LỜI CẢM ƠNQua 4 năm được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Côngnghiệp Hà Nội, được sự tận tình chỉ bảo của các thầy cô trong nhà trường,đặc biệt là các thầy cô trong khoa Du lịch đ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Qua 4 năm được học tập và rèn luyện tại trường Đại học Côngnghiệp Hà Nội, được sự tận tình chỉ bảo của các thầy cô trong nhà trường,đặc biệt là các thầy cô trong khoa Du lịch đã giúp e trưởng thành rất nhiều.Sau một thời gian nghiên cứu và hoàn thiện Khóa luận tốt nghiệm với
đề tài “ lễ hội thả điều truyền thống tại làng Bá Giang xã Hồng Hà HuyệnĐan Phượng Thành Phố hà Nội trong phát triển du lịch ” ngoài sự cố gắngcủa bản than nhóm sinh viên, chúng em còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
từ phía nhà trường, thầy cô, địa phương nghiên cứu Chúng em xin gửi lờicảm ơn tới các thầy cô giáo trường Đại học Công nghiệp Hà Nội nói chung
và các thầy cô khoa Du lịch nói riêng đã giúp đỡ chúng em trong quá trìnhnghiên cứu Chúng em cũng xin được cảm ơn chính quyền địa phươngLàng Bá Giang xã Hồng Hà Huyện Đan Phượng đã tạo điều kiện chochúng em được tìm hiểu, nghiên cứu về lễ hội thả diều truyền thống Đặcbiệt chúng em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Đào Thanh Thái đãtận tình giúp đỡ, chỉ bảo chúng em trong suốt thời gian làm khóa luận đểchúng em có thể hoàn thành tốt nhất
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành khóa luận với tất cả sự cố gắng, nhưng
có sự hạn chế về kiến thức nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót
Em kính mong quí thầy cô chỉ bảo và giúp để bài khóa luận của chúng emđược hoàn thiện hơn Cuối cùng em xin gửi tới thầy cô lời kính chúc sứckhỏe, chúc thầy cô luôn mạnh khỏe, vui vẻ để tiếp tục cống hiến và giúp đỡcho các thế hệ sinh viên tiếp theo
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Nhóm sinh viên
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lễ hội thả diều truyền thống ở làng Bá Giang, xã Hồng Hà là một lễ hộiđặc sắc và độc đáo trong hệ thống lễ hội cổ truyền của Hà Nội nói riêng vàcủa đồng bằng Bắc Bộ nói chung mang tiềm năng lớn trong việc phát triển dulịch Cho tới nay việc sưu tầm và nghiên cứu về lễ hội thả diều làng Bá Giang,
và xã Hồng Hà trong phát triển du lịch vẫn còn hạn chế vì vậy, chúng em đãchọn lẽ hội thả diều làng Bá Giang trong phát triển du lịch để làm đề tàinghiên cứu nhằm góp phần làm sáng tỏ những giá trị văn hóa, tính độc đáocủa nó trong kho tàng lễ hội Việt Nam để chúng ta có thể hiểu rõ hơn tâmthức của người xưa cũng như có thể tận dụng được tiềm năng của lễ hội trongviệc phát triển du lịch Tạo điều kiện cho nơi dây trở thành một địa chỉ du lịchvăn hóa háp dẫn du khách ghé thăm
Với những lí do đó chúng em lựa chọn “lễ hội thả diều truyền thống làng
Bá Giang xã Hồng Hà Huyện Đan Phượng thành phố Hà Nội trong phát triển
du lịch” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu cụ thể đặt ra cần giải quyết trong đề tài.
Nghiên cứu và làm rõ những giá trị văn hóa truyền thống của lễ hội thảdiều tại làng Bá Giang trong cuộc sống đương đại và tiềm năng để phát triển
du lịch tại đây, từ đó đề xuất các biện pháp tang cường quản lý lễ hội phát huygiá trị văn hóa phi vật thể của lễ hội thả diều truyền thống Bá Giang cùng với
đó là thu hút du khách ghé thăm giúp cho du lịch ngày càng phát triển
Ngoài ra còn có thể cung cấp những thông tin tổng quát về lễ hội thảdiều, khẳng định giá trị của lễ hội thả diều, hệ thống hóa các tài liệu về lễ hội,vai trò của lễ hội đối với tinh thần của nhân dân và đặc biệt là trong việc pháitriển du lịch, đề xuất những biện pháp nhằm phát triển du lịch thông qua lễhội thả diều trong thời gian tới, làm tư liệu tham khảo cho công tác quản lý lễhội ở địa phương
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang trong phát triển du lịch
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Không gian: làng Bá Giang xã Hồng Hà Huyện Đan Phượng Thành phố
Hà Nội
Thời gian: trong khi diễn ra lễ hội
4 Phương pháp thực hiện đề tài
Phương pháp lý luận
Phân tích tổng hợp tài liệu, tra cứu hồ sơ, văm bản của nhà nước, củaThành Phố Hà Nội, của địa phương, của ngành văn hóa nhằm nghiên cứu cơ
sở lý luận của đề tài
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
các phương pháp nghiên cứu khoa học văn hóa, văn hóa dân gian,phương pháp diễn tả, phương pháp nghiên cứu lịch sử
phương pháp nghiên cứu dân tộc học, xã hội học , điều tra phỏng vấn.phương pháp điền dã nghiên cứu thực tiễn tại chỗ
5 Kết cấu khóa luận tốt nghiệp.
Chương 1 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 2 Thực trạng về lễ hội thả diều trong vấn đề phát triển du lịch.Chương 3 Giải pháp phát triển du lịch tại lễ hội thả diều Bá Giang
CHƯƠNG 1.
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU1.1 Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Những công trình nghiên cứu ngoài nước
Hiện nay trên thế giới vẫn còn khá ít các công trình nghiên cứu có tínhchuyên sâu về hoạt động của lễ hội thả diều trong du lịch Hầu hết chỉ lànhững bài viết mang tính chất giới thiệu và quảng bá về các lễ hội thả diều cóquy mô lớn Có thể nhắc đến một số bài viết nổi bật nhất và nhận được nhiều
sự quan tâm của độc giả như:
Lễ hội thả diều Jaipur tại Ấn Độ giới thiệu cho bạn đọc về những sắcmàu đặc biệt của lễ hội thả diều tại Ấn Độ và những điều thu hút du kháchđến với lễ hội đầy sắc màu này
Lễ hội thả diều Gujarat tại Uttarayan mang những nét đẹp vô cùng riêngbiệt và cuốn hút đối với khách du lịch
Lễ hội diều quốc tế Bali tại Indonesia Lễ hội được tổ chức đã đem lại sựthu hút từ rất nhiều nghệ nhân tham gia từ khắp nơi trên thế giới trong đó có
cả Việt Nam, mỗi cánh diều tham dự mang một màu sắc đặc trưng riêng biệtcho từng đất nước
Lễ hội diều với chủ đề “Vẽ lên bầu trời” được tổ chức tại khu NationalMall (Tượng đài Washington), thủ đô Washington, Mỹ
Những công trình nghiên cứu trong nước
Lễ hội thả diều nói chung và lễ hội thả diều truyền thống Bá Giang nóiriêng là những sinh hoạt văn hoạt văn hóa vô cùng đặc sắc không chỉ chứađựng những văn hóa tinh thần đặc biệt mà còn mang trong mình những tiềmnăng về phát triển du lịch Để có được những đánh giá và giải pháp nhằm bảotồn và phát huy những giá trị ấy thì đã có rất nhiều những công trình nghiêncứu khoa học về lễ hội thả diều và lễ hội thả điều truyền thống Bá Giang như
Trang 5“ Giữ gìn nét đẹp lễ hội truyền thống thả diều làng Bá Giang” của nhómsinh viên trường đại học quốc gia hà nội đã đi vào nghiên cứu về tiềm năng vàthực trạng của lễ hội thả diều làng Bá Giang và những giải pháp nhằm giữ gìnnét đẹp trong lễ hội truyền thống thả diều tại làng Bá Giang.
