm văn chương 15

1.2 Đọc – hiểu tác phẩm văn chương và giảng văn 17

1.3 Nguyên tắc chung của việc đọc – hiểu tác phẩm văn chương 19

1.1.1 Dựa vào ngữ cảnh hẹp, bám sát văn bản, coi văn bản là yếu tố quan trọng nhất (không phải là duy nhất) để tìm hiểu tác phẩm 20

1.1.2 Ngoài ngữ cảnh hẹp, còn phải dựa vào ngữ cảnh rộng để tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của văn bản 20

1.1.3 Tiếp cận tác phẩm văn chương theo hướng tổng – phân – hợp kết hợp so sánh đồng đại với lịch đại 21

1.1.4 Gắn việc đọc – hiểu văn bản văn học với cuộc sống của bản thân 24 1.1.5 Những điều cần tránh trong việc đọc – hiểu văn bản 25

Trang 5

1.4 Các bước đọc – hiểu một văn bản văn học 25

Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 và dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ thông theo phương pháp đọc – hiểu 28

2.1 Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 28

2.1.1 Tư tưởng nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu 29

2.1.1.1 Tư tưởng nghệ thuật 29

2.1.1.2 Quan niệm nghệ thuật 32

2.1.2 Nhân vật trong sáng tác Nguyễn Minh Châu 37

2.1.2.1 Các loại nhân vật 37

2.1.2.2 Thủ pháp xây dựng nhân vật 45

2.1.3 Tình huống 49

2.1.3.1 Dạng tình huống tự nhận thức 50

2.1.3.2 Dạng tình huống tương phản 52

2.3.3.3 Dạng tình huống thắt nút 54

2.1.4 Giọng điệu 56

2.1.4.1 Giọng điệu trữ tình ấm áp 56

2.1.4.2 Giọng điệu thâm trầm, triết lý 57

2.1.4.3 Sự đan xen giữa nhiều giọng điệu 58

2.2 Dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ thông theo phương pháp đọc – hiểu 60

2.2.1 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ở nhà trường phổ thông 60

2.2.2 Định hướng dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ thông theo phương pháp đọc – hiểu 61

2.2.2.1 Tạo ấn tượng ban đầu cho người đọc thông qua việc đọc theo giọng điệu của nhà văn 61

Trang 6

2.2.2.2 Xác định tình huống trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau

1975 64

2.2.2.3 Tìm hiểu nhân vật trong sáng tác Nguyễn Minh Châu sau 1975 66

2.2.2.4 Tìm hiểu tư tưởng nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu 69

2.2.3 Các bước đọc – hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ thông 72

Chương 3: Thiết kế thể nghiệm bài học tác phẩm văn chương 89

3.1 Mục đích thiết kế 89

3.2 Định hướng 89

3.3 Nội dung thiết kế 89

Thiết kế 1: “Bến quê” 90

Thiết kế 2: “Chiếc thuyền ngoài xa” 100

Phần 3: Kết luận 108

tài liệu tham khảo 110

Trang 7

Mét sè thuËt ng÷, côm tõ ®­îc viÕt t¾t

Gd & ®t Gi¸o dôc vµ §µo t¹o

Khxh & nv Khoa häc X· héi vµ Nh©n v¨n

GS TS Gi¸o s­ TiÕn sÜ

Trang 8

Phần 1

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Theo Chương trình Trung học cơ sở (ban hành kèm theo Quyết

định số 3/ QĐ - BGD & ĐT ngày 24/1/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo), việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn được thực hiện theo quan điểm tích hợp – trong đó trọng tâm của yêu cầu dạy học phần Văn là đọc – hiểu văn bản (văn bản nghệ thuật, các văn bản nhật dụng) Lý thuyết về đọc – hiểu, đặc biệt phương pháp đọc – hiểu là vấn đề giảng dạy khoa học mới mẻ

đối với môn học Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Nó giúp học sinh thực hiện một chuỗi thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, hướng tới hiệu quả thực hành, vận dụng và kết nối kiến thức với các phần Tiếng Việt, Làm văn

Về vấn đề lý luận này, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những quan

điểm riêng của mình Tuy nhiên, những quan điểm đó hiện nay vẫn chưa được thống nhất cần được tiếp tục nghiên cứu Việc triển khai đề tài này vừa góp phần đáp ứng hoàn thiện, bổ sung về mặt lý luận vừa đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông

1.2 Sau bốn năm triển khai giảng dạy thí điểm, năm học 2006 – 2007

là năm học đầu tiên SGK Ngữ văn THPT phân ban thí điểm được đưa vào giảng dạy và học đại trà Thực tiễn dạy học này ở trường THPT đòi hỏi những nghiên cứu mới để góp phần vào việc triển khai nâng cao chất lượng dạy học SGK Ngữ văn

“Bến quê” và “Chiếc thuyền ngoài xa” là hai truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu được viết sau 1975 và lần đầu tiên được đưa vào chương trình Ngữ văn phổ thông Nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm Nguyễn Minh Châu không chỉ cung cấp cho học sinh cách thức chiếm lĩnh tác phẩm theo thể loại

Trang 9

truyện ngắn mà còn giúp các em khám phá con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn

Với đề tài này, tác giả khóa luận muốn góp phần nghiên cứu về phương pháp đọc – hiểu tác phẩm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

1.3 Là một sinh viên năm thứ tư, trong tương lai gần tác giả khóa luận

sẽ trở thành giáo viên Ngữ văn Năm học đầu tiên bước vào sự nghiệp dạy học

là năm thứ hai SGK Ngữ văn được đưa vào giảng dạy đại trà ở bậc THPT Chính vì thế, việc nghiên cứu đề tài này sẽ trang bị cho người nghiên cứu một quan điểm, một cái nhìn hệ thống khi giảng dạy SGK Ngữ văn theo phương pháp đọc – hiểu Nó có ý nghĩa quan trọng, là bước chuẩn bị để người nghiên cứu có được sự tự tin, vững vàng khi dạy học SGK Ngữ văn

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Những công trình nghiên cứu về tác phẩm Nguyễn Minh Châu sau 1975:

Nguyễn Minh Châu là một tác giả quen thuộc của nền văn học hiện đại Việt Nam Ông là một cây bút văn xuôi tiêu biểu trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Qua tác phẩm Nguyễn Minh Châu, thế giới biết đến một Việt Nam vừa dũng cảm, đau thương trong chiến đấu vừa sáng lên vẻ đẹp của lòng nhân hậu, yêu thương Nhưng có lẽ, Nguyễn Minh Châu thực sự để lại dấu ấn riêng của mình ở mảng truyện ngắn viết sau 1975 Với những tác phẩm ở thể loại quen thuộc này ông đã được xếp vào vị trí một trong những người đi tiên phong – góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới nền văn học nước nhà Những công trình nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Minh Châu sau 1975 rất phong phú, ta có thể kể đến một số công trình như sau:

- Nguyễn Minh Châu - con người và tác phẩm, Nhiều tác giả, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1991

- Nguyễn Minh Châu - tác gia và tác phẩm, Nhiều tác giả, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006

Trang 10

- Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, Tôn Phương Lan, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002

- Vẻ đẹp văn học cách mạng, Nhiều tác giả, NXB Giáo dục, Hà Nội,

và cụ thể hơn là các bước đọc – hiểu một văn bản văn học (SGK thí điểm Ngữ văn 11, Ban KHXH & NV, tập 2) Bên cạnh đó có một số công trình nghiên cứu về phương pháp đọc – hiểu trong các sách báo, tạp chí

Chúng ta có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu như sau:

- Ngữ văn 10 (nâng cao), tập 1

- Ngữ văn 10 (nâng cao), tập 2

- Ngữ văn 11 thí điểm, Ban KHXH & NV, tập 1, Bộ 2

- Ngữ văn 11 thí điểm, Ban KHXH & NV, tập 2, Bộ 2

- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên SGK Ngữ văn 12 thí điểm

- Đọc và tiếp nhận văn chương, Nguyễn Thanh Hùng, NXB Giáo dục,

Hà Nội, 2002

- Tìm hiểu chương trình và SGK THPT, Đỗ Ngọc Thống, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006

Nhưng vấn đề đọc – hiểu trên đây mới chỉ là lý thuyết Các tài liệu trên

đã chưa đưa ra được những mẫu cụ thể, chưa vận dụng lý thuyết đọc – hiểu vào một bài học cụ thể để định hướng giáo viên hiểu sâu sắc vấn đề

Trang 11

Tác giả khoá luận đã trình bày cụ thể các nguyên tắc, các bước đọc – hiểu một văn bản văn học, đồng thời kết hợp với những hiểu biết về thi pháp văn xuôi Nguyễn Minh Châu sau 1975, đưa ra định hướng đọc – hiểu truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 – vấn đề mà trước đây chưa ai đề cập tới Với thiết kế thể nghiệm hai bài học tác phẩm văn chương (hai truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu: “Bến quê” và “Chiếc thuyền ngoài xa”), người nghiên cứu đã chuyển hoá những vấn đề lý thuyết trở thành những hoạt động, việc làm tổ chức HS đọc – hiểu tác phẩm

