1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu về Phan Thanh Giản

115 518 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu về Phan Thanh Giản
Tác giả Lê Thị Lành
Người hướng dẫn Thầy Trịnh Thành Công
Trường học Chưa xác định
Chuyên ngành Nghiên cứu lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản Chưa xác định
Thành phố Chưa xác định
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài : Nghiên cứu về Phan Thanh Giản

Trang 1

Phan Thanh Giản ( 1796 - 1867)

Trang 2

MỤC LỤC

Phan Thanh Giản ( 1796 - 1867) 1

MỤC LỤC 2

Lời cảm ơn 4

Sinh viên: Lê Thị Lành 4

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG 5

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU PHAN 6

THANH GIẢN ( 1796 - 1867) 6

I Lý do chọn đề tài 6

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

III Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài 13

IV Phương pháp nghiên cứu 13

V Bố cục đề tài 14

PHẦN NỘI DUNG 15

Chương 1 15

HOÀN CẢNH QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM Ở NỬA SAU THẾ KỶ XIX 15

I Hoàn cảnh quốc tế 15

II Tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược 20

1 Chính trị 21

a Tổ chức bộ máy nhà nước 21

b Luật pháp 24

c Quân đội 25

d Chính sách đối ngoại 29

2 Kinh tế 32

a Nông nghiệp 33

b Thủ công nghiệp 37

c Hoạt động thương nghiệp 39

3.Tình hình văn hóa – xã hội 46

a Tình hình xã hội và đời sống nhân dân 46

b Phong trào đấu tranh của nhân dân 48

c Tình hình văn hóa 50

Chương II 52

PHAN THANH GIẢN – TIỂU SỬ 52

VÀ HÀNH TRẠNG 52

I Tiểu sử 52

II Hành trạng 53

III Phan Thanh Giản với công cuộc chống Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc 57

1 Đối sách của nhà Nguyễn trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp 57

a Âm mưu xâm lược của thực dân Pháp 57

b Thái độ của nhà Nguyễn trước những âm mưu xâm lược của thực dân Pháp 62

2 Đối sách của nhà Nguyễn khi thực dân Pháp xâm lược nước ta 66

a Hành động xâm lược của thực dân Pháp 66

b Đối sách của nhà Nguyễn trước những hành động của Pháp 67

3.Vị trí vai trò của Phan Thanh Giản trong công cuộc chống Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc 69

CHƯƠNG III 81

CON NGƯỜI PHAN THANH GIẢN 81

Trang 3

I Một con người có nhân cách lớn 81

II Một nhà yêu nước sớm có tư tưởng canh tân 88

KẾT LUẬN 101

PHỤ LỤC 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 4

Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Thầy Trịnh Thành Công – người hướng dẫn em, động viên và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình em thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Ba mẹ, các anh chị trong gia đình, các bạn sinh viên, cùng toàn thể mọi người đã động viên giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Qua đây em xin gửi lời tri ân đến quý thầy cô cùng toàn thể mọi người lời kính chúc sức khỏe – hạnh phúc

Sinh viên: Lê Thị Lành

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 6

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU PHAN THANH GIẢN ( 1796 - 1867)

I Lý do chọn đề tài

Đến nửa sau thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản đã phát triển thành một hệ thống với nền kinh tế tư bản phát triển mạnh mẽ Sự phát triển này đã chuyển chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang tư bản độc quyền với những tổ chức lũng đoạn có vai trò quyết định tới hoạt động kinh tế Sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế đã làm tăng nhu cầu về thuộc địa nhằm đáp ứng nhu cầu về: nguyên liệu, thị trường tiêu thụ hàng hóa và nhân công lao động Chính vì vậy, các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa ngày càng được đẩy mạnh Mục tiêu xâm lược trong thời gian này của chủ nghĩa đế quốc là vùng châu Á rộng lớn giàu tiềm năng Như chúng ta đã biết quá trình xâm lược thuộc địa tìm kiếm thị trường ở châu Á đã được các nước Anh, Pháp…tiến hành từ thế kỷ XVII, nhưng đến thế kỷ XIX quá trình này mới thực sự được đẩy mạnh với cuộc chiến tranh xâm lược Trung Quốc, Nhật Bản, Newzeland, Mianma, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam….Cho đến cuối thế kỷ XIX hầu hết các nước đều bị biến thành thuộc địa, nửa thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, chỉ trừ có Nhật Bản và Thái Lan, một hệ thống thuộc địa trên thế giới đã được hình thành

Trước xu thế bành trướng phương Đông của các nước tư bản đế quốc, nhiệm vụ đặt ra cho các nước Châu Á là phải bằng mọi cách bảo vệ nền độc lập dân tộc, nhưng bảo vệ bằng cách nào trong điều kiện, hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ - một chế độ phong kiến lỗi thời với nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu? Chính vì vậy, trước sức mạnh của chủ nghĩa phương Tây, hầu hết các nước đều thực hiện chính sách đóng cửa, nhằm ngăn chặn sự xâm lược của bọn đế quốc, ở Việt Nam cũng thế Chúng ta đã thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng mở cửa hạn chế không giống như

Trang 7

Nhật Bản và Thái Lan khi bị bọn đế quốc xâm lược hai nước ấy đã nhận thức được tính ưu việt của nền văn minh phương Tây Bên cạnh việc đi xâm lược, nô dịch bóc lột tàn ác nhân dân lao động nhưng các nước tư bản đã vô hình chung đã cung cấp một thứ vũ khí lợi hại cho các dân tộc mà chúng đi xâm lược là sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật chính vì thế mà họ đã định ra con đường đúng đắn cho dân tộc mình phải mở cửa, học tập khoa học kỹ thuật phương Tây để thoát khỏi họa ngoại xâm Nhờ đó mà Nhật Bản và Thái Lan đã thoát khỏi ách thống trị của tư bản đế quốc

Sự phát triển của chủ nghỉa tư bản là một nhu cầu phát triển khách quan trong qui luật phát triển của lịch sử nhân loại Tuy nhiên ta có thể thấy mặt trái của quá trình phát triển này là sự nô địch đàn áp bóc lột những người dân lao động, trước những hành động bóc lột dã man ấy cuộc đấu tranh của các dân tộc, quốc gia với hình thức đấu tranh dân chủ được diễn ra

Năm 1858 thực dân Pháp cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà – Đà Nẵng chính thức xâm lược nước ta Với kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh

để chiếm lấy Đà Nẵng làm căn cứ bàn đạp, từ đó đánh vào nội địa tiêu diệt sinh lực của triều đình Huế, bóp chết sức kháng chiến của ta buộc chúng ta phải đầu hàng Trước những âm mưu và hành động xâm lược ấy, ở giai đoạn đầu của cuộc chiến dưới sự lãnh đạo của triều đình Huế phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân đãn phát triển mạnh mẽ bước đầu ngăn chặn bước chân xâm lược của thực dân Pháp Thế nhưng về sau này, với sức mạnh ưu thế về quân sự cuộc đấu tranh ấy đã gặp phải những khó khăn Trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước trước sự xâm lược ấy nhà Nguyễn có vị trí và vai trò như thế nào? Toàn bộ hệ thống quan lại của triều đình đã làm gì để cùng nhà vua tìm ra sách lược cứu nước? Trong số đó thì Phan Thanh Giản là vị quan có thể nói là trụ cột của triều đình – ông đã làm

gì để cùng với triều đình Huế chống Pháp? Vị trí và vai trò của ông trong việc làm này như thế nào? Trong giai đoạn hiện nay chúng ta đã có cái nhìn mới, khách quan hơn về vai trò, vị trí của nhà Nguyễn cũng như của Phan

Trang 8

Thanh Giản trong công cuộc đấu tranh chống sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân Chính vì vậy để hiểu rõ hơn về vai trò ấy tôi đã quyết định chọn

đề tài này để tìm hiểu, nghiên cứu, ngoài ra còn xuất phát từ sở thích và lòng say mê phương pháp nghiên cứu, nhằm áp dụng những kiến thức đã học trong một bài viết cụ thể, cũng như mong muốn góp phần nhỏ bé hiểu biết của mình về Phan Thanh Giản để mọi người biết thêm về ông, đồng thời làm nguồn tư liệu để thực hiện công việc nghiên cứu sau này Con người là chủ thể của xã hội, con người chính là nhân tố làm nên lịch

sử Mỗi một người đều hoạt động theo mục đích riêng của mình, nhưng những hoạt động ấy lại chịu sự chi phối của những quy luật phát triển chung của toàn xã hội Vì vậy, việc học tập, tìm hiểu và nghiên cứu lịch sử của một thời đại, một quốc gia dân tộc, ta không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu sự kiện trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau mà còn phải tìm hiểu những con người cụ thể đã góp phần làm nên lịch sử trong các điều kiện khác nhau Lịch sử là lịch sử của quần chúng nhân dân, nhưng các vĩ nhân cũng có vai trò qua trọng trong sự phát triển của xã hội Vì vậy việc tạo biểu tượng chính xác về các nhân vật lịch sử có ý nghĩa giáo dục hết sức quan trọng Bởi mỗi nhân vật lịch sử đều đại diện cho giai cấp nhất định, nhiều đặc điểm cá nhân tiêu biểu là đăc trưng chung cho gia cấp mà cá nhân phục vụ Cho nên trong học tập lịch sử, cần phải hình dung một cách tương đối đầy

đủ và rõ ràng từng nhân vật lịch sử cụ thể, qua đó tìm hiểu bản chất từng giai cấp hay tầng lớp xã hội nhất định Hoạt động của mỗi nhân vật lịch sử, nhất là những nhân vật đại diện cho quyền lợi dân tộc, của quần chúng nhân dân, có tác dụng cụ thể hóa một sự kiện lịch sử làm sáng tỏ những vấn đề

cơ bản của dân tộc

Ngoài ra việc tìm hiểu về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản còn có ý nghĩa quan trọng góp phần làm sáng tỏ về con người ông – một nhân vật mà

từ trước tới nay đã có rất nhiều những ý kiến khác nhau khi nhận định về ông Để từ đó khi trở về trường với vai trò là người dạy sử cho những học

Trang 9

sinh thân yêu của mình tôi có thể phần nào giúp cho các em nhận thức đúng đắn về một con người suốt đời vì dân vì nước vậy mà khi chết đi lại mang tiếng là “ Phan lâm mãi quốc triều đình khí dân” Đồng thời với vùng đất Nam Bộ ngày nay nơi tôi đang sinh sống và học tập họ đã có những cái nhìn rất thiện cảm về con người Phan Thanh Giản việc nghiên cứu vấn đề này tôi không mong mỏi gì hơn là mọi người chúng ta hãy trả về cho ông những gì mà ông có và mọi người sẽ có tình cảm đặc biệt hơn về con người này

