Người ta phát hiện ra bạch cầu người nhận phát hiện và phản ứng với mô lạ khi tiếp xúc với kháng nguyên trên màng tế bào mô ghép, đó là các kháng nguyên cùng loài, hoặc khán nguyên khác
Trang 1GHÉP TẠNG
MỤC TIÊU:
- Biết các nguyên lý và nguyên tắc cơ bản về miễn dịch học ghép.
- Hiểu đại cương về tiêu chuẩn chọn cặp cho-nhận trong các loại ghéptạng khác nhau; nói qua về khía cạnh đạo đức, xã hội trong việc cho và lấy tạng để ghép.
- Hiểu đại cương về các kỹ thuật ngoại khoa trong ghép tạng.
Tạng hay phủ tạng con người gồm : thận,
gan, phổi, tim, ruột, tụy tạng Các cơ quan
này khi bị các bệnh bẩm sinh, bệnh mạn
hay cấp tính không hồi phục được chức
năng, bị mất hoàn toàn hoặc còn không
đáng kể, phải điều trị bằng những phương
pháp thay thế tạng Điều trị thay thế tạng
có thể là máy có chức năng thay thế nhân
tạo (thận, tim, tim-phổi nhân tạo …); hoặc
cấy ghép tạng của một người khác hiến
tặng
Tạng được ghép cùng vị trí cũ của tạng
bệnh đã phải cắt bỏ (ghép tim, ghép phổi,
ruột non), hoặc ghép khác vị trí (ghép thận,
ghép tụy)
Tạng ghép vào cơ thể của tự người cho gọi
là ghép tự thân (autograft, autogrèffe)
Ghép đồng loài (allograft, allogreffe) là
ghép tạng hay mô cho cùng loài, thí dụ
ghép tạng người cho người Ghép dị loài
(zenograft, xénogrèffe) là ghép tạng loài
vật cho loài người
Thành công của ghép tạng đồng loài của Yhọc hiện đại, đã đem lại sự sống của hàngtriệu người trên thế giới trong hơn nửa thếkỷ qua Thành công đó mang dấu ấn củanhững phương pháp điều trị bằng thuốc ứcchế miễn dịch
I TÓM TẮT LỊCH SỬ GHÉP TẠNG
1902:trường hợp ghép thận thực nghiệmđầu tiên thành công (Ullman, 1902)
1906:trường hợp ghép trên người, ghép
dị loài (Jaboulay, 1906)
1933:trường hợp đầu tiên ghép thận đồngloại trên người (Voronoy, 1936) Khôngthành công
1937: ghép da thành công đầu tiên giữahai anh em sinh đôi
1950:sự phục hưng ghép thận thựcnghiệm (Dempster, 1953; Simonsen, 1963)
1954: Joseph Murray : ghép thận đồngloài thành công trường hợp đầu tiên (ngườicho và người nhận là song sinh
Trang 2cùng trứng), sốáng 7 năm bởi Murray et
al; giải Nobel cho Murray,1958
1959: thuốc ức chế miễn dịch đầu tiên
(6- mercaptopurin)
1960: thêm một thuốc ức chế miễn dịch:
Prednisone
1962: sau khi có Azathioprin, Muray lần
đầu ghép thận thành công từ tử thi
1963 : Ghép gan đầu tiên Thomas
Starzl (Huston): sau đó,1968, Roy
Calne (London)
1966: phát hiện phản ứng chéo dương
tính đẫn tới thải ghép tối cấp
(Kissmeyer-Nielson ; Terasaki)
1967: phát triển phương pháp bảo quản
thận (Belzer , 1967)
1967: Christia Barnard ghép tim đầu
tiên, người nhận sống 18 ngày Sau đó
liên tục thất bại
1970: Shumway được coi là ngời đầu
tiên thành công trong ghép tim
1978:dùng Cyclosporine A lần đầu
(Calcineurine Inhibitor)(Calne, 1978)
1978: ghép thận có hòa hợp HLA-DR
(Ting and Morris, 1978)
1987: làn sóng thuốc ức chế miễn dịch
mới: FK506 hay Tacrolimus tức
Prograf®)
1992 : Việt Nam, trường hợp ghép thận
đầu tiên từ người cho sống cùng huyết
thống vào tháng 6-1992 tại Học viện
Quân Y, Hà Đông; tháng 12-1992 tại
bệnh viện Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh
30/01/2004: trường hợp ghép gan từ
người cho sống đầu tiên ở Việt Nam,
tại Học Viên Quân Y, rồi Viện Nhi
Trung Ương Hà Nội , Bệnh viện Nhi
Đồng 2 TP Hồ Chí Minh và bệnh viện
Việt Đức, Hà Nội
2006: luật “Hiến, Lấy, ghép mô, Bộ
phận cơ thể người và Hiến, Lấy xác”
được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã
Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua,có hiệu lực từ tháng 7-2007
Ngày 20/4/2008: trường hợp ghép thận từngười cho chết não đầu tiên tại bệnhviện Chợ Rẫy
II.CƠ SỞ CỦA MIỄN DỊCH HỌC GHÉP
Trang 3A.CÁC NGUYÊN LÝ TRONG MIỄN
DỊCH HỌC GHÉP TẠNG
1 Sự đáp ứng miễn dịch
Chức năng chính của hệ miễn dịch là đề
kháng với nhiễm trùng Từ cơ sở miễn
dịch ghép đầu tiên phát hiện do Medawar
trong thế chiến thứ II, ghép da để điều trị
bỏng do bom tại Luân Đôn Hệ miễn dịch
có khả năng phân biệt giữa các kháng
nguyên tự thân và các kháng nguyên
không tự thân tức kháng nguyên lạ
Người ta phát hiện ra bạch cầu người
nhận phát hiện và phản ứng với mô lạ khi
tiếp xúc với kháng nguyên trên màng tế
bào mô ghép, đó là các kháng nguyên
cùng loài, hoặc khán nguyên khác loài,
nếu lymphôâ bào phát hiện kháng nguyên
lạ, phản ứng miễn dịch sẽ xảy ra làm
hỏng tạng ghép
Vì vậy, dùng thuốc ức chế miễn dịch là cơsở bảo đảm thành công trong phẫu thuậtghép tạng Ghép tạng là giải pháp điều trịtốt nhất cho những trường hợp bị suy chứcnăng các phủ tạng do nhiều bệnh và do
Hình 1: Sự đáp ứng miễn dịch: cơ chế của sự nhận biết kháng nguyên trong miễn dịch
ghép và 2 cơ chế thải ghép (thải ghép dịch thể và thải ghép tế bào)
Trang 4nhiều nguyên nhân khác nhau.
