1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục

25 1,1K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân hàng nhà nước Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục
Chuyên ngành Ngoại hối
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 344,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trước xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, quan hệ kinh tế giữa các

nước trên thế giới ngày càng chặt chẽ hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và

đầu tư quốc tế Chính vì vậy ngoại hối với nội dung chính là xác định mối quan hệ

về ngoại tệ của đồng tiền các nước ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với nền

kinh tế mỗi quốc gia Ngoại hối nói chung và quản lí ngoại hối nói riêng là vấn đề

được tất cả các nước quan tâm và nghiên cứu vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến

công tác xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế cũng như toàn bộ nền kinh

tế Đất nước ta trong nền kinh tế mở thì việc hoạch định một chính sách ngoai hối

với công tác quản lí hữu hiệu là một vấn đề rất quan trọng Với những lí do trên,

em chọn đề tài: “Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước

Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục”

Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp, mà vốn hiểu biết của em còn hạn chế nên

bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng

góp của thầy cô để bài viết của em tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGOẠI HỐI

1 Khái quát về thị trường ngoại hối

1.1 Khái niệm

Như chúng ta đã biết, trong thương mại quốc tế khi nhà xuất khẩu thu ngoại

tệ về thì họ phải bán số ngoại tệ này để lâý nội tệ, vì nhà xuất khẩu phải trang trải

các chi phí đầu vào trong nước bằng nội tệ Khi nhà nhập khẩu được yêu cầu thanh

toán bằng ngoại tệ thì họ phải dùng nội tệ để mua số ngoại tệ này thanh toán cho

nhà xuất khẩu nước ngoài Hoạt động mua bán các đông tiền khác nhau được diễn

ra trên thị trường, và thị trường này được gọi là thị trường ngoại hối( The Foreign

Exchange Market - FOREX) Vậy: thị trường ngoại hối là nơi diễn ra việc mua

bán các đồng tiền khác nhau

1.2 Đặc điểm

- Thị trường ngoại hối hoạt động thông qua mạng lưới ngân hàng trên

toàn thế giới

- Là thị trường toàn cầu, thời lượng giao dịch 24/24 giờ, việc mua bán

chuyển đổi các đồng tiền khác nhau diễn ra trên toàn thế giới

- Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng quốc

tế( interbank) với các thành viên chủ yếu là các ngân hàng thương mại( NHTM),

các nhà môi giới ngoại hối và các ngân hàng trung ương(NHTW)

- Các nhà kinh doanh quan hệ với nhau thông qua điện thoại, telex, fax,

hệ thống Swift, mạng vi tính

- Tỷ giá trên các thi trường khác nhau hầu như là thống nhất với nhau

- Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch ngoại hối là

USD(41,5%)

Trang 3

- Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã

hội

- Những thị trường ngoại hối quan trọng nhất ngày nay gồm New York,

London, Tokyo, Singapor và Frankfurt

1.3 Chức năng

- Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là nhằm phục vụ dịch vụ

cho khách hàng thực hiện các giao dich thương mại quốc tế

- Giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, các giao dịch tài chính

quốc tế khác giữa các quốc gia

- Giá trị đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo

quy luật cung- cầu của thị trường

- Thị trường ngoại hối cung cấp các cộng cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá

cho các ngân hàng, các nhà xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư và đi vay quốc tế bằng

các hợp đồng: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hợp

đồng tương lai

- Là nơi để NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng

có lợi cho nền kinh tế

1.4 Mô hình tổ chức của thị trường

2 Nghiệp vụ quản lí ngoại hối

2.1 Mục đích quản lí ngoại hối

NHTW

Môi giới

Công ty

Đấ u giá mở Hai chiều

Trang 4

2.1.1 Khái niệm

Ngoại hối là phương tiện thiết yếu trong quan hệ kinh tế, văn hoá giữa

các quốc gia Ngoại hối là tiền nước ngoài, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có

giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài Ngoại hối trong đó đặc biệt là