Ngoài ra còn có các bài viết về các lễ hội thả diều truyền thống đượcđăng trên các tạp chí như:
Bài viết ‘’Lễ hội thả diều truyền thống Huế’’ được đăng tải trên
thuathienhue.gov.vn giới thiệu về lễ hội truyền thống thả diều ở Huế
Bài viết ‘’Lễ hội thả diều truyền thống làng Vũ Đại’’ của tác giả Hữu
My giới thiệu về nét đẹp của lễ hội thả diều làng Vũ Đại với những nét đặcsắc và độc đáo của lễ hội thả diều mang những nét đẹp của làng quê Bắc BộViệt Nam trải qua bao thời gian thằng trầm vẫn giữu được những giá trị caođẹp từ bao đười truyền lại
Bài viết ‘’ những lễ hội chính thả diều sáo ở Việt Nam’’ của tác giả Hữu
Quang đăng tải trên Thegioidisan.com cũng đã đi vào giới thiệu những địaphương có lễ hội thả diều sáo và những đặc điểm, những nét đẹp riêng biệtcủa lễ hội thả diều diễn ra ở từng địa phương
Qua đó ta thấy được lễ hội thả diều là một lễ hội vô cùng đặc sắc và cósức thu hút đối với khách du lịch nội địa và quốc tế Và lễ hội thả diều tại làng
Bá Giang cũng là một lễ hội mang tiềm năng lớn trong phát triển du lịch , tuynhiên tới hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnhvực phát triển du lịch Chính vì thế chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài “
Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang xã Hồng Hà huyện Đan Phượngthành phố Hà nội trong du lịch”
1.2 Các khái niệm liên quan tới đề tài
1.2.1 Khái niệm Lễ hội và Lễ hội truyền thống
Khái niệm về lễ hội
Trang 6Lễ hội là một thuật ngữ dân gian được sử dụng rộng rãi trong xã hội khigiải thích thuật ngữ di sản văn hóa phi vật thể Luật di sản văn hóa đã xácđịnh lễ hội là di sản văn hóa phi vật thể.(UNESCO,2005)
Với nguồn gốc văn hóa xuất phát từ hoạt động nông nghiệp lúa nước , cưdân Việt và các dân tộc ít người ở Việt Nam sống chủ yếu bằng nghề trồnglúa nước Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tạo ra trong họ những nhucầu tâm linh Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp để người dân vừa cảm ơnthần linh đã phù hộ cho một mùa màng đã qua vừa cầu cho thần linh sẽ phù
hộ cho một vụ mùa sắp tới , theo thời gian được chuyển biến và kết hợp vớivăn hóa cộng đồng địa phương và trở thành lễ hội
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng Ở nước ta, lễ hội gắn
bó với làng xã như một thành tố, một nhu cầu tất yếu không thể thiếu vắngtrong đời sống xã hội.đó cũng là nơi con người ký thác mọi niềm vui , nỗibuồn, là chỗ dựa tinh thần của cá nhân, dòng họ , cộng đồng trong một xã hộinông nghiệp đầy rủi ro (cơ sở văn hóa Việt Nam)
Lễ hội là dịp cho con người tìm về với bản thể của mình Trong kho báu
di sản của quá khứ để lại, các lễ hội dân tộc là một trong những thứ quý giánhất đang ngày được nhân rộng và phát triển cả về hình thức lẫn nội dung
Khái niệm Lễ
"Lễ" là các nghi thức được thực thi trong lễ hội, thường là có sự giốngnhua trong các lễ hội, theo điển lệ của các triều đình phong kiến chẳng hạnnghi thức quy định khi nào dâng rượu khi nào dâng trà dâng oản quả, dângthức ăn mặn Tuy nhiên phần lễ đôi khi vẫn có sự khác nhau giữa các vùng.Chẳng hạn trong lễ hội ở đình làng nam bộ của người việt, sau lưng học tròkhi làm lễ dâng trà, dâng rượu vv lại có phụ nữ mà dân gian gọi là đào thàivừa đi vừa hát những câu chúc mừng
Khái niệm Hội
Trang 7“ Hội” là phần khác nhau giữa các lễ hội thành tố đáng lưu ý trong phầnhội là trò diễn Trò diễn là hoạt động mang tính nghi lễ, diễn lại toàn bộ haymột phần hoạt động của cuộc đời nhân vật phụng thờ Chẳng hạn trò diễnThánh Gióng đánh giặc Ân trong ngày hội gióng, hoặc trò nghiềm quân trong
lễ hội làng Yên sở trình tự của một trò diễn bao giờ cũng đi từ nơi thờ vọngđến nới gắn bó với một sự kiên nào đó trong cuộc đời vị thánh Theo cuốn cơ
sở văn hóa Việt nam của giáo sư Trần Quốc Vượng
Lễ hội truyền thống: Lễ hội truyền thống là hiện tượng lịch sử, hiệntượng văn hóa có mặt ở Việt Nam từ lâu đời và có vai trò không nhỏ trong đờisống xã hội Những năm gần đây, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá, hội nhập quốc tế của nước ta, văn hóa truyền thống nói chung, trong đó
có lễ hội truyền thống đã được phục hồi và phát huy, làm phong phú hơn đờisống văn hóa của Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tốt đẹptrong phục hồi và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại,thì cũng không ít các vấn đề nảy sinh khiến xã hội cần phải nhìn nhận lại vàtìm cách khắc phục để những mặt tinh hoa của lễ hội cổ truyền được đẩymạnh và phát huy, khắc phục dần các hạn chế, tiêu cực Và bao giờ cũng thế,mọi hành động của con người đều bắt đầu từ nhận thức, chỉ khi chúng ta cónhận thức đúng về lễ hội cổ truyền thì việc phục hồi và phát huy nó trong đờisống xã hội đương đại mới mang lại hiệu quả mong muốn theo bộ văn hóathể thao và du lịch mạng thông tin văn hóa
1.2.2 Khái niệm du lịch và phát triển du lịch
Trang 8Định nghĩa du lịch theo quan điểm của Ipirogionic: “Du lịch là một
dạng hoạt động của cư dân trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi lưu trú thương xuyên nhằm mục địch nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế văn hóa.”
Trong cuốn “ Du lịch và kinh doanh du lịch” của phó tiến sĩ Trần Nhạn
có nêu ra định nghĩa: “ Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi
quê hương đến một nơi khác để thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đắc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương mà không nhằm mục đích sinh lời.”
Năm 1963 với mục đích q uốc tế tại hội nghị liên hiệp quốc về du lịch
Roma các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa: “ Du lịch là tổng hòa các mỗi
quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt buộc từ các cuộc hành trình
và lưu trú ngoài ra là nơi lưu trú của các nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyaan của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”
Định nghĩa Du lịch trong Luật Du lịch 2017: “Du lịch là các hoạt động
có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”
Ngày nay các loại hình du lịch càng ngày càng được chuyên môn hóa đểđáp ứng một cách tốt nhất cũng như đầy đủ nhất cho nhu cầu du lịch cảu dukhách
Khái niệm phát triển du lịch
Phát triển du lịch là hoạt động đáp ứng nhu cầu du lịch của du khách đểtạo nên lợi ích kinh tế, thúc đẩy các hoạt động du lịch và khai thác các loại tàinguyên du lịch đã hoặc chưa được phát hiện để phục vụ du lịch, trong thời
Trang 9điểm hiện nay trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang trú trọngtới việc phát triển du lịch theo hướng bền vững.
Du lịch bền vững là phương thức du lịch cân nhắc đầy đủ những tác
động hiện tại và tương lai về kinh tế, xã hội và môi trường, trong khi đáp ứngđược nhu cầu của khách du lịch, ngành công nghiệp du lịch, môi trường vàcộng đồng địa phương (UNWTO, 2005)
Du lịch bền vững có thể được hiểu là “Du lịch quan tâm đầy đủ tới tácđộng hiện tại và tương lai đối với kinh tế, xã hội và môi trường, lưu ý tới nhucầu của khách du lịch, ngành Du lịch, môi trường và các cộng đồng địaphương”
Thực hiện phát triển du lịch bền vững có nghĩa là đạt được cân bằng trong số
4 trụ cột dưới đây
Trụ cột Kinh tế được xác định là tạo ra phồn vinh ở các cấp độ khácnhau của xã hội và lưu ý đến hiệu quả chi phí cho tất cả các hoạt động kinh tế.Trụ cột Văn hóa - Xã hội dựa trên sự tôn trọng nhân quyền và cơ hộibình đẳng cho tất cả các thành viên trong xã hội cần được phân chia bìnhđẳng về lợi ích
Trụ cột Môi trường liên quan tới bảo tồn và quản lý tài nguyên, bao gồmtài nguyên thiên nhiên và văn hóa, quản lý đa dạng sinh học và rác thải
Trụ cột Bao trùm hỗ trợ các trụ cột Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và Môitrường thông qua chính phủ, cơ sở hạ tầng…
Dưới đây phân tích một số kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững tạimột số quốc gia trên thế giới để có thể thấy cách thức phát triển là khác nhautrong từng trường hợp nhưng đều tuân thủ những nguyên tắc phát triển chung
Trang 101.3 Phương pháp nghiên cứu và Địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1.1 Phương pháp quan sát
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, chúng em gồm 3 người có dùng kỹthuật quan sát trực tiếp để quan sát các người thợ thủ cônglàm ra 1 con chuồnchuồn tre, quan sát các chọn nguyên vật liệu để tạo ra 1 con chuồn chuồn tre,quan sát môi trường xung quanh ở làng Bá Giang nơi diễn ra hoạt động của lễhội thả diều truyền thống
Trong quá trình phỏng vấn nhóm có sử dụng các phương pháp:
Phỏng vấn sâu: nhóm chúng em đi phỏng vấn 20 người dân địa phươngtại làng , 20 khách du lịch đến với làng Tất cả những người được phỏng vấn
có cả nam cả nữ, và độ tuổi từ 10 tuổi trở lên.Những người được phỏng vấnnày giúp chúng em làm rõ hơn về lễ hội thả diều cũng như những tác độngcủa lễ hội tới đời sống của người dân
Phỏng vấn nhóm: là việc thảo luận trong nhóm xã hội hiện tại như nhóm
xã hội, gia đình,… Phỏng vấn đạt hiệu quả khi người nghiên cứu cần thu thậpcác thông tin về đời sống, công việc và sự vui chơi giải trí, cũng như các
Trang 11thông tin phổ biến về sử dụng, đánh giá và các phương tiện có liên quan tớicác kết quả hay sản phẩm.