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề nhà nước phong kiến dưới triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc đã được giới sử học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, đề cập ở những góc độ khác nhau trong công trình nghiên cứu của mình Việc nghiên cứu

về Triều Nguyễn được bắt đầu từ thế kỷ XIX , cho đến nay có rất nhiều công trình được xuât bản lưu hành Đề tài khóa luận mà tôi thực hiện cũng

là vấn đề nằm trong phạm vi nhà nước phong kiến dưới Triều Nguyễn Ngoài những công trình nghiên cứu về Triều Nguyễn có liên quan đến đề tài, còn có nhiều tác giả nghiên cứu sâu về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản với công cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược ở nửa sau thế kỷ XIX – Một con người được giới sử học đặc biệt quan tâm từ trước tới nay Khi đề cập tới vấn đề Triều Nguyễn đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu với những tác phẩm khá đồ sộ và có giá trị lớn Vì vậy ở đây em chỉ xin giới thiệu một số những công trình tiêu biểu có liên quan tới đề tài

mà trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu tôi tham khảo

Tác giả Trần Trọng Kim với tác phẩm “Việt Nam sử lược” nghiên cứu lịch sử Việt nam từ thời thượng cổ đến khi thực dân pháp xâm lược và cai trị nước ta Tác phẩm gồm 2 tập, tập 2 gồm 16 chương trong đó từ chương

5 đến chương 11 đề cập tới các vần đề khác nhau dưới thời Tự Đức: như là

Trang 10

quan chế, binh pháp, thuế má, vua Tự Đức…Tác phẩm do Viện Sử học xuất bản năm 1971

Tác giả Trần Văn Giàu với tác phẩm sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858, do nhà xuất bản Văn hóa xuất bản năm

1958 Tác phẩm gồm 6 chương nghiên cứu về chế độ phong kiến Triều Nguyễn trước khi thực dân pháp xâm lược

Tác giả Nguyễn Phan Quang trong cuốn sách “Việt Nam thế kỷ XIX” (1802 - 1884) đã đề cập đến lịch sử Việt nam trong giai đoạn này Đây là công trình có sự thu thập từ các nguồn tư liệu gốc, tư liệu điền giã và tiếp xúc với nhiều nhân chứng Bên cạnh những mảng tài liệu được gạn lọc từ chính sử, tác giả còn bổ sung và đính chính từ nguồn tư liệu địa phương Tác phẩm gồm 3 phần trong đó phần một nêu nên tình hình xã hội nước ta nửa đầu thế kỷ XIX và chính sách Triều Nguyễn phần III đề cập tới quá trình thực dân Pháp xâm lược nước ta và đối sách của Triều Nguyễn trước cuộc xâm lược đó Sách do NXB Tp HCM xuất bản năm 2002

Tác giả Nam Xuân Thọ với tác phẩm “ Phan Thanh Giản ” ( 1796 - 1867) Tác phẩm gồm 13 chương nêu nên tất cả cuộc đời Phan Thanh Giản

về tiểu sử, hành trạng, quá trình đi sứ sang Pháp ký hòa ước Nhâm Tuất

1862 Sách do NXB Tân Việt xuất bản năm 1957

Tác giả Nguyễn Duy Oanh với tác phẩm “ Chân dung Phan Thanh Giản

” do Bộ văn hóa giáo dục và thanh niên xuất bản năm 1974 Tác phẩm là sự

kế thừa của tác phẩm Phan Thanh Giản của Nam Xuân Thọ trong đó có bổ sung thêm một số tư liệu lịch sử bằng Hán văn, Pháp văn và một số thơ văn

có giá trị lớn về mặt lịch sử Tác phẩm gồm 2 phần, phần 1 nói về thân thế

và sự nghiệp của Phan Thanh Giản, phần 2 là quá trình sau khi Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử Phần này gồm 5 chương, trong đó Tác giả dành chọn chương 5 để công luận bình phẩm

Trang 11

Tác giả Trương Bá Cần với tác phẩm “Kỷ niệm 100 năm ngày pháp chiếm nam kỳ” Tác phẩm là tập hợp các bài viết của nhiều tác giả trong đó Trương Bá Cần với bài viết “Phan Thanh Giản với việc mất 3 tỉnh miền Tây” Trong bài viết này tác giả đã đề cập tới quá trình pháp chiếm Nam

Kỳ và mưu lược của Pháp đồng thời nêu nên trách nhiệm của Phan Thanh Giản trong việc mất 6 tỉnh nam kỳ

Tác phẩm thuộc thể loại văn học “Phan Thanh Giản nỗi đau trăm năm” của tác giả Hoàng Lại Giang Trên cơ sở những tư liệu trực tiếp hay gián tiếp, những tư liệu văn bản và những tư liệu mang tính chất dân gian tác giả

đã dựng lại bức tranh khá hoàn chỉnh về cuộc đời, con người Phan Thanh Giản từ khi mẹ mất cho tới cuối đời của ông

Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản là tập hợp tất cả các bài viết của các nhà sử học Tác phẩm là tập hợp những bài tham luận của 2 cuộc hội thảo vào năm 1994 và 2003 để ghi nhận một chặng đường nhận thức dài cùng với những biến thiên của lịch sử dân tộc Chân dung Phan Thanh Giản đang dần trở lại với cái nhìn đầy lòng vị tha truyền thống của người Việt Nam Tác phẩm được đăng trên tạp chí xưa và nay xuất bản năm 2006

Phan Thị Minh Lễ - Chương Thâu với tác phẩm Thơ văn Phan Thanh Giản, do nhà xuất bản Hội nhà Văn xuất bản năm 2005 Tác phẩm là tập hợp tất cả những bài thơ do Phan Thanh Giản sáng tác trong suốt cuộc đời của mình Trong đó có bộ Lương Khê Thi văn Thảo, được coi là tư liệu gốc

có giá trị về nhiều mặt, có thể giúp chúng ta tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu, nhận định, đánh giá nhân vật lịch sử có tầm cỡ trong thời kỳ cận đại

Ngoài ra trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, tạp chí xưa và nay cũng

có nhiều bài viết liên quan đến đề tài Trong đó tiêu biểu là các bài viết của các nhà sử học:

Trang 12

Trần Huy Liệu với bài viết “ Chúng ta đã nhất trí về việc nhận định về Phan Thanh Giản” đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử số 55, tháng 10 năm

1996, tại Hội thảo khoa học ở viện sử học Qua bài viết tác giả nhận định đối với Phan Thanh Giản, một nhân vật có nhiều khía cạnh, nhiều tình tiết, nên việc đánh giá ông cũng có nhiều phiền phức Cuối bài viết giáo sư trần kết luận “ Phan trước sau vẫn rơi vào thất bại chủ nghĩa, phản lại nguyện vọng và quyền lợi tối cao của dân tộc của nhân dân” Từ luận điểm ấy Trần Huy Liệu đã phủ nhận sạch trơn mọi đức hạnh của ông như liêm khiết, yêu nước, thương dân

Ngô Minh với bài viết “Phan Thanh Giản đã được giải oan sau 150 năm” Qua bài viết tác giả đã nêu lên tâm tư, tình cảm của một người con quê hương Bến Tre khi đến thăm viếng Phan Thanh Giản Đồng thời tác giả còn khái quát quá trình nhận định đánh giá của giới sử học từ năm 1963 đến nay Qua bài viết tá giả đã nêu nên ước mong của mình “tôi cứ ước ao không chỉ ở Bến Tre, Vĩnh Long mà tên của Đại thần Phan Thanh Giản tài hoa, khí tiết sẽ được đặt cho nhiều trường học và đường phố miền Nam như trước đây” Bài viết được đăng trên báo tiền phong ngày 28/9/2008

Huỳnh Công Tín với bài viết “Tưởng nhớ ngày mất của Tiến sĩ Phan Thanh Giản (mồng 5 tháng 7 năm Đinh Mão – 4-8-1867)” Qua bài viết tác giả đả nêu nên tất cả những đức hạnh tốt đẹp của con người Phan Thanh Giản, sự nghiệp của ông và đồng thời giới thiệu những tập thơ của Phan Thanh Giản Bài viết được đăng trên bào điện tử cần Thơ ngày 9/8/2008 Ngoài ra còn rất nhiều bài viết về Phan Thanh Giản trên các số tạp chí , báo tuổi trẻ, tiền phong nhưng ở đây tác giả chỉ xin điểm qua một số bài viết tiêu biểu

Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi còn tham khảo nguồn tư liệu gốc: Đại nam thực lục, Đại nam liệt truyện, Châu bản triều Tự Đức…

Trang 13

III Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài

Khi nghiên cứu tìm hiểu về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản có rất nhiều mặt cần ngiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này em chỉ giới hạn ở việc tìm hiểu nghiên cứu ở các nội dung sau:

Thứ nhất là tìm hiểu tình hình thế giới, khu vực và trong nước ở nửa sau thế kỷ XIX

Thứ hai tìm hiểu về tiểu sử và hành trạng của Phan Thanh Giản, bên cạnh đó tìm hiểu những đối sách mà nhà Nguyễn thực hiện trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp đồng thời tìm hiểu vị trí vai trò nhà Nguyễn trong việc bảo vệ nền độc lập như thế nào? Để qua đó sẽ đi vào tìm hiểu nhân vật lịch sử cụ thể là tìm hiểu về Phan Thanh Giản

IV Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài em dựa trên quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học đề trình bày, phân tích, nhận định các mối quan hệ tương quan giữa những chính sách mà Triều Nguyễn đề ra trong việc chống Pháp xâm lược trên cơ sở đó vạch ra những việc làm cụ thể cho tưng bộ phận, cá nhân trong đó có Phan Thanh Giản để từ đó rút ra bản chất, quy luật, khuynh hướng chủ đạo của sự vận động, phát triển của các sự kiện, hiện tượng lịch sử Hơn đâu hết, với một vương triều có thể nói là hết sức phức tạp lâu nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm đánh giá khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau, việc vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể nghiên cứu càng là yêu cầu đặt nên hàng đầu

Khi thực hiện đề tài này em đã dùng phương pháp lịch sử và phương pháp logic Đồng thời còn dùng phương pháp tổng hợp và so sánh đối chiếu lịch sử để nghiên cứu Em đã không tách rời những hoạt động của Phan Thanh Giản với hoạt động chống Pháp của Triều Nguyễn , với bối cảnh chung của các nước trong khu vực Việc nhìn nhận đối tượng trong tính hệ

Trang 14

thống và trong mối quan hệ so sánh đó sẽ góp phần làm nổi bật thực chất, đặc điểm và có những nhận định khách quan hơn về vị trí vai trò của Triều Nguyễn cũng như của Phan Thanh Giản trong cuộc chống Pháp bảo vệ độc lập dân tộc

V Bố cục đề tài

Phần 1: Phần mở đầu

I Lý do chọn đề tài

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề

III Giới hạn nội dung ngiên cứu

IV Phương pháp nghiên cứu

V Kết cấu đề tài

Phần 2: Phần nội dung

Chương 1 Hoàn cảnh quốc tế và Việt Nam ở nửa sau thế kỷ XIX

I Hoàn cảnh quốc tế ở cuối thế kỷ XIX

II Tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược

Chương 2 Phan Thanh Giản tiểu sử và hành trạng

I Tiểu sử

II Hành Trạng

III Phan Thanh Giản với công cuộc chống Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc

Chương 3 Con người Phan Thanh Giản

I Một con người có nhân cách lớn

II Một nhà yêu nước sớm có tư tưởng canh tân

Kết luận

Trang 15

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 HOÀN CẢNH QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM Ở NỬA

SAU THẾ KỶ XIX

I Hoàn cảnh quốc tế

Đầu thế kỷ XIX là sự phát triển và toàn thắng của chủ nghĩa tư bản và trở thành hệ thống trên toàn thế giới Giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị có quyền lực vô hạn về kinh tế Để phát triển và tăng cường lợi nhuận về kinh tế, giai cấp tư sản đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp

tử hế kỷ XVIII cho đến giữa thế kỷ XIX đã mang lại những thay đổi lớn trong nền kinh tế Lao động bằng máy móc ra đời thay thế bằng lao động thủ công chân tay vì vậy mà năng xuất lao động được nâng cao chưa từng

thấy: “lực lượng sản xuất hùng hậu, với nguồn hàng hóa dồi dào hơn tất cả

các thế kỷ khác cộng lại” 1

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, do những tiến bộ

vượt bậc về kinh tế và những thành tựu khoa học kỹ thuật đạt được, giai cấp

tư sản ở các cường quốc phương Tây đã có những bước tiến xa hơn trong việc tìm kiếm thị trường, khám phá ra những vùng đất mới lạ mà từ trước

họ chưa có điều kiện đặt chân đến Trên cơ sở những cuộc phát kiến địa lý , kết hợp với những tiến bộ về khoa học kỹ thuật đặc biệt trong nghành hàng hải, giai cấp tư sản phương Tây đã tăng cường tìm kiếm, xâm lược thuộc địa, tìm ra những vùng đất mới ở nhiều dân tộc khác nhau nhằm đáp ứng cho sự phát triển nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở chính quốc

Như vậy bước sang thế kỷ XIX cùng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản trên thế giới là sự tăng cường xâm nhập, nô dịch thuộc địa của các nước

tư bản phương Tây Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn liền với quá trình xâm lược thuộc địa, giai cấp tư sản đã đi khắp nơi để tìm đến một mục tiêu để xâm nhập Họ đã không từ mục tiêu nào, dùng bất cứ mọi thủ

1

Trương Bá Cần – Tư tưởng canh tân Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX Tr 23

Trang 16

đoạn từ mua chuộc, nô dịch, lừa bịp, dung vũ lực…hòng che đậy âm mưu xâm lược của mình

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở các nước lớn ngày càng làm tăng nhu cầu về thuộc địa Thuộc địa là nơi có ý nghĩa quan trọng đặc biệt với chính quốc: nơi cung cấp nguyên liệu, lương thực, nhân công, nơi tiêu thụ hàng hóa của mình và đem lại cho chính quốc một lợi nhuận kếch xù Do tầm quan trọng ấy mà giai cấp tư sản phương Tây đã bất chấp mọi luật lệ, quyền lợi của các dân tộc để tìm cách xâm nhập vào châu

Mỹ Latinh, châu Phi, châu Á

Bước sang thế kỷ thế kỷ XIX hầu hết các quốc gia ở châu Á, Phi, Mĩ Latinh đang trong quá trình phát triển của chế độ phong kiến Ở một số nước châu Phi đang trong tình trạng lạc hậu – bộ lạc và thậm chí đang dần suy yếu với những xung đột, nội chiến liên miên và trở thành những đối tượng cho tham vọng của các cường quốc phương Tây

Cùng với số phận châu Phi thì ở châu Mỹ Latinh, nhiều vùng đất đã bị Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha xâm chiếm Đến đầu thế kỷ XIX thì toàn bộ châu Mỹ Latinh đã mất độc lập

Ở châu Á đây là giai đoạn phát triển của chế độ phong kiến Tuy nhiên

so với phương Tây lúc bấy giờ thì châu Á có trình độ phát triển chậm chạp

và kém xa rất nhiều Nếu như phương Tây lúc này đã tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp và đạt được nhiều thành tựu to lớn, lực lượng sản xuất phát triển, năng xuất lao động tăng cao hàng loạt các công ty tư bản hình thành Ở châu Á đa số các vương quốc đều có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng xuất lao động thấp, đời sống của người dân bần cùng Công thương nghiệp thì chẳng khá hơn là bao, mọi hoạt động thương mại đều bị cản trở do chính sách “ bế quan tỏa cảng” được các nước châu Á áp dụng như một cách tự vệ trước nguy cơ xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây

Trang 17

Công cuộc xâm chiếm thuộc địa, tìm kiếm thị trường ở các nước châu Á được các nước Anh, Pháp, Mỹ tiến hành ngay từ thế kỷ XVI nhưng mãi đến thế kỷ XIX thì mới thực sự rầm rộ Sự kiện tiêu biểu ở thế kỷ XIX là cuộc chiến tranh nha phiến lần 1 ( 1839 - 1842) do Anh mở đầu tấn công Trung Quốc Anh buộc triều đình Mãn Thanh phải ký hiệp ước Nam Kinh ngày 29-8-1942 trong đó Trung Quốc chấp nhận mọi điều khoản mà Anh đặt ra Theo hiệp ước này Trung Quốc phải mở cửa biển cho Anh tự do thông thương, ngoài ra Trung Quốc phải bồi thường chiến phí và cắt Hương Cảng cho Anh Với Hiệp ước Nam Kinh mở đầu cho quá trình biến Trung Quốc

từ một nước độc lập trở thành nước thuộc địa ở châu Á

Ở nửa sau thế kỷ XIX Anh xâm lược Ba Tư, Newziland, biến toàn bộ

tư bản nước ngoài Giai cấp phong kiến cầm quyền ở các vương quốc đều hết sức lúng túng và lo sợ, bế tắc Sự trì trệ của chế độ phong kiến đã làm cho giới thống trị luẩn quẩn không tìm ra được đối sách thích hợp để thay đổi vận mệnh đất nước và bắt kịp với vận hội mới của thời đại Cuối thế kỷ XIX lần lượt các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa hoặc vùng ảnh hưởng của thực dân phương Tây Sau khi tìm đường biển sang phương Đông người châu Âu lần lượt đến Đông Nam Á Năm 1511 đánh dấu mốc quan trọng trong việc chinh phục Đông Nam Á với sự kiện Bồ Đào Nha chiếm Malacca Đến năm 1790, Anh chiếm đảo Penang, một năm sau đó Malaya bị Bồ Đào Nha xâm lược, Philippin cũng bị Tây Ban Nha thôn tính Inđônêxia cũng bị Tây Ban Nha, Hà Lan xâu xé vào năm 1811 Sau khi

Trang 18

chiếm được Miến Điện 1885 Anh thôn tính Brunay Thực dân Pháp thì tìm cách vào Đông Dương chiếm ( Việt Nam, Lào, Campuchia )

Như vậy sang thế kỷ XIX các nước tư bản Âu, Mĩ đã kỹ nghệ hóa và thị trường đã phân chia ổn định vì vậy họ chỉ còn cách tìm kiếm thị trường ở các châu lục khác Đầu tiên họ tìm cách bành trướng kinh tế rồi tiến đến đô

hộ về chính trị, chiếm thuộc địa và lập khu ảnh hưởng về kinh tế Để đạt được mục đích đó, giai cấp tư sản đã quýet sạch mọi trở ngại mở đường khai thông từ Âu sang Á bằng những cuộc chiến tranh xâm lược

Trước xu thế bành trướng thế giới sang phía Đông của các nước tư bản

đế quốc nhiệm vụ lịch sử chung của các nước châu Á là bằng mọi cách phải bảo vệ độc lập dân tộc

Ngay từ rất sớm các nước châu Á đã nhận thức được âm mưu xâm lược của các nước phương Tây lộ rõ qua những hoạt động của các nhà buôn, nhà truyền giáo Phương pháp được coi là tối ưu nhất để chống lại nguy cơ xâm lược là chính sách “ bế quan tỏa cảng” nhằm ngăn chặn bước chân của kẻ xâm lược Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực mà thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị tìm cách đặt ách thống trị cũng ngày càng tăng cường chính sách đóng cửa, việc áp dụng phổ biến chính sách bế quan tỏa cảng là một biện pháp tự vệ thụ động, vô hiệu quả và lạc hậu Biện pháp này chỉ có tác dụng trong phạm vi của phương thức sản xuất phong kiến với các phương tiện giao thông thô sơ và vũ khí lạc hậu Các nước châu Á từ chối quan hệ với các nước phương Tây, cố thủ trong một đường lối đối ngoại tự

cô lập Họ đã lợi dụng sự lạc hậu, yếu kém về kinh tế, chính trị, xã hội để bắt ép hoặc dùng ưu thế về sức mạnh quân sự, buộc giai cấp cầm quyền của các nước này mở đường cho công cuộc đi “ khai hóa văn minh” một cách

có hệ thống vào đầu thế kỷ XIX

Đa số giai cấp thống trị châu Á về cơ bản thiếu sự chuẩn bị đối phó với nguy cơ ngoại xâm không tích cực xây dựng củng cố quốc phòng, chấn

Trang 19

hưng và phát triển kinh tế, thực hiện đổi mới về các mặt chính trị, quân sự, văn hóa, mà tự làm suy yếu mình

Trong tình thế đó nhân dân dù có tinh thần chống ngoại xâm ngoan cường cuối cùng giai cấp phong kiến cũng phải nhượng bộ thực dân Hầu hết các nước châu Á đều lần lượt rơi vào móng vuốt của các nước đế quốc thực dân Duy chỉ có Nhật Bản và Thái Lan nhờ những chính sách mở cửa khôn khéo mà hai nước này đã thoát khỏi sự xâm lược của thực dân phương Tây

Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh nha phiến, với sức ép ngày càng tăng của các nước tư bản, năm 1842 Nhật phải cho phép tàu nước ngoài vào lấy nước ngọt và than Từ đó cho đến trước cải cách Minh Trị, Nhât Bản đã lần lượt ký các hiệp ước bất bình đẳng với Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Nga để tránh cuộc chiến tranh không cân sức Nhưng cũng từ đây nhân dân Nhật Bản đã nhận thức được sức mạnh ưu việt của nền văn minh phương Tây, định hướng được con đường đúng đắn phải đi là mở cửa, học tập khoa học kinh tế phương Tây để thoát khỏi họa ngoại xâm Công cuộc cải cách Minh Trị bắt đầu từ năm 1863 đã nhanh chóng đưa đất nước Nhật trở thành một trong những nuước tư bản phát triển cuối thế kỷ XIX

Đối với Thái Lan trước sự xâm lược của đế quốc Anh ở Trung Quốc và Mianma Thái lan đã ra sức đề phòng tìm cách chống ngoại xâm Giai cấp phong kiến Thái Lan đã chủ trương cải cách ôn hòa trong lĩnh vực chính trị,

xã hội, tăng cường buôn bán với phương Tây nhờ đó mà bảo vệ nền độc lập của mình Với việc ký kết một số hiệp ước bất bình đẳng với Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan, Đan Mạch chịu hy sinh một số quyền lợi về thuế quan, thương mại, lãnh thổ Nhờ đó mà Thái Lan đã tránh được chiến tranh và trở thành vùng đẹm giữa hai khu vực thuộc địa của Anh và Pháp

Cũng như các quốc gia khác ở Đông Nam Á Việt Nam không có điều kiện, khả năng đi theo con đường của Nhật Bản, Thái Lan, giai cấp thống trị

Trang 20

Việt Nam vào thế kỷ XIX đã đặt ra những lựa chọn, thách thức vô cùng nghiệt ngã Giữ vững nền độc lập hay để đất nước rơi vào tay thực dân đế quốc Các vua Nguyễn đã làm gì trước hoàn cảnh đó?

II Tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược

Sau khi vương triều Tây Sơn bị lật đổ nước ta nằm dưới sự trị vì của vương Triều Nguyễn Lịch sử đã ghi nhận dưới Triều Nguyễn đất nước ta là một đất nước thống nhất sau 300 năm loạn lạc phân tranh Các vua nhà Nguyễn đã nối tiếp nhau hoàn thành sự nghiệp thống nhất giang sơn, chấm dứt 300 năm nội chiến , chia cắt đất nước và mở ra thời kỳ phát triển mới của nhà nước phong kiến Việt Nam thống nhất với một lãnh thổ rộng lớn, hoàn chỉnh, một thị trường ổn định kéo dài từ Lạng Sơn tới mũi Cà Mau Đây là thành quả vô cùng to lớn mà Triều Nguyễn đã thừa hưởng trong quá trình phát tiển lịch sử, trong công cuộc dựng nước, giữ nước bảo vệ nền độc lập dân tộc chứ không riêng gì của phong trào Tây Sơn

Năm 1802 sau khi lật đổ vương triều Tây Sơn Nguyễn Ánh lên ngôi, thiết lập chế độ chuyên chế, lấy kinh đô là Phú Xuân ( Huế) và đặt niên hiệu

là Gia Long mở đầu thời kỳ trị vì của chế độ phong kiến nhà Nguyễn

Triều Nguyễn được kiến thiết trong hoàn cảnh lịch sử hết sức gian khổ nên từ khi Gia Long nên ngôi năm 1802 đến khi thực dân Pháp xâm lược

1858 Các vua Nguyễn từ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã nối tiếp nhau tận tâm nỗ lực kiên trì và khôn khéo xây dựng vương triều phong kiến trung ương tập quyền vững mạnh và có những đóng góp nhất định đối với sự phát triển của dân tộc Tuy nhiên xuất phát từ những lợi ích dòng họ, nhà Nguyễn đã vô tình quay lưng lại với những trào lưu của thời đại, từng bước củng cố chế độ chuyên chế cực đoan Như chúng ta đã biết nếu như các vương triều trong lịch sử Việt Nam trước đây đều được thiết lập trên một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc hoặc hoàn thành thắng lợi nhiệm

vụ chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc sau khi thiết lập vương

Trang 21

quyền Còn đối với nhà Nguyễn được thiết lập bằng cuộc nội chiến phản

cách mạng nhờ cầu viện nước ngoài “Do bản chất và xu thế phát triển lịch

sử của mình, nhà Nguyễn đã không đóng vai trò tiến bộ, thúc đẩy lịch sử phát triển về mọi mặt, nội trị, ngoại giao, quốc phòng, kinh tế làm cho dân tộc ta phải trả một giá đắt từ tột đỉnh vinh quang đến tận cùng khổ nhục để rồi từ tận cùng đau thương khổ nhục bằng máu và nước mắt sau 117 năm (

1858 - 1975) mới đến được bến bờ vinh quang Độc lập – thống nhất toàn vẹn lãn thổ.” 2

Xuất phát từ thực tế phức tạp trong một giai đoạn lịch sử vì vậy có nhiều

ý kiến khác nhau khi đánh giá về Triều Nguyễn giới sử học từ trước tới nay

có nhiều ý kiến cho rằng: “ vương Triều Nguyễn có công rất lớn trong việc

dấy lại nghiệp cư, dựng lên nghiệp mới công đức đều to từ đời Hồng Bàng trở xuống chưa bao giờ có” Lại có ý kiến cho rằng: “ đây là một triều đại phản động toàn diện, ngu đần và ngoan cố”

Ngày nay chúng ta đã có cái nhìn mới, đánh giá khách quan hơn về Triều Nguyễn trước cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc Vì vậy khi nhận định, đánh giá về triều đại này chúng ta phải ghi nhận những mặt tích cực, những đóng góp của Triều Nguyễn trong quá trình phát triển lịch sử dân tộc Đồng thời cũng cần nêu nên những hạn chế và trách nhiệm của vương triều này trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp ở nửa sau thế kỷ XIX Để hiểu rõ hơn về vương triều này trước tiên chúng ta cần tìm hiểu về tình hình kinh tế chính trị của vương triều này

1 Chính trị

a Tổ chức bộ máy nhà nước

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long khôi phục nền thống trị trên một quốc gia thống nhất từ Bắc vào Nam Sau gần 3 thế kỷ đất nước ta bị chia cắt dưới Triều Nguyễn lần đầu tiên đất

2 Võ Xuân Đàn “Hai trăm năm nhìn lại vương triều Nguyễn” NXB Văn Hoá 2002, tr 140

Trang 22

nước ta được thống nhất, giang sơn Việt Nam hoàn toàn thu về một mối

“Từ trước tới giờ đất nước ta chưa bao giờ lại rộng lớn đến thế, dân tộc ta đông đúc và tiềm lực quốc gia lại hùng hậu như vậy” 3

Xung quanh vấn đề

thống nhất đất nước cho tới nay các nhà sử học có nhiều ý kiến khác nhau khi trả lời câu hỏi: Ai có công thống nhất đất nước? Nguyễn Huệ hay

Nguyễn Ánh? Theo ý kiến của Nguyễn Phương: “Nguyễn Ánh là cha đẻ của

nước Việt Nam, là người tiêu biểu cho tinh thần ái quốc là một anh hùng dân tộc…ngoài công lao thống nhất Việt Nam, thống nhất lãnh thổ và tinh thần ái quốc…” 4

Theo Gs Trần Văn Giàu: “ phần đóng góp của Nguyễn Huệ vào hệ

thống tư tưởng yêu nước Việt Nam là một ý thức và sự nghiêp thống nhất sau thời gian phân liệt kéo dài từ thời Lê Mạt, thì người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ là vĩ nhân đã khởi xướng và bắt đầu sự nghiệp ấy…5”

Còn rất nhiều những ý kiến khác nhau nhưng chung qui lại mấu chốt vẫn ở hai hướng chính một là nhóm ý kiến cho rằng công lao này thuộc về Gia Long, nhóm thứ hai lại hướng về công lao của nhà Tây Sơn Theo ý kiến của cá nhân tôi thì công lao của Nguyễn Huệ chính là người mở đường còn Gia Long là người hoàn tất sự nghiệp thống nhất ấy

Sau khi lên ngôi Gia Long đã lấy lại quốc hiệu là Đại Việt sau đó đổi thành Việt Nam ( 1804) Các vua Nguyễn đã thiết lập lại bộ máy chính trị quân chủ chuyên chế tập trung mọi quyền lực về tay nhà vua Vua là người đứng đầu nhà nước, có quyền lực vô hạn mà không một thứ thần quyền nào

có thể khống chế được Mệnh lệnh nhà vua ban ra thì tuyệt đối phải thi hành Giúp việc cho vua có thị thư viện ( thời Gia Long), văn thư phòng ( thời Minh Mạng) có nhiệm vụ giải quyết giấy tờ, vă thư, còn việc quân đốc trọng sự thì có tứ trụ đại thần sau đổi thành viện cơ mật Bên dưới vua là 6

Trang 23

bộ ( Lại, Lễ, Binh, Hình, Công, Hộ) có nhiệm vụ chỉ đạo các công việc chung của nhà nước Đứng đầu mỗi bộ là 1 thượng thư, hai tả hữu tham tri, hai tả hữu thị lang Ngoài ra còn có các cơ quan chuyên môn như đô sát viện, hàn lâm viện, thái y viện, quốc tử giám, nội vụ phủ…

Có thể nói nhà nước quân chủ chuyên chế nhà Nguễn “thực chất là tiếp

tục thể chế quân chủ thời Lê sơ, nhưng được nâng lên ở mức cao hơn nhằm đối phó với những chuyển biến kinh tế, xã hội mới nảy sinh trong mấy thế

kỷ qua, nhằm tạo hiệu lực đối phó với những rối loạn trong nước và những diễn biến ngày càng phức tạp trong khu vực” 6

Về tổ chức bộ máy ở địa phương thời Gia Long vẫn giữ nguyên cách tổ chức, ở đàng Ngoài là Trấn, phủ, huyện, xã, ở đàng Trong là trấn, dinh, huyện, xã Chia cả nước thành 3 khu vực Bắc Thành ( tương đương với Bắc

Bộ ngày nay), Gia Định Thành và Trực doanh do triều đình trực tiếp quản

lý Đến thời Minh Mạng để nhất thể hóa về mặt hành chính trong cả nước, vua tiến hành cuộc cải cách hành chính 1831 – 1832 đã bỏ hai trấn Bắc Thành và Gia Định Thành chia cả nước thành 30 tỉnh và một phủ Thừa

Thiên “Đứng đầu mỗi tỉnh là chức tổng đốc, dưới tổng đốc có bố chính, án

sát Ở phủ có tri phủ, huyện có tri huyện, châu có tri châu” 7

Về việc tuyển chọn quan lại, thời gian đầu quan lại chủ yếu gồm những người có công theo Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn, về sau việc tuyển chọn quan lại thông qua thi cử Khác với các triều đại trước Triều Nguyễn bỏ chế

độ cấp lộc điền cho quan lại, chỉ cấp một ít ruộng thờ cho những công thần

Trang 24

được ưu tiên, nhằm giảm bớt tệ tham nhũng và hạn chế tính chất tư hữu về ruộng đất Vì vậy quan lại chỉ được cấp lương bổng, và một số lúa gạo tùy theo phẩm hàm và chức tước

Nhằm tập trung quyền lực và đề phòng mọi sự lấn át uy quyền của nhà vua, khi lên ngôi Gia Long đã đặt ra lệ “ tứ bất” bốn không: không đặt chức tước, không lấy trạng nguyên, không lập hoàng hậu, không phong vương cho người khác, các chức tứ trụ: tam thái, tam thiếu, dưới triều Nguyễn chỉ còn là những vinh hàm gia phong cho công thần