ngoại tệ có vai trò quan trọng, nó là phương tiện dự trữ của cải, phương tiện để

mua bán, phương tiện thanh toán và hạch toán quốc tế, được các nước chấp nhận là

đồng tiền quốc tế, ví dụ: đô la Mỹ,Bảng Anh, Frăng Pháp

Nền kinh tế ngày càng phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng

thì không thể có một quốc gia nào phát triển một cách đơn độc, khép kín mà đòi

hỏi phải mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Vì vậy, dự trữ ngoại hối là một

trong những mục tiêu kinh tế có ý nghĩa chiến lược quan trọng, có dự trữ ngoại hối

cần thiết có nghĩa là nhà nước đã nắm được trong tay một công cụ quan trọng để

phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô dự trữ ngoại hối để đảm bảo

khả năng thanh toán quốc tế, thoả mãn nhu cầu nhập khẩu phục vụ phát triển kinh

tế và đời sống trong nước, mở rộng đầu tư, hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ

mục tiêu chính sách kinh tế mở Dự trữ ngoại hối là một cơ sở cho việc phát hành

tiền đảm bảo cho mối tương quan giữa tiền- hàng trong nước Nhà nước có thể chủ

động sử dụng ngoại hối như là một lực lượng để can thiệp, điều tiết thị trường tiền

tệ theo những mục tiêu, kế hoạch

Đối với những nước mà đồng tiền được tự do chuyển đổi, dự trữ ngoại hối là

công cụ để can thiệp, điều chỉnh nhằm thiết lập thế cân bằng giữa các đồng tiền

trong trật tự các đồng tiền quốc tế, phục vụ chính sách kinh tế

Đối với những nước mà đồng tiền không được tự do chuyển đổi, dự trữ

ngoại hối là lực lượng để can thiệp thị ttrường nhằm duy trì ổn định tỷ giá hối đoái

của đồng bản tệ

Với tư cách là một cơ quan duy nhất có nhiệm vụ phát hành tiền, xây dựng

và thực thi chính sách tiền tệ, lập và theo dõi cán cân thanh toán quốc tế, NHTW

Trang 5

đã được giao nhiệm vụ quản lí Nhà nước và kiểm soát ngoại hối trên thị trường là

phù hợp

Vậy: quản lý ngoại hối là việc Nhà nước áp dụng các chính sách, biện

pháp tác động vào quá trình xuất, nhập ngoại hối( đặc biệt là ngoại tệ) và việc

sử dụng ngoại hối theo những mục tiêu nhất định

2.1.2 Mục đích quản lý ngoại hối

2 1 2 1 Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia

NHTW thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy tập trung các nguồn ngoại

hối( đặc biệt là ngoại tệ) vào tay mình, để thông qua đó Nhà nước sử dụng một

cách hợp lý, có hiệu quả cho các nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối ngoại

Đồng thời sử dụng chính sách ngoại hối như một công cụ có hiệu lực để thực hiện

chính sách tiền tệ, thông qua mua bán trên thị trường để can thiệp vào tỷ giá khi

cần thiết nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền, tác động vào lượng tiền

cung ứng Chẳng hạn khi tỷ giá giảm thì ngân hàng có thể bán ngoại tệ, khi tỷ giá

tăng ngân hàng thực hiện mua ngoại tệ để ổn định tỷ giá đồng thời ổn định lượng

tiền trong lưu thông

2.1.2.2 Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước

Là cơ quan quản lý tài sản quốc gia, NHTW phải quản lý quỹ dự trữ ngoại

hối Nhà nước nhưng không chỉ bảo quản và cất giữ mà còn biết sử dụng để phục

vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, luôn đảm bảo an toàn không bị ảnh hưởng rủi ro

về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế Vì thế NHTW cần phải mua, bán, chuyển

