Công bằng xã hội phải thểhiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạođiều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt
Trang 1Câu 1: Phân tích quan điểm của Đảng “ Tăng trưởng kinh tế cần gắn với tiến bộ và công bằng
xã hội trong từng thời kỳ và trong cả quá trình”
Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về quy mô sản lượngcủa nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, các chỉ tiêu để đo tăng trưởng kinh tế thường được sửdụng là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quânđầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác Nội hàm tăng trưởng kinh tế là tăng lên về số lượngtrong một thời gian nhất định, khái niệm này chưa thể hiện đầy đủ chất lượng của sự tăng trưởng
Tiến bộ xã hội là sự vận động của xã hội từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ lạc hậu đến văn minhhiện đại Tiến bộ xã hội trước hết phải xuất phát từ con người, vì con người và hướng tới sự tiến bộcủa con người Sự tiến bộ xã hội còn thể hiện ở sự phát triển ngày càng cao hơn của cơ sở hạ tầng,kiến trúc thượng tầng và ý thức xã hội
Công bằng xã hội là khái niệm mang tính chuẩn tắc phụ thuộc vào quan niệm khác nhau của mỗi giaicấp, mỗi quốc gia Công bằng xã hội là sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, côngbằng trong phân phối thu nhập, cơ hội phát triển và điều kiện thực hiện cơ hội Như vậy, công bằng xãhội là một khái niệm rất rộng, bao gồm cả yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Những thước đochủ yếu về công bằng xã hội là: Chỉ số phát triển con người (HDI); Đường cong Lorenz; Hệ số GINI;mức độ nghèo khổ; Mức độ thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là những cái đích cần hướng tới của các quốc giahiện nay Tuy nhiên, việc nhìn nhận mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ởnhững quốc gia khác nhau là không giống nhau; vì vậy, cách giải quyết vấn đề cũng đi theo những xuhướng khác nhau
Đại hội VIII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong chỉ đạo về vấn đề này Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: "Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thểhiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạođiều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực củamình"
Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là khát vọng của tất cả các quốc gia và trong mọithời đại Tuy nhiên, việc đạt được mong muốn kép này là hết sức khó khăn và trong thực tiễn đã cónhững ý kiến cho rằng có sự đối lập giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội Giải quyếtquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội luôn luôn là yêu cầu đặt ra trong suốtquá trình phát triển kinh tế xã hội ở các nước Bài toán đặt ra hiện nay đối với các quốc gia là thựchiện tăng trưởng kinh tế trước, sau đó mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội hay đặt tiến bộ vàcông bằng xã hội lên trước, sau đó mới chú trọng cho việc tăng trưởng kinh tế hay giải quyết hài hòatăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội? Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy không thể thựchiện tiến bộ hay công bằng xã hội trước nếu như không bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng cao, liên tụctheo hướng phát triển bền vững Mặt khác, nếu sự tăng trưởng kinh tế không bảo đảm thực hiện hiệuquả tiến bộ và công bằng xã hội thì sự tăng trưởng này cũng không có ý nghĩa Những chính sách chỉnhằm tăng trưởng kinh tế có thể làm gia tăng tình trạng bất bình đẳng Mặt khác, những chính sáchdựa trên ưu tiên mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội có thể dẫn đến triệt tiêu các động lực tăngtrưởng kinh tế, kết cục cả mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế đều không thực hiện được
Có quan điểm cho rằng, tăng trưởng kinh tế là yếu tố quyết định sự sống còn của một đất nước; vì vậy,
Trang 2cần tập trung cho tăng trưởng kinh tế Với quan niệm như vậy, nhiều quốc gia đã đạt được mức tăngtrưởng kinh tế cao, song lại phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự pháttriển của Trung Quốc trong những năm vừa qua đã đi theo mô hình này Nhờ quyết tâm đổi mới vàchính sách ưu tiên tập trung phát triển kinh tế, trong hơn hai mươi năm cải cách, mở cửa, kinh tếTrung Quốc đã đạt mức tăng trưởng cao, xếp vào hàng các nước có mức tăng trưởng đứng đầu thếgiới Song, rất nhiều vấn đề vốn được coi là hậu quả xã hội do tập trung quá mức cho tăng trưởng kinh
tế ở Trung Quốc đang được đặt ra, như ưu tiên quá mức cho tăng trưởng GDP, xem nhẹ sự phù hợpgiữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, phần lớn nhân dân ít được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinhtế; sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các nhóm xã hội, giữa các vùng, miền ngày càng tăng;môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng do tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức Nhận định vềtình hình này, ông Chi Fu lin - Chủ tịch Viện Nghiên cứu và phát triển Trung Quốc cho rằng, tháchthức lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay là sự mất cân đối ngày càng tăng trong phát triểnkinh tế và phát triển xã hội, là nguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn và khủng hoảng xã hội đang cản trở sự pháttriển của Trung Quốc(1) Hiện nay, Trung Quốc đang cố gắng đổi mới phương thức phát triển kinh tếtheo chiều hướng kết hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội
Từ thực tế phát triển ở nhiều nước, chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đưa ra lời cảnhbáo về 5 kiểu tăng trưởng kinh tế cần phải tránh Đó là:
1 Tăng trưởng không việc làm – kiểu tăng trưởng kinh tế nhưng không mở rộng những cơ hội tạothêm việc làm, hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp
2 Tăng trưởng không lương tâm – kiểu tăng trưởng mà thành quả của nó chủ yếu đem lại lợi ích chongười giàu, còn người nghèo được hưởng ít, thậm chí số người nghèo còn tăng thêm, khoảng cáchgiàu nghèo gia tăng
3 Tăng trưởng không có tiếng nói – kiểu tăng trưởng kinh tế không kèm theo sự mở rộng nền dân chủhay là việc tạo thêm quyền lực, chặn đứng tiếng nói khác và dập tắt những đòi hỏi được tham dự nhiềuhơn về xã hội và kinh tế
4 Tăng trưởng không gốc rễ – kiểu tăng trưởng khiến cho nền văn hóa của con người trở nên khô héo
5 Tăng trưởng không tương lai – kiểu tăng trưởng mà thế hệ hiện nay đã phung phí những nguồn lực
mà các thế hệ tương lai cần đến(2)
Ngược lại, cũng có quan điểm cho rằng, công bằng xã hội là ước mơ của con người ở mọi thời đại; vìvậy, cần đạt tới một xã hội công bằng càng nhanh càng tốt Do nôn nóng muốn có ngay một xã hộikhông còn áp bức, bất công, mọi người được sống tự do và bình đẳng, một số nước đã bất chấp quyluật phát triển kinh tế - xã hội, không căn cứ vào điều kiện lịch sử - cụ thể và nhanh chóng tiến hànhcông hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất, thực hiện phân phối bình quân, cào bằng Quan niệm về côngbằng xã hội một cách cực đoan như vậy đã tạo thành lực cản đối với tăng trưởng kinh tế, làm cho nềnkinh tế của các nước theo mô hình này rơi vào khủng hoảng Thực tế này đã buộc các nước đó phảithay đổi cách nhìn trước đây của mình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hộitheo chiều hướng khác
Ở nước ta, trong những năm đổi mới, đường lối của Đảng cũng như chính sách của Nhà nước đã thểhiện quan điểm mới, sâu sắc và toàn diện trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tếvới công bằng xã hội Điều này được phản ánh một cách nhất quán trong các văn kiện lớn của Đảng vàtrong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong suốt thời kỳ đổi mới
-Đảng ta nhấn mạnh rằng, phát triển kinh tế phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, thu hẹpkhoảng cách giữa thành thị và nông thôn, giữa nông thôn với nông thôn, giữa thành thị với thành thị,giữa các tầng lớp xã hội
Tựu trung lại, có thể khái quát quan điểm chỉ đạo của Đảng về vấn đề này trên một số điểm cơ bảnsau:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
xã hội Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc thực hiện công bằng xã hội phải tạo ra động lực để tăng trưởng kinh tế chứ không phải là nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh
tế
Tăng trưởng kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện để giải quyết vấn đề xã hội Không thể có
Trang 3công bằng xã hội trên cơ sở một nền kinh tế kém phát triển, cũng không thể có một nền kinh tế tăngtrưởng nhanh, hiệu quả và bền vững trong một xã hội mà con người ốm yếu về thể chất, trình độ dântrí thấp và một bộ phận đáng kể lực lượng lao động chưa được đào tạo, thất nghiệp, nghèo đói Ngay
cả trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất giữa tăng trưởngkinh tế với công bằng xã hội cũng luôn là một đòi hỏi khách quan, tất yếu
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, lực lượng sản xuất thấp kém, không đồng đều, cơ cấudân số đông, việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội ở nước ta phải tính đếnmục tiêu phát triển kinh tế Để công bằng xã hội có nội dung thực chất và tạo động lực phát triển kinh
tế, cần dứt khoát từ bỏ phương thức phân phối bình quân, cào bằng, bao cấp; khắc phục tâm lý ỷ lại,trông chờ vào nhà nước; xoá bỏ lối quản lý xin - cho Chẳng hạn, trong chiến lược xóa đói giảm
nghèo ở nước ta, một mặt, cần tăng cường sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức xã hội trong các chương trình xóa đói giảm nghèo; mặt khác, cần tăng cường các hoạt động giám sát, định hướng, tổ
chức giúp người dân thoát nghèo một cách vững chắc theo kiểu "dạy người dân cách tự câu lấy cá chomình"
Thứ hai, để công bằng xã hội trở thành động lực phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phải gắn quyền lợi với nghĩa vụ, cống hiến với hưởng thụ.