Như vậy bộ máy nhà nước dưới Triều Nguyễn không cồng kềnh, cũng không đông đảo song không vì thế mà bớt đi tệ tham nhũng Với quan điểm trị nước theo định hướng chính trị của Nho giáo, Triều Nguyễn đã tham khảo mô hình tổ chức bộ máy thời Minh, Thanh của Trung Quốc, nâng cao

và hoàn thiện bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế vững mạnh, tự tôn và bành chướng Nhưng về thực chất bộ máy nhà nước quân chủ chuyên chế

đó ngày càng đi xa rời với thực tế, bảo thủ, cố chấp, kém hiệu lực và ngày càng trở nên lạc hậu trước trào lưu canh tân và Âu hóa ở nửa sau thế kỷ XIX

b Luật pháp

Năm 1811 vua Gia Long chỉ dụ cho Nguyễn Văn Thành trên cơ sở tham khảo luật Hồng Đức, luật nhà Thanh và biên soạn bộ luật Gia Long, hay còn gọi là Hoàng triều luật lệ

“Bộ luật bao gồm 21 quyển chính với 398 điều và một quyển phụ lục với

30 điều với bố cục như sau:

Quyển 1: kiểm kê các luật lệ

Quyển 2 và 3: ( 45 điều): quy tắc các luật lệ

Quyển 4 và 5 ( 27 điều): luật hành chính

Trang 25

Quyển 6,7 và 8 ( 66 điều): luật dân sự ( thuế, ruộng đất, nhà ở, hôn thú, kho tang, cho vay, chợ búa…)

Quyển 9 ( 26 điều): lễ tục ( hiến tế nghi lễ…)

Quyển 10 và 11 ( 58 điều): luật binh

Quyển từ 12 đến 20 ( 166 điều): luật hình sự ( phản nghịch, giết người, lang nhục, khiếu nại, giam giữ và các tội hình sự khác…)

Quyển 21 ( 10 điều): dinh tạo: các công trình kiến trúc, đê điều

Quyển 22: các tội tương đương” 8

Bộ luật Gia Long thể hiện rất rõ ý thức bảo vệ quyền hành tuyệt đối của nhà vua và đề cao địa vị quan lại của gia trưởng Đặc biệt là tội phản nghịch chống lại vua tội này bị trương trị rất nặng

“Điều luật 223 ghi rõ: phàm kẻ mưu phản và đại nghịch, không phân biệt thủ phạm, tong phạm đều lăng trì xử tử ” 9

Có thể nói bộ luật Gia Long là bản sao chép gần như nguyên vẹn, trọn

bộ luật nhà Thanh Nhà Nguyễn đã đoạn tuyệt với những truyền thống và tư tưởng pháp luật trước đây, thủ tiêu những chế định tương đối tiến bộ của luật Hồng Đức về hôn nhân gia đình Tính chất phản động và khắc nghiệt của bộ luật biểu hiện tập trung ở sự mở rộng phạm vi trừng trị với một chế

độ hình phạt rất tàn nhẫn

c Quân đội

Triều Nguyễn được xác lập không phải để đối phó và chuẩn bị chiến tranh, cũng không phải đấu tranh giành độc lập dân tộc làm cho nhân dân thoát khỏi ách đô hộ của nước ngoài mà là kết quả của việc đánh bại nhà Tây Sơn Vì vậy khi nắm quyền Triều Nguyễn không thực hiện triệt để

Trang 26

chính sách “ ngụ binh ư nông” như các triều đại trước mà tập trung xây dựng một đội quân vững mạnh của mình

Sau khi nên ngôi Gia Long đã lo tổ chức lại quân đội, ban hành lệnh giản binh Triều đình cho giải ngũ những người già yếu, tổ chức lại quân đội có lực lượng hùng hậu Tuy nhiên dựa theo tình hình của từng vùng mà lấy quân theo tỷ lệ khác nhau:

“Từ Quảng Bình tơi Bình Thuận: 3 đinh lấy 1 đinh

Từ Biên Hòa trở vào: 5 đinh lấy 1 đinh

Từ Hà Tĩnh trở ra 7 đinh lấy 1 đinh

6 ngoại trấn Bắc thành: 10 đinh lấy 1 đinh” 10

Lính chiêu mộ ở Nam Kỳ, Bình Định, Nghệ An được đưa về kinh, gọi là lính vệ, lính vệ chia làm 3 đạo binh: thân binh, cấm binh, tinh binh Các trấn

có lính cơ, lính mộ, huyện có lính lệ, lính được tuyển ở các làng gọi là lính hầu làm việc phục dịch do quan sai phái Ngoài ra còn có 6 vệ thủy binh đóng ở kinh thành và các cơ thủy binh đóng ở các cửa biển

Khi Minh Mạng lên nắm quyền ông đã phát triển hệ thống lực lượng quân đội bằng việc tổ chức binh chế được hoàn thiện gồm đủ các binh chủng: Bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh, pháo binh Ngoài bộ binh gồm kinh binh đóng giữ kinh thành và cơ binh của từng tỉnh, tượng binh thực sự trở thành một binh chủng mạnh được phân bố:

“11Bắc Thành: 3 cơ, mỗi cơ 10 đội, 750 lính, 110 thớt voi

Gia Định thành: 10 đội, 500 lính, 75 thớt voi

Trang 27

Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa: mỗi tỉnh 2 đội, 100 lính, 15 thớt voi

Quảng Trị, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận, Ninh Bình: mỗi tỉnh 10 đội, 50 lính, 7 thớt voi

Kinh đô: 3 vệ, mỗi vệ 10 đội, 15000 lính, 150 thớt voi”

Về mặt thủy binh, Triều Nguyễn do nhận thức tầm quan trọng của nó, nên đã rất cố gắng trong việc xây dựng một binh chủng vững mạnh Các vua Triều Nguyễn rất chú ý tới việc tuyển mộ và chỉnh đốn binh thuyền Thời Nguyễn có 6 vệ thủy quân đóng ở kinh đô, ngoài ra còn có thủy quân được trang bị đại bác đóng trong đồn lũy ở các tỉnh ven biển, nhất là ở hải cảng và những nơi xung yếu Chỉ riêng dưới thời Gia Long số thủy quân đã lên tới 17000 người với 3 chiến thuyền kiểu Phương Tây, 100 chiến thuyền lớn được trang bị máy bắn đá và đại bác, 200 chiến thuyền nhỏ bọc đồng mỗi thuyền được trang bị 16- 20 đại bác, 500 chiến thuyền nhỏ hơn có máy bắn đá và một đại bác

Thời vua Thiệu trị, tổ chức quân đội không có sự thay đổi lớn Mãi tới thời vua Tự Đức, ngoài lực lượng quân triều đình và quân các tỉnh, nhà vua còn cho đặt thêm các ngạch lính hương dũng, dân dũng, thổ dũng ở các làng

xã nhất là ở miền núi Do tình hình đất nước có nhiều biến động lớn ảnh hưởng tới tình hình ổn định đất nước, vì vậy vua Tự Đức phải chú ý tới việc xây dựng, chấn chỉnh lại quân đội Tuy nhiên việc làm này lại không có sự tiếp thu những thành tựu của khoa học phương tây như thời Gia Long đã làm cả về binh pháp lẫn vũ khí Việc triều đình mua súng của phương Tây vẫn còn, song việc sử dụng vũ khí cũ như gươm, đao… cũng đang tiếp tục

Vũ khí không được hiện đại mà trang bị cũng không nhiều, dười thời Tự Đức bộ binh chủ yếu dùng giáo mác và súng tiểu thương, song 10 người mới có 1 khẩu súng Số đạn dược cũng rất hạn chế, nên việc tập bắn cũng rất ít (mỗi năm chỉ tập bắn một lần mà mỗi người lính chỉ được bắn 6

Trang 28

phát) Để “ hiện đại hóa ” quân đội, vua Tự Đức cũng ra lệnh phải mua súng của nước ngoài và đúc súng trong nước Tuy nhiên việc mua súng ở nước ngoài và việc chế tạo ra súng trong nước vẫn theo kiểu cũ Theo nhận định

của sĩ quan Pháp: “ vũ khí của người Nam dùng rất nhiều và rất khác nhau,

súng thì có những đại bác đủ các cỡ mà phần nhiều là loại súng trường loe miệng, những bích kích pháo, súng đã mang nhãn hiệu của xưởng Saint và chính là kiểu súng của quân đội Pháp trước năm 1830, tức là trước khi có

sự thay đổi vũ khí Hình như có một người nào đó đã mua tất cả những súng trường, phế thải và đem bán cho người An Nam, hắn ta không ngờ rằng, những súng của ta lại trở ngược chống chúng ta… Họ cũng dùng những thứ đinh ba cắm ở đầu một cán tre và ba cạnh châu đầu vào một điểm, vũ khí này rất lợi hải và nguy hiểm, khốn cho ai đứng trước mũi đinh ba…những đinh ba nhọn hoắt đó được họ dung nhât là để mang kẻ thù đi lúc đã bị họ đâm” 12

Việc tuyển chọn binh lính về cơ bản giống như các triều đại trước, giao

về cho các địa phương tuyển chọn

Việc xây thành lũy dưới Triều Nguyễn xây theo kiểu thành lũy của người Pháp Được người Pháp giúp đỡ Nguyễn Ánh đã xây theo kiểu Van ban đầu tiên vào năm 1790 ( thành Gia Định) Từ vua Gia Long trở về sau, mọi tòa thành lớn nhỏ đều được xây bằng kiến trúc ấy Tuy nhiên những tòa thành ấy nó vẫn mang nét truyền thống cổ kính của người phương Đông

Có thể nói tình hình quân đội dưới Triều Nguyễn trước khi thực dân Pháp xâm lược là lực lượng khá hùng hậu, vững mạnh, trang bị vũ khí tuy không theo kịp trình độ hiện đại của lực lượng quân sự ở các nước tư bản phương Tây, song không phải là quá kém cỏi, cũng có đủ loại binh chủng,

vũ khí có khả năng bảo vệ tổ quốc khi bị xâm lược Song trình độ, lực lượng quân đội cũng chỉ là một mặt, chưa có tính chất quyết định đối với sự

12

Trích theo Vĩnh Hồ: Tổ chức quân đội và vũ khí quân dụng của Việt Nam dưới Triều Nguyễn tạp chí quân

sự, số 7, năm 1989, tr 64

Trang 29

thắng bại Yếu tố quyết định không phải là ở vũ khí mà là tinh thần chiến đấu của quân đội, đặc biệt là việc huy động sức mạnh của toàn dân để chống ngoại xâm