đổi để phát triển, chống thất thoát, sói mòn quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nước, bảo

vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ

2.1.2.3 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu chi quốc tế của một nước

với nước ngoài Cán cân thanh toán phản ánh đầy đủ những xu hướng cung và cầu

về ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế nên nó tác động lớn đến tỷ giá hối đoái của

đồng tiền

Trang 6

Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, lượng ngoại tệ chảy vào trong nước

dẫn đến khả năng cung về ngoại tệ cao hơn nhu cầu, trường hợp này tỷ giá vận

động theo tỷ giá giảm Ngược lại khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi, tăng

lượng ngoại tệ chảy ra nước ngoài dẫn đến nhu cầu về ngoại tệ cao hơn khả năng

cung ứng, trường hợp này tỷ giá vận động theo xu hướng tăng Như vậy trong cả

hai trường hợp, nếu không có sự can thiệp của NHTW, tỷ giá sẽ tăng hoặc giảm

theo cung cầu ngoại tệ trên thị trường Tuy nhiên ở nhiều nước, NHTW đóng vai

trò điều tiết tỷ giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế Nếu NHTW muốn

xác lập một tỷ giá ổn định nghĩa là giữ cho tỷ giá không tăng, không giảm thì

NHTW hoặc là mua số ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào trong nước làm cho quỹ

dự trữ ngoại hối sẽ tăng lên tương ứng, hoặc NHTWsẽ bán ngoại tệ ra để đáp ứng

nhu cầu của thị trường khi có luồng ngoại tệ chảy ra nước ngoài, quỹ dự trữ ngoại

hối giảm xuống tương ứng

2.2 Cơ chế quản lý ngoại hối

2.2.1 Cơ chế tự do ngoại hối

Thực hiện cơ chế tự do ngoại hối có nghĩa là ngoại hối được tự do lưu thông

trên thị trường, cân bằng ngoại hối do thị trường quyết định mà không có sự can

thiệp của Nhà nước, do vậy tỷ giá - giá cả ngoại hối sẽ phù hợp với sức mua của

đồng tiền trên thị trường Tỷ giá thả nổi dẫn đến lãi suất, luồng vốn vào và ra hoàn

toàn do thị trường chi phối Cơ chế này có ưu điểm là khuyến khích được sự lưu

chuyển của đồng vốn, nhưng nhược điểm của nó là không khống chế được sự thay

đổi của tỷ giá và giá cả trên thị trường ngoại hối

2.2.2 Cơ chế ngoại hối có quản lý

2.2.2.1 Cơ chế nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn

Theo cơ chế này thực hiện độc quyền ngoại thương và độc quyền ngoại hối

Nhà nước áp dụng các biện pháp hành chính áp đặt nhằm tập trung tẩt cả hoạt động

ngoại hối vào tay mình Tỷ giá do Nhà nước quy định mà tất cả các giao dịch ngoại

hối phải chấp hành, các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nếu

Trang 7

bị lỡ do tỷ giá thì sẽ được Nhà nước cấp bù, ngược lại nếu lãi thì nộp cho Nhà

nước Cơ chế này phù hợp với nền kinh tế hoá tập trung

2.2.2.2 Cơ chế quản lý có điều tiết

Cơ chế quản lý hoàn toàn, Nhà nước có thể áp đặt khống chế được thị

trường, ngăn chặn ảnh hưởng từ bên ngoài, chủ động khai thác được nguồn vốn

bên trong Nhưng trong nền kinh tế thị trường cách quản lý này sẽ không phù hợp,

cản trở và gây khó khăn cho nền kinh tế

Để khắc phục sự áp đặt, Nhà nước đã tiến hành điều tiết nhưng đã gắn với

thị trường, Nhà nước tiến hành kiểm soát một mức độ nhất định để nhằm phát huy

tính tích cực của thị trường, hạn chế nhược điểm do thị trường gây ra, tạo điều kiện

cho kinh tế trong bước phát triển và ổn định, ngăn chặn ảnh hưởng từ bên ngoài

Bằng công cụ tỷ giá, dự trữ ngoại hối và các yếu tố khác mà NHTW có thể

chủ động điều chỉnh theo các mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô

2.3 Hoạt động ngoại hối của NHTW

2.3.1 Hoạt động mua bán ngoại hối

NHTW tham gia vào hoạt động mua bán ngoại hối với tư cách là người can

thiệp, giám sát, điều tiết nhưng đồng thời cũng là người mua, bán cuối cùng

Thông qua việc mua, bán NHTW thực hiện giám sát và điều tiết thị trường theo

mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời theo dõi diễn biến tỷ giá đồng bản tệ để

chủ động quyết định hoặc phối hợp với NHTW các nước khác củng cố sức mua

đồng tiền này hay đồng tiền khác để đảm bảo trật tự trong quan hệ quốc tế có lợi

cho nước mình Hoạt động mua bán ngoại hối của NHTW diễn ra trên thị trường

trong nước và thị trường quốc tế Việc NHTW thực hiện việc mua bán ngoại hối sẽ

tác động trực tiếp vào tiền trung ương (MB) Khi NHTW mua ngoại hối trên thị

trường sẽ làm tăng MB và ngược lại khi NHTW bán ngoại hối trên thị trường thì sẽ

làm giảm MB Nghiệp vụ mua bán làm ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối, ảnh hưởng

đến tỷ giá hối đoái Như vậy, NHTW thông qua mua bán ngoại hối có thể can thiệp

nhằm đạt được tỷ giá mong muốn

Trang 8

2.3.2 Hoạt động quản lý ngoại hối của NHTW

Ngoài việc can thiệp bằng cách mua bán ngoại tệ trên thị trường,

NHTW còn thực hiện các hoạt động về ngoại hối như:

- Quản lý, điều hành thị trường ngoại hối, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bằng cách đưa ra các quy chế ra nhập thành viên, quy chế hoạt

động, quy định giới hạn, tỷ giá mua bán ngoại tệ trên thị trường

- Tham gia xây dựng các dự án pháp luật vá ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật về quản lý ngoại hối

- Cấp giấy phếp và thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối

- Kiểm tra, giám sát việc xuất nhập khẩu ngoại hối, kiểm soát các hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng

- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lý ngoại hối

- Biên lập cán cân thanh toán

2.4 Hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam

2.4.1 Thời gian trước khi ban hành luật ngân hàng

Việt nam trong thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thời gian dài với chế

độ Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương và ngoại hối Mọi nguồn thu chi

ngoại tệ đều được tập trung vào Nhà nước, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh

mới được phép tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá theo tỷ giá ấn định dẫn đến

hiện tượng thu chi chênh lệch ngoại thương Doanh nghiệp tham gia xuất nhập

khẩu nếu thu lớn hơn chi thì phải nộp Nhà nước phần chênh lệch, ngược lại thu

nhỏ hơn chi thì sẽ được Nhà nước bù: Nhà nước trực tiếp can thiệp và xác định

tỷ giá nhưng tỷ giá không phản ánh quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường,

áp dụng chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá Quan hệ xuất nhập khẩu chủ yếu với

các nước trong khối SEV (cộng đồng tương trợ kinh tế) lúc đó chủ yếu áp dụng

hình thức hàng đổi hàng theo một chế độ tỷ giá cố định quan hệ thanh toán giữa

các nước XHCN theo tỷ giá mậu dịch và phi mậu dịch Tỷ giá mậu dịch áp

dụng cho các quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá và các chi phí liên quan đến