Như vậy, với đề tài này, một mặt tác giả khoá luận kế thừa những quan

điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, mặt khác có sự vận dụng sáng tạo những quan điểm ấy để khóa luận thực sự trở thành một công cụ đắc lực, một tài liệu tham khảo khi dạy học SGK Ngữ văn, đặc biệt là đối với truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

3 Mục đích nghiên cứu:

Khoá luận tiến tới xác lập các hoạt động, các bước dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 theo phương pháp đọc – hiểu

Từ đó với đề tài này, người nghiên cứu hy vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm Nguyễn Minh Châu sau 1975 nói riêng ở nhà trường phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Người nghiên cứu phải tiến hành những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu lý thuyết đọc – hiểu văn bản văn chương

- Nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 và vận dụng phương pháp đọc – hiểu trong dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

- Thể nghiệm bài học tác phẩm Nguyễn Minh Châu ở nhà trường phổ thông

5 Giới hạn nghiên cứu:

Trang 12

- Về nội dung: chỉ nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

- Thể nghiệm dạy hai truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu trong SGK Ngữ văn THCS và THPT

7 Đóng góp của khoá luận:

Thực hiện đề tài này, người nghiên cứu mong muốn khoá luận sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện, cụ thể hoá việc dạy học tác phẩm văn chương theo phương pháp đọc – hiểu cũng như góp phần vào việc nâng cao chất lượng các giờ dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

8 Cấu trúc của khoá luận:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khoá luận gồm 3 chương:

- Chương 1: Đọc – hiểu và đọc – hiểu tác phẩm văn chương

- Chương 2: Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 và dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ thông theo phương pháp đọc – hiểu

- Chương 3: Thiết kế thể nghiệm bài học tác phẩm văn chương

Trang 13

PHầN 2 NộI DUNG Chương 1

Đọc - hiểu và đọc - hiểu tác phẩm văn chương

1.1 Đọc – hiểu là gì?

1.1.1 Về quan niệm đọc – hiểu:

Theo “Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc”, quyển “Giáo dục”: “Đọc

là một quá trình hoạt động tâm lý nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kí hiệu ngôn ngữ

được in hay viết” Xét từ mặt triết học, đọc có những nội dung sau: Một, đọc

là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất nhiên phải hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản); phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác

động qua lại giữa chủ thể và văn bản Hai, đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hóa) Ba, đọc là quá trình tiêu dùng văn hoá văn bản (hưởng thụ, giải trí, học tập) Bốn, đọc là quá trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu văn hoá và hiểu thế giới) Như thế đọc là một hoạt động văn hoá có tầm nhân loại và có ý nghĩa giáo dục sâu sắc Trước văn bản, người đọc vận dụng những kiến thức đã có cùng những gợi ý (trực tiếp và gián tiếp, hàm ngôn và hiển ngôn) trong bài học để hiểu nghĩa Đọc đòi hỏi chiều sâu mọi nội dung tư tưởng, tình cảm, cái đẹp của văn bản và có thể sử dụng văn bản vào đời sống cá nhân và xã hội Biết

đọc là biết giao tiếp với đời sống văn hoá - xã hội rộng lớn, vượt ta ngoài tầm hiểu biết trực tiếp của mỗi người và biết hưởng thụ các giá trị văn hoá kết tinh trong văn bản

Trang 14

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng: những người đọc đạt hiệu quả cao luôn

có chiến lược đọc riêng Điều này cũng có nghĩa: phải xác định mục đích rõ ràng trước khi đọc, duy trì và kiểm soát mục đích đó trong suốt quá trình đọc cho phù hợp với mỗi mục đích và nhiệm vụ của bài đọc Đọc gắn liền với hiểu Hiểu vừa là nguyên nhân vừa là mục đích của việc đọc

Hiểu là một khái niệm có nội hàm rất rộng Theo M Bakhtin, trong sách “Con người trong thế giới ngôn từ”, “hiểu” trong đọc – hiểu bao gồm nhiều hành động gắn với nhau: 1 Cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu sắc, con chữ…); 2 Nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn ngữ 3 Hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh 4 Đối thoại với ý nghĩa đó (tán thành, phản đối), trong nhận thức bao gồm cả sự đánh giá về chiều sâu và chiều rộng Bản chất tâm lý của sự hiểu là biến cái của nguời khác thành “cái vừa của mình vừa của người khác” Hiểu bao giờ cũng là tự hiểu, nghĩa là biến cái được hiểu thành kiến thức, quan điểm, niềm tin của mình Theo M Bakhtin, hiểu khác nhận thức và giải thích ở chỗ hiểu không một chiều mà mang tính đối thoại Tôi nhận ra một điều khi tôi giải thích cho anh điều đó, mời anh tham gia vào cuộc đối thoại về điều đó với tôi Hiểu trong khoa học nhân văn không chỉ có thể chính xác, mà còn phải có chiều sâu, vì ở đây không phải hiểu đồ vật, mà là hiểu con người, hiểu sự sống, do

đó ở đây hiểu có chiều sâu khác nhau Nhà thơ Nga Manđenshtam có nói:

“Pasternac là người hiểu, tôi là người rất hiểu, còn Gớt thì cái gì cũng hiểu” Hiểu là sáng tạo Nó là sự bừng sáng trong khoảnh khắc (giác ngộ, bừng ngộ) sau khi đã nghiền ngẫm, là sự phát hiện cái ý nghĩa không sẵn có giữa các dòng văn và diễn đạt bằng lời của người đọc Như thế đọc luôn gắn liền với nhiều mức độ hiểu, do vậy “hiểu” không bao giờ giản đơn chỉ là hiểu nghĩa

Có rất nhiều ý kiến xung quanh khái niệm đọc – hiểu Theo GS TS Nguyễn Thanh Hùng: “Đọc – hiểu là một hoạt động của con người Nó không phải chỉ

là hình thức nhận biết nội dung ý tưởng từ văn bản mà còn là hoạt động tâm lý

Trang 15

giàu cảm xúc có tính trực giác và khái quát trong nếm trải của con người…

Đọc hiểu mang tính chất đối diện một mình, tự lực với văn bản Nó có cái hay

là tập trung và tích đọng, lắng kết thầm lặng năng lực cá nhân Đây là hoạt

động thu nạp và toả sáng âm thầm với sức mạnh nội hoá kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử, kinh nghiệm nghệ thuật và kinh nghiệm văn hoá trong cấu trúc tinh thần cá thể” [13; Tr.26] Còn theo PGS TS Nguyễn Thái Hòa: Đọc – hiểu “là hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản” [9; Tr.4]

Đọc – hiểu, theo chúng tôi quan niệm, là đọc để nắm vững và vận dụng

được, để biết kĩ và làm tốt Đọc – hiểu chỉ chung phương thức và mục đích của việc lĩnh hội tri thức thông tin hay là một kênh lĩnh thông tin, nắm thông tin bằng đọc Bao gồm:

Đọc – hiểu tác phẩm văn chương được hiểu là đọc thẩm mĩ, không chỉ bằng nhận thức lý trí mà còn bằng con đường cảm xúc, tình cảm

Với chương trình và SGK Ngữ văn, dạy văn thực chất là dạy phương pháp đọc – hiểu tác phẩm văn chương

1.1.2 Đọc – hiểu tác phẩm văn chương:

Trang 16

Cũng như quan niệm về đọc – hiểu nói chung, có rất nhiều ý kiến xung quanh quan niệm đọc – hiểu tác phẩm văn chương GS TS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng: “Đọc – hiểu văn chương là đọc cái chủ quan của người viết bằng cách đồng hóa tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách

Đọc – hiểu không phải chỉ là tái tạo âm thanh từ chữ viết mà còn là quá trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chứa mã văn hoá đồng thời với việc huy động vốn sống, vốn kinh nghiệm cá nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của tác phẩm văn chương Đọc – hiểu là đón đầu những gì đang đọc qua từng từ, từng câu, từng đoạn rồi lại quay về với những gì đã đọc để kiểm chứng và đi tìm sự hợp sức của tác giả để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ thể và giàu tưởng tượng” [13; Tr.5] Còn theo nhà giáo Đỗ Kim Hồi: “Phương thức đọc văn nhằm mục đích hiểu biết chính xác và cặn kẽ tác phẩm văn chương (văn hoá, xã hội) mới mẻ, lớn lao và hữu ích được gọi là

đọc – hiểu”

Chúng tôi quan niệm đọc – hiểu tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông thực chất là một hệ phương pháp Đó là một hệ thống các hoạt động đặc thù mà giáo viên tổ chức học sinh tiếp cận và đi sâu khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm bằng con đường cảm xúc hóa kết hợp với trí tuệ “Đó là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết

và các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật” [16; Tr.91]

Đọc – hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học Đọc – hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính cũng như chủ đề của tác phẩm Lý giải là hiểu về đặc sắc nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó Trong quá trình học đọc, học sinh sẽ biết cách đọc để tích luỹ kiến thức, đọc