Khi một kháng nguyên lạ hiện
diện trong cơ thể, các lympho-bào sẽ
nhận biết, ghi nhớ, và lần sau nếu gặp
lại nó sẽ có phản ứng nhằm hủy diệt
kháng nguyên lạ, ta gọi đó là sự đáp
ứng miễn dịch (hình 1)
2 Cơ chế của sự đáp ứng miễn dịch
(hình 1 và 2)
Tác động của sự đáp ứng miễn dịch
theo 2 dạng dịch thể và tế bào Liên
quan với hai cơ chế tác động này là 2
loại lymphô : lymphô T và lymphô B
(hình 2)
- Miễn dịch dịch thể: Lymphô
B, có vai trò chung là sản xuất các khángthể chống lại các kháng nguyên xâmnhập từ bên ngoài vào Trong ghép tạng,các kháng thể tự nhiên trong cơ thể (nhưkháng thể kháng kháng nguyên ABO)hay kháng thể kháng HLA (hay khángthể kháng bạch cầu) sản sinh sau 1 lầntruyền máu, có thai, sau 1 lần ghéptạng) Phản ứng giữa tế bào ghép (APC)và kháng thể của nó sẽ dẫn đến hiệntượng thải ghép dịch thể Đó là sự đápứng miễn dịch dạng dịch thể
A B
Hình 2: Cơ chế hình thành hai loại đáp ứng miễn dịch trong ghép tạng:
A: Phản ứng kháng thể-kháng nguyên ghép tthải ghép dịch thể) B: Phản ứng gây độc tế bào (thải ghép tế bào)
- Đáp ứng miễn dịch tế bào :
Lymphô T bảo vệ cơ thể chống lại xâm
nhập của tế bào lạ, của vi-rút, của tế
bào đột biến trong cơ thể Tương tự quá
trình của sự đáp ứng miễn dịch với một
mô lạ hay một tạng ghép đồng loài
cũng là một đáp ứng miễn dịch chống lại
kháng nguyên lạ dưới tác động trựctiếp của các lymphô T gọi là sự đápứng miễn dịch dạng tế bào Cơ chế củasự đáp ứng miễn dịch tế bào này ngàycàng được nghiên cứu tường tận hơn,ứng dụng quan trọng để ngày càng cảithiện phương pháp chống thải ghép
B CÁC HỆ THỐNG ĐÁP ỨNG MIỄNDỊCH TRONG GHÉP TẠNG
Trang 51 Vai trò của nhóm máu trong ghép
tạng
Nhóm máu ABO là các kháng nguyên
mạnh trong ghép tạng Nguyên tắc là
phải bảo đảm có sự hoà hợp giữa các
nhóm máu thuộc hệ ABO khi cho và
nhận tạng, giống như khi truyền máu
Các kháng nguyên ABO là hàng rào
cấm kỵ trong ghép tạng Ghép sai
nguyên tắc này sẽ dẫn đến thải ghép tối
cấp không hồi phục
Những đối tượng có thể cho hoặc nhận
tạng gồm: những người có cùng nhóm
máu có thể cho và nhận; những người có
nhóm máu O là người cho vạn ứng;
người có nhóm máu AB là người nhận
vạn ứng; người có nhóm máu A và B
không thể cho nhau; người có nhóm A
hoặc B có thề cho nhóm AB
Nguyên tắc hòa hợp ABO được đặt nặng
trong ghép thận Với các tạng khác, có
thể chấp nhận bất tương hợp khi cuộc
ghép đó mang tính tối cấp (trong ghép
gan, tim, phổi)
Theo các tác giả, yếu tố Rhésus (Rh)
không có vai trò trong tiêu chuẩn chọn
lựa cho và nhận tạng
Ngày nay, do tình trạng khan hiếm tạng
quá bức thiết, nhằm nổ lực tăng số người
cho tạng, khi có một cắp cho-nhận
nhưng bị chống chỉ định vì bất tươnghợp nhóm máu ABO người ta có thểvượt các nguyên tắc cấm kỵ về hòa hợpABO bằng cách:
Những năm đầu thế kỷ 21, người
ta đã thành công trong ghép trongnhững trường hợp chống chỉ địnhcho nhận ABO Người ta tiến hànhloại bỏ isoagglutinins của nhómmáu (kháng thể α, β) bằng cách lọchuyết thanh (plasmapheresis), mổcắt lách và cho dùng thuốc ức chếmiễn dịch trước ghép Tất nhiên làrất tốn kém và nguy cơ biến chứngmọi mặt đếu cao Nhưng nhiềunước trên thế giới như Hàn Quốc,Nhật bản đã báo cáo thành côngsau 5 năm với tỉ lệ sống còn củathận là 70%
Vì những người cho hợp pháp,nhưng không hòa hợp ABO, nhữngcặp cho-nhận này thỏa thuận chotrau đổi người cho để có tươngđồng nhóm máu và cho phép ghéptrong ghép thận
2 Hệ thống tương hợp mô(Histocompatibility Systems)
Phức hợp tương hợp mô chủ yếu
(Major Histocompatibility Complex viết tắt MHC) : là từ ngữ dùng diễn tả
một vùng của các gen nằm trênnhánh ngắn của nhiễm sắc thể số 6mang tính di truyền theo đơnbội Giảimã protein các gen này người ta thấynó