Triều Nguyễn so với các triều đại trước đã thiếu một nhân tố quan trọng

bậc nhất để đánh thắng ngoại xâm đó là “ nhân hòa – lòng người” Dưới

các vua Nguyễn , lòng dân không được quy tụ, sức dân không được khai thác mạnh Ngay cả binh lính cũng không hết lòng trung thành với nhà vua

mà tiến hành một số cuộc nổi dậy

Như vậy quân đội dưới Triều Nguyễn tuy được chú trọng xây dựng, củng cố, rèn luyện ngày càng phát triển mạnh mẽ, song do không tập hợp được nhân dân chống ngoại xâm, vì bản chất của mình nhà nước phong kiến Nguyễn lúc bấy giờ đã giảm sút tinh thần chiến đấu, bạc nhược, cuối cùng đầu hàng làm tay sai cho thực dân Pháp

d Chính sách đối ngoại

Đối với Trung Quốc: Nhà nước trung ương tập quyền Nguyễn

lấy “ thiên triều ” làm mẫu mực để thực hiện quản lý đất nước Vì vậy các vua Nguyễn trước sau luôn giữ thái độ “ thần phục” nhà Thanh Ngay sau

khi kéo quân vào Thăng Long 1802 Nguyễn Ánh đã cho người sang nhà Thanh cầu phong, đến năm 1904 nhà Thanh mới sai xứ sang Thăng Long tuyên phong cho vua Gia Long làm An Nam quốc vương Vua Gia Long sai người sang cống tạ, từ đó cứ 3 năm một lần nhà Nguyễn lại mang lễ phẩm sang nộp cống cho nhà Thanh Những lần thay đổi ngôi triều Nguyễn đều sai sứ sang Trung Quốc xin cầu phong, hoặc vào những dịp nhà Thanh có tang hay mừng thọ …Các vua Nguyễn có chính sách hết sức mền dẻo với Hoa kiều cho họ được lĩnh trưng khai mỏ, khai hoang, định cư làm ăn trong nước nhiều chính sách, thiết chế chính trị, tư tưởng, văn hóa của nhà Thanh đều được các vua Nguyễn vận dụng như là một mẫu mực

Trang 30

Với các nước láng giềng, nhà Nguyễn lại dùng lực lượng quân sự

khống chế, bắt Lào, Chân Lạp, thuần phục

Nửa đầu thế kỷ XIX, Việt Nam có mối quan hệ buôn bán với một số nước trong khu vực Triều Nguyễn chủ động cử quan lại theo tàu buôn đi các nơi như Giang Lưu Ba ( Djakrta), Tân Gia Ba ( Singapo), Hạ Châu, Lữ Tống Năm 1823 Miến Điện sai sứ thần đến Việt Nam xin thông thương Năm 1844, Việt Nam lại cho sứ sang Miến Điện

Với các nước phương Tây

Dưới Triều Nguyễn các hoạt động giao lưu buôn bán với các nước phương Tây được giới hạn trong một chừng mực nhất định Nhưng nhìn

chung các vua Nguyễn đều kiên trì chính sách “ Bế quan tỏa cảng”, đàn áp

các giáo sĩ

Từ thế kỷ XVII, các giáo sĩ và thương nhân đã tới Việt Nam truyền đạo

và buôn bán Quan hệ này yếu đi ở nửa sau thế kỷ XVIII, mặc dù các giáo

sĩ vẫn lén lút hoạt động truyền giáo Trong cuộc chiến chống nhà Tây Sơn Nguyễn Ánh đã nhờ giáo sĩ Bá Đa Lộc đưa hoàng tử cảnh sang Pháp làm con tin để cầu viện trợ quân sự Mặc dù hiệp ước hai bên không được thực hiện vì sự ngăn trở của cách mạng tư sản Pháp, nhưng Bá Đa Lộc vẫn cố thực hiện ý đồ của mình Nguyễn Ánh lên ngôi chịu ơn Bá Đa Lộc buộc phải quan hệ tốt với nước Pháp, nhưng lại nhạt dần với Tây Ban Nha, Anh,

Mỹ, với triết lý “ từ ngàn xưa đã răn dạy rằng đừng có vời với nhữn người

ở nơi xa xôi đến” 13

Vì vậy trong giờ phút hấp hối Gia Long đã trối lại với

Minh Mạng rằng: “ việc khủng bố tín ngưỡng bao giờ cũng tạo cơ hội cho

những cuộc biến động và gây thù oán trong dân gian, lại thường khi làm súp đổ ngôi vua” 14

Hiểu được ý cha nên ngay từ khi nên ngôi Minh Mạng

đã rất dứt khoát trong việc khước từ với Phương Tây kể cả Pháp

Trang 31

Năm 1804 một phái bộ Anh được cử sang Việt Nam xin lập thương

điếm, Vua Gia Long ngần ngại “ Tiên vương kinh dinh việc nước không để

người Hạ lẫn với người Di, đó thực là cái ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ Người Hồng Mao gian giảo, trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ khác hẳn không cho ở lại, ban cho ưu hậu mà khiến về” Sau đó tàu Anh nhiều

lần sang xin thông thương và buôn bán nhưng đều bị chối từ Khi người Pháp gây ra các vụ nổ súng ở Đà Nẵng đầu năm 187 thi ở nước Anh phái tàu chiến đến Đà Nẵng trình quốc thư, lại bị cự tuyệt

Nước Mĩ cũng đến đặt quan hệ với Việt Nam từ rất sớm Năm 1820, Mĩ cho người sang tiếp kiến phó tổng trấn Gia Định, đến năm 1832 đại diện chính phủ Mĩ tới Việt Nam trình quốc thư và xin thông thương, nhưng không được vua Minh Mạng đón tiếp mà chỉ cử người ra tiếp Năm 1836 Robets trở lại Đà Nẵng trình quốc thư một lần nữa nhưng Minh Mạng quyết

khước từ và cử người tới hỏi thăm, ban tặng “Năm 1845 một thủy sư đô

đốc Mĩ cập bến Đà Nẵng lấy cớ can thiệp việc nhà Nguyễn giam giữ giáo sĩ Pháp, bắt các quan chức và thuyền chiến Việt Nam đậu ở cảng làm con tin, sau đó lại thả ra và cho tầu ra khơi” 15

Người Mĩ vẫn tiếp tục kiên trì xin

đặt quan hệ với Việt Nam nhưng dù có cố gắng bao nhiêu đi nữa họ cũng chung số phận với Anh là đều bị Triều Nguyễn khước từ

Đối với Pháp do sự giúp đỡ của người Pháp nên vua Gia Long có nhiều

cố gắng trong việc giữ mối quan hệ hòa hiếu Vì vậy mà tàu buôn của Pháp

có thể ra vào ở một số cửa biển Mặc dù vậy vua vẫn chủ trương trong việc hạn chế buôn bán với ngoại quốc cả với Pháp

Đến thời Minh Mạngkhi lên ngôi ông đã tỏ ra dứt khoát trong việc khước từ với Pháp Đầu năm 1825, đặc sứ Pháp là nam tước Bougainvidle

tới Đà Nẵng với hai tàu, nhưng Minh Mạng đã không tiếp: “ Nước đại

Pháp khiến người đem quốc thư và vật phẩm đến xin thông thương tàu đến cửa biển Đà Nẵng, quan dinh Quảng Nam tâu nên, vua ban rằng: Nước

15 Nguyễn Phan Quang – Sđd, Tr 30

Trang 32

Pháp và Anh cát lợi thù nhau, năm trước Anh thường cầu nạp khoản, ta đã khước từ, nay lẽ nào cho nước Pháp thong hiếu? Nhưng ta nghĩ Đức Hồng khảo ta khi mới khai quốc cĩ khiến ơng Anh Duệ thái tử qua nước Pháp, vẫn cĩ ơn cũ, nếu khước ngay đi e khơng phải ý đãi người xa Bèn khiến Sở thương bạc viết thư trả lởi và thưởng cấp xong cho về, cịn quốc thư và vật phẩm khơng dâng lên” 16

Năm 1831 Pháp lại sang đặt quan hệ nhưng khơng

cĩ kết quả gì

Cho đến những năm cuối của thập niên 30, nhiều hải thuyền của các nước phương Tây đã đến Việt Nam xin đặt quan hệ ngoại giao và thương mại Trên thực tế các thương nhân phương Tây vẫn được buơn bán tại các hải cảng quy định, nhưng mọi việc ký hiệp ước đều bị Triều Nguyễn chối

từ

Vua Thiệu trị và vua Tự Đức nối tiếp nhau trì vì một đất nước đĩng kín

Vả chăng những chuyển biến mới khơng cịn thuận lợi cho khả năng mở cửa đất nước Ý đồ xúc tiến cuộc can thiệp vũ trang của thực dân Pháp đã được xác định, năm 1847 lấy cớ bảo vệ các giáo sĩ Pháp đang bị nhà Nguyễn giam giữ Pháp gửi tối hậu thư và cử hạm đội tới Đà Nẵng Vua Tự Đức càng xoay sở càng lúng túng, khơng cĩ cách nào khác là dấn sâu thêm vào con đường mà vua Gia Long đã lựa chọn và vua Minh Mạng là người triển khai Chính sách đĩng cửa mà nhà Nguyễn thực hiện được duy trì cho tới khi thực dân Pháp xâm lược nước ta

2 Kinh tế

Ơû thế kỷ XIX, dưới thời Nguyễn mặc dầu đã trải qua hơn hai thế kỷ phát triển công thương nghiệp với sự phồn vinh của nhiều đô thị và sự giao lưu với nguồn thương mại quốc tế Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, nông nghiệp là nguồn thu chủ yếu của hơn 90% nông dân và là

16

Nguyễn Phan Quang – Sđd, Tr 33

Trang 33

nguồn thu nhập chính của nhà nước Vì vậy các vua Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đều rất quan tâm đến nông nghiệp

a Nơng nghiệp

Thành tựu đáng kể nhất mà nhà Nguyễn thực hiện được để phát triển kinh tế nơng nghiệp chính là việc mở mang diện tích canh tác bằng cách khai hoang, lập đồn điền ở Nam Bộ và khai khẩn đất sa bồi ở duyên hải Bắc

Bộ Năm 1828 theo đề xuất của Tham tán quân vụ Bắc thành là Nguyễn Cơng Trứ, một hình thức khai khẩn mới ra đời: hình thức doanh điền Đây

là một hình thức kết hợp giữa nhà nước và nhân dân cùng làm, theo đĩ dưới

sự chỉ đạo của một quan chức nhà nước và cĩ sự gĩp vốn ban đầu của nhà nước, nhân dân cùng nhau khai hoang Ruộng đất sau khi khai hoang về sẽ được phân phối cho người cĩ cơng Được sự đồng ý ủa vua Minh Mạng, Doanh điền sứ Nguyễn Cơng Trứ đã tổ chức nhiều cuộc khai hoang lập làng lớn, trong đĩ lớn nhất là việc lập 2 huyện mới: Tiền Hải ( Thái Bình), với

18970 mẫu và 2350 đinh, Kim Sơn ( Ninh Bình) với 14620 mẫu và 1260 đinh Đồng thời ở đây xuất hiện hai hình thức tư điền thế nghiệp và tư điền quân cấp Hình thức doanh điền mở rộng ra các tỉnh phía nam, diện tích tăng nên đáng kể