Trang 17

để lý giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện Học sinh sẽ học cách trích câu hay trích chi tiết, trích ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học Hệ thống văn bản được lựa chọn nhằm thực hiện việc đào tạo năng lực đọc – hiểu, qua đó vừa cung cấp tri thức văn học (lịch sử văn học, lý luận văn học), văn hoá dân tộc, vừa giáo dục tư tưởng, tình cảm, vừa rèn luyện

kĩ năng đọc mà học sinh có thể mang theo suốt đời sau khi tốt nghiệp THPT

để có thể đọc – hiểu nhiều loại văn bản thông dụng trong đời sống

- Dạy học nghiêng về công việc của

thầy, thầy là người giảng dạy, truyền

đạt kiến thức, ít chú ý đến vai trò của

HS trong quá trình khám phá tác

phẩm

- Chú trọng vai trò của HS trong giờ học Cả GV và HS đều đóng vai trò chủ thể trước tác phẩm, thầy là người tổ chức,

điều khiển quá trình chiếm lĩnh tác phẩm của HS Còn HS là chủ thể đọc, chủ

động khám phá, lĩnh hội tri thức dưới sự hướng dẫn của GV

- Trong giảng văn, GV là người phát

hiện ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm

và sau đó truyền đạt lại cho HS HS là

người nghe giảng, ghi chép, lĩnh hội

lời giảng của thầy cô một cách thụ

động

- Phương pháp đọc – hiểu biến HS trở thành người tự khám phá, phát hiện ra cái hay, cái đẹp của tác phẩm dựa trên vốn hiểu biết của bản thân qua việc tìm hiểu những câu hỏi hướng dẫn trong phần đọc – hiểu văn bản GV không chủ

động áp đặt cách hiểu, cách cảm của mình về tác phẩm vào tư duy của HS mà

Trang 18

chỉ điều chỉnh khi HS chưa hiểu đúng hay bổ sung khi HS hiểu chưa đủ nội dung tác phẩm

Với phương pháp dạy học này, HS phát huy tối đa sự tích cực, sáng tạo trong học văn đồng thời rèn luyện thói tự

độc lập tư duy, suy nghĩ trước một tác phẩm

- Chính vì thế, HS không nhất thiết

phải đọc văn bản mà vẫn hiểu nội

dung tác phẩm qua lời giảng của thầy

- HS là người tự khám phá tác phẩm nên buộc HS phải tự đọc văn bản tác phẩm, thậm chí phải đọc hết cả các mục trong bài học mới hiểu được nội dung văn bản tác phẩm Như vậy, sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác – tự học của HS

Trang 19

đọc – hiểu các tác phẩm cùng loại để tự lĩnh hội khám phá Vì thế HS có thể tự mình đọc – hiểu các tác phẩm không

được học trong chương trình dựa trên

đặc trưng thể loại và phương pháp tiếp cận ở trường phổ thông

- Phương pháp chủ đạo là diễn giảng,

bình giá của GV về tác phẩm

- SGK chú ý đến việc xây dựng việc làm, thao tác hướng dẫn HS từng bước chiếm lĩnh tác phẩm văn học theo đặc thù của

sự tiếp nhận văn chương

- Đọc – hiểu chú trọng vai trò của khâu

đọc với các hình thức khác nhau: Đọc để cảm nhận chung, đọc để tri giác ngôn ngữ văn bản, đọc để bình giá… Hiểu là kết quả cần đạt của đọc – hiểu Hiểu bao gồm cả nhận thức của lý trí, cả nhận thức của sự rung động, qua đời sống nội tâm

- Đọc – hiểu rất chú trọng các bước thâm nhập tác phẩm là tái hiện, phân tích, bình giá, liên tưởng…

1.3 Nguyên tắc chung của việc đọc – hiểu tác phẩm văn chương:

Trong cuộc sống, con người đọc văn có khi chỉ để giải trí, thường là để thưởng thức văn chương Vì vậy người ta có thể đọc một cách tự do, không theo một qui định nào Nhưng đọc – hiểu văn bản văn học trong nhà trường có khác Nó là một hoạt động tư duy - cảm xúc, một hành động học tập sáng tạo

Đọc – hiểu văn bản là một hoạt động để tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm văn

Trang 20

chương Nó có những nguyên tắc chung mà người đọc – học sinh phải nắm

được để dựa vào đó mà tiến hành đọc – hiểu bất cứ văn bản văn học nào trong chương trình

1.3.1 Dựa vào ngữ cảnh hẹp, bám sát văn bản, coi văn bản là yếu tố quan trọng nhất (không phải là duy nhất) để tìm hiểu tác phẩm

Nguyên tắc này dựa trên cơ sở khoa học “ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học” (Gorki) Ngôn ngữ tạo nên văn bản, cho nên phải dựa vào văn bản để tìm hiểu tác phẩm, phải bám sát văn bản thì mới tiếp cận đúng ý đồ tư tưởng - nghệ thuật của tác giả Do đó phải đọc thật kĩ văn bản, chú ý đến từng hình thức ngôn ngữ, từng đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất của văn bản để khám phá, phát hiện tác phẩm

Điều này tưởng như đơn giản, tất yếu ai cũng biết, nhưng trong thực tế, không phải không có người chỉ dựa vào những yếu tố ngoài văn bản để hiểu văn bản của tác phẩm, dẫn đến những cách hiểu khiên cưỡng, áp đặt Ví như bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, có người chỉ căn cứ vào tấm bưu

ảnh Hoàng Cúc gửi cho nhà thơ để hiểu đây chỉ là một bài thơ về mối tình dang dở không thành của hai con người riêng lẻ, như vậy thì ý nghĩa bài thơ

đã bị thu hẹp lại và liệu bài thơ còn có giá trị gì nữa

Bám sát văn bản ở đây cần được hiểu theo tinh thần lao động nghệ thuật và nghiên cứu khoa học một cách nghiêm túc trước một tác phẩm cụ thể Không chỉ đọc kĩ văn bản, bám sát từng câu, chữ, thậm chí đến cả từng dấu câu và cả những “khoảng trống trên văn bản” (như những dấu lặng trong bản nhạc), mà còn phải chú ý khám phá, phát hiện những dấu hiệu ngôn ngữ đặc biệt, những cách nói độc đáo, những chi tiết quan trọng hàm chứa ý nghĩa trong văn bản Tất cả những điều này sẽ giúp chúng ta phương hướng cảm nhận văn bản để hiểu đúng nội dung tư tưởng tác phẩm

1.3.2 Ngoài ngữ cảnh hẹp, còn phải dựa vào ngữ cảnh rộng để tìm hiểu ý nghĩa sâu xa của văn bản

Trang 21

Nghĩa của văn bản nằm trong mối liên hệ với tác giả (chủ thể thẩm mĩ), với môi trường văn học mà nhà văn chịu ảnh hưởng, với bối cảnh xã hội tác

động trực tiếp hay gián tiếp đến sự ra đời của tác phẩm Đọc – hiểu các bài thơ

“Lai Tân”, “Mộ”, “Tảo giải” của Hồ Chí Minh mà không chú ý đến con người nhà thơ (“một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng” - Viên ưng), không hiểu

rõ hoàn cảnh tù đày gian truân, khắc nghiệt của người tù – thi sĩ khi viết ra ba tác phẩm này (trong nhà tù Tưởng Giới Thạch và trên đường giải tù) thì không thể nào cảm nhận hết được vẻ đẹp tinh thần cao quý của nhà thơ cách mạng lão thành và chiều sâu tư tưởng của thi phẩm Phần Tiểu dẫn và Chú thích trong SGK thường giúp chúng ta những thông tin cần thiết để nắm được ngữ cảnh rộng của văn bản Vì vậy, đọc kĩ hai phần này là một việc làm bắt buộc trước khi đi vào tìm hiểu tác phẩm

1.3.3 Tiếp cận tác phẩm theo hướng tổng - phân – hợp kết hợp so sánh đồng đại và lịch đại

1.3.3.1 Thực chất của việc đọc – hiểu văn bản văn học là tìm hiểu, phân tích, đánh giá tác phẩm văn chương (hoặc đoạn trích tác phẩm) Tiếp cận tác phẩm văn chương thường từ những cảm nhận chung ban đầu đến việc đi sâu tìm hiểu những vấn đề, những chi tiết cụ thể để cuối cùng có thể tổng hợp lại thành những giá trị của tác phẩm

ở bước thứ nhất, có người gọi là “tổng hợp sơ thủy” ở bước này cần

đọc kĩ tác phẩm, lấy trực giác mà cảm thụ tác phẩm Cảm thụ bằng cả tình cảm và lý trí trong tính chỉnh thể, toàn vẹn của nó để nhận ra diện mạo, âm hưởng tinh thần chung với những nét đặc sắc về nghệ thuật Bước tổng hợp sơ thuỷ này trông cậy rất nhiều vào trực giác Arnauđôp đã đánh giá rất cao vai trò của trực giác: “Trực giác cần thiết trong bất kì một thứ nghệ thuật nào, trong bất kì một cảm thụ sáng tạo nào trước hiện thực, nếu cảm thụ này đang hướng sự chú ý vào một điều gì mới mẻ, đặc biệt và chưa từng thấy trong các