giữ nhiệm vụ thải ghép khi ghép tạnghoặc mô giữa các loài MHC là cácmã hiệu trên bề mặt tế bào còn đượcgọi kháng nguyên bạch cầu (HLA), vìcác kháng nguyên này được pháthiện đầu tiên trên tế bào bạch cầu
Trang 6Năm 1958, Dausset ở Paris phát hiện
ra MAC tức HLA-A2, đến nay HLA ra
đời đã 50 năm Theo Dallman và
Morris (1988), hệ thống phức hợp
tương hợp mô có vai trò lớn nhất trong
sự đáp ứng miễn dịch ghép thận; đối
với các tạng khác vai trò này vẫn quan
trọng, nhưng phần nào ít quan trọng
như trong ghép gan
Có hai loại HLA chính:
- HLA loại I: Gồm các phân tử mang tên
HLA-A, HLA-B, là 1 chuỗi
polypeptide, trọng lượng phân tử là
45.000 daltons, có 3 vùng dạng cầu
mang tên α1, α2 và α3, là chỗ nối với
các peptid của tế bào T, tại điểm này
hình thành một rãnh tiếp nối với tế
bào lymphô T (hình 1) HLA loại I
hiện diện trên tất cả tế bào có nhân
của cơ thể (hình 3 và hình 4)
- HLA loại II: Gồm các chuỗi phân tử
protein mà tiêu biểu là HLA-DR, là 2
chuỗi polypeptide, cótrọng lượng phân
tử là 35.000 daltons, và 31.000
daltons Mỗi chuỗi có 2 vùng dạng cầu
mang tên α1 và α2, β1 và β2, là chỗ nối
với các peptide của tế bào T, tại điểm
này cũng hình thành các rãnh tiếp nối
với tế tào lymphô T (hình 1) HLA loại
II chỉ hiện diện trên lymphô B,
lymphô T hoạt hóa, monocyte, tế bào
răng, tế bào nội mạc cầu thận, nội
mạc ống thận, và nội mạc vi mạch
thận (hình 3 và 4)
Các loại HLA trên còn chia ra nhiều loại
nhỏ (thí dụ HLA-A2 cũng còn chia ra một
số loại phụ tùy chủng tộc và giống loài)
Ngày nay người ta có thể định danh toàn
bộ gen HLA (DNA typing) trong thực
hành chọn cặp cho nhận
Cả hai loại I và II của MHC đều có vaitrò đặc biệt là nhận biết và định danhcác kháng nguyên quen và lạ (mô ghép)bằng hệ thống miễn dịch qua khả năngnối kết với peptid của lymphôâ bào cơthể
HLA loại I trên các lymphôâ bào B đápứng miễn dịch với các kháng thể đặchiệu, đó là cơ chế miễn dịch dịch thể khi
cơ thể tiếp xúc với các kháng nguyên(protein lạ) như vi trùng, virút, bướu Kháng nguyên tương hợp mô thứ yếu
(Minor Histocompatibility Antigens).
Kháng nguyên tương hợp mô thứ yếurất khác với kháng nguyên tương hợpmô chủ yếu Đó là các chuỗi peptidesgắn vào chính các MHC Các khángnguyên này vì vậy có thể được nhậnbiết bởi lympho bào T (CD4, CD8) nhưlà một kháng thể MCH, thường là vớiloại HLA loại I Kháng nguyên tươnghợp mô thứ yếu giải thích tại sao khi đãcó sự hòa hợp cho- nhận với MHCnhưng vẫn bị thải ghép
- Kháng thể kháng bạch cầu (còn gọi
là tiền mẫn cảm, kháng thể khángHLA):là kháng thể sinh ra sau khi cơthể người có sự tiếp cận với các khángnguyên tương hợp mô chủ yếu hay cáckháng nguyên tương hợp mô thứ yếuqua truyền máu (khi truyền máu người
ta chỉ chú ý sự hòa hợp ABO, tức chỉtính đến phản ứng miễn dịch dịch thể,
tức không bị phản ứng truyền máu,nhưng không tính đến việc đã truyềncho bệnh nhân một số lượng lớn bạchcầu của người lạ (HLA lạ) ; khi đó cơthể sẽ có đáp ứng miễn dịch tế vớiHLA và cho ra kháng thể kháng bạchcầu tức kháng HLA Tùy theo số lần, sốcá thể cho máu mà số kháng thể HLAsẽ đa dạng Người mang thai, mangthai nhiều lần, với nhiều cá thể namkhác nhau, càng có nhiều nguy cơ cótiền mẫn cảm dương tính; tương tự nếu
Trang 7bệnh nhân có tiền căn ghép tạng nhiều
lần, nhiều lọai tạng(những ngườibị thải
ghép) Xin xem hình 1A
Nếu một người có kháng thể kháng HLA
trở thành người nhận ghép,các kháng thể
kháng HLA này (còn được gọi là “tiền
mẫn cảm” hay thể kháng bạch cầu)
trong cơ thể họ sẽ là “cái bẫy diệt tạng
ghép” chờ sẵn Vì thế tiền mẫn cảm
dương tính là chống chỉ định ghép hàng
đầu, vì thải ghép tối cấp sẽ xảy ra ngay
khi tháo kẹp mạch máu khi vừa nối xong
mạch máu Ngày nay, dưới sự trợ giúp
của những tiến bộ về lọc kháng thể trong
huyết thanh và thuốc ức chế miễn dịchngười ta có thể lọai trừ kháng thể khángHLA và biến những trường hợp chốngchỉ định ghép thành những trường hợp cóthể hòa hợp miễn dịch để có thể ghép