Đồn điền được thiết lập ở nhiều nơi, nhất là ở Nam Kỳ cà các tỉnh Trung

Kỳ Lực lượng đồn điền bao gồm: binh sĩ, người bị lưu đày, dân ngèo, nhiều đồn điền sau khi khai phá xong được lập thành các làng, xã, ruộng đất

do xã quản và nộp thuế cho nhà nước Đợt xây dựng đồn điền cĩ quy mơ lớn nhất là do Nguyễn Tri Phương – bấy giờ làm kinh lược sứ Nam Kỳ - tổ chức vào các năm 1853 – 1854 Kết quả lập được 21 cơ với 124 ấp phân phối theo 6 tỉnh Tuy nhiên, ruộng khai phá khơng nhiều, ngồi những hình thức khai hoang trên Triều Nguyễn cịn tổ chức khai hoang theo nhiều phương thức khác nhau, tích cực kết hợp giữa khai hoang với việc phục hĩa

Vì vậy mà diện tích ruộng đất ngày càng mở rộng năm 1847 là 4.273.013

Trang 34

mẫu17 Công cuộc khai hoang được tiến hành các triều vua nguyễn tuy nhiên đến thời Thiệu Trị và nhất là Tự Đức thì công việc đồn điền khẩn hoang dần dần giảm sút đi

Nhìn chung công cuộc khai hoang của nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX đã đạt được những thành tựu quan trọng Trong đó về diện tích canh tác, căn cứ vào số liệu địa bạ, năm 1820, số ruộng đất nộp thuế cho nhà nước là 3.070.300 mẫu, năm 1836 4.063.892 mẫu, đến năm 1847 diện tích này đã lên tới 4.276.013 mẫu Như vậy sau 29 năm dưới triều Minh Mạng, diện tích ruộng đất đã tăng lên 210121 mẫu Tuy nhiên ruộng đất bỏ hoang ngày một gia tăng năm 1856 số ruộng đất bỏ hoang là 395.488 mẫu Năm 1870, tại Nam Kỳ và các tỉnh miền Trung, diện tích được khai phá là 522.000 ha trên tổng diện tích là 5.600.000 ha Ngay tại các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Hà, mỗi tỉnh vẫn còn hàng vạn mẫu đất bỏ hoang như tỉnh Nam Định

năm 1864 diện tích đó là 30.300 mẫu18 Nguyên nhân chính của tình trạng này là nạn chiếm đoạt và tập trung ruộng đất của địa chủ diễn ra ngày một nghiêm trọng, cho nên, ở nơi này ruộng đất có được khai khẩn thêm thì ở nơi khác nông dân lại bị cướp mất, nông dân phải đi lưu vong Việc “ khai khẩn như thế, phần lớn đất mới trồng trọt được vẫn thuộc về tay của những

kẻ dẫn người đi khai khẩn, nếu không phải là tất cả, và thuộc về tay của nhà nước, tham quan, cường hào chiếm phần béo bở nhất, còn kẻ đi khẩn hoang thì trở thành người tá điền cày mướn ở đậu Hầu hết các nơi, số ruộng công

bị rút xuống, số ruộng tư tăng lên tuy rằng tổng số diện tích thì không tăng lên mấy Năm 1851 Hiệp biên Đặng Văn Thiêm đã chẳng báo cáo cho Tự Đức rằng ở Bình Định: Trước kia phàm lệ quân cấp, hễ trong 10 mẫu thì 5 công, 5 tư Nay ruộng công, chỗ tốt cường hào chiếm, còn thì hương lý bao, dân nghèo chỉ còn phần nào xương xóc nhất ”19

Trang 35

Về tình hình ruộng đất dưới Triều Nguyễn, ruộng đất trong cả nước thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhà nước phân chia cho nhân dân cày cấy và nhân dân cĩ nghĩa vụ nộp thuế cho nhà vua

Năm 1804 Gia Long ban hành phép quân điền, mọi thần dân từ quan nhất phẩm đến binh lính, các hạng dân đinh, kể cả trẻ mồ cơi đều được chia cơng điền, nhiều ít khác nhau tùy theo danh phận như: quan lại cấp từ 8 phần đến 18 phần, binh lính từ 7 phần đến 8 phần rưỡi cịn các hạng dân từ

6 phần rưỡi trở xuống

Việc phân chia như trên ta thấy với chính sách quân điền mà Triều Nguyễn thực hiện thể hiện rõ ưu đãi đối với quan lại và binh lính Do đĩ chính sách quân điền khơng cĩ tác dụng đáng kể, vì làng nào làm theo tục lệ của làng đĩ, dân nghèo vẫn khơng cĩ ruộng đất, trên thực tế chế độ quân điền mà nhà Nguyễn thực hiện chỉ cịn là biện pháp trĩi buộc người nơng dân vào tổ chức thơn xã để thực hiện nghĩa vụ tơ thuế, lao dịch và binh dịch đối với nhà nước quân chủ Thêm vào đĩ, nạn chiếm ruộng đất của giai cấp địa chủ khơng ngừng phát triển làm cho chế độ quân điền nhanh chĩng bị phá sản, mâu thuẫn giai cấp càng thêm gay gắt Yêu cầu hạn chế nạn kiêm tính ruộng đất trở thành một vấn đề cấp thiết

Cơng cuộc trị thủy và thủy lợi được tiến hành duy trì qua các triều đại nhà Nguyễn Dướøi thời Nguyễn không chỉ tiến hành đào sông thoát lũ ở

vùng đất Nam Bộ mà còn tiến hành ở Bắc Bộ “Từ thời Gia Long đã cho

đào 1 con sông mới, đó là sông Đình Ngọ nối sông Hưng Na (Quỳnh Côi) vào năm 1809” 20 Đến thời vua Minh Mệnh, việc khơi đào sông chủ yếu

ở ven biển Bắc Bộ Năm 1832 đào sông từ Phụ Long đến bến đò Lương Xá dài 528 trượng Con sông này rộng 5 trượng, đáy 3 trượng 8 thước, sâu 6 thước, hai bên đắp đất rộng 3 trượng Năm 1833, triều đình Minh

20 Đại Nam thực lục, bản dịch, H, NXB Sử học 1963 – 1973, tập 4 – 28, tr.5,

Trang 36

Mệnh sai Trương Việt Súy đến Nam Định cùng tổng đốc Đặng Văn Thiêm xem xét và lập đề án khai sông Theo tính toán của hai ông này, những đoạn sông phải khai sâu từ làng Thanh Lương ( Thư Trì) đến làng Đường Xâm (Chân Định) lên tới 5 nghìn trượng, công trình này phải làm trong 3 năm Tiếp đó vua lại nêu ý kiến vét Cửa Liêu, Cửa Lác Nhưng sau một thời gian xem xét, cuối cùng nhà Nguyễn không thực hiện được

do thiếu kinh phí và khó khăn về kỹ thuật Trong khi triều đình còn do dự chưa giám làm thì nhân dân tỉnh Nam Định tình nguyện “người giàu xuất của, người nghèo xuất công” khơi đào các dòng sông nhỏ ở địa phương mình Việc đắp đê ngăn lũ cũng rất được chú trọng và được các vua Nguyễn cho tiến hành xây dựng

Dưới thời Minh Mệnh, việc đắp đê biển ngày càng đẩy mạnh Chỉ

tính riêng con đê nhà nước tổ chức đắp cũng thấy rõ điều đó “ Năm 1828

đắp đê biển ở xã Dục Dương và Đường Xâm (Nam Định), dài 531 trượng

7 thước, kinh phí do nhà nước cấp, quan đê chính trực tiếp phụ trách Năm

1829 -1830 đắp đê Hồng Aân, đê đắp trong 3 tháng Kinh phí hoàn toàn do nhà nước cấp thuê dân công đào đắp Sau khi hoàn thành được giao cho địa phương quản lý và tu bổ theo lệ đê tư” 21 “Năm 1843 đắp đê từ cửa

sông Ngô Đồng đến cửa biển Hà Lạng (huyện giao thủy), dài 1872 trượng” 22

Cơng cuộc trị thủy và thủy lợi được tiếp tục trong những năm sau dưới thời Tự Đức Năm 1852, Tự Đức mở cuộc trưng cầu ý kiến về việc trị thủy

ở Bắc Bộ Tuy nhiên do thiếu hụt về tài chính, nạn tham nhũng phổ biến nên việc tu bổ gặp nhiểu khĩ khăn, nạn đê vỡ diễn ra liên tiếp Từ năm 1802 đến 1858 cả nước phải chịu 38 lần mưa bão, lụt lội lớn, trong đĩ cĩ 16 lần

21 Đại Nam thực lục, bản dịch, H, NXB Sử học 1963 – 1973, tập 9, tr.14 ,

22 Đại Nam nhất thống chí Bản dịch, H, KHXH, 1971 tập 3, tr 283-284

Trang 37

đê vỡ Tình hình mất mùa đói kém diễn ra liên miên, cuộc sống người dân khổ cực, nạn phiêu tán diễn ra, cả vùng đồng bằng phì nhiêu trở thành bãi sậy

Vấn đề nhân giống được phát huy, người nông dân đã có 65 giống lúa tẻ

và 27 giống lúa nếp, nhiều giống lúa cho gạo thơm, trắng dẻo ngon được đưa vào trồng trọt

Ngoài trồng lúa người nông dân còn tròng các loại cây trồng khác: sắn, ngô, khoai, đậu, sắn…hàng loạt các loại rau, củ, quả, bầu, bí…được trồng, trong đó có một số giống nhập khẩu như: nho, cà phê, hồ tiêu…

Nhìn chung, kinh tế nông nghiệp dưới Triều Nguyễn khá đa dạng, phong phú nhưng vẫn không vượt ra khỏi phương thức sản xuất cổ truyền Trong lúc đó thiên tai, dịch bệnh xảy ra liên miên đã ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân

b Thủ công nghiệp

Thủ công nghiệp nhà nước

Do nhu cầu tiêu dùng của hoàng gia nên trong thời gian này thủ công nghiệp nhà nước khá phát triển Nhà Nguyễn cho lập nhiều tượng cục, quan trọng nhất là các xưởng đức tiền, đúc súng, đóng tàu, tập trung ở kinh đô Huế, ở Hà Nội và một số tỉnh khác Tại các tượng cục, thợ giỏi từ các địa phương được trưng tập, sản xuất dưới sự kiểm soát của quan lại

Năm 1803 vua Gia Long lập xưởng đúc tiền ở Hà Nội, gọi là Bắc Thành tiền cục, đúc tiền bằng đồng Năm 1842 nhà Nguyễn đúc them tiền kẽm, và đến năm 1846 tiền kẽm thông dụng trong cả nước

Các xưởng đóng tàu và đúc vũ khí chịu dưới sự quản lý của Vũ khố đến năm 1829 thì chuyển toàn bộ sang bộ Công cai quản, trình độ đóng tàu ở Việt Nam khá cao, biết vận dụng kỹ thuật của châu Âu khá hiệu quả Thời Gia Long đã đóng được thuyền có trọng tải 400 tấn với 4000 thợ Theo lời