C.Mác đã chỉ rõ, công bằng là sự thể hiện yêu cầu bình đẳng trong quan hệ giữa cống hiến và hưởngthụ, giữa nghĩa vụ và quyền lợi Điều này có nghĩa là những người khác nhau nhưng cống hiến ngangnhau thì hưởng thụ như nhau Nói cách khác, xã hội đối xử ngang nhau với những người có đóng gópnhư nhau Mức độ hưởng thụ của cải xã hội được xác định dựa trên những cống hiến của họ đối với xãhội Công bằng xã hội cần được hiểu như vậy để tránh lặp lại lối phân phối bình quân chủ nghĩa màthực chất là cào bằng, không công bằng đã xuất hiện ở nước ta thời kỳ trước đổi mới Cách nhìn nhận
và giải quyết vấn đề công bằng xã hội như vậy nhằm khuyến khích mọi người đóng góp nhiều hơn cho
xã hội, tức là tạo nên động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội
Với quan điểm chung đó, việc phân phối trong lĩnh vực kinh tế chủ yếu dựa vào kết quả lao động, hiệuquả kinh tế; đồng thời, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác Mặt khác, những đóng gópkhác không phải trong hoạt động kinh tế, như những cống hiến trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế,giáo dục, cũng cần và phải tính đến nhằm bảo đảm cho người lao động được hưởng lợi ích tươngxứng, Nhiều người đã đóng góp sức lực, trí tuệ và hy sinh xương máu trong các cuộc chiến tranh bảo
vệ Tổ quốc, trong khi thi hành nhiệm vụ xã hội cũng phải được xã hội bù đắp một cách thoả đáng.Giải quyết vấn đề này không chỉ dừng ở mức độ đạo lý, mà nó phải mang tính pháp lý, được xã hộithừa nhận
Ngoài ra, Đảng ta cũng chủ trương rằng, để có công bằng xã hội, cần thiết lập và bảo đảm sự côngbằng trong việc tiếp cận các nguồn lực xã hội, như nguồn vốn, tài nguyên, thông tin, kỹ thuật, giáodục, đào tạo, chăm sóc y tế cũng như các cơ hội tìm kiếm thị trường và việc làm
Thứ ba, thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên phạm vi cả nước, ở mọi lĩnh vực, địa phương ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã cụ thể hóa tinh thần này trên từng lĩnh vực Về kinh tế, Đảng tachủ trương khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu theo luật pháp, tạo cơ hội để các hộnghèo thoát đói nghèo một cách bền vững, khắc phục tình trạng bao cấp, tư tưởng ỷ lại; tiếp tục cảicách chính sách tiền lương Về mặt y tế, tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khỏe, xây dựng và hoàn thiện các chính sách trợ cấp, bảo hiểm y tế cho các đốitượng chính sách và người nghèo trong khám chữa bệnh, chú trọng triển khai các dịch vụ y tế côngnghệ cao, khuyến khích phát triển đa dạng các dịch vụ y tế ngoài công lập Về giải quyết vấn đề xãhội, thực hiện đa dạng hóa các loại hình cứu trợ xã hội, hoàn chỉnh hệ thống chính sách bảo đảm dịch
vụ công cộng thiết yếu, đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng Trên từng lĩnh vực, các địa phương phải chủ động đề ra và thực hiện những bước đi, mục tiêu và cácgiải pháp cụ thể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng vùng, miền
Thứ tư, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội nhằm phát
triển xã hội mà trung tâm là phát triển con người, phát huy nhân tố con người.
Con người không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực để phát triển xã hội mới Xây dựng xã hội mới
Trang 4chính là để phát triển con người toàn diện; ngược lại, trong số các nguồn lực để xây dựng xã hội mới,con người là vốn quý nhất Trong thời đại ngày nay, muốn tăng trưởng kinh tế phải quan tâm giảiquyết vấn đề công bằng xã hội, tạo điều kiện cho con người có thể phát huy mọi năng lực và hưởngthụ xứng đáng những thành quả của chính mình Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta nhấn mạnh việc thựchiện chỉ tiêu GDP phải gắn với chỉ tiêu HDI trong suốt quá trình phát triển và trong từng chính sách xãhội Như vậy, có thể nói, tăng cường đầu tư cho con người là cơ sở để thực hiện tăng trưởng kinh tếbền vững và giải quyết các vấn đề xã hội một cách có hiệu quả, thiết thực.
Thứ năm, phát huy vai trò của nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động xã hội là nhân tố cơ bản đảm bảo kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội.
Công bằng xã hội là vấn đề của quan hệ lợi ích, lấy tăng trưởng kinh tế làm tiền đề, nhưng không phải
là hệ quả trực tiếp của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế tác động đến việc phân phối lợi íchthông qua những khâu trung gian; trong đó, trước hết phải kể đến cơ chế kinh tế và chính sách xã hộicủa nhà nước
Thị trường chỉ góp phần thực hiện công bằng xã hội theo cách thức riêng của nó, cụ thể là bằng cáchphân phối lợi nhuận theo quy luật của thị trường Theo đó, người có đóng góp nhiều thì hưởng lợinhiều, giỏi thắng kém thua và nhờ vậy, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm nhất quán của Đảng ta là phát triển nền kinh tế nhiều thành phầntheo định hướng xã hội chủ nghĩa Như vậy, việc phân phối thu nhập được thực hiện không chỉ theolao động, mà còn theo mức độ đóng góp các nguồn lực khác, như vốn, tài sản, đất đai vào tăng trưởngkinh tế, trong đó phân phối thu nhập theo lao động là hình thức phân phối chủ yếu, và như thế đượccoi là công bằng Tuy vậy, đối với một thị trường chưa hoàn hảo, còn có độc quyền, có cạnh tranh bấtbình đẳng thì nguyên tắc phân phối của thị trường cũng chưa phải đã là công bằng Ngoài ra, hiện nay,
ở nước ta, còn nhiều đối tượng có những khiếm khuyết về sức khỏe, năng lực, trí tuệ, còn nhiều khuvực dân cư các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa kinh tế hàng hóa chưa phát triển… mà sự phânphối của thị trường không đến được Trong điều kiện như vậy, sự điều tiết của “bàn tay hữu hình” -Nhà nước là sự can thiệp cần thiết, bảo đảm cho tất cả mọi người đều được hưởng thụ tương xứng vớinhững cống hiến của họ cho xã hội trên nhiều lĩnh vực mà thị trường không làm được Vì vậy, tăngcường vai trò của nhà nước trong việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội là xu hướngtất yếu, là một biện pháp đặc biệt quan trọng Bên cạnh đó, Đảng ta cũng chỉ đạo tích cực đẩy mạnh xãhội hóa trong giáo dục, y tế và các dịch vụ công cộng khác với phương châm không bao cấp tràn lan
và không vì mục tiêu lợi nhuận
Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là mục tiêu tổng quát Không nghi ngờ gì nữa, tăngtrưởng kinh tế và công bằng xã hội là những tiêu chí cơ bản nhất cần phải đạt tới Thực tế cho thấy,tăng trưởng kinh tế có thể tạo cơ sở để thực hiện công bằng xã hội và ngược lại, nó cũng có thể làmcho công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng hơn, vì vậy nó cũng ảnh hưởng tới các vấn đề khác của
xã hội Cũng như vậy, việc thực hiện công bằng xã hội không chỉ thể hiện tính nhân văn của xã hội,
mà còn có thể thúc đẩy hay kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế Quan hệ giữa chúng không phải là đồngthuận và có tính tự phát Hiệu quả của mối quan hệ này ở nước ta hiện nay được phát huy đến đâu -điều đó không chỉ phụ thuộc vào tính tất yếu khách quan của nền kinh tế, mà còn phụ thuộc vào quanđiểm chỉ đạo của Đảng và mức độ hiện thực hóa các quan điểm đó trong thực tiễn cuộc sống
Câu 2: Tại sao quan điểm của Đảng chủ trương “Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và
có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước”? để rút ngắn thời gian cần phải thực hiện những yêu cầu gì?