3 Đơn bội, kiểu gen, và kiểu hình
Khảo sát một cá thể có dạng HLA hay
kiểu hình sau: A1, A24, B8, B44 , DR4,
DR15 Chỉ có duy nhất thông tin về
kiều hình này ta không thể định danh đơn bội vì không thể biết kháng
nguyên nào liên kết nhau trên mỗinhiễm sắc thể
Hình 3: Các gen của HLA loại I và
loại II trên nhánh ngắn củanhiễm sắc thể số 6 Nửahình trên là sơ đồ của cácphân tử, các gen HLA, cấutạo bởi các glycoproteine.(N: nhóm amine tận cùng;C: nhóm carboxy tận cùng;S S: nối disulfit giữa 2chuỗi polypeptide)
Hình 4: Cấu trúc của một phân tử
HLA-I (HLA A2) Vùng α1 và α2 làchỗ nối với các peptide của tế bào T,tại điểm này hình thành một rãnhtiếp nối
Trang 8Khảo sát một cá thể khác có dạng HLA
hay 6 kiểu hình HLA sau: A1, A3, B7,
B8,
DR4, DR12 Nếu người thứ 2 này là
cha hoặc mẹ ruột, con ruột, hay anh em
ruột của người thứ nhất trên, ra sẽ dễ
dàng nhận ra là họ chia sẻ một đơn bội 3
nhiễm sắc thể A1, B8, DR4 Ta cũng
thấy người thứ nhất không chia sẻ đơn
bội A24, B44 , DR15 với người thứ hai;
ngược lại người thứ hai này không chia
sẻ với người thân của mình một đơn bội
khác là A3, B7 , DR12 Những đơn bội
này sẽ tiếp tục xuất hiện ở những người
khác cùng trong gia đình Ghép thận
giữa hai cá thể trên sẽ có 1 đơn bội hòa
hợp (tức giống nhau một đơn bội), vì
chúng được nhân bội từ cùng một đơn
bội, nói một cách chuyên nghiệp hơn đó
là cuộc ghép có sự hòa hợp mô một đơn
bội
Nếu giữa 2 cá thể không có liên hệ di
truyền gia đình như trên, họ có thể là
người cho sống không cùng huyết thống,
hay người cho chết não khôngcùng
huyết thống Khi đó ta không thể định
danh đơn bội như cách vừa làm trên
Người ta sẽ tìm sự hòa hợp từng kháng
thể HLA (tức hòa hợp từng kiểu hình
gen) giữa những người chờ ghép và
những người ứng cử viên hiến tạng Nếu
ghép có sự hòa hợp 1, 2, 3…/6 kháng
nguyên ta gọi là ghép hòa hợp
(1,2,3…/6 match); một cách diễn tả khác
nếu ghép không hòa hợp 1, 2, 3…/6
kháng nguyên ta gọi là ghép bất hòa
hợp (1,2,3…/6 missmatch).
Với các kháng thể hòa hợp mô thứ yếâu,
sự phân chia mang tính tình cờ
4 Liên hệ giữa HLA và các hoạt chất
trung gian (cytokines) trong đáp ứng
miễn dịch ghép.
Bạch cầu dạng đại thực bào của người
nhận khi tiếp xúc với tế bào ghép sẽ làm
bộc lộ hệ MHC loại II để kết nối với
phức hợp CD4 của tế bào T giúp đỡ;
MHC loại I sẽ kết nối với phức hợp CD8trên tế bào T gây độc báo tin Các đạithực bào tiết ra IL1 rồi IL2 làm hoạt hóaCD8 của tế bào T gây độc IL2 cũng hoạthóa các cytokine khác như IL3, IL4, IL5,IL6 và interferon-γ IL3 là yếu tố tăngtrưởûng của nguyên bào tủy xương; IL4,IL5 và IL6 làm trưởûng thành các tế bào
B, sản xuất các kháng thể kháng HLAloại I Interferon-γ hoạt hóa khả năngthực bào của đại thực bào và làm trưởngthành tế bào tiêu diệt (killer cell) và tạo
ra các kháng thể kháng HLA loại 2 Sự hiện diện của các kháng thể khángHLA sau ghép, ngày càng được nghiêncứu vì có liên quan đến thải ghép cấpdạng dịch thể và bệnh lý thận mạn saughép (CAN)
C CÁC CƠ CHẾ THẢI GHÉP
1 Cơ chế chung
Khighép một tạng đặc từ người cho sangngười nhận giữa 2 cá thể đồng loài, cósự khác biệt một phần hay toàn phần giữa 2 hệ thống hòa hợp miễn dịch, sẽgiữa 2 hệ thống hòa hợp miễn dịch, sẽxảy ra hiện tương đáp ứng miễn dịchhay sự thải ghép Phản ứng miễn dịchvới mô ghép xảy ra khi có sự bất tươnghợp giữa 2 hệ thống HLA trong MHCcủa người cho và người nhận
Cơ chế thải ghép tuân theo theo nhữngquy luật về đáp ứng miễn dịch họcghép Gồm 2 cơ chế chính là:
-Sự nhận biết miễn dịch ghép: là sự nhận biết mô lạ của tạng ghép trong ghép đồng loài (hình 5)
-Bật mở (triggering) quá trình thải ghép:
Khởi đầu thải ghép đến kết thúc khi tế
bào ghép bị hủy diệt.
