Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trước xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, quan hệ kinh tế giữa các
nước trên thế giới ngày càng chặt chẽ hơn, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại và
đầu tư quốc tế Chính vì vậy ngoại hối với nội dung chính là xác định mối quan hệ
về ngoại tệ của đồng tiền các nước ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với nền
kinh tế mỗi quốc gia Ngoại hối nói chung và quản lí ngoại hối nói riêng là vấn đề
được tất cả các nước quan tâm và nghiên cứu vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến
công tác xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế cũng như toàn bộ nền kinh
tế Đất nước ta trong nền kinh tế mở thì việc hoạch định một chính sách ngoai hối
với công tác quản lí hữu hiệu là một vấn đề rất quan trọng Với những lí do trên,
em chọn đề tài: “Một số vấn đề về quản lý ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước
Việt Nam trong thời gian qua và giải pháp khắc phục”
Do thời gian nghiên cứu hạn hẹp, mà vốn hiểu biết của em còn hạn chế nên
bài viết này không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của thầy cô để bài viết của em tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 2CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI VÀ
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
1 Khái quát về thị trường ngoại hối
1.1 Khái niệm
Như chúng ta đã biết, trong thương mại quốc tế khi nhà xuất khẩu thu ngoại
tệ về thì họ phải bán số ngoại tệ này để lâý nội tệ, vì nhà xuất khẩu phải trang trải
các chi phí đầu vào trong nước bằng nội tệ Khi nhà nhập khẩu được yêu cầu thanh
toán bằng ngoại tệ thì họ phải dùng nội tệ để mua số ngoại tệ này thanh toán cho
nhà xuất khẩu nước ngoài Hoạt động mua bán các đông tiền khác nhau được diễn
ra trên thị trường, và thị trường này được gọi là thị trường ngoại hối( The Foreign
Exchange Market - FOREX) Vậy: thị trường ngoại hối là nơi diễn ra việc mua
bán các đồng tiền khác nhau
1.2 Đặc điểm
- Thị trường ngoại hối hoạt động thông qua mạng lưới ngân hàng trên
toàn thế giới
- Là thị trường toàn cầu, thời lượng giao dịch 24/24 giờ, việc mua bán
chuyển đổi các đồng tiền khác nhau diễn ra trên toàn thế giới
- Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng quốc
tế( interbank) với các thành viên chủ yếu là các ngân hàng thương mại( NHTM),
các nhà môi giới ngoại hối và các ngân hàng trung ương(NHTW)
- Các nhà kinh doanh quan hệ với nhau thông qua điện thoại, telex, fax,
hệ thống Swift, mạng vi tính
- Tỷ giá trên các thi trường khác nhau hầu như là thống nhất với nhau
- Đồng tiền được sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch ngoại hối là
USD(41,5%)
Trang 3- Đây là thị trường rất nhạy cảm với các sự kiện chính trị, kinh tế, xã
hội
- Những thị trường ngoại hối quan trọng nhất ngày nay gồm New York,
London, Tokyo, Singapor và Frankfurt
1.3 Chức năng
- Chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối là nhằm phục vụ dịch vụ
cho khách hàng thực hiện các giao dich thương mại quốc tế
- Giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, các giao dịch tài chính
quốc tế khác giữa các quốc gia
- Giá trị đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo
quy luật cung- cầu của thị trường
- Thị trường ngoại hối cung cấp các cộng cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá
cho các ngân hàng, các nhà xuất nhập khẩu, các nhà đầu tư và đi vay quốc tế bằng
các hợp đồng: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hợp
đồng tương lai
- Là nơi để NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng
có lợi cho nền kinh tế
1.4 Mô hình tổ chức của thị trường
2 Nghiệp vụ quản lí ngoại hối
2.1 Mục đích quản lí ngoại hối
NHTW
Môi giới
Công ty
Đấ u giá mở Hai chiều
Trang 42.1.1 Khái niệm
Ngoại hối là phương tiện thiết yếu trong quan hệ kinh tế, văn hoá giữa
các quốc gia Ngoại hối là tiền nước ngoài, vàng tiêu chuẩn quốc tế, các giấy tờ có
giá và các công cụ thanh toán bằng tiền nước ngoài Ngoại hối trong đó đặc biệt là
ngoại tệ có vai trò quan trọng, nó là phương tiện dự trữ của cải, phương tiện để
mua bán, phương tiện thanh toán và hạch toán quốc tế, được các nước chấp nhận là
đồng tiền quốc tế, ví dụ: đô la Mỹ,Bảng Anh, Frăng Pháp
Nền kinh tế ngày càng phát triển, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng
thì không thể có một quốc gia nào phát triển một cách đơn độc, khép kín mà đòi
hỏi phải mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài Vì vậy, dự trữ ngoại hối là một
trong những mục tiêu kinh tế có ý nghĩa chiến lược quan trọng, có dự trữ ngoại hối
cần thiết có nghĩa là nhà nước đã nắm được trong tay một công cụ quan trọng để
phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu kinh tế vĩ mô dự trữ ngoại hối để đảm bảo
khả năng thanh toán quốc tế, thoả mãn nhu cầu nhập khẩu phục vụ phát triển kinh
tế và đời sống trong nước, mở rộng đầu tư, hợp tác kinh tế với nước ngoài, phục vụ
mục tiêu chính sách kinh tế mở Dự trữ ngoại hối là một cơ sở cho việc phát hành
tiền đảm bảo cho mối tương quan giữa tiền- hàng trong nước Nhà nước có thể chủ
động sử dụng ngoại hối như là một lực lượng để can thiệp, điều tiết thị trường tiền
tệ theo những mục tiêu, kế hoạch
Đối với những nước mà đồng tiền được tự do chuyển đổi, dự trữ ngoại hối là
công cụ để can thiệp, điều chỉnh nhằm thiết lập thế cân bằng giữa các đồng tiền
trong trật tự các đồng tiền quốc tế, phục vụ chính sách kinh tế
Đối với những nước mà đồng tiền không được tự do chuyển đổi, dự trữ
ngoại hối là lực lượng để can thiệp thị ttrường nhằm duy trì ổn định tỷ giá hối đoái
của đồng bản tệ
Với tư cách là một cơ quan duy nhất có nhiệm vụ phát hành tiền, xây dựng
và thực thi chính sách tiền tệ, lập và theo dõi cán cân thanh toán quốc tế, NHTW
Trang 5đã được giao nhiệm vụ quản lí Nhà nước và kiểm soát ngoại hối trên thị trường là
phù hợp
Vậy: quản lý ngoại hối là việc Nhà nước áp dụng các chính sách, biện
pháp tác động vào quá trình xuất, nhập ngoại hối( đặc biệt là ngoại tệ) và việc
sử dụng ngoại hối theo những mục tiêu nhất định
2.1.2 Mục đích quản lý ngoại hối
2 1 2 1 Điều tiết tỷ giá thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
NHTW thực hiện các biện pháp nhằm thúc đẩy tập trung các nguồn ngoại
hối( đặc biệt là ngoại tệ) vào tay mình, để thông qua đó Nhà nước sử dụng một
cách hợp lý, có hiệu quả cho các nhu cầu phát triển kinh tế và hoạt động đối ngoại
Đồng thời sử dụng chính sách ngoại hối như một công cụ có hiệu lực để thực hiện
chính sách tiền tệ, thông qua mua bán trên thị trường để can thiệp vào tỷ giá khi
cần thiết nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền, tác động vào lượng tiền
cung ứng Chẳng hạn khi tỷ giá giảm thì ngân hàng có thể bán ngoại tệ, khi tỷ giá