Trang 38

nhận xét của một võ quan Mỹ: “ Người Việt Nam quả là những nhà đóng

tàu thành thạo, họ hoàn thành công trình với kỹ thuật hết sức chính xác” 23

Hoạt động khai thác mỏ khá phát triển, cả nước có tói 140 mỏ được khai thác trong đó có ( 39 mỏ vàng, 32 mỏ sắt, 15 mỏ bạc, 9 mỏ đồng, 22 mỏ diêm tiêu, 10 mỏ kẽm, 4 mỏ chì, 4 mỏ gang…) Nhân công làm trong các

mỏ là những người làm thuê tương đối tự do và được trả tiền công khá cao Năm 1939, vua Minh Mạng xuống chiếu cho phép bất cứ ai có vốn và được chính quyền địa phương bảo lãnh đều có thể lĩnh trưng các mỏ vàng mỏ bạc

ở Bắc Hà

Có thể nói việc khai thác mỏ dưới Triều Nguyễn có những bước phát triển mới cả về quy mô và số lượng Tuy nhiên nhịp độ phát triển khá chậm chạp, cách khai thác còn mang nặng tính thủ công, việc khai mỏ diễn ra bất thường, có lúc sa sút Về sau do phải nộp thuế khá nặng nên một số chủ mỏ phải ngưng khai thác

Thủ công nghiệp truyền thống

Sang thế kỷ XIX thủ công nghiệp nhân gian ngày càng phát triển, số thợ thủ công và bán chuyên nghiệp trong nhân gia ngày càng tăng Các nghành nghề truyền thống ngày càng phát triển, bên cạnh những làng nghề cũ còn xuất hiện một số làng nghề mới Trong số các nghề thủ công lúc bấy giờ thì nghề dệt, nghề gốm, nghề làm đường là phát triển hơn cả Nhìn chung hoạt động thủ công nghiệp trong dân gian còn rất phân tán, chịu nhiều ràng buộc

về quy cách tổ chức sản xuất và thể lệ đóng thuế, cho nên các làng, phường thủ công chưa phát huy hết tiềm năng vốn có của nó để góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế hang hóa đương thời Hoạt động thủ công nghiệp còn mang nặng tính chất của nền kinh tế tự nhiên theo kiểu phương Đông còn mang nặng tính tự cung tự cấp, hạn chế tính năng động của nền kinh tế thị trường Những tục lệ của phường, quan hệ gắn bó giữa thợ cả và thợ

23

Nguyễn Phan Quang – Sđd, Tr.73

Trang 39

bạn, giữ bí mật chuyên môn, kiểu mẫu không thay đổi… đã làm cản trở sự phát huy sang tạo, cải tiến kỹ thuật của người thợ thủ công

c Hoạt động thương nghiệp

Khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện đòi hỏi phải có thị trường tiêu thụ Thị trường là đòn bẩy để phát triển hàng hóa và kích thích hoạt động của giới thương nhân, là thứơc đo mọi giá trị nền kinh tế hàng hóa Vào thế kỷ XIX, thị trường trong nước nhỏ bé, phân tán khắp nông thôn, một số đô thị được qui hoạch Tuy nhiên các trung tâm buôn bán này không đủ khả năng vươn lên đáp ứng nhu cấu thiết yếu cơ bản của nhân dân mà chủ yếu là đáp ứng yêu cầu cơ bản tiêu dùng với những hàng hóa giản đơn mang tính chất

tự cung tự cấp của từng khu vực tạo ra các loại chợ

Một số làng lớn hoặc nhiều làng lập nên một chợ để trao đổi hàng hóa địa điểm nhóm chợ được gọi là xóm chợ, chợ thường đóng ở gần bền đò, vị trí có sân bãi rộng tiện đường đi lại Chợ thường chỉ có một vài lều quán tre nứa thô sơ, bán một số tạp hóa, thực phẩm, cần thiết cho nông dân và người dân đem sản phẩm cửa mình ra chợ để trao đổi

Ngoài chợ làng còn có chợ hôm , chợ mai chợ chiều , chợ phiên do điều kiện đi lại vận chuyển khó khăn, hàng hóa khan khiếm nên 1 số nơi xuất hiện chợ này Ở các chợ phiên không xuật hiện các hiệu buôn như phố xá,

đô thị mà chỉ những lều quán tạm bợ, cho các thương khách buôn bán tấp lập trong ngày Họ mua hàng hoá ở đây rồi đem tới các chợ làng chợ phiên khác để bán Chợ phiên là loại thị trường hẹn hò có định kỳ của thương nhân đối với nông dân Đó là địa điểm liên kết thông thương cuả một vùng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng cho nhân dân, phản ánh sự vươn lên của thị trường nội điạ Sự thoả mãn nhu cầu giản đơn của người nông dân Việt Nam trong điều kiện thô sơ đã làm toàn bộ hệ thống chợ làng, chợ

Trang 40

phiên luẩn quẩn, quanh co, phân tán vào các vùng nông thôn rơi vào số phận phụ thuộc của nền kinh tế tiểu nông

Bên cạnh các hệ thống chợ nông thôn, thị trường trong nước còn có ở các phố phường đô thị Phố phường chỉ là tiêu chí cao nhất đánh giá sự phát triển của nền kinh tế Hàng hóa phát triển thương nghiệp trình độ văn minh của dân tộc Phố có các của hàng cửa hiệu buôn bán có khả năng độc lập về kinh tế phát triển cao về hàng hóa Dưới các triều đại phong kiến có các phố: phố Hiến, phố Hội, phố Thanh Hà…

Vào nửa đầu thế kỷ XIX do nhu cầu hàng hóa giản đơn mở rộng thị trường bị hạn chế nên khu sản xuất và lưu thông hàng hoá yếu dần Tình trạng ngăn sông cấm chợ , độc quyền và kiểm soát gắt gao của nhà nước làm cho thị trường trong nước mất cơ sở để phát triển Các luồng buôn bán cũng chỉ để phục vụ nông dân là chính, một thị trường nội địa lấy quan lại

và nông dân làm trung tâm cho các nguồn hàng tiêu thụ thì đô thị doanh nhân khó mà phát triển được và mậu dịch trong nước khó lòng mở rộng tham gia vào thị trường quốc tế Thân phận của người thương nhân trong nươc cuối cùng rơi vào một phiên chợ theo chu kỳ khép kín, luẩn quẩn , tiêu điều, hoang vắng nhưng sau một phiên chợ tấp lập ồn ào, náo nhiệt Chính sách trọng nông ức thương của triều Nguyễn đã làm ngưng trệ sản xuất và lưu thông hàng hóa Nhưng do yêu cầu của thị trường và nhu cầu trong nhân dân, một số sản phẩm trở thành thương phẩm giao lưu mạnh

mẽ trong thế kỷ XIX như gỗ quý, lúa gạo, các đặc sản như trầm hương , sừng tê , ngà voi, quế hồ tiêu, chiếu các loại cây , củ dược phẩm ,các loại hải sản…

Trong đó mặt hàng buôn bán thịnh hành nhất là lúa gạo Dù bị nghiêm cấm, nhưng lúa gạo vẫn là mặt hàng chính ở đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ bán cho cả nước , gian thương trở trộm ra bán ở nước ngoài Hà Nội có cả một chợ gạo ở nông Hương Nghĩa, tổng Tá Túc, huyện Thọ

Ngày đăng: 10/04/2013, 17:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Quốc sử quán triều Nguyễn - Khâm định việt sử thông giám cương mục. Tập 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định việt sử thông giám cương mục. Tập 1
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
10. Kỷ yếu hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII- XIX. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ĐHSPTp. Hồ Chí Minh. 5-2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ XVII- XIX
Nhà XB: Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ĐHSPTp. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
27. Trần Thị Thanh Thanh – Tài liệu tham khảo một số vấn đề Triều Nguyễn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo một số vấn đề Triều Nguyễn
Tác giả: Trần Thị Thanh Thanh
29. Trương Bá Cần - Phan Thanh Giản với việc mất 3 tỉnh Miền Tây kỷ niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Bá Cần - Phan Thanh Giản với việc mất 3 tỉnh Miền Tây kỷ niệm 100 năm ngày Pháp chiếm Nam Kỳ
Tác giả: Trương Bá Cần, Phan Thanh Giản
1. Quốc sử quán triều Nguyễn - Châu bản triều Tự Đức. NXB Khoa học xã hội năm 1987 Khác
2. Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam Thực Lục. NXB Khoa học xã hội năm 1970. Tập 32-37 Khác
3. Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại nam thực lục (chính biên). NXB Khoa học xã hội năm 1971 Tập 31 Khác
4. Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại nam chính biên liệt truyện. NXB Thuận Hóa – 2002. Tập 4, tr 37-42 Khác
6. Quốc sử quán triều Nguyễn - Khâm định việt sử thông giám tiền biên. Tập 1.Tài liệu sách, báo, tạp chí Khác
7. Cuộc tấn công quân sự đầu tiên của Pháp vào Việt Nam. HenryMacleavuy – Ngô Bắc dịch Khác
8. Đinh Xuân Lâm ( chủ biên) - Đại cương lịch sử Việt Nam. NXB Giáo Dục. Tập 2 Khác
9. Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ vào thế kỷ XVII, XVIII, XIX- NXB Khoa học xã hội- 2003 Khác
11. Nhiều tác giả - Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới. - NXB ĐHSP Thành Phố Hồ Chí Minh – 2005.tr 386- 458 Khác
12. Nguyễn Phan Quang – Việt Nam thế kỷ XIX ( 1802 - 1884). NXB Tp. Hồ Chí Minh năm 2002 Khác
14. Những vấn đề về triều đại cuối cùng ở Việt Nam. Tạp chí xƣa và nay xuất bản năm 2002 Khác
15. Nguyễn Thế Long - Bang giao Đại Việt triều Nguyễn. NXB Thuận Hóa – 2003. (tr 109- 139) Khác
16. Nguyễn Thế Anh – kinh tế xã hội Việt Nam dưới các triều Nguyễn. NXB Lửa Thiêng – Sài Gòn 1971 Khác
17. Nguyễn Thế Long - Chuyện đi xứ tiếp xứ thời xƣa.– NXB Văn Hóa Thông Tin - 2001 Khác
18. Nguyễn Duy Oanh – Chân dung Phan Thanh Giản. Tủ sách bộ Giáo dục và thanh niên, năm 1973 Khác
18. Nguyễn Duy Anh – Phan Thanh Giản cuộc đời và tác phẩm. Hội khoa học lịch sử Việt Nam – Đại học Hồng Bàng. Năm 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thăng hình bộ thƣợng thƣ kiêm Cơ Mật viện đại thần.  - Nghiên cứu về Phan Thanh Giản
h ăng hình bộ thƣợng thƣ kiêm Cơ Mật viện đại thần. (Trang 106)
Phụ lục 2: Một vài hình ảnh về Phan Thanh Giản - Nghiên cứu về Phan Thanh Giản
h ụ lục 2: Một vài hình ảnh về Phan Thanh Giản (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w