2 Hai cơ chế chính của thải ghép trongghép tạng (hình 2)
- Thải ghép dịch thể: do kháng thểkháng mô hiện diện sẵn trong cơ thểngười nhận, sau một lần tiếp xúc với
Trang 9kháng nguyên (sau mang thai, sau
ghép một lần, sau truyền máu…)
- Thải ghép tế bào: Các kháng nguyên
lạ này hiện diện trên màng của các tế
bào của tạng ghépï Theo Didier A
Mandelbrot và Mohamed H Sayegh,
quá trình có thể chia làm 3 giai đoạn:
+ Lymphô T nhận biết kháng nguyên
Trên lâm sàng ghép tạng, kháng nguyênloại A, B và DR quan trọng nhất Các
HLA này có giá trị quyết định trong chọn
người cho và người nhận trong ghép
tạng, vì có liên quan đến tỉ lệ thành công
của phẫu thuật ghép HLA loại II giữ vai
trò trung tâm trong việc khởi đầu phản
ứng với mô ghép Sự hiện diện của cáckháng nguyên này kích hoạt lymphô Tgiúp đỡ (CD4 +), sự kích hoạt này khởiđầu cho chuỗi phản ứng thải ghép
Trang 10
3.Phân loại lâm sàng các dạng thải ghép
cơ bản
Trên lâm sàng người ta thường gặp các
dạng thải ghép tối cấp, thải ghép cấp
và thải ghép mạn Dạng lâm sàng rất
quan trọng vì giúp ta can thiệp chống
thải ghép sớm trước khi có kết quả
giải phẫu bệnh
- Thải ghép tối cấp: Gây ra do kháng
thể của người nhận tác động lên mô
ghép của người cho, xảy ra vào khoảng
phút đầu tiên sau khi mở kẹp mạch
máu Hiện tượng trên cũng có thể xảy
ra vài ngày hoặc vài tuần sau ghép (thải
ghép tối cấp chậm) Cơ chế phản ứng
thải ghép được trình bày trong hình 1 và
hình 2 Có thể phòng ngừa bằng cách
chọn đúng nhóm máu cho nhận, định
lượng kháng thể kháng mô (chọn đúng
nhóm máu cho và nhận, xét nghiệm
tiền miễn dịch, tiền mẫn cảm, làm phản
ứng chéo ngay trước ghép); cuối cùng
phải làm phản ứng chéo như trong
truyền máu ngay trước ghép Phản ứng
chéo dương tính là chống chỉ định tuyệt
đối
- Thải ghép cấp: Có thể xảy ra bất cứ
lúc nào, thường xảy ra trong vòng 6tháng đầu sau ghép dù có thuốc ức chếmiễn dịch chống lymphô T Tế bào Tthụ cảm tiếp xúc với tế bào mô ghép,làm bộc lộ MHC của mô ghép, làmhoạt hóa các lymphô T, khiến cho mộtlượng lớn lymphô bào xâm nhập và tẩmnhuận đầy mô ghép và phá hủy nó(hình 5) (Hình 1,2,5)
Về phân lọai thải ghép cấp, có thể cónhiều lọai, tùy theo tạng ghép, người taphân loại thải ghép cấp theo lâm sàng,theo giải phẫu bệnh qua mẫu sinh thiết Sự bất tương hợp MHC càng nhiều càngcó nguy cơ thải ghép cao Thải ghépcấp hồi phục 90-95% trường hợp, dướitác dụng của thuốc ức chế miễn dịchđặc hiệu; nếu điều trị thất bại, ngườinhận phải chịu mất tạng ghép Chỉ cóthải ghép cấp là có khả năng hồi phụcnếu điều trị kịp thời
- Thải ghép mạn (hay bệnh thận ghép mạn): cơ chế chưa rõ ràng vì có nhiều
yếu tố tác động Sau một thời gianghép, chức năng tạng xấu dần dẫn đếnmất chức năng Điển hình là “thải ghép
Hình 5: sự nhận biết mô ghép, bước khởi
đầu của đáp ứng miễn dịch ghép: (3) Tế bào nội mạc mạch máu mô ghép kết dính các Lympho bào người nhận, (4) Lympho bào có khuynh hướng xuyên mạch đi vào mô viêm, (5) Trong ghép tạng đồng loài, sự thâm nhiễm bạch cầu được kích hoạt xa hơn bởi sư hiện diện của mô hoại tử làm tăng các chất trung gian, dẫn đến tăng tổn thương tạng ghép, (6) Các đại thực bào thâm nhập ăn các tế bào của tạng ghép, tác động và bộc lộ bề mặt của các phân tử HLA nhóm
II, (7) Bạch cầu hình lá cây (dendritic cells) hình thành và kích hoạt các Lympho T bình thường, (8) Các Lympho T hoạt hóa này tăng sản thành Lympho T phản ứng ghép trưởng thành sẳn sàng cho đáp ứng miễn dịch thải ghép.
Trang 11mạn” ở thận, nay gọi là “bệnh thận
ghép mạn” (CAN) Thải mạn có liên
quan đến miễn dịch ghép và thải ghép,
nhưng cũng liên quan đến độc tính của
thuốc ức chế miễn dịch
D CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA
THUỐC ỨC CHẾ MIỄN DỊCH
DÙNG SAU GHÉP.
1 Nguyên tắc dùng ức chế miễn
dịch:
- Thuốc ức chế miễm dịch tấn công
vào một trong các chuỗi đáp ứng miễn
dịch: làm chết bớt các tế bào lympho
(trước đây là chiếu tia, nay là các
kháng thể diệt bạch cầu), làm tê liệt
khả năng diễn dịch của gen (các thuốc
loại ức chế DNA); làm giảm sự tăng
sinh tế bào T hoạt hóa; ức chế một chất
trung gian kích hoạt lympho B và T
(CNI) là cơ chế tác dụng của các lọai
thuốc ức chế miễn dịch Nói chung là
làm giảm miễn dịch của cơ thể
-Dùng thuốc thuốc ức chế miễn dịch
trong điều trị chống thải ghép theo
nguyên tắc giảm vừa đủ để chống thải
ghép: nhưng luôn phải đối mặt với
nguy cơ biến chứng do quá liều thuốc
và nguy cơ thải ghép do thiếu liều
thuốc Vì vậy, giống như người di trên
dây, nếu giữ tốt thăng bằng thì tạng
ghép hoạt động tốt và thuốc cũng
không gây biến chứng đáng kể Nhưng
vì lý do gì nếu liều thuốc nhẹ sẽ dẫn
đến thải ghép; ngược lại nếu quá liều