tăng ngân hàng thực hiện mua ngoại tệ để ổn định tỷ giá đồng thời ổn định lượng
tiền trong lưu thông
2.1.2.2 Bảo tồn quỹ dự trữ ngoại hối nhà nước
Là cơ quan quản lý tài sản quốc gia, NHTW phải quản lý quỹ dự trữ ngoại
hối Nhà nước nhưng không chỉ bảo quản và cất giữ mà còn biết sử dụng để phục
vụ cho đầu tư phát triển kinh tế, luôn đảm bảo an toàn không bị ảnh hưởng rủi ro
về tỷ giá ngoại tệ trên thị trường quốc tế Vì thế NHTW cần phải mua, bán, chuyển
đổi để phát triển, chống thất thoát, sói mòn quỹ dự trữ ngoại hối của Nhà nước, bảo
vệ độc lập chủ quyền về tiền tệ
2.1.2.3 Cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
Cán cân thanh toán quốc tế thể hiện quan hệ thu chi quốc tế của một nước
với nước ngoài Cán cân thanh toán phản ánh đầy đủ những xu hướng cung và cầu
về ngoại tệ trong các giao dịch quốc tế nên nó tác động lớn đến tỷ giá hối đoái của
đồng tiền
Trang 6Khi cán cân thanh toán quốc tế bội thu, lượng ngoại tệ chảy vào trong nước
dẫn đến khả năng cung về ngoại tệ cao hơn nhu cầu, trường hợp này tỷ giá vận
động theo tỷ giá giảm Ngược lại khi cán cân thanh toán quốc tế bội chi, tăng
lượng ngoại tệ chảy ra nước ngoài dẫn đến nhu cầu về ngoại tệ cao hơn khả năng
cung ứng, trường hợp này tỷ giá vận động theo xu hướng tăng Như vậy trong cả
hai trường hợp, nếu không có sự can thiệp của NHTW, tỷ giá sẽ tăng hoặc giảm
theo cung cầu ngoại tệ trên thị trường Tuy nhiên ở nhiều nước, NHTW đóng vai
trò điều tiết tỷ giá để thực hiện mục tiêu của chính sách kinh tế Nếu NHTW muốn
xác lập một tỷ giá ổn định nghĩa là giữ cho tỷ giá không tăng, không giảm thì
NHTW hoặc là mua số ngoại tệ từ nước ngoài chuyển vào trong nước làm cho quỹ
dự trữ ngoại hối sẽ tăng lên tương ứng, hoặc NHTWsẽ bán ngoại tệ ra để đáp ứng
nhu cầu của thị trường khi có luồng ngoại tệ chảy ra nước ngoài, quỹ dự trữ ngoại
hối giảm xuống tương ứng
2.2 Cơ chế quản lý ngoại hối
2.2.1 Cơ chế tự do ngoại hối
Thực hiện cơ chế tự do ngoại hối có nghĩa là ngoại hối được tự do lưu thông
trên thị trường, cân bằng ngoại hối do thị trường quyết định mà không có sự can
thiệp của Nhà nước, do vậy tỷ giá - giá cả ngoại hối sẽ phù hợp với sức mua của
đồng tiền trên thị trường Tỷ giá thả nổi dẫn đến lãi suất, luồng vốn vào và ra hoàn
toàn do thị trường chi phối Cơ chế này có ưu điểm là khuyến khích được sự lưu
chuyển của đồng vốn, nhưng nhược điểm của nó là không khống chế được sự thay
đổi của tỷ giá và giá cả trên thị trường ngoại hối
2.2.2 Cơ chế ngoại hối có quản lý
2.2.2.1 Cơ chế nhà nước thực hiện quản lý hoàn toàn
Theo cơ chế này thực hiện độc quyền ngoại thương và độc quyền ngoại hối
Nhà nước áp dụng các biện pháp hành chính áp đặt nhằm tập trung tẩt cả hoạt động
ngoại hối vào tay mình Tỷ giá do Nhà nước quy định mà tất cả các giao dịch ngoại
hối phải chấp hành, các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nếu
Trang 7bị lỡ do tỷ giá thì sẽ được Nhà nước cấp bù, ngược lại nếu lãi thì nộp cho Nhà
nước Cơ chế này phù hợp với nền kinh tế hoá tập trung
2.2.2.2 Cơ chế quản lý có điều tiết
Cơ chế quản lý hoàn toàn, Nhà nước có thể áp đặt khống chế được thị
trường, ngăn chặn ảnh hưởng từ bên ngoài, chủ động khai thác được nguồn vốn
bên trong Nhưng trong nền kinh tế thị trường cách quản lý này sẽ không phù hợp,
cản trở và gây khó khăn cho nền kinh tế