Trang 22

Nắm bắt chính xác tổng thể tác phẩm là một bước làm quan trọng, là một thử thách lớn đối với người phân tích Làm thế nào để có được cảm nhận chung, ấn tượng chung về tác phẩm một cách đúng đắn và sâu sắc? ở đây, không nên quá chú ý vào những chi tiết cụ thể mà sao nhãng cái nhìn bao quát

có tính chất toàn diện và hệ thống Điều này có liên quan tới bản chất của tác phẩm văn học Mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật tạo ra một xã hội riêng, một thế giới riêng có tính hệ thống, theo quy luật riêng của nó Phân tích trực tiếp tác phẩm, ở bước đầu tiên là phải nắm bắt được chính xác cái tinh thần chung của tác phẩm Quy luật tự nhiên của tiếp nhận tác phẩm văn học bao giờ cũng phải cảm thụ tác phẩm trên tổng thể, trong tính chỉnh thể của nó Nó không cho phép người phân tích, đối chiếu những chi tiết vụn vặt của tác phẩm với hiện thực đời sống Không cảm nhận tác phẩm trên tổng thể, trên chỉnh thể của nó rất dễ rơi vào tình trạng suy diễn tuỳ tiện

Trong bước tổng hợp ban đầu cũng cần phải chú ý tới đặc điểm thể loại của tác giả Thơ thì chú ý đến sự bộc lộ tình cảm, cảm xúc của nhà thơ qua ngôn ngữ, hình tượng, nhịp điệu và nhạc điệu… Truyện thì chú ý đến cốt truyện, kết cấu tình huống truyện, nhân vật và nghệ thuật tự sự… Kịch thì chú

ý tới xung đột kịch, đến đối thoại và hành động của nhân vật

ở bước thứ hai là phân tích chi tiết tác phẩm Đây là bước phân tích từng yếu tố, từng phương diện của tác phẩm dưới ánh sáng tinh thần chung đã

được cảm nhận ở bước thứ nhất (tổng hợp ban đầu) Tìm hiểu những chi tiết, phân tích những yếu tố, những mặt riêng biệt của tác phẩm nhằm phát hiện và khám phá tương quan giữa chúng để từ những hiểu biết riêng lẻ, cụ thể đạt tới

sự nhận thức chung sâu sắc hơn ở đây, vừa phải xem xét hàng loạt các mối liên hệ ngang dọc để tìm ra ý nghĩa của mỗi từ, mỗi chữ, khai thác chức năng biểu hiện của các chi tiết trong văn bản; vừa phải chỉ ra được mối quan hệ cơ bản nhất, chi tiết nghệ thuật quan trọng nhất

Trang 23

ở bước này, cần phải lựa chọn những chi tiết “đắt” có giá trị để phân tích Những chi tiết đó bao giờ cũng có khả năng thuyết minh, biểu hiện một cách cụ thể, sinh động cái toàn thể Nội dung khái quát của tác phẩm được gửi gắm, được thể hiện qua những chi tiết đó Thiếu phân tích chi tiết, không biết lựa chọn những chi tiết điển hình để tập trung phân tích bài phân tích văn học

sẽ chung chung, lan man, dàn trải

Phân tích tác phẩm văn học không đơn giản chỉ là việc chia tách tác phẩm ra từng phương diện, từng khía cạnh, từng yếu tố để xem xét mà chủ yếu

là phải chỉ ra được ý nghĩa, chức năng thể hiện nội dung, tư tưởng tác phẩm của từng yếu tố, từng phương diện đó Cần phải chỉ ra được các giá trị nội dung, nghệ thuật qua các chi tiết cụ thể Việc khảo sát các kí hiệu, các phương diện, các yếu tố nghệ thuật không phải vì bản thân các kí hiệu mà sâu xa hơn

là để tìm lời thông báo, khám phá nội dung và tư tưởng của tác phẩm Nói cách khác, giải mã, khám phá nghệ thuật là để tìm ra tính nội dung của hình thức nghệ thuật ấy

Khi phân tích các phương diện, các yếu tố, chi tiết nghệ thuật cần phải tôn trọng tính chỉnh thể của tác phẩm Những chi tiết nghệ thuật dẫu là quan trọng, là những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm cũng chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một chỉnh thể, trong một hệ thống nhất định ở đây người phân tích tác phẩm cần phải có quan điểm hệ thống Thiếu cái nhìn hệ thống thì dễ rơi vào tình trạng suy diễn võ đoán, thiếu căn cứ xác đáng, gán ghép cho những yếu tố, chi tiết nghệ thuật ý nghĩa mà thực ra nó không hề có

Bước thứ ba là bước tổng hợp trên cơ sở đã phân tích các chi tiết của tác phẩm Đây không phải là tổng hợp bằng trực cảm như bước thứ nhất mà là tổng hợp trên cơ sở của sự phân tích kĩ lưỡng, có căn cứ nhằm trả lại cho tác phẩm tính chỉnh thể sinh động của nó Một sự tổng hợp cao độ có tính khái quát để đưa ra những tổng kết, nhận định, đánh giá sẽ nâng cao giá trị của sự

Trang 24

phân tích, hoàn thành mục đích của sự phân tích: nhận định, đánh giá đúng

đắn và sâu sắc về tác phẩm hay một hiện tượng văn học

Như vậy, tiến trình phân tích tác phẩm văn chương thường phải đi qua

ba bước: Tổng hợp – Phân tích – Tổng hợp Tuy nhiên không nên quan niệm

ba bước ấy hoàn toàn độc lập hay đối lập với nhau Cần phải vận dụng ba bước nói trên một cách linh hoạt, sáng tạo, uyển chuyển trong mối liên hệ chặt chẽ

và bổ sung cho nhau

Tổng – phân – hợp là phương pháp tư duy khoa học, vừa chặt chẽ vừa

rõ ràng, trong đó đặc biệt chú ý thao tác phân tích và thao tác tổng hợp cuối cùng, lấy việc khái quát tổng hợp này mà kiểm tra lại những cảm nhận chung ban đầu xem đã đúng, đã khớp với nhau chưa Hệ thống câu hỏi trong phần

đọc – hiểu văn bản của SGK có thể giúp chúng ta thực hiện điều này Ví dụ như ở bài “Vội vàng” của Xuân Diệu [18; Tr.44] hệ thống câu hỏi đã được sắp xếp theo quy trình tổng – phân – hợp: câu 1 hỏi về cảm nhận chung; các câu 2,3,4 đi sâu phân tích ba đoạn cụ thể; câu 5 khái quát tổng hợp lại để đánh giá bài thơ trên cả hai mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật

1.3.3.2 Thao tác so sánh bao gồm cả so sánh đồng đại (cùng thời) và so sánh lịch đại (khác thời) rất cần thiết để việc đọc – hiểu được sâu sắc và vấn

đề nêu trên được nổi bật Bài “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu sẽ được cảm nhận với cái nét riêng đầy đủ và sâu sắc hơn nếu ta so sánh với “Tiếng thu” của Lưu Trọng Lư (cùng thời), với mùa thu của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến trước đây và cả mùa thu sau này của Nguyễn Đình Thi (khác thời) Trong SGK, câu hỏi đầu tiên về bài thơ này là một câu hỏi so sánh như vậy

1.3.4 Gắn việc đọc – hiểu văn bản văn học với cuộc sống của bản thân

Đọc văn mà chỉ để thưởng thức văn chương thì coi như mới chỉ đi được một nửa đoạn đường Nửa đoạn đường còn lại mới là cái đích mà ta phải hướng tới: đó là tìm xem đọc tác phẩm ấy ta được cái gì, tác phẩm đem đến

Trang 25

cho ta điều gì bổ ích cho cuộc sống bản thân, khơi dậy trong ta những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ, hành động gì để ta có thể sống tốt đẹp và có ích hơn

“Văn học là nhân học”, Gorki đã nói như vậy, cho nên cái đích cuối cùng của việc đọc văn là phải gắn với cuộc sống của bản thân mình (và xung quanh mình) mà thể nghiệm ý nghĩa của văn bản (nhập thân vào cảnh, vào người, vào các tình huống của văn bản tác phẩm, vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng

để cảm nhận); mặt khác, lại tiếp nhận những cảnh, những người đó thành tài sản tinh thần riêng của mình, lấy văn bản tác phẩm mà soi sáng bản thân, tự vận động vươn lên theo lý tưởng của tác phẩm Đây chính là quá trình đồng hóa tác phẩm văn chương trong lòng người đọc

1.3.5 Những điều cần tránh trong việc đọc – hiểu văn bản:

Có thể thấy hai loại lỗi phổ biến sau đây: lỗi về đọc (hiểu theo nghĩa thông thường) và đọc – hiểu (hiểu theo nghĩa đọc để tiếp cận văn bản)

- Đọc: đọc vội vàng, qua loa văn bản, cắt xén, không đọc hết văn bản dẫn đến chỗ không nắm được toàn thể, khái quát sai lệch nội dung tư tưởng văn bản Không đọc Tiểu dẫn, Chú thích, hoặc không đọc hết Tiểu dẫn và Chú thích nên chưa đủ điều kiện để hiểu đúng và nhất là hiểu sâu văn bản