thuốc sẽ dẫn đến biến chứng do thuốc
(ngộ độc, nhiễm khuẩn, bùng phát bệnh
do virus có sẵn trong cơ thể (Virus
viêm gan A, B, C, CMV, BK virus …),
gây ung thư… (hình 6)
-Thuốc càng hiệu quả và ít biến
chứng phụ khi càng có tính chuyên biệt
với các yếu tố gây thải ghép: nhiều loại
thuốc chống thải ghép mới không
ngừng ra đời, biến chứng phụ ít hơn,
nhưng hiện vẫn chưa loại trừ hết tác
dụng ngọai ý nguy hiểm
Trang 12Hình 6 : Nguyên tắc điều trị chống thải ghép trong ghép tạng : tạo sự cân bằng đủ để
sự dung nạp tạng ghép (không thải ghép) và nguy cơ của những biến chứng do thuốcức chế miễn dịch gây ra (độc tạng, nhiễm khuẩn, ung thư…)
Sự ra đời và tiến bộ của các loại thuốc
ức chế miễn dịch gắn liền với sự phát
triển của ngành ghép tạng, đặc biệt là
ghép thận từ những năm 1950 Khởi đầu
là ghép thận trên cặp người cho-nhận là
song sinh cùng trứng (tương hợp miễn
dịch 100%, như ghép tự thân), không
cần thuốc ức chế miễn dịch
Biện pháp làm giảm miễn dịch đầu tiên
là chiếu tia xạ toàn thân để hủy diệt
bạch cầu, nhưng nguy hiểm vì biến
chứng nặng nề Azathioprine được dùng
vào những năm đầu 1960 và nhanh
chóng kết hợp thường quy với
Prednisone Kháng thể đa dòng, là
globulin chống lympnho bào (ATG) và
Globulin chống bạch cầu (ALG) được
dùng vào giữa những năm 1970
Azathioprine và Prednisone trở thành
nền tảng trị liệu chống thải ghép, ATG
và ALG dùng làm thuốc dẫn nhập trong
giai đoạn đầu mới ghép Khi đó tỉ lệ ghépthành công với người cho không cùnghuyết thống là khoảng 50% trong nămđầu tiên và tỉ lệ tử vong từø 10% đến 20%[6] (lúc này chưa có HLA)
Tình hình cải thiện hẳn khi Cysclosporine
A ra đời vào đầu những năm 1980 Khi đókết quả ghép thận kém, và Cysclosporine
A làm tăng kết quả một cách ý nghĩa lênđến 80% cho năm đầu tiên Tỉ lệ tử vonggiảm hẳn, liều Prednisone giảm giúp choviệc chăm sóc và biến chứng của ngườigiảm miễn dịch nhẹ nhàng hẳn đi
Sau đó là làn sóng ra đời của nhiều lọaithuốc ức chế miễn dịch mới: kháng thểđơn dòng OKT3 (1985), FK506 tứcTacrolimus (biệt dược Prograf),Mycophenolate mofetil (MMF), Sirolimus(1999)
Thuốc ức chế miễn dịch có nhiều loại,nhưng hiệu quả của thuốc phải đượcchứng minh qua 4 giai đoạn thử nghiệm.Hiện nay thời gian sống của tạng tăng lênnhiều, do đó một lọai thuốc mới gọi là cóhiệu quả hơn với thuốc cũ cần thời gian
Trang 13theo dõi dài hơn Thí dụ trong ghép thận
dùng công thức có Cyclosporine A hoặc
Tacrolimus thì đời sống thận ghép trung
bình là 10 năm, nay với Sirolimus thì
phải làm tăng thời gian sống trung bình
của thận ghép mới có ý nghĩa
- Các công thức thuốc ức chế miễn
dịch thường dùng trong ghép tạng
- Công thức chuẩn của thuốc ức chế
miễn dịch trong ghép tạng là sự phối
hợp CyclosporineA (CsA) và
Prednisone (P), thường phối hợp với
Azathioprine (AZA), gọi là “tam hợp
t” với ba lọai thuốc Bên cạnh lợi thế
của CsA về chống thải ghép là nhiều
bất lợi là gây độc thận cấp tính và
mạn tính Sự phối hợp thuốc làm tăng
hiệu quả ức chế miễn dịch và làm
giảm độc tính của thuốc
- FK506 có cùng cơ chế, cũng có nhiều
độc tính đặc biệt là độc thần kinh và
gây đái tháo đường FK 506 được
dùng để thay thế CsA trong công thức
“hợp trị 3 loại thuốc”, trong những
trường hợp có bất lợi nếu dùng CsA
Kết quả lâu dài (5-10 năm) giữa CsA
và FK506 không có sự khác biệt (Hội
nghị thế giới ghép tạng 2006 Boston,
Hội Nghị Châu Âu Ghép tạng Pragha
2007)
CSA và FK506 là hai chất thuộc dòng
thuốc “ chen calcineurin” gần đây
nguoi72 ta nêu rõ độc tính của chúng
là gây ra viêm xơ thận ghép Vì vậy
hiện có khuynh huong71 giảm thấp
liều dùng trong giai đoạn duy trì ( Sau
1 năm ghép); Không dùng liều cao
như trước đây
- Hai thuốc mới là MMF và Sirolimus,
thay thế các thuốc kinh điển trong
công thức chuẩn giúp giảm tình trạng
thải ghép một cách ý nghĩa.Vì vậy
hiện có nhiều công thức và ta có thể
chọn công thức thích hợp Nhưng các
thuốc mới cũng làm tăng các biến
chứng như gây bùng phát tình trạng
nhiễm virus: viêm gan virus A, B ,C ;
bệnh CMV, bệnh BK virus…
- Kháng thể đa dòng (ATG), kháng thểđơn dòng KTO3 được dùng để điều trịsau ghép (tuần lễ đầu tiên), thải ghépcấp khi bị kháng Corticoids, thay CsAtrong giai đọan bị ngộ độc CsA, cầndùng thuốc không độc thận Trong ghéptạng từ tử thi, thường chức năng phụchồi chậm sau ghép, trong giai đọan trên,cần dùng OKT3 thay cho CsA Tuykhông độc với tạng, nhưng ATG vàOKT3 rất nguy hiểm vì chứng giảmbạch cầu và biến chứng do giảm miễndịch
Với hệ thống thuốc ức chế miễn dịch hiệnnay, ngành ghép tạng tự hào vì sự thànhcông khoảng 90% trên nhiều trung tâm
III NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ XÃ HỘI TRONG HIẾN VÀ NHẬN TẠNG