Để khắc phục sự áp đặt, Nhà nước đã tiến hành điều tiết nhưng đã gắn với
thị trường, Nhà nước tiến hành kiểm soát một mức độ nhất định để nhằm phát huy
tính tích cực của thị trường, hạn chế nhược điểm do thị trường gây ra, tạo điều kiện
cho kinh tế trong bước phát triển và ổn định, ngăn chặn ảnh hưởng từ bên ngoài
Bằng công cụ tỷ giá, dự trữ ngoại hối và các yếu tố khác mà NHTW có thể
chủ động điều chỉnh theo các mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô
2.3 Hoạt động ngoại hối của NHTW
2.3.1 Hoạt động mua bán ngoại hối
NHTW tham gia vào hoạt động mua bán ngoại hối với tư cách là người can
thiệp, giám sát, điều tiết nhưng đồng thời cũng là người mua, bán cuối cùng
Thông qua việc mua, bán NHTW thực hiện giám sát và điều tiết thị trường theo
mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời theo dõi diễn biến tỷ giá đồng bản tệ để
chủ động quyết định hoặc phối hợp với NHTW các nước khác củng cố sức mua
đồng tiền này hay đồng tiền khác để đảm bảo trật tự trong quan hệ quốc tế có lợi
cho nước mình Hoạt động mua bán ngoại hối của NHTW diễn ra trên thị trường
trong nước và thị trường quốc tế Việc NHTW thực hiện việc mua bán ngoại hối sẽ
tác động trực tiếp vào tiền trung ương (MB) Khi NHTW mua ngoại hối trên thị
trường sẽ làm tăng MB và ngược lại khi NHTW bán ngoại hối trên thị trường thì sẽ
làm giảm MB Nghiệp vụ mua bán làm ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối, ảnh hưởng
đến tỷ giá hối đoái Như vậy, NHTW thông qua mua bán ngoại hối có thể can thiệp
nhằm đạt được tỷ giá mong muốn
Trang 82.3.2 Hoạt động quản lý ngoại hối của NHTW
Ngoài việc can thiệp bằng cách mua bán ngoại tệ trên thị trường,
NHTW còn thực hiện các hoạt động về ngoại hối như:
- Quản lý, điều hành thị trường ngoại hối, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bằng cách đưa ra các quy chế ra nhập thành viên, quy chế hoạt
động, quy định giới hạn, tỷ giá mua bán ngoại tệ trên thị trường
- Tham gia xây dựng các dự án pháp luật vá ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật về quản lý ngoại hối
- Cấp giấy phếp và thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối
- Kiểm tra, giám sát việc xuất nhập khẩu ngoại hối, kiểm soát các hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về quản lý ngoại hối
- Biên lập cán cân thanh toán
2.4 Hoạt động quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam
2.4.1 Thời gian trước khi ban hành luật ngân hàng
Việt nam trong thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thời gian dài với chế
độ Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương và ngoại hối Mọi nguồn thu chi
ngoại tệ đều được tập trung vào Nhà nước, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh
mới được phép tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá theo tỷ giá ấn định dẫn đến
hiện tượng thu chi chênh lệch ngoại thương Doanh nghiệp tham gia xuất nhập
khẩu nếu thu lớn hơn chi thì phải nộp Nhà nước phần chênh lệch, ngược lại thu
nhỏ hơn chi thì sẽ được Nhà nước bù: Nhà nước trực tiếp can thiệp và xác định
tỷ giá nhưng tỷ giá không phản ánh quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường,
áp dụng chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá Quan hệ xuất nhập khẩu chủ yếu với
các nước trong khối SEV (cộng đồng tương trợ kinh tế) lúc đó chủ yếu áp dụng
hình thức hàng đổi hàng theo một chế độ tỷ giá cố định quan hệ thanh toán giữa