Con đường công nghiệp hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước Đây
là yêu cầu cấp thiết của nước ta nhằm sớm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 5*** Cần phải rút ngắn thời gian :
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước
ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn thấp so với khả năng và thấp hơn nhiều nước trong khu vực thời kỳ đầu công nghiệp hóa Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, vào các ngành công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động Năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực
- Chúng ta cần tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước
ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
-Cơ cấu thành phần kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu
- Nguồn lực trí tuệ và tinh thần của con người Việt Nam
- Nuớc ta có nền kinh tế - chính trị độc lập tự chủ, nhân dân cả nước đều ủng hộ ĐCS VN trong suốt quá trình hình thành dân tộc
- Hệ thống cảng biển và vận tải biển nằm ở khu vực trung tâm,các khoáng sản :dầu khí, hải sản, biển, đảo phong phú và đa dạng
*** Để rút ngắn thời gian cần phải thực hiện những yêu cầu gì?
- Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giải quyết đồng bộ các vấn
đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân
+ Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp : Nông nghiệp là nơi cung cấp lương thực, nguyên liệu và lao động cho công nghiệp và thành thị, là thị trường rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ Nông thôn chiếm đa số dân cư ở thời điểm khi bắt đầu công nghiệp hóa Vì vậy, quan tâm đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa, đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất,
Trang 6chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa
+ Về quy hoạch phát triển nông thôn: Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan, bảo đảm an ninh, trật tự
an toàn xã hội
+ Về giải quyết lao động, việc làm ở nông thôn: Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông, các khu đô thị mới
-Hai là, phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ
Tính quy luật của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tỷ trọng của nông nghiệp giảm còn công nghiệp, dịch vụ thì tăng lên Vì vậy, nước ta chủ trương phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây dựng và dịch
vụ
- Đối với công nghiệp và xây dựng:
+Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm vàcông nghiệp bổ trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động;
+Tích cực thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện các dự án quan trọng để khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô
+ Thu hút chuyên gia giỏi, cao cấp của nước ngoài và trong cộng đồng người Việt định cư ở nước ngoài
- Đối với dịch vụ: mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống như vận tải,
thương mại, ngân hàng, bưu chính viễn thông, du lịch Phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở khu vực nông thôn
-Ba là, phát triển kinh tế vùng: Cơ cấu kinh tế vùng là một trong những cơ cấu cơ bản của nền kinh tế quốc dân Để phát triển mạnh mẽ kinh tế vùng trong những năm tới cần phải:
+Có cơ chế, chính sách phù hợp để các vùng trong cả nước cùng phát triển nhanh hơn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh, khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín theo địa giới hành chính
+Xây dựng ba vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam thành những trung tâm công nghiệp lớn có công nghệ cao để các vùng này đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển chung của cả nước
+ Có chính sách trợ giúp nhiều hơn về nguồn lực để phát triển các vùng khó khăn Bổ sung chính sáchkhuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh tại các vùng khó khăn
-Bốn là, phát triển kinh tế biển
Trang 7+Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm Sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng – an ninh và hợp tác quốc tế
+Hoàn chỉnh quy hoạch và phát triển có hiệu quả hệ thống cảng biển và vận tải biển, khai thác, khai thác và chế biến dầu khí, khai thác và chế biến hải sản, phát triển du lịch biển, đảo
-Năm là, dịch chuyển cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ
+ Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm
+Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tếtri thức
+Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao
-Sáu là, bảo vệ, sử dụng, hiệu quả tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên
+Tăng cường quản lý tài nguyên quốc gia, nhất là các tài nguyên đất, nước, khoáng sản và rừng
+Ngăn chặn các hành vi hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường, khắc phục tình trạng xuống cấp môi trường ở các lưu vực song, đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, nơi đông dân cư và có nhiều hoạt độngkinh tế
+Quan tâm đầu tư cho lĩnh vực môi trường, nhất là các hoạt động thu gom, tái chế và xử lý chất thải, phát triển và ứng dụng công nghệ sạch hoặc công nghệ ít gây ô nhiêm môi trường
- Xử lý tốt mối quan hệ giữa tăng dân số, phát triển kinh tế và đô thị hóa với bảo vệ môi trường, bảo đảm phát triển bền vững
Câu 4 : Những cơ hội và thách thức khi VN hội nhập kinh tế quốc tế? Chúng ta phải làm gì để hội nhập kinh tế quốc tế thành công?
*** Khi hội nhập,nước ta đứng trước những cơ hội lớn như sau:
Một là: Được tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập
khẩu đã được cắt giảm và các ngành dịch vụ mà các nước mở cửa theo các Nghị định thư gia nhập củacác nước này, không bị phân biệt đối xử Điều đó, tạo điều kiện cho chúng ta mở rộng thị trường xuất khẩu và trong tương lai - với sự lớn mạnh của doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta - mở rộng
kinh doanh dịch vụ ra ngoài biên giới quốc gia Với một nền kinh tế có độ mở lớn như nền
kinh tế nước ta, kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm trên 60% GDP thì điều này là đặc biệt quan trọng, là yếu tố bảo đảm tăng trưởng
Hai là: Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo quy định của WTO, môi trường kinh doanh của nước ta ngày càng được cải thiện Đây là tiền đề rất quan trọng để không những phát
Trang 8huy tiềm năng của các thành phần kinh tế trong nước mà còn thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển.
Thực tế trong những năm qua đã chỉ rõ, cùng với phát huy nội lực, đầu tư nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta và xu thế này ngày càng nổi trội: năm 2006, đầu tư nước ngoài chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp, gần 56% kim ngạch xuất khẩu và 15,5% GDP, thu hút hơn một triệulao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Ba là: Gia nhập WTO chúng ta có được vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong việc hoạch
định chính sách thương mại toàn cầu, có cơ hội để đấu tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện để bảo vệ lợi ích của đất nước, của doanh nghiệp Đương nhiên kết quả đấu tranh còn tuỳ thuộc vào thế và lực của ta, vào khả năng tập hợp lực lượng và năng lực quản lý điều hành của ta
Bốn là: Mặc dầu chủ trương của chúng ta là chủ động đổi mới, cải cách thể chế kinh tế ở trong nước
để phát huy nội lực và hội nhập với bên ngoài nhưng chính việc gia nhập WTO, hội nhập vào nền kinh
tế thế giới cũng thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách của ta đồng bộhơn, có hiệu quả hơn
Năm là: Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau 20 năm đổi mới, việc gia nhập WTO
sẽ nâng cao vị thế của ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện cho ta triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại theo phương châm: Việt Nam mong muốn là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới vì hoà bình, hợp tác và phát triển
Trong khi nhận thức rõ những cơ hội có được do việc gia nhập WTO mang lại, cần thấy hết những thách thức mà chúng ta phải đối đầu, nhất là trong điều kiện nước ta là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé
*** Khi hội nhập, nước ta đối đầu với những thách thức bao gồm:
Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn
Đây là sự cạnh tranh giữa sản phẩm của ta với sản phẩm các nước, giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước, không chỉ trên thị trường thế giới và ngay trên thị trường nước ta do thuế nhậpkhẩu phải cắt giảm từ mức trung bình 17,4% hiện nay xuống mức trung bình 13,4% trong vòng 3 đến
5 năm tới, nhiều mặt hàng còn giảm mạnh hơn
Cạnh tranh không chỉ diễn ra ở cấp độ sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp Cạnh tranh còn diễn ra giữa nhà nước và nhà nước trong việc hoạch định chính sách quản lý và chiến lược phát triển nhằm phát huy nội lực và thu hút đầu tư từ bên ngoài Chiến lược phát triển có phát huy được lợi thế so sánh hay không, có thể hiện được khả năng “phản ánh vượt trước” trong một thế giới biến đổi nhanh chóng hay không
Chính sách quản lý có tạo được chi phí giao dịch xã hội thấp nhất cho sản xuất kinh doanh hay không,
