Quyền thừa kế của cá nhân theo điều 631 BLDS 2005 : "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản th
Trang 1MỤC LỤC
Trang
A Đặt vấn đề 2
B Giải quyết vấn đề 3
I Thừa kế theo quy định pháp luật ở Việt Nam 3
1 Quy định chung 3
2 Thừa kế theo pháp luật 5
II Diện và hàng thừa kế 7
1 Diện thừa kế
a Khái niệm
b Căn cứ để xác định diện thừa kế theo luật
2 Hàng thừa kế
a Khái niệm
b Một số vấn đề vầ hàng thừa kế trong lịch sử
c Các hàng thừa kế theo pháp luật hiện hành
C Kết luận
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
7 8 8 10 10 11 15 17 19
A ĐẶT VẤN ĐỀ:
Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân
Trang 2luôn luôn được pháp luật ở nhiều nước trên thế giới quan tâm, theo dõi và bảo hộ Việt Nam là một trong những nước đang phát triển và có nền văn hóa với các truyền thống đạo đức lâu đời được truyền từ đời này qua đời khác Do đó, đối với người Việt Nam hiện nay, việc coi trọng các phong tục, tập quán, tình cảm cha con, vợ chồng, anh em gắn bó keo sơn đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảm bảo quyền để lại thừa kế của mình bằng cách thảo một bản di chúc Bên cạnh
đó có những người đã lập di chúc nhưng lại chưa hiểu rõ về pháp luật khiến cho những bản di chúc này không rõ ràng khiến cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật phân xử hộ làm giảm đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc vốn có Chính
vì vậy phần lớn các vụ việc thừa kế ở Việt Nam được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt Nam đang trên bước đường hội nhập toàn cầu Tầm quan trọng của pháp luật ngày càng nâng cao Do đó nhu cầu nghiên cứu, sửa đổi luật pháp cho phù hợp với tình hình đất nước đang ngày càng tiến lên là một nhu cầu cần thiết Trong vấn đề thừa kế theo pháp luật, diện và hàng thừa kế là vấn đề vô cùng quan trọng Nó xác định phạm vi và thứ tự được hưởng thừa kế của những người được hưởng thừa kế
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu, phân tích, kiến nghị để làm sáng tỏ một
số vấn đề lý luận về diện và hàng thừa kế trong chế định thừa kế theo pháp luật là một đòi hỏi tất yếu, khách quan cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn giải quyết các tranh chấp thừa kế
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I THỪA KẾ THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM :
1 Quy định chung:
Trang 3Quyền thừa kế của cá nhân (theo điều 631 BLDS 2005) : "Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa
kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật." Như vậy thừa kế theo quan hệ pháp luật dân sự chính là sự chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu tài sản của cá nhân người đã chết cho cá nhân, tổ chức, có quyền hưởng thừa kế; người thừa kế trở thành chủ sở hữu của tài sản theo di chúc hay theo pháp luật (riêng đối với đất đai là thừa kế quyền sử dụng) Sự chuyển dịch di sản của người chết sang người sống sẽ được thực hiện theo hai căn cứ: Nếu căn cứ theo ý chí,nguyện vọng của người chết thì được gọi là thừa kế theo di chúc; Nếu căn cứ theo các qui định của pháp luật thì được coi là thừa kế theo pháp luật Các nguyên tắc cơ bản của thừa kế:
Pháp luật thừa kế luôn tôn trọng ý chí của những người tham gia trong quan hệ thừa kế.Nếu như người để lại di sản mà có để lại di chúc thì việc phân chia di sản theo di chúc bao giờ cũng được ưu tiên giải quyết trước, phần tài sản chia cho những người thừa kế cũng tùy thuộc vào di chúc mà người chết để lại Đó chính là
sự tôn trọng ý trí của người để lại di sản.Và ngược lại, những người thừa kế có quyền đồng ý nhận toàn bộ di sản được thừa hưởng hoặc chỉ nhận một phần hoặc khước từ việc thừa hưởng di sản từ người chết đó là sự tôn trọng ý chí của người thừa kế
- Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của công dân về quyền thừa kế: Theo điều 632 BLDS-2005:"Mọi cá nhân đều có quyền bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật".Theo điều luật này thì mọi cá nhân đều có quyền để lại tài sản của mình