Với việc phỏng vấn nhóm, nhóm chúng em gồm 3 người cùng với mộtvài nghệ nhân làm diều và một số người cao tuổi để tìm hiểu về lễ hội thảdiều và cách tạo nên 1 con diều
1.3.1.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Khảo sát và xử lý số liệu ngoài thực địa là một trong những phương pháptruyền thống, đặc trưng quan trọng của Địa lý học Sử dụng phương pháp nàygiúp ta tránh được những kết luận, quyết định chủ quan, vội vàng, thiếu cở sởthực tiễn phương pháp nghiên cứu, điều tra thực địa được sử dụng để thuthập, bổ sung tư liệu về hiện trạng tài nguyên du lịch và nó có vai trò đặc biệtquan trọng trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội có liên quan tới hoạtđộng phát triển tại nơi khảo sát
Đối với luận văn phương pháp thực nghiện nhằm bổ sung thêm nguồn tưliệu và phương pháp này như sau:
Tiến hành khảo sát, điều tra thực địa tại làng Bá Giang
1.3.1.4 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu bằng cách tham khảo tài liệu
Phương pháp này là dựa trên nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp thu thậpđược từ những tài liệu nghiên cứu trước đây để xây dựng cơ sở luận cứ
Tài liệu sơ cấp: Tài liệu sơ cấp là tài liệu mà người nghiên cứu tự thuthập, phỏng vấn trực tiếp, hoặc nguồn tài liệu cơ bản, còn ít hoặc chưa đượcchú giải Một số vấn đề nghiên cứu có rất ít tài liệu, vì vậy cần phải điều tra
để tìm và khám phá ra các nguồn tài liệu chưa được biết Người nghiên cứucần phải tổ chức, thiết lập phương pháp để ghi chép, thu thập số liệu
Tài liệu thứ cấp: Loại tài liệu nầy có nguồn gốc từ tài liệu sơ cấp đã đượcphân tích, giải thích và thảo luận, diễn giải Các nguồn tài liệu thứ cấp như:
Trang 12Sách giáo khoa, báo chí, bài báo, tập san chuyên đề, tạp chí, biên bản hộinghị, báo cáo khoa học, internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, thông tinthống kê, hình ảnh, video, băng cassette, tài liệu-văn thư, bản thảo viết tay, …Nguồn thu thập tài liệu: Thông tin thu thập để làm nghiên cứu được tìmthấy từ các nguồn tài liệu sau:
Luận cứ khoa học, định lý, qui luật, định luật, khái niệm,… có thể thuthập được từ sách giáo khoa, tài liệu chuyên nghành, sách chuyên khảo, Các số liệu, tài liệu đã công bố được tham khảo từ các bài báo trong tạpchí khoa học, tập san, báo cáo chuyên đề khoa học,…
Số liệu thống kê được thu thập từ các Niên Giám Thống Kê: Chi cụcthống kê, Tổng cục thống kê, …
Tài liệu lưu trữ, văn kiện, hồ sơ, văn bản về luật, chính sách, … thu thập
từ các cơ quan quản lý Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội
Thông tin trên truyền hình, truyền thanh, báo chí,… mang tính đại chúngcũng được thu thập, và được xử lý để làm luận cứ khoa học chứng minh chovấn đề khoa học
Để phục vụ cho việc hoàn thành luận văn này, chúng em đã thu thập cáctài liệu sau:
Các tài liệu nghiên cứu chung về làng nghề, làng nghề truyền thống đểphục vụ cho việc xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài; tài liệu và chủchương, chính sách liên quan đến nội dung nghiên cứu; và các văn bản liênquan khác
1.3.2 Địa bàn nghiên cứu
Địa điểm: Làng Bá Giang xã Hồng Hà Huyện Đan Phượng thành phố HàNội nơi diễn ra lễ hội thả diều truyền thống trong khoảng thời gian 3 ngày13,14,15/4 âm lịch hàng năm
Trang 13Chương 2 THỰC TRẠNG LỄ HỘI THẢ DIỀU TRONG DU
LỊCH 2.1 Giới thiệu khái quát về làng
2.1.1 Vị trí địa lý
Làng Bá Giang nằm ven sông Hồng quanh năm nước chảy, phù sabồi đắp thường xuyên, làm cho đất đai ở nơi đây luôn mầu mỡ, cây cốixanh tươi Từ xưa nhân dân chủ yếu làm ruộng, hàng năm thường trồngnhững cây lương thực như: Lúa, ngô, khoai, lạc, đậu, và các loại câycông nghiệp có các nghề như thợ mộc, thợ rèn, thêu, ren, đan lát, dệt vailụa và thao Nhân dân buôn bán chính là hàng xáo (xay, giã gạo) hoa quả
và một số ít người buôn chuyến ở các nẻo sông Một số người đi làmthuê, kiếm ăn ở các tỉnh xa Làng có chợ Bá xưa tháng họp 6 phiên, hànghóa phong phú nên có câu
“Bá Nội là đất thanh nhàn Thuyền em về Bá, lập đàng bán buôn”.
Bá Giang rất thuận tiện về giao thông thủy và bộ Từ Hà Nội đếnlàng Bá Giang có nhiều đường Ta có thể đi theo đê sông Hồng (nay đãđược dải nhựa), qua gầm cầu Thăng Long, qua Thượng Cát (Từ Liêm - HàNội), qua xã Liêm Trung, Liên Hà, Liên Hồng, đến làng Bá Giang Đây làtuyến đê bảo vệ kinh thành Thăng Long xưa, Thủ đô Hà Nội ngày nay,nên từ xưa được coi là rất quan trọng Đê đắp khá lớn, chạy vòng ôm ấplấy làng Bá Giang Đường thủy từ đây đi Hà Nội và ngược lên Việt Trì vàcác tỉnh phía Bắc Con đê sông Hồng còn kéo dài lên tới thị xã Sơn Tây.Đến trạm Tiên Tân rẽ trái vào đê sông Đáy và đến huyện Đan Phượng(qua các xã Hạ Mỗ, Thượng Mỗ, Đan Phượng)
Trang 14Đầu làng Bá Giang (phía Bắc) có hệ thống điều tiết nước sông Hồng tựchảy, xuyên qua đê sông Hồng, dẫn phù xa vào tưới cho đồng ruồng củalàng xã Thời Pháp thuộc đã có cống tròn tự chảy xong lưu lượng nhỏNgày nay một hệ thống dẫn thủy hiện tại đã hoàn thành cung cấpnước tưới cho cả hai huyện Đan Phượng và Hoài Đức Khi mùa nước cạncủa sông Hồng vẫn đảm bảo đủ nước tưới cho cây trồng, cả bốn mùa Với
hệ thống giao thông thủy, bộ như vậy, làng Bá Giang có một ưu thế thuậnlợi và vị trí quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương
Với vị thế “nhất cận thị, nhị cận giang”, do thiên nhiên ban tặng, môitrường sinh thái đặc thù ấy sẽ có ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa - xãhội của làng Bá Giang Sự lựa chọn thần linh và đời sống tín ngưỡng, cả
sự phát đạt về học hành, sự phong phú của đời sống tín ngưỡng, sự phátđạt về học hành sự phong phú của sử dụng tinh thần ở đây, cũng từ vịthế ấy
2.1.2 Lịch sử hình thành
Ngược dòng sông Hồng, từ Thủ đô Hà Nội đi về phía Tây Bắckhoảng 15km, có một khu dân cư sầm uất, chợ họp đông vui, thuận đườngthủy- bộ; Đó là làng Bá Giang xã Hồng Hà, huyện Đan Phượng - tỉnh HàTây
Làng Bá Giang còn có tên là Bá Dương Nội, xưa có tên nôm là Kẻ
Bá Đầu thế kỷ thứ XIX làng Bá Giang thuộc tổng Thượng Trì, huyện TừLiêm, thị trấn Sơn Tây Sau cách mạng tháng Tám (1945) đã nhiều lầnthay đổi Từ 1979 đến 1991 thuộc ngoại thành Hà Nội, từ năm 1992 đếnnay thuộc địa bàn Hà Tây
Bá Giang là một trong 4 làng của xã Hồng Hà: Bá Thị, Tiên Tân vàBồng Lai Bá Giang ở trung tâm của xã, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc,Đông Nam giáp xã Liên Hồng, Nam giáp xã Tân Hội, Tây Nam giáp Hạ
Trang 15Mỗ Bá Giang nằm cạnh sông Hồng có con đê bao bọc Ngoài đê là Ghềnh
Nguyệt Lão, xưa có câu cá “Miếu Đinh Nguyên, ông Diên Thành, Ghềnh
Nguyên Lão”, là những địa danh quan trọng trong vùng.
Bá Giang ngày nay thuộc vùng đất cổ xưa xứ Đoài Những năm
1975 - 1976 trong khi đào giếng nước ở Bá Giang đã đào được một sốhiện vật bằng đá và đồng của người xưa, giới nghiên cứu lịch sử HàNội ghi nhận là một di chỉ khảo cổ học rất cần được nghiên cứu Chắc hẳndưới lòng đất nơi đây còn chứa đựng nhiều hiện vật báu có thể giúp chúng
ta xác minh thêm sự phong phú của nền văn minh sông Hồng - Con sông
mà xã Hồng Hà lấy làm tên gọi
Về mặt văn vật ngàn năm mà nói, nơi đây còn nhiều truyền thuyết
và di tích để chứng minh nơi đây là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa.Thời Hùng Định Vương, con gái thứ chín vua Hùng lấy con trai Lạctướng họ Hoàng ở Châu Ô (phải chăng là Ô Diên?), sinh ra được ngườicon trai là Hoàng Trụ, năm 12 tuổi, Trụ học ông Lỗ ở Kinh Đô (BạchHạc - Việt Trì), vì ông thông minh học một biết mười nên ai cũng mếnphục Năm 17 tuổi, cha mẹ mất cả Trụ đến học thêm rồi dạy học ở bãiTăng Tang (bãi dâu), biết thêm cả nghề thuốc, sẵn sàng trừ bệnh dịch chodân cứu sống được nhiều người Ba năm sau nhà vua cầm quân mời ông
ra đánh giặc Ông đánh thắng, chém đầu tướng giặc Ông đánh thắng, chémđầu tướng giặc là Thiết Sả từ Trung Quốc tràn sang Khi ông mất, nhândân Bồng Lai (cùng xã) dựng ngôi đền thờ ngay trên nền trường học cũ ởbái Tang Tang, ngàn năm hương khói thờ phụng ông
Người đời sau đã có thơ ca ngợi rằng:
“Danh thơm ngàn thủa non song tỏ Đền miếu nguy nga mãi vẻ vang”