A NGUYÊN TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ XÃ HỘI
1 Nguyên tắc đạo đức trong ghép tạng:
Luôn là vấn đề lớn bên cạnh các nguyêntắc và kinh nghiệm y học Trong lý thuyếtvà thực hành trong ngành ghép tạng nhấnmạnh rằng bên cạnh yếu tố khoa học,cònphải bảo đảm các vấn đề đạo đức, nhânbản, nhân đạo giữa người cho và ngườinhận; đi ngược lại các nguyên tắc đó đềulà tội phạm hoặc thậm chí là tội ác Năm 2008 tuyên ngôn Estanbul của 58quốc gia lên án và khuyến cáo các chínhphủ cơ bản phỉa ngăn ngừa tình trạngbuôn bán tạng phủ và ép buộc người đểlấy tạng
2 Cần thực hiện song song y học (với y đức của giới y học) và đạo đức trong xã hội giữa người với người trong việc cho và nhận tạng:
Người thầy thuốc là người hướng dẫn chongười cho và người nhận không thực hiệntốt điều đó vô tình hay cố ý, người bác sĩghép tạng sẽ phạm tội Người cho vànhận không vì nhu cầu ghép mà nhậnthận với bất cứ giá nào (giá trị đạo đức vàcả giá trị kinh tế); người cho không vì lý
do nhân đạo mà vì tiền mà chấp nhậnnguy hiểm bán đi cơ thể mình Tệ hơn nữakhi có tình trạng mua bán tạng (hoặc công
Trang 14khai hoặc lén lút), thậm chí buôn lậu và
giết người… để có tạng
3 Mâu thuẩn giữa sự khan hiếm tạng
(organ shortage) và nhu cầu ghép
tạng
Tạng hiến tặng ngày càng hiếm hoi,
người chờ ghép thì quá nhiều là nguyên
nhân của các tệ nạn trong việc cho và
nhận tạng
Mặt khác, ngày nay do sự tiến bộ trong
miễn dịch ghép, ghép tạng có hiệu quả
cao, kỹ thuật ghép ngày càng an toàn,
thuốc ức chế miễn dịch ngày càng hiệu
nghiệm, nên việc buôn bán tạng ngày
càng dễ dàng thực hiện hơn nếu luật
pháp và giáo dục đạo đức bị buông lỏng
4 Cấm buôn bán tạng phủ
Là quan điểm chính thống: của các tổ
chức quốc tế phi chính phủ; chưa chính
phủ nào dám công nhận việc buôn bán
tạng giữa 2 cá thể cho và nhận Tổ chức
Y tế Thế giới và luật pháp tất cả các
nước đều nêu cao hiến tạng vì nhân đạo
và không vì tiền, cấm việc buôn bán
tạng dưới mọi hình thức Nhưng cuộc
đấu tranh giữõa cấm và cho phép buôn
bán tạng vẫn còn diễn ra rất quyết liệt
5 Luật Hiến, Lấy, Ghép mô, Bộ phận
cơ thể người và Hiến, Lấy xác của
Việt Nam
Đã có hiệu lực từ 1 tháng 7-2007, điều 4
của luật nệu rõ các nguyên tắc y học và
đạo đức trong trong “việc hiến, lấy,
ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến,
lấy xác: là :
Tự nguyện đối với người hiến, người
được ghép
Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh,
giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học
Không nhằm mục đích thương mại
Giữ bí mật về các thông tin có liên
quan đến người hiến, người được
ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác
B Một số quy định khác về mặt xà
hội và đạo đạo đức xã hội với người
cho, người hiến tạng:
Người cho sống: phải tôn trọng nguyêntắc tự nguyện Nhưng tự nguyện chothận không vì nhân đạo, vì mục đíchkinh tế không được chấp nhận Muabán tạng có thể gặp rắc rối nhiều vấnđề như nhân đạo, nhân quyền, phápluật, đạo đức, tôn giáo… Lấy tạng phipháp là tội ác hình sự
Người cho chết não: phải tôn trọngnguyên tắc tự nguyện, cần phải có luậtcho phép lấy tạng và cũng phải tôntrọng các nguyên tắc như truyềnthống, tôn giáo Nâng cao kiến thức vàlòng nhân đạo cứu người trong côngchúng là việc làm mang tính văn hóa,văn minh và khoa học Người ta thốângkê thấy thành công của việc hiến tạngchết não có vai trò của ngành truyềnthông khoảng 30%
Người cho bị bệnh nan y: người cho bịbệnh nan y có thể lấy tạng để ghép làbướu não giai đoạn nặng không hy vọngsống còn Nhưng phải tự nguyện
Trang 15IV CÁC LOẠI GHÉP TẠNG
A GHÉP THẬN
1 Dịch tễ học
So với các tạng khác, thận là là tạng
đặc được ghép nhiều nhất Tại Hoa Kỳ,
có khoảng 200.000 người bị suy thận
mạn giai đoạn cuối phải lọc máu (bằng
thận nhân tạo hoặc bằng lọc màng bụng
liên tục), mỗi năm lại có thêm 8% đến
10% bệnh nhân mới, hơn phân nửa bệnh
là người cao tuổi trên 65, nam hơi cao
hơn nữ; nguyên nhân do đái tháo đường
(36,2%), tăng huyết áp do viêm xơ hóa
thận (29,7%), viêm cầu thận (11,0%),
thận đa nang (2,8%), và các bệnh khác
(0,3%) Tỉ lệ bệnh nhân dùng lọc máu
hoặc ghép thận tùy nước, thấp ở các
nước như Nhật, Ý, Israel, cao như tại
Pháp, Anh, Canada, Hoa Kỳ Ghép thận
có lợi về kinh tế (rẻ hơn thận nhân tạo
25%) đồng thời trả lại chất lượng cuộc
sống cao hơn, tại các nước tiên tiến bảo
hiểm y tế hỗ trợ cho ghép thận để giảm
chi phí chạy thận nhân tạo
Luật pháp, tập tục trong việc cho phép
và tình nguyện hiến thận trên người
chết não vì chấn thương có giá trị quyết
định về số lượng người được ghép thận
Nhưng ở các nước có luật và tập tục cho
phép hiến thận, vẫn không đáp ứng số