Trang 4sản theo di chúc tức là bất kì cá nhân nào dũng được phép nhận tài sản theo ý chí của người chết Còn sự bình đẳng trong việc hưởng di sản là tất cá những người thừa kế theo qui định của pháp luật đều có quyền hưởng phần tài sản bằng nhau
-Nguyên tắc cá nhân người thừa kế phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế: Điều 635-BLDS 2005 đã qui định " Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế " Với đặc trưng cơ bản của sự thừa kế là sự tiếp nối về sở hữu tài sản giữa người sống với người chết nên người thừa hưởng di sản đương nhiên phải là người còn sống.Việc dịch chuyển di sản từ người chết này sang người chết khác là không thực hiện được.Tiếp đó là việc người còn sống đó phải còn sống ở thời điểm mở thừa kế.Có thể người thừa kế đã chết nhưng khi mở thừa kế thì ông ta còn sống hoặc đã chết hay mất tích nhưng chưa bị tuyên bố là
đã chết hoặc ngày tuyên bố nguời đó chết là sau ngày mở thừa kế, khi đó ông ta việc chuyển giao di sản cho ông ta vẫn được thựa hiện và nó sẽ được tính vào tài sản của người đó
Trong trường hợp người thừa kế bị tuyên bố là đã mất tích hoặc chết nhưng sau
đó người đó còn sống trở về thì người đó vẫn được coi là còn sống và được quyền hưởng di sản sau khi tòa án hủy bỏ tuyên bố mất tích hoặc đã chết
-Người thừa kế có quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại: Quyền luôn luôn đi kèm với nghĩa vụ Do đó những người thừa kế có quyền thừa hưởng di sản để lại từ người chết theo di chúc hoặc theo pháp luật, phần di sản họ được hưởng có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau tùy theo ý chí của người chết Đồng thời họ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo điều 637-BLDS 2005, nghĩa vụ tài sản họ phải thực hiện sẽ tùy theo phần mà
họ được hưởng Nếu người thừa kế khước từ hoặc không được nhận phần di sản
Trang 5để lại của người chết thì họ có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết
2 Thừa kế theo pháp luật
Ta có thể hiểu một cách đơn giản thừa kế theo pháp luật là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người thừa kế theo qui định của pháp luật thừa kế Theo điều 674 Bộ luật dân sự 2005: "thừa kế theo pháp luật là thừa kế theof trình
tự thừa kế do pháp luật quy định
Theo qui định của thừa kế theo pháp luật thì sau khi người để lại tài sản qua đời, tài sản sẽ được chia đều cho những người thừa kế của người đó.Những người thừa kế này được xác định thông qua ba mối quan hệ chính là:
- Quan hệ hôn nhân
- Quan hệ huyết thống
- Quan hệ nuôi dưỡng
Những người thừa kế theo qui định của pháp luật không phụ thuộc vào mức
độ năng lực hành vi, dù cho người đó có bị hạn chế năng lực hành vi hay thậm chí
bị mất năng lực hành vi thì người đó vẫn có quyền thừa kế Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của công dân về quyền thừa kế nên mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế từ người chết và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản mình nhận được
Vì phạm vi những người thừa kế rộng nên pháp luật chia những người thừa kế thành nhiều hàng thừa kế.Trong đó những người thuộc hàng thứ nhất là những người có quan hệ hôn nhận, huyết thống gần gũi nhất so với các hàng khác.Các hàng thứ hai, thứ ba là các hàng dự bị,chỉ được hưởng di sản nếu như không còn
Trang 6ai ở hàng thứ nhất hoặc hoặc có nhưng họ đều không nhận hoặc không được quyền nhận
Các trường hợp thừa kế theo qui định của pháp luật được chia ra 2 nhóm sau đây:
Nhóm thứ nhất: Nhóm di sản thừa kế hoàn toàn được chia theo pháp luật ( nhóm
di sản thừa kế tuyệt đối) bao gồm các trường hợp:
- Không di chúc
- Di chúc không hợp pháp toàn bộ
-Di chúc hợp pháp nhưng toàn bộ di chúc không có hiệu lực thi hành do tất cả người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập
di chúc hoặc đều không có quyền hưởng di sản hoặc đều từ chối quyền hưởng di sản ;cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế;
Nhóm thứ hai: Di sản vừa được chia theo di chúc vừa được chia theo quy định của
pháp luật bao gồm các trường hợp:
- Có phần di sản không được định đoạt trong di chúc
- Có một phần di chúc không có hiệu lực pháp luật