Trang 16Xã Hồng Hà, làng Bá Giang còn rạng rỡ trong trang sử anh dũngchống thực dân Pháp xâm lược và chống Mỹ cứu nước, góp phần giànhđộc lập tự do cho Tổ quốc Trong cuốn “Truyền thống cách mạng xãHồng Hà”, ấn hành năm 1985 có đoạn ghi: “Thôn Bá Giang dưới sự chỉhuy của cụ Phạm Văn Thiều, Phạm Văn Tỉnh , Phạm Văn Thêm (thườnggọi là quận Thêm), đã cùng dân làng cương quyết đánh giặc bằng nhiềuhình thức: Đánh lẻ, diệt gọn, nếu cứ năm bẩy thằng giặc qua đườnglàng là các cụ tiêu diệt gọn Xác chúng được chôn ngay ở đầu làng, ý
muốn giáo dục cho con cháu đời sau là: “Giặc đến đây là không có
đường về Với kiểu đánh này lực lượng địch bị hao hụt dần, địch khó đối phó, khó tìm ra tung tích của ta Cuộc chiến đấu này kéo dài hơn 3 tháng gây cho giặc nhiều thiệt hại” Hưởng ứng phong trào toàn dân chống Pháp
của Hoàng Hoa Thám, cụ Lang Sáng - gây dựng cơ sở ở Bồng Lai, BáGiang Cụ được giao trách nhiệm cắm cờ lên cột cờ thành Hà Nội Chủtrương bị bại lộ, cụ bị bắt ngay trong thành Địch tra tấn hết sức dã mannhưng cụ vẫn biểu thị tinh thần bất khuất, dẫu chết cũng không hề cungkhai Nhờ vậy mà cơ sở không bị bại lộ, dân làng không bị triệt phá.Trong kháng chiến chống Pháp rồi kháng chiến chống Mỹ cứu nước,thanh niên làng Bá Giang xã Hồng Hà hăng hái lên đường nhập ngũ bảo
vệ Tổ quốc Nhiều người đã hi sinh anh dũng góp phần tô thắm trang sửtruyền thống của quê hương, giành lại độc lập tự do cho đất nước
Với truyền thống lịch sử lâu đời của quê hương là nền tảng vững chắc,hun đúc lên tính cách anh dũng của người dân Kẻ Bá Những địa danh,nhân vật và công tích của cổ nhân là cơ sở cội nguồn các sinh hoạt vănhóa truyền thống đặc sắc của vùng quê dân dã nơi đây
Trang 172.2 Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang xã Hồng Hà huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Tây
2.2.1 Lịch sử và truyền thuyết của lễ hội thả diều làng Bá Giang
Để hiểu biết thấu đáo một lễ hội đặc sắc đã trở thành phong tụctruyền thống, hấp dẫn được nhiều thế hệ duy trì và phát triển như hội thảdiều làng Bá Giang, trước hết phải tìm hiểu kỹ về nguồn gốc tạo thành từ
xa xưa theo các truyền thuyết lưu truyền trong dân gian
Truyền thuyết thứ nhất: Tưởng nhớ công trạng của vị Thành Hoàng
làng được thờ ở Đình Bá Giang: Vị Thành Hoàng làng là đại tướng quânNguyễn Cả là người con sinh ra từ quê hương ấp Bá Ông sinh ra từ mộtcuộc giao hoan giữa bà mẹ và Hầu Công (con khỉ), ở một hòn đá xanhtrên gò đất đầu làng Lớn lên ông chiêu mộ quân sĩ theo Đinh thiên Hoàngthu phục 12 xứ quân, thu giang sơn về một mối Rồi ông được trọng dụnglàm quan ở triều nhà Đinh Triều nhà Đinh suy thoái, tiếp tục xây dựng ấp
Bá thịnh giầu Khi rảnh rỗi, ông bày trò chơi thả diều cùng trẻ mục đồngvui thú cảnh điền viên thôn dã Rồi một ngày kia, bỗng nhiên trời đất nổiphong ba bão táp, mưa gióa mịt mùng, ông đứng trên hòn đá phẳng nhưsàn gỗ, hòn đá từ từ nâng ông lên không trung bay về trời Dân làng Bákéo ra nhớ tiếc ông ngóng lên trời cao, nhìn hòn đá nhỏ dần như một cánhdiều lơ lửng rồi biến mất giữa tầng không Xung quanh tỏa ra muôn ánhsao vàng rực rỡ
Từ đây, nhân dân trong làng hình dung ra những cánh diều bay lơ lửnggiữa trời mây như hình ảnh thiêng liêng của vị phúc thần Nguyên Cả Bởithế hàng năm cứ đến ngày hóa của ông (15 tháng 3 âm lịch), là làng lại mởhội thả diều để tưởng nhớ đến ông Sau phần lễ trang nghiêm, thả diều hầuthánh đã trở thành tâm thức của mọi người
Trang 18Truyền thuyết thứ 2: Gắn với sự tích của ngôi Miếu Châu Trần, thờ thần
bản thổ theo nội dung bảng thần tích do Hàn Lâm Viện đại học sĩ NguyễnBính soạn năm Hồng Phúc nguyên niên (1572), còn lưu giữ trong đình bảndịch do ông Nguyễn Văng Lãng Viện Nghiên cứu Hán Nôm năm
1986 Truyện kể rằng:
Làng Bá Giang xưa có tới 21 xóm nhỏ Ở ngoài đê có 11 xóm làxóm Ghềnh, xóm Chòi, xóm Cõi, xóm Sung, xóm Dần, xóm Miếu, xómChùa, xóm Nhị, xóm Bọ Hột, xóm Đồng Đò, xóm Cổng Ty Phía trong đê
có 10 xóm: xóm Bờ Hồ, xóm Sòi, xóm Bảo Quang, xóm Thạch Kiều, xóm
Bà Vãi, xóm Cổng Đông, xóm Cổng Tây, xóm Cầu Gạch, xóm Cổng Nam
và xóm Mán Già Trên vùng đất bãi sa bồi của dòng sông Nhị Hà, nhândân cần cù làm ăn, sinh sống Ngày nay người lớn ra đồng cấy lúa, trồngmàu, trẻ con lùa trâu bò sang bãi chăn thả Buổi trưa chúng quây quầndưới các gốc cây to, mang cơm nắm ra ăn, chiều tối mới dong trâu vềlàng Ngày lại ngày, khi đàn trâu ung dung gặm cỏ, thì bọn trẻ bày các tròchơi như đánh vật, kéo co hoặc bơi lội Rồi một hôm bọn trẻ mải mêngắm nhìn những đàn chim bay lượn trên trời thật đẹp mắt Con diều hâugiang đôi cánh rộng chao liệng, có lúc đứng im giữa bầu trời… Bọn trẻliên tưởng tới một trò chơi mới Chúng tìm tre uốn thành đôi cánh chim, ởgiữa có một thanh tre, hình tượng như một con chim Chúng lấy giấy bảndán vào khung tre ấy, lấy dây nối vào thân chim tre Chờ khi có gió làtrung nó lên trời Không ngờ những con chim giấy ấy lại bay được trênbầu trời lộng gió, cũng chao liệng như con chim thật Rồi chúng nối dài dâycho chim giấy bao cao, bay xa Từ con chim diều hâu đ ã thành trò chơithả diều bằng nan tre dán giấy Trò chơi thả diều có thể bắt nguồn từ đóchăng? Trò chơi thả diều được trẻ con nhanh chóng bắt chước làm theo.Thời gian qua đi, năm này sang năm khác, diều được cải tiến thành nhiều
Trang 19kiểu đáng khác nhau Một số loại diều được đeo thêm sáo ống, sáo vằng,tạo thành tiếng kêu vi vu trên bầu trời xanh lộng gió Thế là hàng loạt sáodiều lại ra đời Sáo làm bằng ống tre, hai đầu có nắp gỗ khoét lỗ cho gióthổi vào, tạo thành những âm thanh kỳ thú, văng vẳng suốt ngày đêm.Tiếng kêu trầm bổng theo từng loại sáo Trò chơi thả diều càng them hấpdẫn Không những trẻ con mà cả người lớn tuổi cũng say mê với thú chơi thảdiều.
Trên vùng đất bãi Sông Bá Giang xưa, có một hôm, bọn trẻ bàn vớinhau rằng: Diều thả tản mạn khắp nơi trên bãi, muốn biết diều nào lên caonhất, hay nhất cũng khó phân biệt Rồi chúng bảo nhau kéo diều về xungquanh cái gò cao ở đầu bãi, trên gò có cây cổ thụ lớn Diều kéo về đó tiệnquan sát và có thể chấm thi được Ngày hôm sau, chúng đua nhau đi lấycây que, dựng tạm trên gò một ngôi miếu nhỏ Chúng ý thức rằng ngôimiếu này, mỗi khi thả diều lên, làm lễ trình trong miếu, cầu mong thầnlinh bản thổ phù hộ cho diều của mình được nhất Lạ thay, tâm nguyệncủa bọn trẻ như động đến thần linh bản thổ thật Từ hôm có ngôi miếuchiều nào cũng có gió nồm nam thổi nhẹ Một vùng sông nước mênhmông, hàng chục cánh diều to nhỏ, đủ màu sắc bay lượn trên bầu trời
Một vùng sông nước mênh mông, hàng chục cánh diều to nhỏ, đủmàu sắc bay lượn trên bầu trời Tiếng sao vi vu trầm bổng, cảnh thanhbình yên ả của một vùng quê thật tươi đẹp Cũng từ đấy, năm nào gió cả,diều lên thì dân làng làm ăn thịnh vượng, mưa thuận gió hòa Những khidiều không gặp gió là đời sống nhân dân vật chất, gian nan Rồi đến mộtnăm, dân làng Bá Giang đã nhất tâm xây cất ngôi miếu thờ thần linh bản
tổ to đẹp hơn Trong miếu xây gạch, mái lợp ngói mũi, mở mang sân trìnhlát gạch, đủ chỗ cho dân làng tế lễ mở hội thả diều
Trang 20Kỳ lạ thay ngôi miếu vừa được hoàn thành ngày 15 tháng 3 âm lịch.Một cụ già làng đặt mâm lễ khấn vái thần linh Lời khấn vừa dứt, bỗngnhiên trời đất tối đen mịt mùng, gió mưa gầm rít, cát bụi bay mù mịt Mọingười sợ hãi van lạy thần linh Nhưng rồi chỉ trong chốc lát gió ngừngthổi, mây tan dần, bầu trời lại sáng sủa Trước mắt mọi người, một ngôimiếu thờ thần bản thổ xinh xắn, đẹp hơn Mọi người vui sướng cảm nhậnrằng: Thần linh đã ứng nghiệm về ngự giá Đó là một điểm tốt lành choquê hương Mọi người bắt tay mở hội, tế lễ cầu mong hạnh phúc, bình yênmưa gió thuận hòa, mùa màng tươi tốt Buổi chiều dân làng mở hộithả diều thì xung quanh miếu thờ thần linh bản thổ, đặt tên là Miếu ChâuTrần Từ đó, hàng năm cứ đến rằm tháng 3 âm lịch là dân làng nghỉ ngơi,cúng giỗ thần linh và mở hội thi thả diều truyền thống (Theo lời kể củacác cụ Nguyễn Ngọc Hợi 80 tuổi, ông Hà Huy Tiệp, giáo viên trườngTHCS nguyễn Ngọc Vũ, đài truyền thanh xã Hồng Hà).