các nước XHCN theo tỷ giá mậu dịch và phi mậu dịch Tỷ giá mậu dịch áp
dụng cho các quan hệ xuất nhập khẩu hàng hoá và các chi phí liên quan đến
Trang 9xuất nhập khẩu Tỷ giá phi mậu dịch áp dụng cho các quan hệ thanh toán không
phải là hàng hoá Việc hoạch toán tỷ giá giữa đồng Việt nam với đồng ngoại tệ
thì được áp dụng tỷ giá kết toán nội bộ Đó là loại tỷ giá để làm căn cứ bù lỗ
cho các doanh nghiệp xuất khẩu có giá thành cao Ngoài ra Nhà nước ta còn
quy định thêm một tỷ lệ phần trăm khoản phụ cấp theo các tỷ giá chính thức đối
với các ngoại tệ thuộc khu vực hai (ngoài các nước thuộc hệ thống XHCN) để
thu hút kiều hối và khuyến khích các khách du lịch nước ngoài, gọi là tỷ giá du
lịch và tỷ giá kiều hối
Từ năm 1989, Nhà nước ta đã có chủ trương và giải pháp đổi mới đồng
bộ trong quan hệ kinh tế đối ngoại và trong chính sách tỷ giá Tháng 3-1898
Nhà nước ta đã áp dụng chế độ tỷ giá được điều chỉnh thường xuyên gần sát với
tỷ giá thị trường Ngay sau đó, NHNN Việt Nam đã thành lập hai trung tâm
giao dịch hối đoái: Ở TP HCM và Hà Nội, để làm thí điểm cho việc tiến tới
thành lập một thị trường hối đoái trong cả nước, đã thành lập và tổ chức hoạt
động thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Ngoài ra, sau khi thực hiện chuyển đổi
nền kinh tế, thực hiện pháp lệnh ngân hàng, NHNN đã ban hành các quy chế về
quản lý ngoại hối Từ đó đã cải thiện được phần nào về tình trạng ngoại hối của
đất nước
2.4.2 Sau khi ban hành bộ luật ngân hàng
Sau khi luật NHNN Việt Nam ban hành (tháng 12-1997) quá trình quản
lý ngoại hối ở nước ta đã có những bước chuyển biến khá quan trọng, đã quy
định rõ quyền hạn và nhiệm vụ của NHNN Việt Nam về quản lý ngoại hối, điều
mà trước đây chúng ta chưa làm được Điều 37 đã quy định về quyền hạn và
nhiệm vụ của NHNN như sau:
1 Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về quản
lý ngoại hối; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối
theo thẩm quyền
2 Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối
Trang 103 Tổ chức điều hành thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và thị
trường ngoại hối trong nước
4 Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về
quản lý ngoại hối, kiểm soát việc xuất, nhập ngoại hối
5 Kiểm soát hoạt động ngoại hối của các tổ chức tín dụng
6 Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác về quản lý ngoại
hối theo quy định của pháp luật
Ngoài ra còn quy định nhiều nội dung quan trọng khác như: quy định
về quản lý dự trữ ngoại hối (điều 38), quy định về hoạt động ngoại hối của
NHNN (điều 39) Tức là sau khi ban hành luật ngân hàng thì hoạt động quản
lý ngoại hối của NHNN Việt dự trữ Nam đã được quy định một cách rõ ràng
hơn, cụ thể hơn
Trang 11CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI CỦA NHNN VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN QUA
Một trong những thành công quan trọng trong thực thi chính sách tiến tệ và
thực hiện chức năng cuả NHNN trong thời gian qua là đổi mới công tác quản lý
ngoại hối và ổn định thị trường ngoại tệ Công tác quản lý nhoại hối của đất nước
ta trong thời kỳ kinh tế mở đã bắt đầu đạt được những thành tựu đáng khích lệ
Nhưng bên cạnh đó vẫn có một số những hạn chế còn tồn tại và dược thể hiện ở
những chỉ tiêu sau:
1 Thực trạng về lãi suất ngoại tệ
Trong 5 tháng đầu năm 2001, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất cho vay