- Đọc – hiểu: xu hướng chung thường thấy là trả lời một cách máy móc các câu hỏi trong phần đọc – hiểu của SGK mà ít có sự suy nghĩ, cảm nhận sâu sắc để trả lời một cách sáng tạo bằng những kiến giải, phát hiện riêng của mình về văn bản tác phẩm Ngược lại, là suy diễn tuỳ tiện chủ quan, gán ghép suy nghĩ của mình cho văn bản từ một chi tiết nhỏ, có khi rất phụ, mà không chú ý đến mạch lạc, liên kết toàn thể của tác phẩm, dẫn đến những cách hiểu không đúng

Nguyên nhân của các lỗi trên là do chúng ta chưa có ý thức đúng dắn

về việc học văn (học văn còn hời hợt, chuẩn bị bài chiếu lệ, đối phó), chưa có thói quen học văn theo lối nghiên cứu và nhất là chưa có thói quen tự học môn

Trang 26

văn theo SGK mới hiện nay Những nguyên tắc trên đây về việc đọc – hiểu văn bản văn học có thể giúp chúng ta khắc phục được những lỗi đó

1.4 Các bước đọc – hiểu một văn bản văn học:

Dựa trên những hiểu biết về đọc – hiểu, đọc – hiểu tác phẩm văn chương, sự phân biệt giữa giảng văn và đọc – hiểu tác phẩm văn chương cũng như nguyên tắc chung về việc đọc – hiểu văn bản văn học, chúng tôi xác định mô hình đọc – hiểu văn bản văn học theo 6 bước để hướng dẫn cho HS đọc – hiểu và tự đọc – hiểu văn bản văn học

Bước 1: Đọc Tiểu dẫn về văn bản:

Tiểu dẫn cung cấp cho ta những điều quan trọng để nắm được ngữ cảnh rộng (con người của tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm) GV không chỉ cho HS đọc Tiểu dẫn mà còn hướng dẫn HS nắm được những tri thức đọc – hiểu ở phần Tiểu dẫn

Bước 4: Đọc hệ thống câu hỏi đọc – hiểu:

Trang 27

Hệ thống các câu hỏi đọc – hiểu mang tính chất hướng dẫn HS cách

đọc văn bản, phân tích những vấn đề nội dung, nghệ thuật của văn bản, từ đó

có năng lực sáng tạo biết vận dụng những tri thức đã học vào cuộc sống Khi

đọc cần suy nghĩ để tự chia ra:

- Các câu hỏi chung về văn bản (thường là chủ đề, bố cục)

- Các câu hỏi phân tích các vấn đề nội dung, các đặc sắc nghệ thuật của văn bản

- Câu hỏi tổng kết, đánh giá văn bản

(Hệ thống câu hỏi này tự nó đã giúp chúng ta hình dung ra con đường tiếp cận tác phẩm, thường là con đường tổng – phân – hợp)

Bước 5: Trả lời từng câu hỏi đọc – hiểu:

- Cần trả lời một cách chủ động, sáng tạo theo suy nghĩ, cảm nhận của mình về văn bản

- Có thể nêu những ý kiến không đồng tình, thậm chí trái ngược với cách đặt vấn đề trong câu hỏi của SGK để tranh luận

- Trường hợp cần thiết nên sử dụng phương pháp so sánh đồng đại hay lịch đại để vấn đề được rõ ràng và nổi bật

Bước 6: Đối chiếu, kiểm tra lại quá trình đọc – hiểu

- Đối chiếu phần cảm nhận chung ban đầu về tác phẩm (tổng) với phần tổng kết, đánh giá cuối cùng về văn bản (hợp) xem đã đúng, đã khớp với nhau chưa?

- Đọc kĩ phần ghi nhớ trong SGK, đối chiếu với phần trả lời những câu hỏi đọc – hiểu của mình xem có thống nhất không, có chỗ nào cần phải xem xét, điều chỉnh lại không?

Chú ý: ba bước đầu có thể xem là những bước chuẩn bị, tạo tiền đề cho việc đọc – hiểu; ba bước sau là những bước thực hành đọc – hiểu mà trọng tâm

là bước 5

Trang 28

Chương 2

Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 và dạy học truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở nhà trường phổ thông theo phương pháp đọc – hiểu

2.1 Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975:

Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989) là một trong số các nhà văn tiêu biểu của nền văn học đương đại Việt Nam Ông là nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và những tác phẩm của ông có một vị trí xứng đáng trong tiến trình văn học cách mạng, đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải: “Mãi mãi nền văn học kháng chiến, cách mạng ghi nhớ những cống hiến to lớn của anh Châu Anh là người kế tục xuất sắc những bậc thầy của nền văn xuôi Việt Nam và cũng là người mở đường cho những cây bút trẻ đầy tài năng sau này Anh Châu là bất tử”, “là một nghệ sĩ lớn của đất nước, một

đời trong sáng, trọn vẹn, không chút tì vết” [21; Tr.107] Là nhà văn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp giải phóng dân tộc, các sáng tác của Nguyễn Minh Châu viết trong chiến tranh khẳng định phẩm chất yêu nước, ý chí chiến đấu giữ nước của các thế hệ người dân Việt Nam

Nguyễn Minh Châu còn là một nhà văn tiêu biểu cho phong trào đổi mới văn học thời kì sau chiến tranh Qua trường hợp Nguyễn Minh Châu, chúng ta có thể tìm hiểu quy luật vận động của tiến trình văn học Việt Nam sau 1975 Bằng cảm quan của một nghệ sĩ, ông luôn luôn suy nghĩ một cách sâu xa những vấn đề đặt ra đằng sau những chiến công, đằng sau những số phận cộng đồng là số phận văn chương của mỗi cá nhân và rộng ra là cả của nền văn học Với những tác phẩm “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành”,

“Bến quê”, “Cỏ lau”… Nguyễn Minh Châu đã chứng tỏ tài năng và bản lĩnh của mình, đã chứng minh sự tồn tại của một số phận văn chương được bảo

Trang 29

đảm trước tiên bằng sự đổi mới tư duy nghệ thuật Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu sau 1975, đặc biệt ở thể loại truyện ngắn, ngày càng trở nên rõ nét hơn Tìm hiểu phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu sau 1975, chúng ta tìm hiểu quan điểm nghệ thuật và sự triển khai quan điểm ấy của ông vào văn bản tác phẩm: từ quan điểm thẩm mĩ của tác giả trong mô tả hiện thực

đến việc xây dựng hình tượng nhân vật, từ việc tạo tình huống đến ngôn ngữ, giọng điệu, văn phong Và trong quá trình nghiên cứu sáng tác của Nguyễn Minh Châu sau 1975, chúng tôi sẽ đi sâu vào những tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn – thể loại kết tinh những tìm tòi, đổi mới của Nguyễn Minh Châu, thể loại khẳng định năng lực của Nguyễn Minh Châu “nhìn đâu cũng ra truyện ngắn” (Lê Lựu)

2.1.1 Tư tưởng nghệ thuật và quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Minh Châu

2.1.1.1 Tư tưởng nghệ thuật:

Là một nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, cũng như mọi nhà văn khác lúc bấy giờ, Nguyễn Minh Châu quan niệm văn học là vũ khí để góp phần cuộc tái thiết và bảo vệ Tổ quốc Các tác phẩm viết trong chiến tranh của Nguyễn Minh Châu khẳng định phẩm chất yêu nước, ý chí chiến đấu của các thế hệ người Việt Nam và cảm hứng anh hùng ca là cảm hứng chủ đạo Chúng ta có thể thấy điều này trong “Cửa sông”, “Dấu chân người lính”, “Những người đi từ trong rừng ra”… Song, một điều đáng chú ý

là ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyễn Minh Châu đã bắt đầu nhập vào lãnh địa của những tình cảm riêng tư trong những con người bình thường Chính vì thế sáng tác của Nguyễn Minh Châu trong những năm chiến tranh dù nghiêng về thể hiện cái cao cả, cái anh hùng và thiên về ca ngợi những vẻ đẹp trong chiến đấu thì đây đó cũng đã ánh lên vẻ đẹp của đời thường thật gần gũi

và ấm áp Để rồi bước vào tìm hiểu những tác phẩm viết sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu chúng ta hoàn toàn bị chinh phục bởi một Nguyễn Minh

Trang 30

Châu sâu sắc, nhân hậu, đằm thắm trong vẻ đẹp của đời sống thường nhật thông qua các mối quan hệ tình cảm vợ chồng, bố mẹ và con cái, giữa những người hàng xóm, đồng đội; vẻ đẹp bao dung, nền nã, nhân hậu trong người phụ nữ; là ở sự cảm thụ tinh tế và những rung động sâu xa của ông trước vẻ

đẹp của thiên nhiên, của tạo hoá

Là một nghệ sĩ chân chính, Nguyễn Minh Châu chủ trương đưa văn học trở về với những quy luật vĩnh hằng của đời sống con người, coi tính chân thật

là một phẩm chất quan trọng của văn học Ông đã đặt vấn đề một cách nghiêm túc về chức năng của văn học và sứ mạng đích thực của người nghệ sĩ