-Có một hoặc một số người trong những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; một hoặc một số cơ quan, tổ chức trong số các cơ quan, tổ chức được thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế hoặc có một hoặc một số người trong những người thừa kế không được quyền hưởng di sản hay từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc
Cuối cùng là một điểm đặc trưng của thừa kế theo pháp luật đó là qui định về trường hợp thừa kế thế vị: Theo điều 677 BLDS-2005 :"Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản của cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn
Trang 7sống; Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu cón sống
" Như vậy theo qui định trên ta có thể hiểu thừa kế thế vị là việc con đẻ thay thế
vị trí của cha hoặc mẹ để nhận phần di sản do ông hoặc bà để lại khi mà cha hoặc
mẹ chết trước hoặc chết cùng thời điểm với ông hoặc bà Những người thừa kế thế
vị được hưởng phần di sản bằng với những người cùng hàng với người được thế
vị Nếu người thế vị là cháu thì cháu phải sống vào thời điểm ông, bà chết; Người thế vị là chắt thì chắt phải sống vào thời điểm cụ nội, cụ ngoại chết
II DIỆN VÀ HÀNG THỪA KẾ:
1 Diện thừa kế:
a Khái niệm:
Diện những người thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di sản thừa
kế của người chết theo quy định của pháp luật Diện những người thừa kế được xác định dựa trên 3 mối quan hệ với người để lại di sản: quan hệ hôn nhân, quan
hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng
b Những căn cứ để xác định diện những người thừa kế theo pháp luật :
Căn cứ để xác định diện thừa kế theo pháp luật dựa trên 3 mối quan hệ: quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa người để lại di sản
và người thừa kế
Quan hệ hôn nhân: Xuất phát từ việc kết hôn giữa vợ và chồng
Trang 8Quan hệ huyết thống: Quan hệ giữa những người cùng dòng máu (Cụ với ông, bà; Ông, bà với cha mẹ; Cha mẹ với các con; Anh chị em ruột )
Quan hệ nuôi dưỡng: Xuất phát từ sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau giữa những người không cùng huyết thống hay không có quan hệ hôn nhân ( Cha
mẹ nhận nuôi con nuôi)
Ở Việt Nam thời phong kiến, dựa theo khuôn mẫu gia đình "tam, tứ đại đồng đường" là kiểu gia đình mở rộng, nơi ba bốn thế hệ chung sống dưới cùng một mái nhà.Nên diện thừa kế theo pháp luật được xác định hết sức rộng rãi , bao gồm toàn bộ những người thích thuộc của người chết mà không theo mức độ gần gũi.Theo sự ghi nhận của các bộ dân luật thời phong kiến thì tất cả người thân thuộc của người chết dù xa hay gần , dù thân hay sơ đều thuộc diện thừa kế theo luật của người đó Khi không còn ai bên nội tộc còn sống thì di sản được chuyển dịch sang bên ngoại
Sau khi dành được chính quyền và thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật xác định phạm vi những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật:
-Thông tư 1742 do Bộ tư pháp ban hành ngày 19 tháng 8 năm 1956 qui định diện những người thừa kế theo pháp luật bao gồm: Vợ ( chồng), các con đẻ, các con nuôi, cháu, chắt,cha mẹ của người để lại di sản và những người thừa kế khác.Nhưng thông tư này không xác định rõ những người thừa kế khác là ai nên trong thời kì này anh, chị, ông bà không thuộc diện thừa kế
-Thông tư 594 xác định diện thừa kế bao gồm: Vợ góa (cả vợ cả và vợ lẽ); con đẻ
và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, ông bà nội, ông bà ngoại; anh chị em ruột và anh chị em nuôi Thông tư này đã thêm được anh chị em và ông bà vào diện thừa kế nhưng lại bỏ đi cháu, chắt ra khỏi diện thừa kế
Trang 9- Thông tư 81 xác định rõ cơ sở pháp lý của việc thừa kế theo pháp luật là ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng Đây là một quan điểm tiến bộ vẫn được sử dụng cho đến ngày nay Vì vậy diện thừa kế được qui định trong thông tư bao gồm: Vợ góa (vợ cả và vợ lẽ) hoặc chồng góa, các con đẻ và con nuôi; bố mẹ
đẻ hoặc bố mẹ nuôi; ông bà nội ngoại; anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác
mẹ, cùng mẹ khác cha và anh chị em nuôi.Ngoài ra thông tư còn qui định " Người thừa tự " cũng là người thừa kế theo pháp luật tức là cháu được quyền thừa kế của ông bà nếu cha mẹ không còn
- Pháp lệnh thừa kế do hội đồng nhà nước (Nay là ủy ban thường vụ Quốc Hội) ban hành vào ngày 30 tháng 8 năm 1990 Diện thừa kế theo pháp lệnh này mở rộng hơn so với Thông tư 81 Đối với những người có quan hệ huyết thống với người để lại tài sản theo trực hệ được xác định đến tận 4 đời ( Từ đời cụ xuống đời chắt).Đối với những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản theo bàng hệ (ngành ngang) đã được mở rộng sang 2 đời ( chú ruột, bác ruột, cô ruột,
dì ruột, cậu ruột của người chết là cháu và ngược lại Pháp lệnh thừ kế bác bỏ quyền thừa kế của anh chị em nuôi
- Bộ luật dân sự 1995 không qui định trực tiếp về diện thừa kế nhưng dựa vào hàng thừa kế theo pháp luật và những người thừa kế thế vị thì đã xác định được diện thừa kế bao gồm: vợ hoặc chồng; các con đẻ và con nuôi (thuộc hàng thừa kế thứ nhất); bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi; ông bà nội ngoại; anh chị em ruột ( thuộc hàng thừa kế thứ hai); cụ nội , cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột (thuộc hàng thừa kế thứ ba); cháu ruột của
Trang 10người chết mà người chết là ông bà nội ngoại, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại ( thừa kế thế vị)
Cho đến hiện nay bộ luật dân sự năm 2005 thì diện thừa kế vẫn được xác định như năm 1999.Tuy nhiên có một điểm khác biệt là chắt được liệt thêm vào hàng thừa kế thứ ba
2 Hàng thừa kế
a Khái niệm:
Ở nước ta, những quy định về hàng thừa kế theo pháp luật dựa trên bản chất pháp luật được hiểu là :”Nhóm người có quan hệ cùng tính chất gần gũi với người
để lại di sản thừa kế” Tính chất đó thể hiện trong các quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng giữa người thừa kế và người để lại di sản, theo đó, người thừa kế được hưởng di sản theo trình tự hàng thừa kế
b Một số vấn đề về hàng thừa kế trong lịch sử nước ta:
Hàng thừa kế theo pháp luật thời thực dân, phong kiến:
Trước năm 1945, về hàng thừa kế, pháp luật của chế độ thực dân phong kiến quy định người thừa kế theo trật tự hàng trước hết là bảo vệ quyền hưởng di sản của những người trong quan hệ huyết thống nội tộc với người để lại di sản Bản chất pháp luật thừ kế thời này không có sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng; càng không thể có sự bình đẳng trong các mối quan hệ như anh chị em ruột bên nhà chồng, cô, dì, cậu ruột và bố mẹ của chồng
Trang 11Hàng thừa kế theo pháp luật thời thực dân , phong kiến quy định mức ưu tiên hưởng di sản như sau:
+ Thứ tự thứ nhất gồm có: Các con (các con đẻ, các con nuôi, con vợ cả hay con
vợ lẽ) của người để lại di sản Trong trường hợp người để lại di sản không còn con thì cháu hưởng di sản của ông bà
+ Thứ tự thứ hai gồm có: Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi của người để lại di sản;
+ Thứ tự thứ ba gồm có: Ông nội, bà nội, (các cụ nội của người để lại di sản) Các
cụ nội của người để lại đi sản được hưởng di sản trong trường hợp ông nội, bà nội của người để lại di sản không còn
+ Thứ tự thứ tư gồm: Anh, chị, em ruột (con, cháu của anh, chị, em ruột)
+ Thứ tự thứ năm gồm những người bên họ ngoài của người để lại di sản được hưởng di sản Những người bên họ ngoại chỉ được hưởng di sản sau khi đã xác định bên họ nội của người để lại di sản không còn ai là người thừa kế hoặc còn nhưng đều là người bị coi là bất xứng hưởng di sản
Căn cứ vào hàng thừa kế và số người được chỉ định thừa kế theo hàng, nhận thấy người vợ góa hoặc chồng góa của người để lại di sản không được pháp luật quy định thuộc hàng thừa kế nào của nhau khi một trong hai bên chết trước
Hàng thừa kế theo pháp luật từ 1945 đến 22- 5- 1950:
-Theo sắc lệnh số 97- SL, người vợ góa hoặc người chồng góa và các con đẻ, các con nuôi của người để lại di sản được ưu tiên hưởng di sản trước những người thân thuộc khác của người để lại di sản Theo quy định tại điều 10 và 11 sắc lệnh này, thứ tự ưu tiên hưởng hưởng di sản của người chết để lại là: vợ góa, chồng