Hội diều ở Bá Giang diễn ra vào giữa tháng 3 Âm lịch, là thời kỳcây lúa chiêm ngày xưa đang thì con gái, đua nhau đẻ nhánh; Câu ca daocổ:
“Lúa chiêm lấp ló đầu bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Tháng ba âm lịch, cây lúa nước và hoa màu nông nghiệp rất cầnnắng ấm để quang hợp Gió nồm Nam làm cho không khí trong lành, xua
đi những ảm đạm Ca dao xưa có câu:
“Gió nam trong buổi thanh minhĐược mùa màng, thỏa tâm tình nhà nông”
Bởi vậy, ở hội diều làng Bá Giang bao giờ cũng có lẽ cầu phong (cầugió), người được nổi trống cầu phong thường là ông chủ tế của lễ hội năm ấyđảm nhiệm Người mà được dân làng tín nhiệm bình bầu theo những tiêu chí
Trang 21riêng của làng Người được coi là “con trưởng” của Hoàng làng, được dân tincậy, mến phục Hơn nữa, thả diều là thú chơi thanh tao, cao thượng Thểhiện tư chất của người nông dân quanh năm lao động cực nhọc “Bán mặtcho đất, bán lưng cho trời”, thế nhưng, tâm hồn họ lại rất trong sáng giản
dị, luôn mơ ước cao đẹp chiếm lĩnh tầm cao phúc thượng Tính cách bảnlĩnh không chịu thấp hèn Diều cao, sáo hay là những phút thăng hoa củangười lao động
Nhìn lại các truyền thuyết minh chứng cho nguồn gốc của lễ hội thảdiều ở đây vừa mang yếu tố tâm linh giao cảm giữa thiên nhiên và conngười, giữa người có công với dân với nước, với quê hương Vừa mangyếu tố khoa học tự nhiên có tính quy luật âm dương của vũ trụ Vừa là mơước cao sang của người lao động là lý do khách quan và hợp với lòng dân,nhất là nông dân thuần túy Do vậy hội diều tồn tại và phát triển bền lâu
2.2.2 Quy trình tiến hành lễ hội và các hoạt động trong lễ hội thả diều xưa
và nay
Lễ hội thả diều xưa
A Công tác chuẩn bị lễ hội
Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang diễn ra trong 3 ngày, côngviệc chuẩn bị rất công phu từ mấy tháng trước Việc quan trọng là cácnghệ nhân chơi diều trong làng tự nguyện làm diều, sắm dây diều, và làmsáo Sao cho diều đẹp, sáo kêu vang, trước ngày thì thả thử nhiều lần đểđiều chỉnh, sửa sang cho được những con diều ưng ý Ai cũng mong chiếmđược giải cao hơn nam trước Quá trình chuẩn bị cho hội diều rất hàohứng, say mê vì mọi người quan niệm trong tâm thức thả diều là công việc
có ý nghĩa thờ thánh, hầu thánh, sẽ được bản phúc lộc cho mọi người,mọi nhà Cho nên họ hoàn toàn tự nguyện với niềm đam mê chứ không tiếccông, tiếc của, không đòi hỏi quyền lợi vật chất… Mặt khác, cũng là một
Trang 22thú chơi tao nhã sau những giờ lao động cực nhọc của nhà nông Mongsao có những giờ phút thư thái, thăng hoa, tâm hồn bay bổng, thơ mộng.Thể hiện bản chất văn hóa cao thượng của người Việt trước những khắcnghiệt của tự nhiên.
Cách làm diều: Làm diều để thả chơi và dự thi là cả một quy trìnhđược đầu tư kỹ lưỡng, công phu từ nguyên vật liệu đến kỹ thuật chế tạo
có tính thẩm mỹ và có giá trị hiệu quả để chiếm được giải cao Hơn nữadiều phải cõng sáo cùng bay cao, bay chuẩn và sáo kêu hay Như vậy là cảmột hoạt động kiên kết cần mẫn, điêu luyện và cảm hứng sáng tạo củangười làm diều, chơi diều và thi thả sáo diều
Nguyên vật liệu để làm diều:
Một chiếc diều có cấu tạo bởi khung diều (lưng diều và bụng diều)
và lớp áo diều cần có các vật liệu sau:
Tre: Cây tre đực già, mộc ở giữa bụi, là loại tre có gióng dài, dầy và
có độ dẻo cao, không có vết xước, thân tra ấy sử dụng làm khung diều +Dây gai: Xưa dây gai được chế tác từ vỏ cây gai để quấn với khung diềutạo thành lớp đỡ thuận lợi cho việc bồi giấy khi dá diều thêm bền chắc Giấy dán diều: Ngày xưa diều được phất bằng giấy đó (còn gọi là giấyNam), ngày nay diều được phất bằng loại giấy như: Giấy xi măng, ni lông… Chất kết dính: Xưa kia họ dùng một nếp có pha nước vôi trong hoặcnhựa cây để dán diều Sau khi diều khô người ta dùng quả cây cậy hoặcquả hồng non, cho vào cối giã nhuyễn tạo thành chất kết dính sền sệt nhưnước cháo để quét lên áo diều và phơi nắng khi khô lại tiếp tục quét từ 2đến 3 lần áo diều sẽ ngả sang màu nâu, bền chắc và không bị ngấm nước.Ngày nay, có nhiều loại keo dán bằng chất hóa học hoặc khâu bằng chỉ bềnchặt cánh diều
Trang 23Khung diều: Thân cây tre được chẻ ra theo kích cỡ của người có ý
đồ làm diều to hoặc nhỏ Những thanh tre được vót nhẵn, bỏ ruột lấy cậttre đem phơi từ 2 đến 3 năng, tre chuyển màu vàng ngà, họ cho vào thùngvôi đang tôi hoặc đem cuộn tròn luộc trong nước vôi trong hay nướcmuối Luộc tre như vậy có tác dụng làm tre không bị mối mọt, dẻo dễ uốncong và không bị ẩm khi mà độ ẩm thời tiết cao Bộ khung diều gồm cókhung cái là hai thanh tre ngang nối hai đầu diều và một thanh dọc ở giữadiều Khung cái ngang tạo thành lưng diều và uốn theo các hình diều như:Cánh muỗm, cánh chanh, cánh tiên v.v… Ngoài ra, diều to uốn các thanhtre tạo thành khung con buộc ngang, dọc khuôn diều, tạo cho diều cânđối, tạo thành bụng diều để chứa gió Tất cả các chi tiết khung cầnchuẩn bị kỹ thuật cộng với kỹ thuật phất giấy theo kinh nghiệm và tàinghệ của mỗi người tạo cho cáh diều gặp gió bay lên cao, ít chao đảo vàđạt hiệu quả cao
Dây lèo diều: Khi buộc dây lèo diều, đo bề ngang của diều, gấpđôi lấy một phần tư trục xương chính tác ra hai bên để buộc lèo con Đochiều dài của diều, gấp đôi lấy một nửa buộc làm lèo cái Có thể chơi diều
là một nghệ thuật tính xảo với nhiều yếu tố tạo thành, mà việc làm diều làkhâu quan trọng
Phất mành diều: Khi có khung diều, việc phất mành diều là đandây gai theo kiểu mắt cáo, làm cho khung diều chắc chắn thêm, cũng
là đỡ cho áo diều khi phất giấy dễ dàng Khi phất giấy hoặc ni lông đểlàm áo diều, yêu cầu không làm quá chức năng hoặc quá chùng sẽ ảnhhưởng đến sự cân bằng của con diều khi đem thả
Sơn áo diều: Ngày xưa, kinh nghiệm dân gian họ lấy quả hồngnon, hoặc quả cậy dập lấy nước quét lên áo diều 2, 3 lần cho diều có cánhmàu gián rất đẹp mắt Đó cũng là màu của đất (tượng trưng cho âm), diều
Trang 24bay lên bầu trời (tượng trưng cho dương) Âm dương gặp nhau hòa hợpcàng làm cho ý nghĩa của tục thả diều mang giá trị văn hóa Mặt khác khidiều được phủ lên lớp nhựa của quả cây, khi bay lên không trung có gặphơi nước, độ ẩm cao vẫn khô ráo, diều vẫn bay cao Khi chẳng may,diều bị đứt dây rơi xuống ao, hồ cũng không bị ngấm nước Ngày nay, áodiều được dùng bằng nhiều loại vải, nilông đủ màu sắc, nhưng họ khôngdùng màu trắng để khi lên cao, hòa với màu mây trời, khó cho việc quansát và chấm thi diều.
Dây diều: Muốn được thả diều, tất phải có dây, dây diều có nhiềuloại, tùy theo diều lớn hay diều nhỏ Diều lớn thì dây phải lớn, dài và bềnchắc Ngày trước, những người chơi diều sành điệu thường dùng loại dâytre Loại tre dùng làm dây diều thường lấy vào tháng 4-5 âm lịch, chọncây tre bánh tẻ, mỏng mình, thưa đốt Những thanh tre được vót nắn nótthành sợi nguyên cật đều tăm tắp suốt từ gốc tới ngọn Vót tre xongkhoanh tròn lại rồi bỏ vào nồi luộc trong nước pha muối và hạt cây thầudầu giã nhỏ Đun sôi sùng sục như luộc bánh chưng độ 7 - 8 giờ đồng hồ.Vớt dây ra nối lại với nhau bằng kỹ thuật khéo léo đặc biệt sao cho cácmối đều nhẵn Sau đó vuốt một lớp sáp bóng rồi mới cuộn vào cái lồng.Cái lồng bằng tre đan có gờ rất nhẹ, lại bền đẹp, gặp mưa nắng cũngkhông bị ải mục Có thể chơi 5 - 7 năm Diều chơi bằng dây tre khi baylên bay xuống không bị đảo, dây không bị co dãn Ngày nay người chơi diềuthường dùng bằng dây cước, dây dù
Các loại diều: Từ xưa đến nay, hội thi thả diều ở làng Bá Giang đã
có nhiều loại diều tham gia hội Có 5 loại chính sau đây:
Các loại diều:
Từ xưa đến nay, hội thi thả diều ở làng Bá Giang đã có nhiều loạidiều tham gia vào hội Có 5 loại chính sau đây:
Trang 25Diều cánh mộc: Hình dáng diều giống như cây hoa mộc Chiềudài của diều thường là 2m bề ngang 0,7m cánh diều cong vừa phải, haiđầu diều nhọn lại Loại diều này lên thẳng, xuống thẳng, lên rất khỏe baycao nhưng điều khiển khó hơn các loại diều khác Khung diều làm bằngtre, dán giấy bản 2 lượt, hoặc giấy xi măng Ngày nay làm bằng vải,nilông… loại này làm nhiều với các cỡ khác nhau.