Ông quan niệm “viết văn là phải đào xới đến tận cùng cái đáy của cuộc đời”

để “săn tìm các quy luật”, ông là người sớm phát hiện ra cái tội “dễ dãi về cách nhìn và sự phô bày đời sống một cách đơn giản và dễ dãi về nghệ thuật trình diễn; đời sống chưa được khúc xạ qua lăng kính nghệ thuật” Trong bài

“Viết về chiến tranh” (Báo Văn nghệ quân đội số 11 - 1978), Nguyễn Minh Châu cho rằng: “hình như trong quan niệm sâu xa của người Việt Nam chúng

ta, hiện thực của văn học có khi không phải là hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hy vọng, đang mơ ước” Xuất phát từ quan niệm coi con người với những quy luật vĩnh hằng là đối tượng của văn học, ông đã đi sâu vào các số phận, các tính cách, tìm đến các nỗi niềm riêng tư, sâu kín vốn thường bị trùm phủ bởi các sự kiện xã hội hoặc bị che khuất bởi tư tưởng thời

đại Truyện ngắn “Bức tranh” (1982) được coi là một mốc quan trọng trong

sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật của ông Trong tác phẩm này, Nguyễn Minh Châu bàn về vấn đề đạo đức xã hội dưới dạng tâm lý, tập trung sự chú ý vào những diễn biến sâu kín mang tính chất quy luật bên trong của tâm lý con người

Không chỉ đặt ra nhiệm vụ của văn học, Nguyễn Minh Châu còn nêu ra nhiệm vụ của người cầm bút: hãy không ngừng khám phá và sáng tạo, đi sâu phát hiện được bản chất thực sự của sự vật hiện tượng Trong truyện ngắn

Trang 31

“Dấu vết nghề nghiệp”, Nguyễn Minh Châu viết: “Chẳng mấy ai chạy trốn hay xoá bỏ sạch được tất cả những gì mà công việc nghề nghiệp – cái hoạt

động lắp đi lắp lại suốt cả đời đã đóng dấu vào vào con người mình” Cái “dấu vết nghề nghiệp” ấy đã “đóng dấu” rõ nhất vào các nhân vật: nhân vật nhà văn, nhân vật nghệ sĩ Lao động nghệ thuật đã tạo ra cho họ một cốt cách khá giống nhau: rất nhạy cảm trước cuộc đời, luôn có con mắt sáng suốt để nhìn thẳng vào sự thật: và đặc biệt họ có một trái tim nhân hậu, biết quan tâm đến nỗi đau của con người Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, thông qua một câu chuyện đầy nghịch lý của cuộc đời, Nguyễn Minh Châu muốn nói đến một sự thực trong nghệ thuật Người nghệ sĩ nhiếp ảnh phát hiện ra cái mâu thuẫn éo le trong nghề nghiệp của mình: đằng sau bức ảnh con thuyền mờ sương rất đẹp mà anh đã tình cờ chụp được là số phận đớn đau của một người phụ nữ, là sự nheo nhóc chẳng đẹp đẽ gì trong một gia đình lao động làm nghề chài lưới Và con mắt tinh tường kia đã đặt một dấu hỏi cho cái chân lý lớn đã

được một đại văn hào phát hiện: bản thân cái đẹp chính là đạo đức Nhưng anh cũng chỉ ra rằng quan niệm về đạo đức cũng đang biến đổi theo hoàn cảnh, theo sự nhìn nhận của số phận từng cá nhân Vì vậy, người nghệ sĩ không thể

đơn giản, sơ lược khi nhìn cuộc sống và con người

Nhân vật nhà báo trong truyện “Mùa trái cóc ở miền Nam” mang phẩm chất của một người nghệ sĩ chân chính Anh có một trái tim nhân hậu, bao dung trước bao số phận của con người, trước hết là đối với đồng chí của mình Nhưng trái tim ấy cũng biết sôi lên căm giận trước thói quan liêu, độc đoán của “bọn quỷ” khoác áo cách mạng, tâm hồn chai sạn, không hề biết gào lên trước cái ác cùng sự dửng dưng trước cái ác của con người” Câu chuyện viết

đầy ám ảnh, trong đó trái tim của người làm báo “bị ngập chìm trong lo âu, một nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải về con người” Rõ ràng, Nguyễn Minh Châu đã đụng đến một vấn đề có tính “vĩnh cửu” của nghệ thuật, đến thiên chức của người cầm bút trước cuộc đời

Trang 32

2.1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về con người:

Xuất phát từ tư tưởng không chấp nhận quan niệm văn học chỉ là sự mô phỏng một cách công thức, giản đơn về cuộc sống và con người; Nguyễn Minh Châu biết lánh xa lối văn chương chỉ ca ngợi một chiều và dần dần lấy

số phận của con người không những làm “miếng đất khám phá những quy luật vĩnh hằng của giá trị nhân bản” mà coi đó là điểm xuất phát, là chuẩn mực để nhà văn soi ngắm và định giá thế giới Phải chăng Nguyễn Minh Châu đã có

điểm gặp gỡ Đôxtôiepxki khi ông nói về chủ nghĩa hiện thực của mình:

“Trong chủ nghĩa hiện thực đầy đủ, phải tìm thấy con người trong con người Người ta gọi tôi là nhà tâm lý: không đúng, tôi chỉ là nhà hiện thực chủ nghĩa trong ý nghĩa cao nhất tức là tôi miêu tả tất cả các chiều sâu của tâm hồn con người” [2; Tr.51]

Điểm nhìn nghệ thuật đó về con người của Nguyễn Minh Châu đã nâng dần tầm khái quát triết học trong các sáng tác của ông và đó cũng là một hướng tìm tòi trong thế vận động chung của ý thức nghệ thuật nơi ông Ông đã bước qua cách nhận diện con người chỉ trong mối quan hệ với giai cấp, với cộng đồng, với xã hội mà chú ý hơn đến con người ở những quan hệ riêng tư Con người trong quan niệm của Nguyễn Minh Châu được đặt trong cái nhìn

đa diện, nhiều chiều Con người được soi chiếu vừa trong mối quan hệ giữa cá nhân với cách mạng, giữa cá thể với cộng đồng, vừa trong mối quan hệ gia

đình, trong tình yêu, bạn bè và trong quan hệ với xung quanh, kể cả quan hệ với kẻ thù

Cả trước và sau 1975, với những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh nổi tiếng, Nguyễn Minh Châu được nhiều người gọi là nhà văn của đề tài này ở ý nghĩa một mặt ông phát hiện, ngợi ca những mặt cao cả anh hùng của con người trong chiến tranh, mặt khác lại đặt ra các vấn đề cấp bách của đời sống sau chiến tranh Nhưng còn có một Nguyễn Minh Châu khác: Nguyễn Minh Châu của những nỗi khắc khoải về số phận cá nhân và sự tồn tại, phát triển

Trang 33

của đất nước, con người trong cuộc mưu sinh đầy vất vả sau hơn ba mươi năm chiến tranh Dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu, đời người, cuộc sống lao

động của con người vừa là một bản anh hùng ca vừa là một bi kịch Nhà văn

ca ngợi sự khéo léo, khôn ngoan, khí phách, nhất là đức tính kiên nhẫn kì lạ của con người trong cuộc sống nhọc nhằn, đầy thử thách để tồn tại và phát triển Càng về sau, nhà văn càng quan tâm nhiều hơn đến những con người lao

động, có một sức hút mạnh mẽ đối với những người xung quanh, họ hầu như không bao giờ chịu bó tay trước khó khăn Nhà văn gọi những con người đó là

“tụ điểm của đời sống” Dù họ là những người lầm lũi, cố lẩn vào đám đông, hay là những người nổi bật, “điên rồ” theo một cách nhìn nào đó, thì họ cũng

là những người có nhiều khả năng nhất để thực hiện những “phép lạ của đời thường” như Nguyễn Minh Châu quan niệm

Khẳng định cái đẹp, chất thơ của đời sống, nhưng Nguyễn Minh Châu không thi vị hoá cuộc sống, không nhìn cuộc sống một chiều, dễ dãi Cuộc sống, có cả ánh sáng và bóng tối, có cả dương và âm; và bản chất con người hoàn toàn không đơn giản, mỗi bước đi lên của xã hội, của cuộc sống cực kì chật vật, mâu thuẫn, đầy thăng trầm và nhiều khi rất đau đớn Chỉ có bất chấp thực tế, ảo tưởng, mới nghĩ rằng cuộc sống không có bi kịch, không còn bi kịch Hoá ra cuộc đấu tranh giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái thiện và cái

ác, giữa nhân bản và phi nhân là một cuộc đấu tranh vĩnh viễn, chất anh hùng

ca và chất bi kịch của cuộc đời đi liền với nhau Con người đã dũng cảm kiên cường biết bao trong cuộc đấu tranh đó Nhưng nhìn kĩ lại, mơ ước vẫn xa vời,

và dường như cái xấu xa, ác độc không mất đi mà chỉ thay hình đổi dạng để tiếp tục hoành hành Trong “Mùa trái cóc ở miền Nam”, tác giả đã làm cho chúng ta bàng hoàng, nhức nhối khi dựng lên hình ảnh một cán bộ đã hoàn toàn thoái hoá, biến chất, trở thành một con người ích kỉ, tàn nhẫn, không còn tình người, không còn khả năng xúc động ngay khi gặp lại mẹ mình sau hơn hai mươi năm xa cách Nguyễn Minh Châu, bằng bức tranh sinh động, có giá

Trang 34

trị nghệ thuật cao này, đã báo động cho xã hội một vấn đề lớn về đạo đức, nhân cách, về sự tha hoá bi thảm mà những người lương thiện, thiết tha với những lý tưởng cách mạng và những giá trị cơ bản của cuộc sống, không thể không quan tâm Đó chẳng phải là bi kịch của cuộc sống hay sao?