Trang 9

xuất nhập khẩu Tỷ giá phi mậu dịch áp dụng cho các quan hệ thanh toán không

phải là hàng hoá Việc hoạch toán tỷ giá giữa đồng Việt nam với đồng ngoại tệ

thì được áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ Đó là loại tỷ giá để làm căn cứ bù lỗ

cho các doanh nghiệp xuất khẩu có giá thành cao Ngoài ra Nhà nước ta còn

quy định thêm một tỷ lệ phần trăm khoản phụ cấp theo các tỷ giá chính thức đối

với các ngoại tệ thuộc khu vực hai (ngoài các nước thuộc hệ thống XHCN) để

thu hút kiều hối và khuyến khích các khách du lịch nước ngoài, gọi là tỷ giá du

lịch và tỷ giá kiều hối

Từ năm 1989, Nhà nước ta đã có chủ trương và giải pháp đổi mới đồng

bộ trong quan hệ kinh tế đối ngoại và trong chính sách tỷ giá Tháng 3-1898

Nhà nước ta đã áp dụng chế độ tỷ giá được điều chỉnh thường xuyên gần sát với

tỷ giá thị trường Ngay sau đó, NHNN Việt Nam đã thành lập hai trung tâm

giao dịch hối đoái: Ở TP HCM và Hà Nội, để làm thí điểm cho việc tiến tới

thành lập một thị trường hối đoái trong cả nước, đã thành lập và tổ chức hoạt

động thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Ngoài ra, sau khi thực hiện chuyển đổi

nền kinh tế, thực hiện pháp lệnh ngân hàng, NHNN đã ban hành các quy chế về

quản lý ngoại hối Từ đó đã cải thiện được phần nào về tình trạng ngoại hối của

đất nước

2.4.2 Sau khi ban hành bộ luật ngân hàng

Sau khi luật NHNN Việt Nam ban hành (tháng 12-1997) quá trình quản

lý ngoại hối ở nước ta đã có những bước chuyển biến khá quan trọng, đã quy

định rõ quyền hạn và nhiệm vụ của NHNN Việt Nam về quản lý ngoại hối, điều

mà trước đây chúng ta chưa làm được Điều 37 đã quy định về quyền hạn và

nhiệm vụ của NHNN như sau:

1 Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về quản

lý ngoại hối; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối

theo thẩm quyền

2 Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối

Trang 10

3 Tổ chức điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị

trường ngoại hối trong nước

4 Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về

quản lý ngoại hối, kiểm soát việc xuất, nhập ngoại hối

5 Kiểm soát hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng

6 Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác về quản lý ngoại

hối theo quy định của pháp luật

Ngoài ra còn quy định nhiều nội dung quan trọng khác như: quy định

về quản lý dự trữ ngoại hối (điều 38), quy định về hoạt động ngoại hối của

NHNN (điều 39) Tức là sau khi ban hành luật ngân hàng thì hoạt động quản

lý ngoại hối của NHNN Việt dự trữ Nam đã được quy định một cách rõ ràng

hơn, cụ thể hơn

Trang 11

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT

NAM TRONG THỜI GIAN QUA

Một trong những thành công quan trọng trong thực thi chính sách tiến tệ và

thực hiện chức năng cuả NHNN trong thời gian qua là đổi mới công tác quản lý

ngoại hối và ổn định thị trường ngoại tệ Công tác quản lý nhoại hối của đất nước

ta trong thời kỳ kinh tế mở đã bắt đầu đạt được những thành tựu đáng khích lệ

Nhưng bên cạnh đó vẫn có một số những hạn chế còn tồn tại và dược thể hiện ở

những chỉ tiêu sau:

1 Thực trạng về lãi suất ngoại tệ

Trong 5 tháng đầu năm 2001, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất cho vay

bằng đôla Mỹ dựa trên cơ sở lãi suất SIBOR 3 tháng cộng 1%/năm đối với cho vay

ngắn hạn; còn đối với cho vay trung và dài hạn là lãi suất SIBOR 6 tháng cộng 2

5%/năm Từ ngày 1-6-2001, NHNN đã bỏ quy định khống chế biên độ, cho phép

các tổ chức tín dụng dựa trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu nguồn

vốn ngoại tệ trong nước mà thoả thuận với từng khách hàng mức lãi suất cho vay

phù hợp, hay còn gọi là tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ

Riêng đối với lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các pháp nhân tại các tổ chức tín