Diều cánh nhanh: Hình dáng diều cũng giống như lá chanh, chiềudài thường là trên 2m rộng 0,7 - 0,8m loại diều này cánh cong, mũi nhọnnên dễ điều khiển hơn, diều lên xuống nhẹ nhàng, chỉnh cánh diều thuậntiện Dán diều cũng bằng giấy bản, phất 2 lượt Nay có thêm nilông diều
dễ bay cao, nhẹ Loại này thông dụng
Diều cánh bầu: Hình dáng giống phần đuôi quả bầu, loại diều nàykhông lên cao, diều đứng không cao đảo, dây dài đưa diều về phía xa.Giấy dán tương tự như diều khác
Diều cánh muỗm: Hình dáng giống chiếc lá muỗm (xoài) Diều cóthể làm dài 2m trở lên, cong hai đầu mũi diều, đeo được nhiều sáo (từ 1đến 5 chiếc sáo) Loại này dễ sử dụng lên cao, khi xuống hay chao đảo,bay là là mặt đất
Diều cánh tiên: Như một nàng tiên có hai cánh xòe hai bên, phầntrên có đầu, dưới có đuôi xòe, trông đẹp mắt
Diều nhỏ: Cùng với hàng chục chiếc diều lớn của các nghệ nhân tronglàng, còn có hàng trăm chiếc diều loại nhỏ, hàng năm cũng tham gia vào hộithả diều Diều nhỏ có nhiều loại hơn, nghệ nhân và nhiều người
dựa vào các hình thù của các con giống như cánh tiên, cánh bướm,con chim, máy bay… mà sáng tạo ra đủ loại diều rất phong phú, màu sắcdiều nhỏ rực rỡ theo sở thích của từng người chơi diều Kích thước diềunhỏ từ 30 - 60 - 80 cách mạng một diều Diều nhỏ cũng đeo sáo nhỏ
Trang 26hoặc vằng (kêu ve ve, o, o) nhưng diều nhỏ bé nhất dán thêm đuôi diềubay phấp phới.
Sáo diều: Mỗi chiếc diều đều được gắn một bộ sáo, hai hoặc ba
chiếc, có khi đến năm chiếc một bộ Ở Bá Giang, diều thường chỉ đeomột bộ hai hoặc ba chiếc sáo Một sáo ốc và một sáo chuông, tiếng kêu
đu đu, vo vo vừa trầm, vừa bổng
Hình ống sáo thì giống nhau, chỉ khác là độ to, nhỏ, dài, ngắn phùhợp với độ to nhỏ của diều Tre làm ống sáo nhất thiết phải là tre chiếtsóc (nghĩa là tre già chết đứng trong bụi tre), lá vàng úa, vỏ ngả màu cánhgián với những sọc trắng ngà, óng ánh, thịt tre đỏ au song không bị nứt
nẻ, sẽ tạo cho sáo có tiếng kêu to và hay
Ống tre làm sáo đem chẻ bỏ cật ngoài, nạo ruột mật, nạo cho bóngđẹp Hai đầu ống bịt bởi 2 mặt sáo thường làm bằng gỗ vàng tâm mỏngtròn hình lòng chảo, úp vào ống sáo, đàng lõm ở mặt trong, đàng lồi ởmặt ngoài Phía lồi gọi là mặt sáo Mặt sáo được gắn chặt vào ống sáobằng sơn ta Miệng sáo khoét trên mặt sáo, khẩu độ rộng hẹp, dài ngắnbao nhiều là tùy theo kinh nghiệm của chủ diều Tiếng sáo to nhỏ, đổnhịp, đổ mau, thưa… là phụ thuộc vào vòm miệng và lợi sáo
Ở giữa ống sáo khoét một lỗ vuông hoặc tròn để cắm ngạc sáo Đểbịt kín hơi khi gió lùa vào miệng sáo tạo nên âm thanh, người ta dùng 2miếng gỗ mỏng tròn vừa vặn bằng lòng ống sáo, gắn kín bằng sơn ta Sáolàm xong được gắn vào lưng diều Sáo có nhiều loại nhưng người thảdiều ở làng Bá Giang thường gắn 2 đến 3 loại tùy theo diều lớn hay nhỏ.Chiếc sáo to dưới cùng, chiếc nhỏ ở trên cùng Sáo được sơn bằng cácmàu như: Đỏ, đen, gụ, cánh dán, vàng, xanh… tùy theo ý thích của từngngười chơi diều
- Có 4 loại sáo diều thường dùng:
Trang 27Sáo tiếng chiêng: Tiếng kêu “bi bi”.
Sáo tiếng ốc: Tiếng kêu “đu đu” như tiếng tù và, dài khoảng30cm
Sáo tiếng chuông: Tiếng kêu “đô đô, vô vô” như tiếng chuôngđồng, dung tích nhỏ hơn sáo tiếng ốc
Sáo tiếng còi: Tiếng kêu “vo vo” đanh tiếng, sáo nhỏ và ngắn hơn.Khi lắp sáo, người ta lắp một sáo tiếng ốc kèm một sáo tiếng chuônghoặc 1 tiếng còi tạo thành 2 âm thanh đi liền với nhau như tiếng của
“mẹ gọi - con thưa”; Biểu tượng của tình mẫu tử Hoặc cặp cả ba loạitiếng ốc, chuông, còi với nhau, nhưng tiếng sáo vẫn kêu rành mạch không
bị lấn át tiếng nhau Sáo cặp ba dân gian gọi là sáo “con khóc mẹ ru”.Thế mới là sáo hay Diều to có thể cặp tới 5 ống sáo, với 5 âm thanh hòaquyện với nhau
B, Trật tự nghi lễ
Chiều ngày 14-3 (âm lịch) dân làng làm lễ cáo yết thần linh tại Đình
Bá Giang Các thành viên ban tổ chức người nào việc nấy, không khínhộn nhịp bày đặt đồ tế tự và một số công việc cần thiết cho ngày đại lễhôm sau Phía ngoài đường lớn treo một lá cờ đại bay phấp phới Trongsân đình hai hàng cờ lọng dẫn từ nghi môn vào tới nhà tiền tế Nhà tiền tếtrải chiếu hoa, hai hàng binh khí và bát bửu đặt hai bên tả hữu Cây quántẩy để ngoài cùng nước trà thơm chuẩn bị sẵn Ở giữa tiền tế là chiếu hoadành riêng cho chủ tế, bồi tế, chủ văn Hai bên là vị Đông xướng và Tâyxướng Phường bát âm ở phía bên trái (từ ngoài vào) Lễ cáo yết thần linhđược mở đầu bằng việc dâng lễ vào trung cung và hậu cung Lễ vật gồmxôi, gà, hoa quả Bài văn tế cáo yết ở đình cho ông chủ văn đọc:
“Hách trạch thần uyThông minh thiên tích
Trang 28Thức ngọc thức kimNhư khuê như bichLoan gia thức nghinhXuân diên nhập tịchDuyên cát vi hyDuy thần chi tíchThường kỳ cách tyVĩnh thùy lợi íchTích phúc vô cươngThừa hưu vô địch”
Lễ cáo yết diễn ra trang nghiêm, thành kính ngắn gọn, ban tế hoàntất mọi công việc chay ngày chính tiệc hôm sau
Ngày 15 tháng 3 Ngay từ sáng sớm, đình làng đã tề tựu đông đủcác ban hành lễ và nhân dân Mọi người sửa soạn và chỉnh trang các nghitrượng đồ lễ sẵn sàng vào nghi lễ chính tiệc
Lễ vật cúng tế: Ngày xưa ban hành lễ dâng cả một con lợn đã luộcchín và xôi, oản, hoa quả vào trình lễ Ngày nay, thay bằng mâm, xôi đặtthủ lợn cắp đôi, tượng trưng cho cả lợn chín và hương hoa, oản, quả Khidâng lễ vật vào đình, ông chủ tế quỳ giữa chiếu mọi người im lặng, trangnghiêm
Quần áo tế: Ông chủ tế mặc áo xanh tím than, giữa có ô vuông màu
đỏ, đội mũ đỏ và đi giày đỏ theo kiểu hài Quan viên tế mặc áo xanh lam,đầu đội mũ tím than, chân đi giầy màu đen Các đội viên bát âm và chấpkính, bát bửu mặc áo lậu màu da cam đậm, đầu chít khăn đỏ
Thành phần tham gia vào ban tế gồm 24 người cùng với phường bát
âm (8 người) Một vị chủ tế, 4 vị bồi tế, 1 Đông xướng, 1 Tây xướng, 10
vị dẫn tế, 1 vị thủ từ các miền trong làng với những qui định cẩn trọng Là
Trang 29người có uy tín, đạo đức song toàn, không có bụi tang… Tuổi từ 60 trởlên có ngoại hình đẹp, có ý thức thanh sạch đối với nhà thánh Là nhânvật chính để hành lễ, nên vị trí đứng ở giữa trước ban thờ.
Bồi tế: Có nhiệm vụ vái lạy phụ họa theo chủ tế
Đông xướng và Tây xướng: Thường hai vị này đứng đối diện quaymặt vào nhau ở hai bên chếch về phía sau vị chủ tế Mọi nghi thức trongbuổi tế đều do 2 vị Đông xướng và Tây xướng hô lên theo bài bản đã quiđịnh
Dẫn tế: Là 2 vị cầm đài nến đi trước dẫn đường cho những tuần tế
Đọc chúc và chuyển chúc làm việc lấy chúc văn trên bàn thờ traocho ông chủ văn đọc văn tế và văn hóa tế sau buổi tế
Chấp sự: Là các vị dâng tiến các lễ vật trong các b àn thờ, chuyểnrượu từ dẫn tế và rót rượu trên các bàn thờ
Chiêng đặt bên trái, trống đặt đối diện bên phải trong sân đình.Tiếng chiêng, trống vang lên đều nhịp điệu làm cho không khí của buổi lễtrang trọng và hào hứng
Ở các cuộc tế còn phải kể đến 4 người chấp kích, mặc áo lậu taycầm kiếm, chùy và đao mắc Các vị đứng trang nghiêm ở 4 cột đình nhưđội quân danh dự đảm bảo sự nghiêm cẩn của cuộc tế lễ Thể hiện oaiphong thanh thế của nhà thánh trong đại lễ
Điểm khác so với tế ở các địa phương là không có khởi chính cổ,nghĩa là không cử nhạc ban đầu, mà buổi tế bắt đầu theo trình tự
Xướng: Củ soái tế vật
Lễ nhạc tựu vị: Phường bát âm cử lễ nhạc rộn ràng
Quán tẩy nghệ quán: Chủ tế và các quan viên tế lui ra ngoài nơi đặtcây quán tẩy nhúng tay vào nước thơm làm phép tẩy…
Trang 30Thượng hương: Hai dẫn tế đi trước, theo sau là hai ông dẫn nến,một người cầm ống hạc (đựng trầm hương), một người cầm ống thìa (ốngđũa gắp trầm hương), cùng tiến vào.