Cội nguồn của bi kịch còn ở sự không phù hợp giữa những cố gắng lớn lao của con người và những kết quả nhỏ nhoi đạt được, ở mâu thuẫn giữa sức người và tầm vóc những công việc phải hoàn thành, những trở ngại phải vượt qua, sức mạnh tàn phá của thiên nhiên mà con người phải chống chọi, ở sự hữu hạn của từng cá nhân, của trời đất Những người dân chài trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã triết lý khá nhiều về ý nghĩa của cuộc sống con người, về mơ ước “câu được con cá lớn” và thái độ bằng lòng, nhẫn nhục gom góp hàng ngày từng mẻ cá vụn Họ cũng đã quan sát, trầm ngâm trước việc làm và tính cách của những “anh thợ đấu dã tràng” trên bãi biển, thấy ở tính kiên nhẫn, nhát sợ cố hữu của dã tràng một cái gì đó đáng cho con người suy nghĩ, và phải vượt lên, mới có thể để lại cho đời một phần nào hữu ích

Tính biện chứng của cuộc sống trước hết được Nguyễn Minh Châu lý giải bằng sự cắt nghĩa các tính cách Và tiêu chí để ông nhận diện con người không phải là cái vỏ bọc giai cấp, địa vị xã hội mà trước hết, đó là nhân cách,

là tính cách Giải thích sự phản bội của nhân vật Quang trong “Cơn giông”,

ông cho rằng tính cách y “một con người luôn luôn tìm cách thoả mãn những thèm khát của bản thân nên khi cách mạng gặp khó khăn, y thành kẻ chiêu hồi” đã đành, mà ngay trong suốt cuộc đời y, mọi việc làm, mọi hành động của y đều nhất quán với tính cách trên Miêu tả hắn là một con người tài hoa,

đẹp trai, có ít nhiều năng lực, Nguyễn Minh Châu đã không chủ trương nhuộm

đen con người này bằng cái nhìn rạch ròi đơn giản như trước đây Song ngay

từ lúc xuất hiện lần đầu dưới con mắt của một cô gái trẻ thì “cái vẻ ngoài đầy quyến rũ” đã không che nổi cảm nhận của cô về “một cái gì đó thật khó nắm bắt, quy luỵ nhưng lại tàn ác” Đó là cái thần người có khi chỉ bộc lộ trong

Trang 35

những trường hợp tưởng như tình cờ, như ngẫu nhiên vậy thôi, nhưng lại được

ông biến thành một sợi chỉ xuyên suốt trong toàn bộ thiên truyện để triển khai tư tưởng của mình

ở một khía cạnh khác, sự khám phá về con người, qua con người đã khiến cho ngòi bút của ông thường xuyên đi sâu vào đời sống nội tâm, tìm

được sự giao cảm với con người ở những niềm vui, những nỗi buồn, sự mất mát, đau khổ Và chính điều này đã đưa lại cho sáng tác của Nguyễn Minh Châu những giá trị nhân đạo mới Hầu hết các nhân vật chính trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đều sống với kỷ niệm mình đã trải qua Hoài niệm là nhu cầu, cũng là phẩm giá của họ Một con người sống hời hợt, không gắn bó với xung quanh thì sẽ không thể nào có kỷ niệm Con người có kỷ niệm, thiết tha với những kỷ niệm của mình, tự nhiên trở nên giàu có hơn, đáng tin cậy hơn trước con mắt của người khác

Với một nhận thức mới về con người, về nội tâm của nhân vật, Nguyễn Minh Châu đã góp vào nền văn học hiện đại của chúng ta một hình tượng người nông dân mới mẻ, độc đáo, đầy hấp dẫn là lão Khúng trong “Khách ở quê ra” và “Phiên chợ Giát” Người nông dân thường xuyên ám ảnh trí tưởng tượng nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu Viết về người nông dân mặc áo lính

đến cuối đời, qua nhân vật lão Khúng, Nguyễn Minh Châu mới chợt phát hiện

ra rằng đây chính là cái mình kiếm tìm, cái mà lẽ ra mình phải tập trung sức lực nhiều nhất để có thể nói một cách đặc sắc hơn, thú vị hơn, sâu hơn về cái

“tầng đời nền móng”, về người nông dân, và không chỉ về người nông dân, mà

về dân tộc, về đất nước, về thời đại Với Nguyễn Minh Châu, lão Khúng là một nông dân quen thuộc, đồng thời lại là một nhân cách xuất sắc với sự tháo vát hiếm có trong lao động và tổ chức gia đình, với tầm suy nghĩ rộng rãi về cách làm ăn và cuộc sống, với tính cách mạnh mẽ, giàu tình cảm, hết sức thiết thực mà cũng đầy mơ mộng lãng mạn Không chỉ tiêu biểu cho một tầng lớp xã hội, lão là một “tụ điểm của đời sống”, là hiện thân của đất và của nước,

Trang 36

của thiên nhiên vẫn còn mang rất nhiều nét nguyên sơ, hoang dã Qua những suy nghĩ của lão Khúng về vợ con và gia đình, về các công việc ở địa phương,

về những người trí thức ở thành phố, qua những lời tâm sự của lão về con vật

đã gắn bó suốt đời mà lão xem như một người bạn gần gũi nhất, một sự “phân thân” của chính mình, và lão đã quyết định “giải phóng” cho nó nhưng cuối cùng con vật lại quay về với lão, chấp nhận cuộc sống như lâu nay vẫn sống với gia đình lão – càng thấy Nguyễn Minh Châu đã hình dung cuộc sống, đặc biệt là cuộc sống nội tâm, ngay cả ở một con người bình thường phong phú,

kỳ lạ và phức tạp như thế nào

Tính độc đáo của Nguyễn Minh Châu còn được thể hiện ở khả năng, nói như Lê Lựu “nhìn đâu cũng ra truyện ngắn” Khả năng ấy là khả năng tiếp cận con người trong đời thường Cụ thể hơn là những truyện không hề mang tính điển hình, ông vẫn tìm ra được cái khía cạnh khác nhau của thế thái nhân tình, một thứ triết học nhân sinh ở loại truyện này, con người được chú ý hoàn toàn trên bình diện thói quen sinh hoạt và sự tác động của xã hội đến họ, nếu có, cũng chỉ là sự kiện ở “tầm vĩ mô” do phần lớn họ thuộc tầng lớp bình dân Điều họ quan tâm thường khi chỉ là những vấn đề tác động trực tiếp hàng ngày đến cuộc sống của họ: chuyện thương con chiều chồng (Mẹ con chị Hằng), chuyện của hai đứa trẻ (Hương và Phai), chuyện của vợ ông cán bộ quân đội khá cỡ vừa đồng bóng, vừa hảo tâm, vừa hồn nhiên (Lũ trẻ ở dãy K)… Gọi là chuyện, nhưng xem ra chẳng có gì thành chuyện Có người gọi loại truyện viết về đề tài này là thế sự, cũng có người cho nó là truyện đạo

đức Với ý thức tiếp cận con người bình thường trong cuộc sống thường nhật, Nguyễn Minh Châu đã tiếp nối nguồn mạch truyền thống từ Nam Cao, Thạch Lam Và ở đây cảm hứng nhân đạo theo phong cách của Nguyễn Minh Châu vẫn tiếp tục Con người trong cái nhếch nhác, lầm lụi của đời thường vẫn vừa cặm cụi, lặng lẽ làm nên các giá trị mà vẫn nhân hậu, đằm thắm Điều đáng chú ý là chính từ những con người nghèo khổ và lam lũ ấy, Nguyễn Minh

Trang 37

Châu đã phát hiện ra một thứ tình cảm kì lạ không chỉ với thiên nhiên mà chúng ta sẽ không thể giải thích được điều này nếu không đặt tất cả vào trong trường của những tập tục, phong tục, những thói quen, truyền thống Nguyễn Minh Châu đã kết hợp nhuần nhuyễn sức khái quát cao của phương pháp hiện thực truyền thống, bút pháp miêu tả khách quan với phong cách trữ tình không thể lẫn, nêu những vấn đề của đời thường, qua cảm quan văn học của ông vừa