bằng đôla Mỹ dựa trên cơ sở lãi suất SIBOR 3 tháng cộng 1%/năm đối với cho vay
ngắn hạn; còn đối với cho vay trung và dài hạn là lãi suất SIBOR 6 tháng cộng 2
5%/năm Từ ngày 1-6-2001, NHNN đã bỏ quy định khống chế biên độ, cho phép
các tổ chức tín dụng dựa trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu nguồn
vốn ngoại tệ trong nước mà thoả thuận với từng khách hàng mức lãi suất cho vay
phù hợp, hay còn gọi là tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ
Riêng đối với lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các pháp nhân tại các tổ chức tín
dụng, NHNN vẫn khống chế ở mức thấp nhằm hạn chế việc nắm giữ đôla trên tài
khoản và hạn chế đôla hóa trong điều kiện tỷ lệ kết hối 80% giảm xuống 50% và
hiện nay còn 40% Do đó, lãi suất USD ở nước ta giảm mạnh theo xu hướng thị
trường quốc tế, hiện nay mức phổ biến đối với tiền gửi không kỳ hạn từ
1-1,2%/năm, kỳ hạn 3 tháng từ 1,5-2%/năm, kỳ hạn 6 tháng từ 2,2-2,5%/năm, kỳ hạn
12 tháng từ 2,6-3%/năm Lãi suất cho vay ngắn hạn từ 5,5-6%/năm, trung và dài
hạn từ 6,05-6,5%/năm Diễn biến lãi suất USD ở nước ta cho thấy đã chịu ảnh
hưởng trực tiếp của thị trường quốc tế, nhất là tác động của 9 lần giảm lãi suất của
Trang 12Cục dự trữ liên bang Mỹ, đồng thời chịu ảnh hưởng bởi NHNN Việt Nam điều
chỉnh tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ
Do thực hiện các giải pháp đồng bộ, việc thực hiện cơ chế lãi suất cơ bản đã
đi vào nề nếp, mặt bằng lãi suất đã hình thành một cách hợp lý theo xu hướng có
lợi cho lãi suất đồng Việt Nam, hạn chế được dòng chu chuyển từ Việt Nam đồng
sang ngoại tệ; lãi suất cho vay được hình thành theo hướng tích cực, đáp ứng được
việc thực hiện chủ trương kích cầu của Chính Phủ
Năm 2002, trước những diễn biến trên thị trường tiền tệ, lãi xuất đồng Việt
Nam nhập siêu tăng cao, ước tính tới 2,53 tỷ USD, thì thị trường ngoại tệ tương đối
ổn định, lãi suất USD và EURO ở mức thấp, đôla Mỹ USD “xuống giá” Việc
“xuống giá” của USD dược sét trên ba khía cạnh: Lãi suất thấp, chỉ bằng 1/4 lãi
suất tiền gửi VND trong cùng kỳ hạn; tốc độ tăng giá thấp nhất trong nhiều năm
qua và thấp hơn giá vàng, thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng trong hai tháng cuối năm
nếu lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn trên một năm tới 8,64%/năm, thì lãi suất tiền gửi
USD chỉ có 2,0%/năm cao hơn lãi suất của FED, LIBOR và SIBOR, do các
NHTM đang mở rộng cho vay USD các dự án lớn trong nước với lãi suất thấp
không phải gửi ra nước ngoài Trong khi đó lãi suất vay vốn USD chỉ khoảng từ
2,75%/năm đến 5%/năm nên một số doanh nghiệp thích vay vốn USD hơn Hiện
nay có một loạt các dự án lớn có nhu cầu vay bằng ngoại tệ như: Đường ống dẫn
khí đốt Nam Côn Sơn, xi măng Tam Điệp, lọc dầu Dung Quất Do đó các
NHTM đấy mạnh huy động vốn USD để cho vay trong nước không phải ra nước
ngoài
Mặt khác nếu NHNN không có biện pháp can thiệp gián tiếp hỗ trợ lãi xuất
USD, thì các NHTM sẽ giảm thấp lãi suất tiền gửi USD, người dân sẽ đầu cơ USD
không gửi vào ngân hàng làm sảy ra tình trạng đôla hoá ngày càng cao làm cho
ngân hàng không thể kiểm soát nổi, không thu hút được nguồn ngoại tệ ở trong dân
đồng thời làm cho khoảng cách chênh lệch với lãi suất tiền gửi VND càng cao hơn
trong điều kiện tỷ giá ổn định, sẽ tạo ra các dòng dịch chuyển với mức độ lớn từ