Chủ tế và hai ông dẫn hương quỳ xuống trước bàn thờ Chủ tế nhậnống thìa vái một cái, cầm ống hạc vái một cái rồi đưa cho hai ông dẫnhương đặt lên bàn thờ, gắp trầm vào lư hương Sau đó dẫn đến và dẫnhương quay ra
Bình thân hành sơ hiếu lễ: Chủ tế cùng các bồi tế quỳ lạy 4 lạy, quaysang trái lui ra
Lễ nghênh thần các cùng bái: Chủ tế đi ra ngoài nơi đặt hai bàn đẳng.Chuốc tửu: Chấp sự rót rượu từ nậm ra các chén và đặt chén vào đàirượu
Hiến tước: Từ bên ngoài, hai dẫn tế đi theo sau là các chấp sự dângđài rượu chia làm hai hàng đi hai bên Chủ tế đi theo sau Tiếp đến làban nhạc công vừa đi vừa cử nhạc, múa sểnh tiền
Khi tiến đến trước ban thờ ngoài, chủ tế bước lên sập thờ quỳxuồng, hai ông dẫn rượu quỳ theo Chủ tế cầm đài rượu bên đông vái mộtcái rồi trao lại cho hai ông dẫn tế tiếp tục quỳ
Tiến tước: Đoàn dẫn rượu tiếp tục đi vào hậu cung Cụ thủ từ nhậntừng đài rượu của các dẫn tế đổ vào chiếc bình lớn trên bàn thờ hậu cung.Hai hàng dẫn tế chui qua gầm khán thờ, Đông đi sang Tây (và ngược lại),lần lượt đi ra ngoài
Phủ phục bình thân, phục vị: Chủ tế phủ phục lạy và quay ra vị trí cũ.Quân hiến: Thủ từ rót rượu lên bàn thờ ngoài bái đường
Bình thân tiến chúc: Hai dẫn tế đi trước, theo sau là chuyển chúc và đọcchúc và đọc chúc vào bàn thờ
Trang 31Nghệ đọc chúc vị: Chủ tế, các bồi tế đều quỳ xuống Tiến chúc lấy trênbàn thờ một chiếc giá văn, lật tấm khăn nhiễu đỏ lên rồi chuyển cho chủ tế.Chủ tế hai tay nâng giá văn vái một vái rồi chuyển cho ông chủ văn đọcchúc Chủ tế tay nâng giá văn đọc chúc Tất cả chiêng trống ngừng bặt Chỉcòn tiếng đọc văn chậm dãi ngân nga.
Sau khi đọc xong, chúc văn được chuyển lên bàn thờ Hai ông dẫn chúc
và đọc chúc lui ra theo sau dẫn tế Chủ tế và bồi tế lạy hai lạy và lui về vị trí
cũ (Các tuần hiến tước sau lặp lại nghi thức như tuần tế trước)
Hành chung hiến lễ: Chủ tế tiến lên trước bàn thờ và quỳ xuống
Ẩm phước: Một vị chấp sự tiến vào đại bái lấy uống một đài rượu mangđến ông chủ tế
Chủ tộ: Chủ tế nhận chén rượu từ tay vị chấp sự và uống một hơi, đưachén cho chấp sự
Phủ phục: Chủ tế quỳ xuống lạy hai lạy tạ ơn thánh cho hưởng lộc rồibình thân phục vị
Lễ tạ thần các cung bái: Chủ tế tiến lên trước bàn thờ, cùng các bồi tếquỳ lạy bốn lạy rồi trở lại vị trí cũ
Bình thân phụng chúc: Hai ông dẫn tế đi theo ông chủ van và hiến chứctiến vào ban thờ cùng ông chủ tế quỳ xuống Ông hiến chúc giờ lấy văn tế từgiá văn xuống cuộn tròn đưa cho chủ tế Chủ tế cầm văn tế vái lạy một váirồi đưa cho ông chủ văn để hóa chúc văn, hai ông dẫn chúc vái và mang văn
ra ngoài hóa văn
Lễ tất: Chủ tế và bồi tế lạy hai lạy rồi vào thượng điện vái lạy lần cuối.Các thành viên ban tế lần lượt vào vái tạ thần linh
Lễ trình diều:
Chiều ngày 15 tháng 3 ở miếu Châu Trần bản thổ diễn ra lễ trìnhdiều Những người dự thi mặc quần áo trắng, đầu chít khăn đỏ Lưng
Trang 32quấn khăn đỏ, chân thắt ống bằng vải đỏ Người dự thi mang diều và lễvật đến đặt trước bàn thờ thánh Sau đó ban tổ chức tiến hành thủ tụckhám diều Những diều đủ tiêu chuẩn qui định thì được tiếp nhận và đánh
số theo thứ tự 1, 2, 3… đến hết số diều đăng ký dự thi Diều sai qui định
bị loại bỏ Một ban giám khảo gồm 3 - 5 người do làng cử ra cũng vào lễthánh, nhận trách nhiệm chấm điểm công minh
Địa điểm thi thả diều làng Bá Giang là khu vực trước cửa đình thờông Nguyễn Cả đến trước miếu Châu Trần Đó là một khu đất thoángrộng bên con đê sông Hồng, có dải hồ trong xanh in bóng nước ngayđầu làng
Hội thi thả diều xưa.
Từ xa xưa, ngay từ khi miếu Châu Trần còn ở ngoài đê sông Hồng, làng
Bá Giang đều mở lễ hội chính vào ngày 15 tháng 3 (âm lịch) Cõng là ngàytháng húy nhật của thành Hoàng làng Nguyễn Cả, người đã có công lậplàng, giúp nước “Thanh minh trong tiết tháng ba…” Tiết trời xuân mát
mẻ, dương khí dâng đầy của tháng Thìn (Rồng) muôn hoa đua nở, câylúa trong đồng đang xanh tốt Đối với nông nghiệp thời gian này cây lúarất cần ánh sáng mặt trời để quang hợp, thời tiết nắng ráo, độ ẩm ít thìcây lúa “phất cờ mà lên…” Hơn nữa, công việc đồng áng nông nhàn.Tháng ba thường bắt đầu có gió Nam Địa chế làng Bá Giang làvùng sông nước nên lộng gió Đó cũng là điều kiện để nâng bổng cánhdiều trong ngày hội Thi thả diều nằm trong trình tự của hội làng truyềnthống nên được các bậc cao tuổi và dân làng có ý thức tôn trọng và linhthiêng Thả diều cùng các nghi lễ truyền thống đã thành lệ tục cầu mongcho “dân khang vật thịnh”, “phong đăng hòa cốc”, đem lại hạnh phúccho cả cộng đồng Bởi thế, hàng năm thả diều đã thanh lệ làng, khôngthể thiếu được
Trang 33Lễ hội ở làng Bá Giang theo lệ cổ mở trong 3 ngày Ngày 14 ở đình
và miếu, đều được trang trí đẹp, cờ, lọng, kiệu… và tế nhập tịch
Ngày 15 chính hội, buổi sáng tế lễ theo nghi lễ cổ truyền, buổi chiềudiễn ra thi thả diều Ngày 16 lễ tạ
Lễ hội thả diều truyền thống làng Bá Giang diễn ra trong 3 ngày,công việc chuẩn bị rất công phu từ mấy tháng trước Việc quan trọng làcác nghệ nhân chơi diều trong làng tự nguyện làm diều, sắm dây diều, vàlàm sáo Sáo cho diều to, đẹp, sáo kêu vang, trước ngày thi thả thử nhiềulần để điều chỉnh, sửa sang cho được những con diều ưng ý Ai cũngmong chiếm được giải cao hơn năm trước Quá trình chuẩn bị cho hộidiều rất hào hứng, say mê vì mọi người quan niệm trong tâm thức thảdiều là công việc có ý nghĩa thờ thánh, hầu thánh sẽ được thánh ban phúclộc cho mọi người, mọi nhà Cho nên họ hoàn toàn tự nguyện với niềmđam mê chứ không tiếc công, tiếc của, không đòi hỏi quyền lợi vật chất.Mặt khác, cũng là một thú chơi tao nhã sau những giờ lao động cực nhọccủa nhà nông Mong sao có những giờ phút thư thái, thăng hoa, tâm hồnbay bổng, thơ mộng Thể hiện bản chất văn hóa cao thượng của ngườiViệt trước những khắc nghiệt của tự nhiên
Vào khoảng 3h chiều, khi cơn gió nồm Nam lộng thổi, người tới hộithả diều đông nghịt, hội thi bắt đầu Một cụ già râu tóc bạc phơ được dânlàng cử ra làm chủ tế đánh trống cầu phong Sau 3 hồi trống dõng dạcvang lên là cuộc thi bắt đầu Mở đầu là cuộc diễu hành của nhữngngười dự thi, rước diều từ miếu Châu Trần sang đình thờ Nguyễn Cả rồitỏa ra cánh đồng và bắt đầu cuộc thi Mỗi cặp thả diều gồm một ngườigiăng dây và một người cầm con diều phóng lên không trung Người cầmdây phải chạy một đoạn để tạo đà, tạo gió cho cánh diều bay lên
Trang 34Từng cánh diều nối tiếp bay lên bầu trời xanh, vi vu tiếng sáo Xemhội diều rất thoải mái, có thể đứng trên bờ đe, trong làng, ngoài đồng, ởđâu cũng xem được diều bay Thỉnh thoảng lại có diều đứt dây bay raphía đồng ruộng Có những diều đan cháo dây cuốn vào nhau, cả hai đềurơi… gây thành những cuộc reo hò huyên náo và những chuỗi cười sảngkhoái của người xem.