đầy ắp chất thơ vừa giữ được tính sâu sắc của một trí tuệ mẫn cảm

Đi sâu vào số phận con người, xem con người là giá trị cao nhất của cuộc sống, là đối tượng khám phá đầy bí ẩn của văn học, đề cao nguyên tắc nhân bản và tôn trọng sự thật trong sáng tác nghệ thuật, Nguyễn Minh Châu không phát hiện điều gì hoàn toàn mới mẻ Nhưng là người nghệ sĩ trung thực

và rất nhạy cảm trước những đổi thay của cuộc sống, những đòi hỏi của thế hệ bạn đọc mới, Nguyễn Minh Châu đã sớm nhận thức được rằng không thể tiếp tục nghĩ như cũ, viết như cũ, tiếp tục cách nhìn giản đơn, thực dụng về con người và về văn học; như thế sẽ hạn chế sức mạnh riêng của văn học, hạ thấp bản lĩnh, nhân cách của người cầm bút chân chính Nguyễn Minh Châu đã

“nhận đường” đúng và đã thực hiện được những chuyển biến bước đầu xuất sắc, có vị trí xứng đáng là một trong những nhà văn tiêu biểu của thời kỳ văn học đổi mới

2.1.2 Nhân vật trong sáng tác Nguyễn Minh Châu

2.1.2.1 Các loại nhân vật:

Trong một tác phẩm văn học, nhân vật là sự biểu hiện khả năng chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật cùng với tư tưởng nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Do nhân vật có vai trò quan trọng như vậy nên nhiều nhà văn đã rất coi trọng việc xây dựng nhân vật trong quá trình sáng tác của mình “Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực

Trang 38

Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định” [6; Tr.102]

Sự ra đời của các loại hình nhân vật tuỳ thuộc vào quan niệm sáng tác của mỗi nhà văn Đối với Nguyễn Minh Châu, hệ thống nhân vật đã phản ánh trung thành thế giới nghệ thuật cũng như quan niệm nghệ thuật về con người

và hiện thực trong các chặng đường sáng tác Vào thời kỳ trước 1975, nhìn chung, nhân vật của Nguyễn Minh Châu chưa có nét riêng độc đáo vì tác giả chủ yếu chỉ soi chiếu ở góc độ “con người xã hội” Khi lòng yêu nước trở thành một hệ quy chiếu để nhìn nhận đánh giá phẩm chất con người thì nhân vật trong tác phẩm cũng được tác giả thể hiện chủ yếu trên phương diện ấy Nhưng càng về sau, dạng nhân vật loại hình không còn giữ vị trí độc tôn trong sáng tác của ông nữa, ngòi bút ấy đã vươn tới khắc họa nên những dạng nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách – những nhân vật có số phận riêng so với cộng

đồng

 Nhân vật tư tưởng:

Đây là loại nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội Thông thường loại nhân vật này hay xuất hiện khi xã hội có những dấu hiệu biến động và nhà văn thông qua nhân vật để gửi gắm tư tưởng của mình

Vào thời điểm những năm tám mươi khi có những dấu hiệu mở đầu thời

kỳ đổi mới trong đời sống sáng tác, loại nhân vật này của Nguyễn Minh Châu

đã xuất hiện, thể hiện sớm nhất và trực tiếp nhất nỗi trăn trở của chính bản thân ông về đổi mới tư duy nghệ thuật cũng như vấn đề bản lĩnh và nhân cách con người Các nhân vật này hoặc mang nhu cầu được sống trung thực với bản thân mình mà không bị hư danh, lừa dối, hoặc đòi hỏi phải nhận thức lại một

số vấn đề của đời sống xã hội Điều đó xuất phát từ nhu cầu muốn nhận thức lại các mối quan hệ giữa con người và xung quanh, giữa người nghệ sĩ và mục

đích của nghệ thuật “không muốn văn học chỉ là sự minh hoạ” Nhân vật

Trang 39

người hoạ sĩ trong truyện ngắn “Bức tranh” là một trong số những nhân vật tư tưởng tiêu biểu đầu tiên của Nguyễn Minh Châu Người hoạ sĩ có tác phẩm

“nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài” sau lần đi đến cái quán nhỏ cắt tóc, anh ta đã bàng hoàng phát hiện ra tội lỗi khó bề tha thứ của mình do thất hứa với người lính đã từng giúp đỡ, cứu mạng mình mà người mẹ tưởng con hy sinh nên đã khóc mù cả mắt Bắt đầu từ những ngày đó, anh ta sống trong dằn vặt, đau khổ Cùng khi người hoạ sĩ nhận thức về sự vi phạm chuẩn mực đạo đức thông thường của mình thì trong chính anh ta, một con người khác hiện ra xuê xoa, biện hộ với lý do khả dĩ là vì bận các việc chuẩn

bị cho cuộc triển lãm Tuy nhiên, nếu nhìn vào cách cư xử thường tình của con người có đạo đức thì hiển nhiên là không một lý do nào có thể biện minh

được Người hoạ sĩ đã không đủ dũng cảm để ra “đầu thú”, nhưng lương tâm anh ta lại cũng chưa đến mức có thể lờ đi được tội trạng của mình Quá trình nhận thức của người hoạ sĩ trong “Bức tranh” diễn ra khá phức tạp Vấn đề lương tâm, trách nhiệm của cá nhân được Nguyễn Minh Châu đặt ra khá rạch ròi, cụ thể qua hình tượng nhân vật người họa sĩ: Nếu là một con người đạo

đức liệu anh có thể tự cho phép mình vô ơn đối với những con người dẫu vô danh trong xã hội nhưng đã từng cứu mạng mình? Và nếu biết được hậu hoạ thói vô ơn của mình, liệu anh có đủ dũng cảm để thú tội? Hơn thế, là xin gánh một phần trách nhiệm? Còn ở góc độ người nghệ sĩ vả chăng “vì mục đích của

số đông” mà anh “có quyền lừa dối”, coi lời hứa của mình với người lính vô danh như một phép ứng xử có phần lịch sự thông thường để đáp lễ? Và trước nỗi bất hạnh có thật kia anh đã dửng dưng như một kẻ vô can

Loại nhân vật tư tưởng này còn được trở lại trong một số truyện khác và hình thành một môtip khá rõ thể hiện những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu Nhà văn T trong truyện ngắn

“Sắm vai” vốn từng dặn dò người khác “không được đánh mất mình”, “sống làm sao để có thể làm được việc” thì bây giờ bỗng trở thành một con người

Trang 40

khác – do chiều theo sở thích và yêu cầu của vợ mà từ bỏ tất cả những thói quen và sở thích cũ để đóng vai một anh chồng hào hoa, có vẻ thời thượng Dường như bên trong anh ta có hai vẻ mặt khác: “một bên đầy suy nghĩ và lơ

đễnh của người nghệ sĩ sáng tạo”, một bên “vui vẻ trẻ trung” Nhà văn đã rơi vào bi kịch đánh mất bản thân Nhưng rồi anh ta chọn cho mình một lối đi

“dứt khoát từ nay không chịu sắm vai” Dường như điều quan trọng nhất của Nguyễn Minh Châu muốn kí thác qua nhân vật “Sắm vai” là tính trung thực vô ngần của người nghệ sĩ Tính trung thực ấy là đạo đức trong lao động sáng tạo, là bảo đảm sự sống còn của văn chương; đi xa hơn nữa, điều này gắn liền với quan niệm về đạo đức, nhân cách của con người Nếu như trước kia nhân vật Điền trong “Trăng sáng” của Nam Cao từng vật vã vì sự cách biệt giữa những trang văn của mình với những đói rách, nghèo khổ của đời thường trước mắt, thì trong “Chiếc thuyền ngoài xa”, người phóng viên trong lần đi tìm cảnh để chụp ảnh làm lịch Tết theo yêu cầu của ông trưởng phòng, đã mục kích một sự thật nghiệt ngã trong đời sống những người ngư dân Tuy nhân vật không có những “tuyên ngôn” nghệ thuật hoặc đạo đức như trong “Sắm vai” (hay cả như trong “Trăng sáng”) nhưng từ sau chuyến đi này, mỗi lần ngắm bức tranh, người phóng viên đó lại cảm nhận đằng sau “cái màu hồng hồng của ánh sương mù” là vẻ lam lũ, khắc khổ cam chịu của người lao động Và

điều đó sẽ là một ám ảnh dai dẳng trong ý thức và quan điểm nghệ thuật của anh Cũng như Nam Cao, Nguyễn Minh Châu muốn nghệ thuật phải cắm rễ sâu vào các nguồn mạch của đời sống, và phải “đào bằng ngòi bút cho đến cùng của cái đáy sự thật chứa đầy bí ẩn để cảm thông và hiểu biết được số phận nhọc nhằn của người lao động”

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nhiều dạng nhân vật tư tưởng mang những sắc thái khác nhau bởi lẽ đây là thời kỳ mà nhà văn “như người đứng giữa trận tiền” và những nhân vật đó đã thể hiện trực diện và cụ thể ý đồ nghệ thuật của nhà văn – người muốn gióng lên tiếng chuông báo động về sự tha

Ngày đăng: 29/06/2020, 13:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w