dụng, NHNN vẫn khống chế ở mức thấp nhằm hạn chế việc nắm giữ đôla trên tài

khoản và hạn chế đôla hóa trong điều kiện tỷ lệ kết hối 80% giảm xuống 50% và

hiện nay còn 40% Do đó, lãi suất USD ở nước ta giảm mạnh theo xu hướng thị

trường quốc tế, hiện nay mức phổ biến đối với tiền gửi không kỳ hạn từ

1-1,2%/năm, kỳ hạn 3 tháng từ 1,5-2%/năm, kỳ hạn 6 tháng từ 2,2-2,5%/năm, kỳ hạn

12 tháng từ 2,6-3%/năm Lãi suất cho vay ngắn hạn từ 5,5-6%/năm, trung và dài

hạn từ 6,05-6,5%/năm Diễn biến lãi suất USD ở nước ta cho thấy đã chịu ảnh

hưởng trực tiếp của thị trường quốc tế, nhất là tác động của 9 lần giảm lãi suất của

Trang 12

Cục dự trữ liên bang Mỹ, đồng thời chịu ảnh hưởng bởi NHNN Việt Nam điều

chỉnh tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ

Do thực hiện các giải pháp đồng bộ, việc thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản đã

đi vào nề nếp, mặt bằng lãi suất đã hình thành một cách hợp lý theo xu hướng có

lợi cho lãi suất đồng Việt Nam, hạn chế được dòng chu chuyển từ Việt Nam đồng

sang ngoại tệ; lãi suất cho vay được hình thành theo hướng tích cực, đáp ứng được

việc thực hiện chủ trương kích cầu của Chính Phủ

Năm 2002, trước những diễn biến trên thị trường tiền tệ, lãi xuất đồng Việt

Nam nhập siêu tăng cao, ước tính tới 2,53 tỷ USD, thì thị trường ngoại tệ tương đối

ổn định, lãi suất USD và EURO ở mức thấp, đôla Mỹ USD “xuống giá” Việc

“xuống giá” của USD dược sét trên ba khía cạnh: Lãi suất thấp, chỉ bằng 1/4 lãi

suất tiền gửi VND trong cùng kỳ hạn; tốc độ tăng giá thấp nhất trong nhiều năm

qua và thấp hơn giá vàng, thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng trong hai tháng cuối năm

nếu lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn trên một năm tới 8,64%/năm, thì lãi suất tiền gửi

USD chỉ có 2,0%/năm cao hơn lãi suất của FED, LIBOR và SIBOR, do các

NHTM đang mở rộng cho vay USD các dự án lớn trong nước với lãi suất thấp

không phải gửi ra nước ngoài Trong khi đó lãi suất vay vốn USD chỉ khoảng từ

2,75%/năm đến 5%/năm nên một số doanh nghiệp thích vay vốn USD hơn Hiện

nay có một loạt các dự án lớn có nhu cầu vay bằng ngoại tệ như: Đường ống dẫn

khí đốt Nam Côn Sơn, xi măng Tam Điệp, lọc dầu Dung Quất Do đó các

NHTM đấy mạnh huy động vốn USD để cho vay trong nước không phải ra nước

ngoài

Mặt khác nếu NHNN không có biện pháp can thiệp gián tiếp hỗ trợ lãi xuất

USD, thì các NHTM sẽ giảm thấp lãi suất tiền gửi USD, người dân sẽ đầu cơ USD

không gửi vào ngân hàng làm sảy ra tình trạng đôla hoá ngày càng cao làm cho

ngân hàng không thể kiểm soát nổi, không thu hút được nguồn ngoại tệ ở trong dân

đồng thời làm cho khoảng cách chênh lệch với lãi suất tiền gửi VND càng cao hơn

trong điều kiện tỷ giá ổn định, sẽ tạo ra các dòng dịch chuyển với mức độ lớn từ

Ngày đăng: 01/04/2013, 17:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w