có tạo dựng được môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thuận lợi hay không v.v… Tổng hợp các yếu tố cạnh tranh trên đây sẽ tạo nên sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế, sức cạnh tranh quốc
Trang 9Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều Những nước có nền
kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồngđều Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo
sẽ mạnh hơn Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt
và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”
Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước
sẽ tăng lên Sự biến động trên thị trường các nước sẽ tác động mạnh đến thị trường trong nước, đòi hỏichúng ta phải có chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn, có năng lực dự báo và phân tích tình hình, cơ chế quản lý phải tạo cơ sở để nền kinh tế có khả năng phản ứng tích cực, hạn chế được ảnh hưởng tiêu cựctrước những biến động trên thị trường thế giới Trong điều kiện tiềm lực đất nước có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ, đòi hỏi chúng ta phải phấn đấu vươn lên mạnh mẽ, với lòng tự hào và trách nhiệm rấtcao trước quốc gia, trước dân tộc
Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an
ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền
Như vậy, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường
mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của chúng ta Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta
Cơ hội và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động, chuyển hoá và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát triển Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn Ngược lại, không tận dụng được
cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất
Với thành tựu to lớn sau 20 năm đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm và kết quả của nhiều nước gia nhập Tổ chức
thương mại thế giới trước ta, cho chúng ta niềm tin vững chắc rằng: Chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vào cảnh phá sản nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiều doanh nghiệp mới sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theo mục tiêu và định hướng của chúng ta
*** Những giải pháp để hội nhập kinh tế thành công:
1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý, nhằm hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện các cam kết:
Trang 10(i) Soạn thảo các văn bản hướng dẫn thực thi các luật mới ban hành, bảo đảm cụ thể, công khai, minh bạch phù hợp với nội dung của luật;
(ii) Xoá bỏ mọi hình thức bao cấp, trong đó có bao cấp qua giá, thực hiện giá thị trường cho mọi loại hàng hoá và dịch vụ Đối với những mặt hàng hiện còn áp dụng cơ chế nhà nước định giá, phải xác định lộ trình thực hiện nhanh giá thị trường để các doanh nghiệp tính toán lại phương án sản xuất kinh doanh;
(iii) Đẩy mạnh cải cách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo đảm cho các ngân hàng thương mại thực sự là các đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các khoản vay và cho vay trên cơ sở hiệu quả, không có sự phân biệt đối xử về hình thức sở hữu và các thành phần kinh tế Hoàn thiện cơ chế quản lý thị trường đất đai và bất động sản, tạo bước đột phá trong hoạt động của thị trường này Cải cách chế độ kế toán và tài chính doanh nghiệp theo chuẩn mực quốc tế;
(iv) Xây dựng các biện pháp hỗ trợ đối với một số lĩnh vực, sản phẩm đi đôi với việc loại bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp gắn với tỷ lệ nội địa hoá phù hợp với các cam kết của ta trong Tổ chức thương mại thế giới;
(v) Hoàn thiện cơ chế và tổ chức quản lý cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp để tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh Xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm phù hợp với Hiệp định TBT và SPS để bảo vệ thị trường nội địa và người tiêu dùng;
(vi) Kết hợp chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ, sử dụng linh hoạt các công cụ lãi suất, hạn mức tín dụng, tỷ giá để điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nâng cao chất lượng của công tác thông tin, dự báo về thị trường, giá cả, quan hệ cung cầu để xác định các cân đối lớn
(vii) Đẩy mạnh cải cách tiền lương, chế độ bảo hiểm; sớm nghiên cứu hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp, và các chính sách an sinh xã hội; (viii) Đổi mới cơ chế quản lý các cơ quan khoa học - công nghệ theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự hạch toán Gắn kết chặt chẽ các cơ quan này với doanh nghiệp để thúc đẩy việc đổi mới công nghệ sản xuất ở doanh nghiệp, nhằm phát triển thị trường khoa học, công nghệ Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào đầu tư, kinh doanh đi đôi với việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
2 Thực hiện một cách mạnh mẽ cải cách thủ tục hành chính, bãi bỏ các thủ tục, giấy tờ không thực sự cần thiết nhằm rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp và tham gia thị trường, đưa nhanh hàng hoá
và dịch vụ vào kinh doanh Việc quản lý xuất nhập khẩu các mặt hàng quản lý chuyên ngành chỉ căn
cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, điều kiện hành nghề, không dùng giấy phép làm công cụ để hạn chế thương mại
Công bố công khai quy trình tác nghiệp, thời gian giải quyết công việc, người chịu trách nhiệm ở tất
cả các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước và các đơn vị cung ứng dịch vụ công để mọi công dân, mọi doanh nghiệp biết, thực hiện và giám sát việc thực hiện Công khai, minh bạch mọi chính sách, cơ chế quản lý là một trong những tiêu chí của xã hội "công bằng, dân chủ, văn minh" và là yêu cầu cấp bách hiện nay
Điều này không những là tiền đề của chống tham nhũng mà còn là điều kiện để tạo ra thị trường cạnh tranh, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp và công dân, là điều kiện bảo đảm hiệu quả của tăng trưởng Phải làm việc này một cách đồng bộ và kiên quyết Loại bỏ khỏi bộ máy nhà nước những công
Trang 11chức gây phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân và doanh nghiệp, những người thiếu trách nhiệm khi thực hiện nhiệm vụ.
3 Sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước, theo yêu cầu quản lý đa ngành, đa lĩnh vực Làm việc này không phải là để tinh gọn tổ chức một cách giản đơn Làm việc này là tạo ra tiền đề tổ chức để bảo đảm sự đồng bộ, tầm nhìn liên ngành, khắc phục sự chồng chéo, kém hiệu quả trong việc xây dựng và thực thi các thiết chế quản lý
Trên cơ sở sắp xếp lại các cơ quan quản lý nhà nước và cải cách thủ tục hành chính để xây dựng lại hệthống phân cấp theo những tiêu chí khoa học, bảo đảm tính tương thích, sự đồng bộ và tính mục tiêu trong các lĩnh vực đã phân cấp Quan điểm nhất quán ở đây là: bảo đảm tính thống nhất quản lý và mục tiêu phát triển, phân cấp mạnh cho địa phương và cơ sở Vấn đề sẽ được giải quyết ở cấp nào mà
ở đó có đầy đủ thông tin và khả năng thực hiện công việc tốt nhất Gắn phân cấp với kiểm tra, giám sát
4 Đổi mới để phát triển mạnh nguồn nhân lực:Chúng ta thường nói và người nước ngoài cũng nói: nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, lao động trẻ chiếm 70% lực lượng lao động Người Việt Nam cần
cù, chịu khó học tập, nhận thức nhanh Đây là một lợi thế cạnh tranh Điều đó đúng nhưng chưa phản ánh đầy đủ thực trạng nguồn nhân lực nước ta
Hiện tại, chúng ta chỉ có lợi thế cạnh tranh thực tế trong những ngành nghề đòi hỏi sử dụng nhiều lao động với kỹ năng trung bình và thấp Những lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi trình độ cao, chúng ta đang rất thiếu và do đó làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư vào những lĩnh vực này như cơ khí chế tạo, sản xuất các sản phẩm công nghệ cao, tư vấn thiết kế, tạo mẫu và trong các ngành dịch vụ
có giá trị gia tăng cao Hạn chế này là do những yếu kém, bất cập trong hệ thống giáo dục của ta, cầnphải nhanh chóng tìm ra các giải pháp để khắc phục
Hướng chính ở đây là:
Chấp nhận cơ chế thị trường trong đào tạo đại học thuộc các ngành kỹ thuật - công nghệ và dạy nghề
để huy động các nguồn lực nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo gắn liền với việc thực hiện đầy đủ cơ chế thị trường trong việc trả lương cho người lao động
Từ quan điểm hệ thống và bảo đảm tính liên thông trong hệ thống giáo dục - đào tạo từ phổ thông - đạihọc và dạy nghề, giải quyết trước việc cải cách giáo dục đại học và dạy nghề Học tập kinh nghiệm của các nước có nền giáo dục đại học và dạy nghề tiên tiến để chọn lọc, sử dụng Trên cơ sở bảo đảm tính thống nhất trong những nguyên tắc lớn và sự quản lý thống nhất của nhà nước đối với giáo dục vàđào tạo, phát huy tính tự chủ, bản sắc riêng và tính cạnh tranh trong đào tạo đại học và dạy nghề Nhà nước sẽ đầu tư nhiều hơn cho những ngành nghề cần thiết nhưng tính cạnh tranh thấp
Khẩn trương xây dựng chiến lược cải cách giáo dục từ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy,chế độ thi cử ở tất cả các cấp đào tạo