người cần ghép, danh sách chờ ghép lúc
nào cũng dài
Tại các nước có tổ chức hiến thận tốt,
thận từ người cho tử thi (chết não)
chiếm 75%, phần còn lại là thận từ
người cho còn sống trong gia đình và
một phần nhỏ còn lại từ người cho
không quan hệ huyết thống Hiện có sự
khan hiếm trầm trọng nguồn cho thận,
danh sách chờ luôn đông và thời gian
chờ thường lâu, vì thế ở đasố các nước
có quy tắc phân phối nguồn thận hiến
tặng rất chặt chẽ
Tại Hoa Kỳ hàng năm có khoảng
4000-5000 hiến thận (dân số 200 triệu), tại
Pháp có khoảng 3000 (dân số 60 triệu),
tại các nước Châu Á tỉ lệ này thấp hơn.Hiện đang có tình trạng chờ đợi kéo dài
vì danh sách người chờ quá nhiều và sốngười hiến thận ngày càng giảm do cácbiện pháp phòng ngừa tai nạn lưu thôngtốt hơn
Tại Việt Nam, trường hợp ghép thận đầutiên từ người cho sống cùng huyết thốngvào tháng 6-1992 tại Học viện Quân Y,Hà Đông; tháng 12-1992 tại BV Chợ Rẫythành phố Hồ Chí Minh do GS Chu-ShueLEE, PGS Tôn Thất Bách và GS Lê ThếTrung thực hiện Đến nay (2008) có 12trung tâm ghép cả nước với khỏang 200trường hợp ghép thận Ghép gan từ ngườicho sống trên trẻ em thực hiện năm 2004tại Học viện Quân Y, Hà Đông Đến năm
2008 có 4 trung tâm ghép gan tại ViệtNam, 10 trường hợp được ghép
Năm 2006, luật “Hiến, Lấy, ghép mô, Bộphận cơ thể ngườivà hiến, lấy xác” đượcquốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam thông qua và hiệu lực từtháng 7-2007
Tháng 4- 2008: trường hợp người chếtnão cho tạng (thận) đầu tiên ở Việt Nam( tại Bệnh viện Chợ Rẫy)
2 Chỉ định và chống chỉ định ghép thận
- Chỉ định: suy thận mạn giai đoạn cuối
do nhiều nguyên nhân khác nhau, trênngười lớn và trẻ em Ghép thận được
ưa chuộng hơn các điều trị thay thếkhác (thận nhân tạo, lọc màng bụng)
- Chống chỉ định cho người nhận :
Tuyệt đối: ung thư (trừ ung thư
da không melanin), nhiễmtrùng (HIV, vitrùng, nấm, lao), xơ gan (viêm gan tiếntriển, nghiện ma túy)
Tương đối: thiếu máu cơ tim,viêm tắc động mạch chủ, động mạch
Trang 16chậu, bệnh hồng cầu liềm (cần ghép
gan và thận cùng lúc)
3 Hòa hợp miễn dịch ghép giữa người
cho và nhận
- Người cho tử thi
+ Người cho chết não (tim còn
đập): Đối với người cho chết não, nếu
thận còn chức năng tốt, không bị bệnh
truyền nhiễm có thể lấy thận để ghép
(không hạn định tuổi tác), nhưng phải
đúng luật và đạo đức
Tiêu chuẩn chết não phải theo đúng luật
do quốc hội ban hành Nhưng số ngườicho tùy thuộc rất nhiều vào ý thức củacông chúng, ngoài ra truyền thống và tụclệ của các dân tộc cũng ảnh hưởng đến số
người đồng ý cho tạng khi chết não
Luật hiến thận từ người chết não đã
thông qua ở hầu hết các nước trên thế
giới, tuy thời gian có sớm hay chậm
(Pháp: 1967, Nhật: 1998) Ở nước ta các
nhà chuyên môn, sau hơn 10 năm chuẩn
bị, lấy ý kiến cả nước và tiếp thu kinh
nghiệm thế giới, đã ban hành luật
“Hiến, Lấy, ghép mô, Bộ phận cơ thể
người và Hiến, Lấy xác”, có hiệu lực
từ tháng 7-2007 Người đầu tiên hưởng
điều luật này là mẹ của một nạn nhân
bị tai nạn giao thông vào tháng 4 năm
2008 tại thành phố Hồ Chí Minh
+ Người cho tim ngừng đập: Thận
có thể lấy trong vòng 15 phút sau khi
tim ngừng đập Phải có sự tự nguyện
hiến thận của người cho
Khi có người hiến thận, nhưng để tìm ra
người nhận tương hợp, cần phải có danh
sách chờ sẵn khoảng trên 100 người
được làm nhóm máu, HLA sẵn sàng (và
các tiêu chuẩn cho phép mổ ghép khác),
đó là con số cần thiết để có thể tìm ra
một người tương hợp MHC để ghép Vì
vậy phải lập một tổ chức điều hành toàn
quốc, khu vực và quốc tế
- Người cho sống:
Gồm người cho liên hệ huyết thống (ông,
bà cha, mẹ, anh, em ruột); người cho
không liên hệ huyết thống (vợ, chồng,
bạn bè, người tự nguyện) Tiêu chuẩn
chọn người cho ngoài tiêu chuẩn
tương hợp, còn một số tiêu chuẩn sứckhỏe, vị trí xã hội …, chặt chẽ hơn saocho quả thận hiến có hiệu quả cao vì sự
hy sinh của người cho quá lớn Có1/10.000 tử vong do lấy thận và khoảng10% bị biến chứng
phẫu thuật, không có biến chứng lâu dàicho người cho thận Chống chỉ địnhtương đối trên người cho > 65 tuổi, đáitháo đường, tăng huyết áp, bệnh áctính, bệnh tim mạch có ý nghĩa
Ghép thận từ người cho sống có nhiềuđiều lợi, vì không phải đợi chờ, ngườithân có thể có tương hợp MHC cao,nếu đồng gen có thể giảm liều thuốc ứcchế miễn dịch Nhưng loại ghép tạng từngười cho sống, có thể sa vào tệ nạnbuôn bán tạng nếu không tôn trọng luậtpháp và đạo đức
Một số nguyên tắc cơ bản của người chothận:
+ Người cho sống phải an tòan tínhmạng khi phẫu thuật và có thể sống bìnhthường với 1 thận
+ Người cho phải hòa hợp các nguyêntắc cơ bản về miễn dịch ghép: Tiền mẫncảm, phản ứng chéo, nhóm máu, HLA