Cuộc thi thả diều diễn ra từ 1 - 2 giờ cho ban tổ chức qui định, vìcòn phải phụ thuộc vào sức gió của thiên nhiên Có những năm ngày rằmtháng ba không có gió, cuộc thi không tổ chức được, phải lui vào ngàykhác Quá trình thi thả diều, một số diều kém tự loại ra khỏi cuộc thi, dođứt dây hoặc đảo không lên được Số lượng diều giảm dần theo thời giancủa cuộc thi Thường khi vào chung kết để chấm giải chỉ còn lại trên hoặcdưới 10 diều Ban tổ chức thường trực ở sân miếu Châu Trần Một hồitrống báo hiệu thời gian cuộc thi thả diều đã đến hồi chung kết, nhữngdiều được ban trọng tài chấm giải dong diều về buộc vào hàng cột trướcsân miếu Sao cho diều bay ở trên cao ứng với nóc đình thờ ông NguyễnCả
Ban tổ chức chấm diều bay cao nhất, nhì, ba, đứng im và cótiếng sáo kêu hai, rồi lần lượt kéo cuống từng cái một Căn cứ vào sốđánh trên diều nhận ra chủ nhân của chiếc diều đạt giải theo thứ tự Ban
tổ chức tặng giải nhất, nhì, ba và khuyến khích Giải thưởng ngày xưa làmột tấm khăn đỏ bằng nhiễu điều, kèm theo một hiện vật của Ban tổ chứctặng Ngày nay, giải thưởng được tặng cờ, hiện vật hoặc tiền
Cùng với thi thả diều, lễ hội làng Bá Giang hàng năm có thêm cáctrò chơi khác được tổ chức đồng thời với lễ hội theo nghi thức “Trong lễ,ngoài hội” Các trò chơi diễn ra ở sân đình, sân miếu, đường cái làng…
Trang 35tạo thành một tổng thể lễ hội truyền thống đáp ứng nhu cầu sở thích củadân làng và khách đến lễ hội.
Thi đấu vật: Đấu vật là trò chơi thượng võ đã có từ lâu đời ở làng
Bá Giang Một sới vật ở chân đê rất thuận lợi cho người thi đấu vật vàngười xem hội vật Ở làng Bá Giang đã có những lò vật nổi tiếng từ xưa,các đô vật giật giải cao ở sới của làng và nhiều nơi khác
Đấu vật ở đây theo lối vật cổ truyền, đôi nào bị lấm lưng, trắngbụng là thua Khi thi đấu có một người cầm chịch chỉ huy bằng trống,một người giám sát và một ban giám khảo Cuộc đấu vật bắt đầu từ cácgiải lèo (giải khuyến khích) cho đông đảo mọi người cùng vào dự thi.Người thắng giải được vào đấu, tranh giải ba, thắng giải ba được đấu tiếptranh giải nhì Người thắng giải nhì mới được tranh giải nhất Ngày xưagiải nhất là một vuông nhiễu điều, hai chiếc mâm đồng… hoặc mấy chụcbát đĩa Chủ yếu là được tiếng thơm đồn khắp thiên hạ Ngày nay giảithưởng là xe đạp, ti vi và giấy khen
Chọi gà: Hội làng Bá Giang phong phú, trên trời thì diều bay, dưới
đất có chọi gà, đánh cờ và nhiều trò chơi khác cũng diễn ra Thi chọi gàđược nhiều người hưởng ứng, say mê Người chơi rất công phu từ việcchọn gà giống đến việc luyện tập những “thủ thuật” nhất định Ví nhưluyện cho gà có miếng đá hiểm hóc là đá cánh, đã luồn cẳng… dân gian
đã đúc kết việc chọn giống gà bằng câu ca; “Cổ công, mình cốc cánh ốptrai, quản ngắn, đùi dài, đã chẳng sai” (cánh ốp trai là cánh gà gọn,thon)
Chọi gà cũng có giải thưởng cho chủ gà thắng cuộc Có ban giámkhảo và luật lệ giữa những người chơi Thông thường, quá trình giao đấuquyết liệt, con gà nào bỏ chạy trước hoặc bị những miếng đánh nguyhiểm chết ngay tại chỗ là thua Cuộc đấu giữa hai con gà thắng và thua,
Trang 36nhưng cuộc chơi ấy lại do con người (chủ gà) điều khiển Cho nênchiến thắng ấy bắt nguồn từ các ông chủ gà đã tổ chức luyện tập và xử lýcác tình huống khi con vật nuôi thi đấu trên sân Thi chọi gà hấp dẫnngười xem vòng trong vòng ngoài trong sự cổ vũ hào hững, vui nhộn.Người chủ gà chọi cũng quan niệm, nếu gà của mình thắng thì việc làm
ăn sẽ gặp nhiều may mắn Giải thưởng cho chủ ga thắng cuộc bằng cờ lưuniệm hiện vật hoặc bằng tiền mặt
Thi đấu cờ: Ngày xưa, thi đấu cờ tướng ở đây bằng người thật đóngvai các quân cờ nên còn gọi là “cờ người” 32 quân cờ di động do 16 namthanh đóng quân đỏ, 16 nữ tú đóng quân xanh Tướng ông, tướng Bà, lànhững người khôi ngô, tuấn tú và có đạo đức, gia đình có uy tín được dânlàng cử ra
Các vai tướng, sĩ đều có lọng che Các “quân cờ” cũng tự may mặc,khăn áo chỉnh tề, trang phục thống nhất theo từng phía, từng vai Trongkhi thi đấu có người đánh trống bỏi, vận thơ phù hợp với những thế củangười đánh cờ và “đường đi nước bước” của đối phương
Ngày nay, chỉ còn lại cách đánh cờ trên các bàn cờ bằng gỗ nhỏ.Tuy vậy, những cuộc đấu trí vẫn quyết liệt giữa những người chơi Ngườithắng cuộc đạt giải cao nhất phải vượt qua ba “cửa ải” nhất thắng, nhịthắng, tam thắng mới được vào vùng trung kết Đánh cờ thực sự là nhữngcuộc đấu trí, đọ tài cuốn hút nhiều người tham gia, góp phần làm cho lễhội làng Bá Giang thêm phong phú Thỏa mãn sở thích của người đến dựhội Giải thưởng đánh cờ cũng là những vật có tính chất lưu niệm, hoặcbằng tiền do ban tổ chức lễ hội đặt ra
Lễ hội thả diều ngày nay
Trang 37Hàng chục thế kỷ đã qua đi, đất nước cũng trải qua các bước thăngtrầm của lịch sử Tạo hóa cũng biến đổi không ngừng Cảnh vật, conngười trên mảnh đất làng Bá Giang - xã Hồng Hà cũng theo dòng của quiluật biến thiên ấy Song, những chứng tích của lịch sử còn tồn tại mãi vớithời gian, năm tháng Truyền thuyết về nhân vật lịch sử được nhân dântôn thờ ở đình Bá Giang, thần châu thổ ở miếu Châu Trần cùng những sựtích lý giải nguồn gốc của hội thả diều ngày 15 tháng 3 âm lịch hàng năm
đã đi vào lòng người thành ấn tượng, thành kỷ niệm sâu sắc không baogiờ phai mờ được Ngày nay với thuật ngữ “văn hóa phi vật thể” thì lễ hộithả diều truyền thống laị càng có ý nghĩa sâu sắc Mang đậm tính nhânbản của văn hóa vùng cư dân nông nghiệp cấy trồng cây lúa nước Nhữnggiá trị văn hóa vật thể kiến trúc nghệ thuật của ngôi đình, chùa, miếu…cùng các di vật văn hóa cổ còn lại đến ngày nay càng nâng cao giá trịthẩm mỹ tạo thành dấu ấn văn hóa đặc sắc và độc đáo Góp phần quantrọng vào kho tàng văn hóa dân gian bản địa Làm phong phú bản sắc vănhóa dân tộc Đó là di sản văn hóa quí hiếm do ông cha ta truyền lại, là
cơ sở khoa học để con cháu kế thừa và phát triển đời sống văn hóađương đại Khẳng định sức sống mãnh liệt của nền văn hóa dân tộcViệt Nam
Diều ở làng là những con diều nguyên bản do nhân dân lao độnglàm ra Chất liệu làm diều cũng từ cây tre quen thuộc của quê nhà Quátrình làm diều, sáo diều, dây diều đòi hỏi sự tỉ mỉ, công phu và kỹ càngcùng với sự sáng tạo của người nông dân Thả diều còn là một nghệ thuậtđiêu luyện mà không phải ai cũng có thể giỏi được
Cũng từ đấy, tục làm diều sáo và hội diều được tổ chức đều đặn quacác năm Ngày 15 tháng 3 âm lịch , cùng với kỷ niệm Thành Hoàng làng,năm nào cũng diễn ra những cuộc thi thả diều của địa phương Hình
Trang 38thức tổ chức to nhỏ khác nhau nhưng tục lệ năm nào cũng duy trì đượcthi thả diều Các nghệ nhân cao tuổi đã hướng dẫn con cháu trong làngbiết cách làm diều, làm sáo và kỹ thuật thả diều Lớp trẻ đã hào hứng tiếpthu nên hàng năm có thêm hàng loạt diều loại nhỏ bay trời bầu trời quêhương Có người gọi làng Bá Giang là “làng diều truyền thống Các thế hệ kếtiếp nhau giữ gìn và phát huy tục lệ, thú chơi diều.
2.3 Tiềm năng phát triển lễ hội thả diêu
2.3.1 Lợi ích của phát triển du lịch lễ hội
mang ý nghĩa tâm linh trong đời sống văn hóa người dân làng Bá
Giang - xã Hồng Hà - huyện Đan Phượng - tỉnh Hà Tây
Làng Bá Giang nằm trong không gian của một làng quê ở Đồngbằng sông Hồng, nên mang đậm nét văn hóa cổ truyền Việt Nam: “Nôngnghiệp - nông thôn - nông dân” Lễ hội diễn ra gắn với hệ thống đình -miếu của làng Khu vực chính diễn ra lễ hội nằm trong không gian địa lýsinh thái của cư dân nông nghiệp vên sông Bởi vậy chịu ảnh hưởng củavăn minh nông nghiệp khá rõ nét Hội thả diều mang nặng ý thức cầuphong (gió) mong cho nắng ráo để sản xuất được cây trồng nông nghiệpđược thuận hòa Lễ vật dâng cúng thần linh là những sản phẩm được làm
ra từ cây lúa nước như bánh dày, bánh gio Cùng với lễ vật là các vật nuôicủa nông dân như lợn, gà Những đặc thù ấy rất cần phải bảo tồn và tiếptục phát huy những giá trị trong đời sống xã hội hiện đại
giáo dục truyền thống của lịch sử cội nguồn và góp phần xây dựng môitrường văn hóa lành mạnh
Lễ hội ở đây cũng như địa phương khác thể hiện ý thức nhớ về cộinguồn Đó là một đạo lý rất quí giá của người Việt Nam qua bao đời nay.Các nhân vật được tôn thờ được ngưỡng mộ gắn với lễ hội thả diều lànhững “ Thiên thần - phúc thần - nhân thần”, đã được dân gian huyền