5 Tập trung sức phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, năng lượng:
Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng đã và sẽ hạn chế thu hút đầu tư làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cạnh tranh giữa các nước về cơ sở hạ tầng sẽ là sự cạnh tranh dài hạn, nhất là trong điều kiện các hình thức ưu đãi trái với quy định của Tổ chức thương mại thế giới sẽ bị loại bỏ Vì vậy,
Trang 12phải đặc biệt coi trọng sự phát triển cơ sở hạ tầng Lâu nay nhà nước đã rất chú ý phát triển cơ sở hạ tầng bằng nhiều nguồn vốn khác nhau: vốn ngân sách, vốn ODA, vốn của doanh nghiệp đầu tư theo phương thức BOT, BT,…, vốn của dân Khuyết điểm ở đây là tình trạng đầu tư từ nguồn vốn nhà nước phân tán, kéo dài chậm được khắc phục
Phát triển cơ sở hạ tầng là yêu cầu bức xúc của các địa phương, các vùng kinh tế Khi nhu cầu lớn, nguồn lực có hạn, để thoả mãn được nhiều đối tượng dễ dẫn đến cách phân bổ phân tán, dàn trải Kết quả là thời gian thi công kéo dài, nợ đọng lớn, không ít công trình hiệu suất sử dụng thấp, hiệu quả không cao xét trên yêu cầu phát triển tổng thể của nền kinh tế Phải kiên quyết khắc phục tình trạng này
Nguyên tắc chỉ đạo ở đây là cái mà chúng ta lựa chọn và quyết định là cái tốt nhất có thể chứ chưa phải là cái mà chúng ta mong muốn Cái tốt nhất có thể là cái mà nếu được lựa chọn sẽ có hiệu suất sửdụng cao nhất Trong phát triển cơ sở hạ tầng (các tuyến đường, bến cảng) đó là những vùng đã và sẽ
có trong tương lai gần dung lượng lưu thông hàng hoá lớn, từ đó thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế nói chung Từ yêu cầu này mà xử lý mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng về vốn Điều chỉnh lại việc phân cấp đầu tư cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung cao hơn Người có quyền ra quyết định đầu tư phải kiên quyết thực hiện bằng được yêu cầu này
Huy động mọi nguồn lực kể cả các nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào việc xây dựng cơ sở
hạ tầng giao thông, năng lượng
6 Về nông nghiệp, nông thôn và nông dân:
Nông nghiệp là lĩnh vực nhạy cảm và dễ bị tổn thương hơn cả khi thực hiện cam kết cắt giảm thuế nông sản Thực hiện sự chỉ đạo của Chính phủ, Đoàn đàm phán đã kiên trì và thận trọng trong việc mởcửa thị trường nông sản Mặc dầu vậy, nông nghiệp vẫn là lĩnh vực bị sức ép cạnh tranh khá lớn, nhất
là trong điều kiện nông nghiệp nước ta vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, công nghệ lạc hậu, năng suấtkém, chất lượng sản phẩm không cao, bình quân đất nông nghiệp trên một lao động thấp
Để giải quyết vấn đề này phải thực hiện theo 2 hướng:
Một là: Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong đó có cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp
và nông thôn, từng bước chuyển lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ; đưa các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, yêu cầu đào tạo không cao về nông thôn; phát triển các làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; hình thành các thị trấn, thị tứ mới ở nông thôn Đây là hướng phát triển quan trọng nhất
Hai là: Tăng ngân sách đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn cùng với việc dành toàn bộ các nguồn
vốn hỗ trợ trước đây cho khuyến khích xuất khẩu nông sản để đầu tư phát triển thuỷ lợi, giao thông nông thôn Nhà nước hỗ trợ việc xây dựng hệ thống kho tàng, các cơ sở bảo quản, phơi sấy nhằm giảmhao hụt, bảo đảm chất lượng sản phẩm sau thu hoạch, tạo điều kiện điều tiết lượng hàng hoá lưu thôngtrên thị trường nhằm ổn định giá cả, phát triển chợ nông thôn Giảm mạnh sự đóng góp của nông dân Đầu tư mạnh vào việc phát triển, cải tạo các loại giống có năng suất cao, chất lượng tốt để cung cấp cho nông dân có sự hỗ trợ giá từ ngân sách nhà nước Phát triển và tổ chức lại hệ thống khuyến nông trên cả 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện, xã và hợp tác xã
Trang 13Phát triển các doanh nghiệp, các hợp tác xã cổ phần sản xuất nông nghiệp và kinh doanh dịch vụ ở nông thôn, thông qua đó mà thúc đẩy quá trình hình thành các vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp, bảo đảm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư cho nông dân Khuyến khích nông dân trở thành
cổ đông của các doanh nghiệp và các hợp tác xã cổ phần, là đồng sở hữu các nhà máy chế biến nông sản, bảo đảm thu nhập của nông dân và cung cấp ổn định nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
Nghiên cứu để hình thành cơ chế gắn việc thu hút lao động trong nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, xuất khẩu lao động với việc chuyển giao, cho thuê lại ruộng đất để đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất
7 Phát triển các loại hình dịch vụ:
Lĩnh vực dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các nền kinh tế Các nước công nghiệp phát triển trình độ cao, dịch vụ chiếm từ 60 - 70% Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá và sự phân công lao động gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá vừa đặt ra nhu cầu vừa tạo khả năng phát triển dịch vụ Ngược lại sự phát triển dịch vụ sẽ làm giảm chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Từ đó, phải hết sức coi trọng phát triển tất cả các ngành dịch vụ
Tập trung phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao: dịch vụ tài chính, ngân hàng với nhiều sản phẩm đa dạng, dịch vụ viễn thông, dịch vụ du lịch, các loại dịch vụ tư vấn để hỗ trợ các tổ chức, cá nhân lập doanh nghiệp, lựa chọn phương án kinh doanh, các dịch vụ nghề nghiệp như kế toán, kiểm toán để đánh giá chính xác hiệu quả sản xuất, kinh doanh, bảo đảm công khai, minh bạch
về tình trạng tài chính của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán Nhanh chóng xây dựng hệ thống mã số các loại dịch vụ theo phân loại của Tổ chức thương mại thế giới Trên
cơ sở đó, có định hướng đúng đắn chiến lược phát triển dịch vụ
8 Phát triển những lĩnh vực, sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, có khả năng mở rộng thị trường
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, thế giới đã diễn ra hai mô hình công nghiệp hoá Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đi liền với chế độ bảo hộ mậu dịch Mô hình này khá phổ biến và đã thành công trước những năm 80 Khi chế độ bảo hộ mậu dịch giảm dần, sự phân công lao động quốc tế sâu rộng hơn, các nước chuyển sang mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu trên cơ sở lợi thế so sánh Từ nửa sau thập kỷ 90 của thế kỷ trước, toàn cầu hoá kinh tế trở thành xu thế Hàng rào bảo hộ
bị cắt giảm thông qua việc ký kết các hiệp định mậu dịch tự do song phương và khu vực và việc hình thành Tổ chức thương mại thế giới, ranh giới kinh tế giữa các quốc gia bị giảm thiểu; sự phát triển củavận tải đa phương thức và dịch vụ logistic đã làm chi phí lưu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia giảm mạnh, thị trường trong nước và thị trường nước ngoài gần như thông nhau
Cái gọi là công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu không còn nguyên nghĩa như khái niệm ban đầu của nó Một sản phẩm cạnh tranh được trên thị trường trong nước cũng có khả năng cạnh tranh trên thị trường nước ngoài và ngược lại
Vì vậy, việc lựa chọn các ngành và sản phẩm để phát triển phải căn cứ vào các yếu tố sau đây: (1) lợi thế so sánh dài hạn; (2) quy mô kinh tế đặt trong quy hoạch liên vùng (để bảo đảm giảm chi phí cố định); (3) dung lượng thị trường (để bảo đảm có được thị phần và tăng thị phần mà không bị các biện pháp tự vệ, điều tra chống bán phá giá); (4) mức giảm thuế và lộ trình giảm thuế theo cam kết (để đo sức ép cạnh tranh của hàng nhập khẩu)
Trang 14Đi đôi với việc phát triển một số ngành, sản phẩm theo các tiêu chí nêu trên cần hết sức coi trọng phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp nền tảng cho công nghiệp hoá
9 Tiếp tục đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích mọi người đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh, phát triển các loại hình doanh nghiệp, có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ:Việc sắp xếp lại, đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua đã đem lại những kết quả tích cực Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá đều có doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách cao hơn trước khi cổ phần hoá; việc làm và đời sống người lao động trong
doanh nghiệp đã cổ phần hoá được bảo đảm, có phần được cải thiện; quyền làm chủ thực sự trong quản lý doanh nghiệp từng bước được xác lập Việc bán giá trị của doanh nghiệp thông qua đấu thầu trên thị trường chứng khoán đã khắc phục được tình trạng thất thoát vốn, tài sản của nhà nước
Tuy nhiên, tỷ lệ doanh nghiệp mà nhà nước có cổ phẩn hoặc cổ phần chi phối còn nhiều Vốn của nhà nước trong doanh nghiệp còn lớn, tín dụng dành cho doanh nghiệp nhà nước chiếm tỷ lệ cao Phải khẩn trương hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần, kể cả các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế
Một nước ở trình độ phát triển thấp như nước ta, lại đang trong giai đoạn chuyển đổi, tuyệt đại bộ phận là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 95%), loại hình doanh nghiệp này thực sự đang là động lực của sự phát triển Vì vậy, cần có chính sách hỗ trợ có hiệu quả hơn nữa các doanh nghiệp này
So với dân số và nhu cầu tăng trưởng kinh tế, số lượng doanh nghiệp nước ta hiện rất thấp Đây là hạn chế lớn trong việc phát triển kinh tế, giải quyết công ăn việc làm, tạo ra thị trường cạnh tranh và huy động nguồn lực của xã hội Vì vậy, khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triểncác loại hình doanh nghiệp Định hướng cơ bản để thực hiện việc này là tạo điều kiện để doanh nghiệp
có môi trường sản xuất, kinh doanh thuận lợi, giảm chi phí tham gia thị trường, miễn giảm thuế trong thời gian đầu lập nghiệp, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo quản trị doanh nghiệp
10 Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN:
Như trên đã nói, chủ thể của tiến trình hội nhập và cạnh tranh là nhà nước và doanh nghiệp Trong đó doanh nghiệp trực tiếp cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài trên thị trường trong và ngoài nước
Có thể thấy rõ 4 điểm yếu của doanh nghiệp nước ta: số lượng doanh nghiệp ít; quy mô nhỏ, thiếu vốn; công nghệ sản xuất kinh doanh nhìn chung lạc hậu; khả năng quản trị doanh nghiệp còn yếu kém.Những hạn chế này có nguyên nhân khách quan của một nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp, đang trong quá trình chuyển đổi Điều quan trọng là các doanh nghiệp phải nhận thức được các hạn chế yếu kém đó, có kế hoạch để khắc phục các yếu kém đó
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải xác định được chiến lược mặt hàng và chiến lược thị trường đúng đắn Trên cơ sở lựa chọn đúng chiến lược thị trường, chiến lược mặt hàng mà đổi mới công nghệ sản xuất, công nghệ quản lý; áp dụng các tiêu chuẩn ISO, hoàn thiện phương thức kinh doanh; tạo ra bản sắc riêng có, những nét độc đáo riêng có của doanh nghiệp mình thông qua đó mà thu hút khách hàng, phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu Phải tăng cường liên kết hợp tác theo chiều dọc và chiều ngang; xác lập quan hệ bạn hàng và nhanh chóng hình thành hệ thống phân phối Cần nhận thức rằng cạnh tranh và hợp tác luôn song hành trong hoạt động của doanh nghiệp trong cơ chế thị trưởng
Trang 15Các tập đoàn tư bản tuy cạnh tranh với nhau gay gắt nhưng cũng sẵn sàng hợp tác vì lợi ích của chính
họ Doanh nghiệp của ta quy mô nhỏ, vốn ít càng cần phải tăng cường liên kết và hợp tác Điều quan trọng là năng lực và bản lĩnh của người quản trị doanh nghiệp Vì vậy, các doanh nghiệp phải chọn cho được những người quản trị doanh nghiệp có bản lĩnh và năng lực thực sự
Kinh doanh là nghề chấp nhận mạo hiểm Chấp nhận mạo hiểm hoàn toàn khác với làm liều Chấp nhận mạo hiểm trên cơ sở thu thập và xử lý đầy đủ thông tin, và dự kiến trước những diễn biến của thị trường Phải tính đến rủi ro có thể xảy ra và nếu xảy ra rủi ro thì thiệt hại sẽ được giới hạn và có khả năng khắc phục Làm được như vậy hiệu quả kinh doanh sẽ được bảo đảm, và trên cơ sở hiệu quả kinhdoanh mà tăng khả năng tích tụ vốn và huy động vốn trên thị trường chứng khoán Từ đó doanh
nghiệp sẽ lớn lên, mạnh hơn, sức cạnh tranh sẽ được tăng cường, từng bước hình thành nhiều công ty, tập đoàn kinh tế lớn
Kiện toàn tổ chức và cơ chế hoạt động của các hiệp hội ngành hàng, bảo đảm hiệp hội thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước, hỗ trợ có hiệu quả cho doanh nghiệp trong việc phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực Nâng cao trách nhiệm và đổi mới
phương thức hoạt động của các cơ quan xúc tiến thương mại, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài trong việc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường, thiết lập quan hệ bạn hàng, đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển du lịch và thu hút đầu tư
Không thể thực hiện những công việc rộng lớn trên đây trong một thời gian ngắn Nhưng phải kiên quyết và kiên trì thực hiện trên cơ sở xây dựng các chương trình hành động đồng bộ, có phân công trách nhiệm rõ ràng, lộ trình thực hiện cụ thể, trước hết là trong các cơ quan nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp
11 Tiền đề quan trọng và có ý nghĩa quyết định để thực hiện thắng lợi các chủ trương và giải phápnêu trên là bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, giữ vững chủ quyền quốcgia và định hướng của sự phát triển Nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp xã hội về bản chất và nộidung của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, những cơ hội và thách thức khi VN gia nhập Tổ chứcthương mại thế giới Tạo ra sự thống nhất trong nhận thức, thống nhất đánh giá, thống nhất hànhđộng Trên cơ sở đó phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, truyền thống yêu nước và cáchmạng, ý chí tự lực tự cường của mọi người Việt Nam nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức đưanền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Câu 5: Phân tích những chủ trương tạo tiền đề để Đảng đề ra chủ trương đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế trong Đạo hội VI (12/1986)
Trong tiến trình đổi mới đất nước, Đại hội VI là bước đột phá đầu tiên về đổi mới tư duy của Đảng về phát triển kinh tế Đó là việc xác lập, xây dựng cơ cấu kinh tế phù hợp với sự vận động của quy luật khách quan và, trình độ của nền kinh tế Đại hội có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, tạo ra sự ổn định về chính trị, xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng.
- Ngay từ Đại hội IV (1976), Đảng ta đã xác định: Phải ưu tiên phát triển công nghiệp nặng mộtcách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; kết hợp xây dựng côngnghiệp với nông nghiệp trên phạm vi cả nước thành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp,vừa xây dựng kinh tế Trung ương, vừa phát triển kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tếquốc dân thống nhất, kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với việc xác lập và từng bước hoàn
Trang 16thiện quan hệ sản xuất mới
- Tiếp đó, đến Đại hội V (1982), Đảng ta tiếp tục xác định: phải xây dựng cơ cấu kinh tế công nông nghiệp hiện đại, chú trọng xây dựng hệ thống công nghiệp nặng tương đối phát triển làmnòng cốt củng cố nền kinh tế quốc dân
Trong những năm 1976-1986, trên cơ sở cơ cấu kinh tế đã được xác định, trong chỉ đạo thựchiện, đã thiên về tập trung phát triển công nghiệp nặng qui mô lớn, mà không chú ý phát triểnnông nghiệp và công nghiệp nhẹ, không tính tới những điều kiện và khả năng thực tế đất nước;
“Chưa kiên quyết khắc phục tư tưởng nóng vội và bảo thủ, thể hiện chủ yếu trong các chủtrương về cơ cấu kinh tế, cải tạo XHCN và cơ chế quản lý kinh tế”1 Do vậy, khủng hoảngkinh tế - xã hội diễn ra những năm cuối thập niên 70 đầu thập niên 80 của thế kỷ XX ở nước ta
có nguyên nhân từ bố trí cơ cấu kinh tế và cũng có nguyên nhân bắt nguồn từ những nhậnthức chưa đầy đủ về thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trảiqua nhiều chặng đường, nên trong chỉ đạo thực hiện đã xuất hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội,muốn bỏ qua những bước đi cần thiết
- Nhân dân ta đã giành được nhiều thành tựu trên cả 2 mặt trận xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Song chúng ta chưa tiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn và khuyết điểmmới Tình hình kt-xh nước ta có nhiều diễn biến phức tạp, sx trì trệ, lạm phát tốc độ cao, nhiềumặt kt mất cân đối nghiêm trọng (làm không đủ ăn, xuất không đủ nhập, thu không đủ chi ).Các tiêu cực xh nẩy sinh và phát triển mạnh Đời sống nhân dân lao động hết sức khó khăn.+ Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ lần thứ 3 trên TG phát triển mạnh mẽ,làm thay đổi bộ mặt và các mối quan hệ trong từng nước và trên toàn TG.+ Trong các nước XHCN, kể cả LX và TQ, do việc xây dựng CNXH theo mô hình và phươngpháp kiểu cũ có những mặt không còn phù hợp với điều kiện ls mới, đã bộc lộ không ít khuyếttật Nhiều nước XHCN đã lâm vào khủng hoảng kt-xh, phải đi vào cải tổ, cải cách với các hình
+ Một mặt khác, nhiều nước tư bản, ĐQ trên TG, sau khi giải quyết được tình trạng khủnghoảng sâu sắc của những thập kỷ trước đây, đã nhanh chóng tiếp thu được những thành tựumới của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ 3, vươn lên phát triển nhanh chóng về
kt, quốc phòng, đã liên kết lại để tiến hành "diễn biến hòa bình" nhằm phản kích và xóa bỏ hệ
Trang 17dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH, tiến tới hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN, đáp ứng nhucầu không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm vững chắc nền anninh quốc phòng, sử dụng và phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước vào mục tiêu pháttriển
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố, bộ phận hợp thành của nềnkinh tế, trong đó các yếu tố, các bộ phận vừa tác động qua lại lẫn nhau, vừa làm điều kiện chonhau tồn tại trong một chỉnh thể Cơ cấu kinh tế không phải là một hệ thống tĩnh tại, mà nó biếnđổi cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Một cơ cấu kinh tế phù hợp
là cơ cấu được hình thành dựa trên cơ sở những tiền đề hiện thực, tuân thủ các qui luật kinh tếkhách quan, chứ không phải là sự áp đặt của ý muốn chủ quan Tuy vậy, trong mỗi giai đoạn, sựhình thành và biến đổi của cơ cấu kinh tế lại thông qua sự tác động của nhân tố chủ quan, của chủthể lãnh đạo, quản lý nền kinh tế quốc dân
Đại hội VI là bước phát triển về chất, là quá trình đổi mới tư duy của Đảng về xác lập đường lốiphát triển kinh tế, là sự tổng kết thực tiễn
Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá một cách khách quan, Đại hội VI chỉ rõ phải nhậnthức cho đúng về CNXH, về bố trí cơ cấu kinh tế, phải căn cứ vào điều kiện lịch sử mới của đấtnước và xu thế phát triển để đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức về cơ cấu kinh tế Và Đại hội cũng
đã xác định rõ nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại trong chặng đườngđầu tiên là phải tập trung “ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền
đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”2
Từ nhiệm vụ bao trùm đó, Đảng ta nhấn mạnh phải: “Dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc dântheo cơ cấu hợp lý, trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất cóqui mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điềukiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định”3 Như vậy, so với trước năm 1986, trong
bố trí cơ cấu kinh tế, vấn đề mới được Đại hội VI đặc biệt chú ý là tính “phù hợp điều kiện thực tế,
bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định” Điều này khác hẳn với tư tưởng chủ quan, nóng vội,thoát ly thực tế khách quan trong thời kỳ trước năm 1986 khi bố trí cơ cấu kinh tế thiên về côngnghiệp nặng, chú trọng công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất qui mô lớn mà chưa chú ý đúng mứcđến phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuấthàng hóa, vì vậy đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp
Từ cách đặt vấn đề như vậy, Đại hội VI đã nêu một số quan điểm về xác lập cơ cấu kinh tế trongthời kỳ đổi mới:
Thứ nhất, phải nhận thức đầy đủ, toàn diện về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ đi lên
CNXH, “thời kỳ quá độ ở nước ta, do tiến thẳng lên CNXH từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giaiđoạn phát triển TBCN, đương nhiên phải lâu dài và rất khó khăn độ dài của thời kỳ đó phụ thuộcvào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội ”4 Đối với nước ta, nhiệm vụ xây dựng những tiền đềchính trị, kinh tế, xã hội cho thời kỳ quá độ đòi hỏi phải có thời gian dài hơn, vì xuất phát điểmkinh tế - xã hội của nước ta rất thấp, lại bị tổn thất nặng nề sau mấy chục năm chiến tranh và vẫntiếp tục phải đối phó với những âm mưu xâm lược, phá hoại của kẻ thù Việc khẳng định thời kỳquá độ ở nước ta là lâu dài và rất khó khăn giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn trong xác định bốtrí cơ cấu kinh tế của chặng đường đầu tiên trong thời kỳ quá độ
Thứ hai, phải bố trí lại cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư trên cơ sở bảo
đảm sự phù hợp với đặc thù tự nhiên, kinh tế - xã hội của Việt Nam trong chặng đường đầu tiêncủa thời kỳ quá độ: phải phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp và công nghiệp
Trang 18nhẹ tới một mức nhất định mới có đủ điều kiện phát triển công nghiệp nặng Mức nhất định ở đây
là giải quyết về cơ bản các nhu cầu của đời sống xã hội và tạo ra được nguồn tích lũy cần thiết đểxây dựng công nghiệp nặng
Căn cứ vào những quan điểm nêu trên, Đại hội VI đã đề ra mục tiêu phải thực hiện trong 5 năm
(1986-1990): “Về lương thực, thực phẩm: Bảo đảm lương thực đủ ăn cho toàn xã hội và có dự trữ.
Đáp ứng một cách ổn định nhu cầu thiết yếu về thực phẩm Mức tiêu dùng lương thực, thực phẩm
phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động; Về hàng tiêu dùng: sản xuất đáp ứng được nhu cầu bình thường của nhân dân thành thị và nông thôn về những sản phẩm công nghiệp thiết yếu; Về hàng xuất khẩu: tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đạt kim ngạch xuất khẩu đáp ứng được
phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những hàng hóa cần thiết”5
Để thực hiện thắng lợi 3 chương trình kinh tế lớn, phải tạo ra cơ cấu hợp lý giữa công nghiệp vànông nghiệp, kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa 2 ngành kinh tế này nhằm đảm bảo cho nền kinh tếphát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn định Nhưng ở mỗi giai đoạn, trong từng chặngđường, vị trí của nông nghiệp, công nghiệp có khác nhau Trong chặng đường hiện nay, xuất phát
từ “yêu cầu cấp bách về lương thực, thực phẩm, về nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng, về hàng
xuất khẩu quyết định vị trí hàng đầu của nông nghiệp”6
Đối với công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, Đại hội cũng chỉ rõ: “đáp ứng cho được nhu cầucủa nhân dân về những loại hàng hóa thông thường, bảo đảm yêu cầu chế biến nông, lâm, thủysản, tăng nhanh việc làm hàng gia công xuất khẩu và các mặt hàng xuất khẩu khác, đồng thời mởrộng mặt hàng đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng”7
Với công nghiệp nặng và xây dựng kết cấu hạ tầng, quan điểm của Đại hội VI rất rõ ràng: “phảinhằm phục vụ các mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và theo khả năngthực tế sản phẩm nào mà công nghiệp nặng nhất thiết phải tạo ra trong nước để phát triển nôngnghiệp và công nghiệp nhẹ thì cố gắng làm với quy mô và kỹ thuật thích hợp không bố trí xâydựng công nghiệp nặng vượt quá điều kiện và khả năng thực tế, ngay cả để phục vụ cho nôngnghiệp và công nghiệp nhẹ”8
Như vậy, nếu so sánh với thời kỳ 1976-1986, qua các kỳ Đại hội IV, V, quan điểm của Đảng tạiĐại hội VI về bố trí cơ cấu kinh tế đã có sự đổi mới để phù hợp hơn với thực tiễn khách quan Đãthực sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đặt đúng tầm và xác định đúng vị trí của nó và tậptrung sức để thực hiện 3 chương trình kinh tế, coi đó như một hướng đi để dần thoát khỏi khủnghoảng kinh tế
Về cơ cấu đầu tư, Đại hội chỉ rõ: “Theo phương hướng bố trí lại cơ cấu kinh tế, phải điều chỉnhlớn cơ cấu đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước nhằm tập trung cho việc thực hiện ba chươngtrình mục tiêu nói trên và bảo đảm phát huy hiệu quả”9 Tức là, phương hướng đầu tư cho nhữngnăm tới tập trung chủ yếu cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, còn công nghiệp nặng chỉ đầu tưcho những công trình nhanh chóng mang lại hiệu quả
Thực tiễn đã chứng minh quan điểm bố trí lại cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư của Đại hội VI làđúng đắn, phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội nước ta và có vai trò quyết định trong việc đưađất nước thoát khỏi khủng hoảng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển vào những năm sau đó
Thứ ba, “Phải coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”10 đilên CNXH ở nước ta, và “Muốn phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đi đôi với việc bố trí lại cơcấu sản xuất, cơ cấu đầu tư theo ngành, theo vùng, phải xác định đúng cơ cấu thành phần kinh tế”11
Trang 19nhằm khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế phi XHCN vào xây dựng, phát triển kinh
tế nước nhà, trước mắt là vốn đầu tư và giải quyết việc làm Đại hội VI xác định, hiện nay nước ta
còn tồn tại các thành phần kinh tế: kinh tế XHCN gồm quốc doanh và tập thể; kinh tế tiểu sản xuấthàng hóa (thợ thủ công, nông dân cá thể, người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế tưbản tư nhân; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bàodân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng núi cao khác
Trên cơ sở xác định các thành phần kinh tế, việc cải tạo XHCN cũng xuất phát từ sự nhận thức đầy
đủ về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ: “Cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắncác thành phần kinh tế” bởi vì nó “cho phép sử dụng nhiều hình thức kinh tế qui mô và trình độ kỹthuật thích hợp trong từng khâu của quá trình sản xuất và lưu thông nhằm khai thác mọi khả năngcủa các thành phần kinh tế liên kết với nhau, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo”12.Mọi hình thức cải tạo quan hệ sản xuất chỉ được coi là hợp qui luật khi nó thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển và đưa tới năng suất lao động cao hơn, tạo điều kiện mở rộng tái sản xuất và nângcao đời sống cho nhân dân
Như vậy, một mặt Đảng ta thừa nhận còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, mặt khác đặt vấn đề cải
tạo XHCN đối với thành phần kinh tế cá thể, tư bản tư nhân, nhưng không phải trong một thời gian
ngắn vài ba năm, thậm chí một vài kế hoạch 5 năm, mà coi đó là nhiệm vụ tiến hành trong suốt thời kỳ quá độ Đại hội VI phân tích rõ: “Mười năm qua, hai kỳ đại hội Đảng đều ghi vào nhiệm
vụ căn bản hoàn thành cải tạo XHCN trong nhiệm kỳ đại hội đó, song đều chưa thực hiện được.Cuộc sống cho ta một bài học thấm thía là không thể nóng vội làm trái qui luật Nay phải sửa lạicho đúng như sau: “đẩy mạnh cải tạo XHCN là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳquá độ đi lên CNXH, với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợpvới tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”13 Vấn đề cải tạo và sử dụng các thành phần kinh
tế được thực hiện theo phương châm: sử dụng để cải tạo, cải tạo để sử dụng tốt hơn Đây là 2 mặt
của một vấn đề trong thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theođịnh hướng XHCN Việc thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế và phương châm kếthợp cải tạo với sử dụng đã mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, dần ổn định tình hình kinh
tế - xã hội như mục tiêu đã định
Tuy nhiên, để tiến hành cải tạo XHCN một cách vững chắc và khai thác có hiệu quả những tiềmnăng của các thành phần kinh tế phi XHCN, Đại hội VI nhấn mạnh: “làm cho kinh tế quốc doanhthật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác”14 Đây là điều kiện tiênquyết trong sử dụng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta.Cùng với quan điểm đổi mới bố trí cơ cấu kinh tế, Đại hội VI cũng nhấn mạnh phải kiên quyết đổimới cơ chế quản lý kinh tế (bao gồm hệ thống các đòn bẩy kinh tế, các hình thức và biện phápquản lý kinh tế cụ thể), nhằm giải quyết hiệu quả những mục tiêu, nhiệm vụ ổn định tình hình kinh
tế - xã hội của đất nước Việc đồng thời đổi mới cơ chế quản lý đã tạo điều kiện cho bố trí cơ cấukinh tế mới phù hợp với tình hình đất nước thời kỳ đầu đổi mới phát huy được tác dụng Sau 5năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI “nền kinh tế đang có những chuyển biến có ý nghĩa cả về cơcấu và cơ chế quản lý Đã bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận độngtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Cơ cấu đầu tư, cơ cấu sản xuất đã có điềuchỉnh quan trọng theo hướng tập trung cho ba chương trình kinh tế, đáp ứng có hiệu quả hơnnhững nhu cầu của thị trường trong nước và bước đầu mở rộng quan hệ với thị trường thế giới”15.Như vậy, trong đường lối đổi mới kinh tế được Đảng đề xướng tại Đại hội VI, vấn đề đổi mới bốtrí cơ cấu kinh tế (cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế) được đặt trong tổng thể đườnglối đổi mới toàn diện và đồng bộ về kinh tế - xã hội, với những hình thức, biện pháp, bước đi tuần
tự phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội đất nước trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ Đây là
Trang 20cơ sở thực tiễn, lý luận quan trọng cho Đại hội VII đề ra chủ trương hoàn thiện cơ cấu kinh tế vàĐại hội VIII, IX đề ra chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH.Đến nay, chúng ta đã có cơ cấu kinh tế tương đối hợp lý và đang chuyển dịch theo hướng CNH-HĐH, với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế trong xã hội; giá trị sản xuất của công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP; côngnghiệp đã tăng từ 21,6% (1988) lên 41% (2005); dịch vụ từ 33,1% lên 38,5%; nông nghiệp đãgiảm từ 46,3% xuống còn 20,5%; các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm đã hình thành, pháttriển trên cả nước Những thành tựu mà đất nước đạt được trong những năm đầu và cả chặngđường gần 20 năm đổi mới, phát triển có nguyên nhân của sự tìm tòi, xác lập một cơ cấu kinh tếphù hợp, trong đó Đại hội VI đóng vai trò mở đầu, đột phá
hoàn cảnh ls, nội dung cơ bản và ý nghĩa của đại hội 6(12/1986)
+ Trong khi đó, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ lần thứ 3 trên TG phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt và các mối quan hệ trong từng nước và trên toàn TG
+ Trong các nước XHCN, kể cả LX và TQ, do việc xây dựng CNXH theo mô hình và phương pháp kiểu cũ có những mặt không còn phù hợp với điều kiện ls mới, đã bộc lộ không ít khuyết tật Nhiều nước XHCN đã lâm vào khủng hoảng kt-xh, phải đi vào cải tổ, cải cách với các hình thức và mức độ khác nhau
+ Một mặt khác, nhiều nước tư bản, ĐQ trên TG, sau khi giải quyết được tình trạng khủng hoảng sâu sắc của những thập kỷ trước đây, đã nhanh chóng tiếp thu được những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ lần thứ 3, vươn lên phát triển nhanh chóng về kt, quốc phòng, đã liên kếtlại để tiến hành "diễn biến hòa bình" nhằm phản kích và xóa bỏ hệ thống XHCN thế giới
+ Đổi mới đã trở thành yêu cầu cấp thiết, có tính chất sống còn đối với XHCN thế giới nói chung, đối với cách mạng vn nói riêng
2- Nội dung cơ bản:
Trang 21Đại hội toàn quốc lần thứ 6 của đảng đã họp trong bối cảnh ls đó Nội dung cơ bản của đại hội là: Đánh giá đúng thực trạng tình hình hiện nay của CMVN trên tất cả các mặt thành tựu, tồn tại yếu kém,sai lầm, khuyết điểm và các nguyên nhân sâu xa của nó Từ đó, rút ra các bài học kinh nghiệm và hoạch định đường lối đổi mới công tác lãnh đạo của đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học.
+ Đại hội đã tích cực chuẩn bị từ năm 1984 qua nhiều cấp, nhiều vòng Dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW đảng sẽ đọc tại đại hội không những được thảo luận trong các cơ sở đảng, mà còn được thảo luận rộng rãi trong giới trí thức, trong các viện khoa học và được tổ chức thảo luận rộng rãi trong các tổ chức quần chúng nhân dân
Nội dung đại hội có những vấn đề nổi bật sau đây:
vụ quốc tế Trong cả nước đã xuất hiện nhiều cơ sở sx kinh doanh khá, nhiều đơn vị chiến đấu giỏi; Song tình hình kt xh và đời sống của nhân dân ta đang gặp nhiều khó khăn gay gắt Sản xuất tăng chậm, lưu thông phân phối có nhiều rối ren, nền kt có nhiều mặt mất cân đối, hiện tượng tiêu cực xảy
ra ở nhiều nơi và có nơi nghiêm trọng "
+ Về nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém Đại hội chỉ rõ: không đánh giá thấp các nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan của các yếu kém nói trên là do những sai lầm, khuyết điểm nghiêmtrọng và kéo dìa của sự lãnh đạo, quản lý của đảng và nhà nước Các khuyết điểm sai lầm ấy thể hiện
cả trong chủ trương, chính sách lớn và trong tổ chức chỉ đạo thực hiện Khuynh hướng tư tưởng dẫn đến sai lầm ấy là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan, không tôn trọng quy luật khách quan, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của đảng Đó là những biểu hiện của tư tưởng tiểu tư sản, vừa "tả" khuynh, vừa hữu khuynh
Những sai lầm và khuyết điểm trong lĩnh vực công tác tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ củ đảng
Đó là nguyên nhân của mọi nguyên nhân
Đại hội xác định trách nhiệm đối với những sai lầm khuyết điểm đó trước hết thuộc về BCH TW đảng
và hội đồng bộ trưởng
* Đại hội còn nêu lên 4 bài học kinh nghiệm lớn:
+ Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động
+ Hai là, đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Trang 22+ Ba là, phải kết hợp sức mạnh của dt với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.
+ Bốn là, phải chăm lo xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển của giai đoạn ls mới
Bốn bài học kinh nghiệm trên có ý nghĩa rất lớn, nó không những là sự tổng kết kinh nghiệm quá trìnhxây dựng XHCN của nhân dân ta qua mấy chục năm qua mà còn là những định hướng rất cơ bản, mang tính quy luật cho đất nước ta xây dựng XHCN trong các giai đoạn tiếp sau
* Đại hội đã thông qua đường lối đổi mới:
Đại hội thảo luận và nhất trí thông qua đường lối đổi mới công tác lãnh đạo của đảng trong việc xây dựng CNXH ở nước ta:
+ Đại hội chủ trương đổi mới một cách toàn diện (cả về kt, chính trị, văn hóa, xh, tổ chức ), trong đó đổi mới tư duy là cơ bản, đổi mới kt là trọng tâm, đổi mới với các hình thức và bước đi thích hợp Đổi mới trên cơ sở đảm bảo định hướng XHCN
+ Đại hội xác định: vấn đề quan trọng trước tiên là phải xác định lại mục tiêu cho sát hợp với quy luật
đi lên CNXH từ nên sx nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN
+ Đại hội chỉ rõ: thời kỳ quá độ ở nước ta phải qua nhiều chặng đường Trong đó, chặng đường đầu tiên là một bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn Nhiệm vụ chủ yếu của chặng đường đầu tiên là xây dựng những tiền đề chính trị, kt, xh cần thiết để triển khai công nghiệp hóa XHCN trên quy mô lớn
- Về nhiệm vụ xây dựng CNXH, đại hội đã khẳng định:
"N/vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kt-xh,tiếp tục x/dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH XHCN trong chặng đường tiếp theo"
- Từ mục tiêu bao trùm đó, đại hội đã đề ra 5 mục tiêu cụ thể:
+ Sx đủ tiêu dùng và có tích lũy;
+ Tạo ra một cơ cấu kt hợp lý nhằm phát triển sx;
+ Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sx mới;
+ Tạo ra chuyển biến tốt về mặt xh
+ Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh