1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÍCH LŨY CHUYÊN MÔN NGỮ VĂN THCS

122 2,5K 15

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn Lê Minh Khuê với “Những ngôi saoxa xôi” YÊN KHƯƠNG “Tôi đã chứng kiến cuộc sống của những cô gáithanh niên xung phong trong thời chống Mỹ - nhàvăn Lê Minh Khuê tâm sự về truyệ

Trang 1

Nhà văn Lê Minh Khuê với “Những ngôi sao

xa xôi”

YÊN KHƯƠNG

“Tôi đã chứng kiến cuộc sống của những cô gáithanh niên xung phong trong thời chống Mỹ - nhàvăn Lê Minh Khuê tâm sự về truyện ngắn “Nhữngngôi sao xa xôi” của mình (được đưa vào SGK lớp

9, và có tên trong tuyển tập “The art of the shortstory” (Nghệ thuật truyện ngắn thế giới)- Nhữngngày ấy tôi thấy nhớ Hà Nội vô cùng và tất cả đãđược gửi gắm vào trong tác phẩm Nói đến tácphẩm đó là đã chạm vào sợi dây kỷ niềm đằm sâutrong trái tim nhưng tôi hạnh phúc vì được sống trong thời đại ấy…”

* Viết bằng kỷ niệm, kí ức và tình yêu Hà nội.…

Đây là một truyện ngắn rất khó có thể tóm tắt Ba nữ TNXP làmthành một tổ trinh sát mặt đ¬ường tại một trọng điểm trên tuyếnđường Trường Sơn Nhiệm vụ của họ là quan sát địch ném bom, đokhối l¬ượng đất đá phải san lấp, đánh dấu các trái bom ch¬o nổ Công việc của họ hết sức nguy hiểm Họ phải đối mặt với thần chếttrong khi phá bom Nhưng cuộc sống của họ vẫn có những niềm vuihồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, mơ mộng

“Những ngôi Sao xa xôi” là một trong những tác phẩm đầu tiên trong

sự nghệp cầm bút của nhà văn Lê Minh Khuê Bà kể lại: “Ngày đó tôi

là phóng viên báo Tiền Phong, đã từng đi đến rất nhiều các chiếntrường để viết báo Năm 1971 tôi cùng một binh chủng làm đườngđến đèo Côlanhip và đã ở lại một đêm trong một hang đá cùng mộttiểu đội công binh Họ cũng là những người trẻ, hầu hết là học sinhtrung học, những sinh viên… đi tham gia kháng chiến Sống cùngnhau, cùng tuổi, cùng lý tưởng như nhau trong một hoàn cảnh vôcùng ác liệt nên dễ dàng hiểu và chia sẻ cho nhau Trong tâm hồnnhững cô gái thanh niên xung phong, quê nhà bao giờ cũng hiện lên

kỳ diệu Và bởi vẻ đẹp kỳ diệu đó mà họ sẵn sàng hy sinh Đó cũngchính là ý tưởng lớn nhất mà tôi muốn gửi gắm qua truyện ngắnnày”

Trang 2

Tôi không sinh ra và lớn lên ở Hà Nội nhưng thời còn nhỏ, hè nào tôicũng ra Hà Nội vì họ hàng ở ngoài này nhiều Khi lớn lên tôi làm việctại Hà Nội Vào những ngày cuối tuần tôi thường cùng bạn bè cùnglứa trong đó có cả Lưu Quang Vũ đạp xe đi dọc các con đường,những phố phường Hà Nội…Rồi đến khi vào chiến trường, dù tronghoàn cảnh ác liệt nhưng những cảnh núi rừng Trường Sơn tuyệt đẹpcũng không khỏi khiến người ta xao xuyến Những cây cổ thụ cao vút

dễ làm người ta liên tưởng đến những rừng bạch dương trong nhạcNga, rồi những ngày mưa mù mịt khiến những người sống bên nhaunhư xích lại gần nhau hơn…để từ đó trong tôi nảy sinh những cảmxúc mãnh liệt để đến khi trở về Hà Nội tôi đã chắp bút viết rất nhanhbằng kỷ niệm, bằng kí ức và một tình yêu tha thiết với Hà Nội Mọi người hỏi tôi: “Tại sao chứng kiến cuộc sống của những cô gáithanh niên xung phong mà nhà văn lại cảm thấy nhớ Hà Nội?” Tôitrả lời rằng: “Tôi cũng giống như bao nhiêu cô gái khác đã trở thànhmột thanh niên xung phong để góp một phần sức lực nhỏ bé củamình vào cuộc chiến tranh giữ nước thần kỳ của dân tộc Cuộc chiếntranh ấy để bảo vệ vẻ đẹp, vẻ thanh bình cho những làng quê Việt

mà trong đó, Hà Nội là trái tim, là biểu tượng cao nhất của đất MẹViệt Nam Bằng truyện ngắn này tôi muốn phân tích cuộc sống, tìnhcảm của những cô gái thanh niên xung phong qua cái nỗi nhớ 'tượngtrưng" đó Tất cả họ đều không ngại gian nguy để giữ cho đất nướcđược yên bình Những hình ảnh thành phố trong nỗi nhớ không đốilập với cuộc sống gian khổ của các cô gái thanh niên xung phong mà

đó là cái đích tượng trưng mà mỗi ngưòi trong số họ đều sẵn sànghuy sinh”

* “Tôi hạnh phúc vì được sống trong thời đại ấy”

Trong tác phẩm, cảm xúc về chiến tranh và Hà Nội đều rất thật dùcâu chuyện không hoàn toàn là sự thật Tên tác phẩm là một câu nóicủa một nhân vật và cũng là một cái gì đó xa xôi hư ảo…

Thời của chúng tôi, mọi thứ cứ mông lung nhưng trong sáng Có lẽtrong thời đại bây giờ khó có được những điều đó Dường như mọithứ giờ đây rõ ràng quá làm cho co người mất đi sự bí ẩn về nhau.Trong cái thời đại mà chúng tôi ra đi không hẹn ngày về, gặp nhaunơi chiến trường lửa đạn, gặp đấy, quen đấy, có khi thân ngay đấy

Trang 3

nhưng chẳng bao giờ dám nghĩ đến ngày gặp lại Nhiều khi nhữngcon người ấy lướt qua mình như cổ tích như huyền thoại làm nên sự

bí ẩn về nhau của những con người Mấy chục năm đã trôi qua, tôi đãkhông còn gặp lại những người lính năm xưa, mà có gặp có lẽ bây giờcũng khác Cái thời của chúng tôi đã không còn nữa Dù giờ đây đấtnước đã hòa bình và cũng chẳng ai mong đất nước gặp chiến tranhnhưng với tôi, tôi thực sự hạnh phúc vì đã được sống một thời tuổitrẻ với những người lính, với những điều mông lung và đầy bí ẩn…

Có một điều khá lạ lùng mà chính tôi đã cảm nhận trong thời giantôi ở chiến trường Đó là giữa bom đạn như vậy, giữa rừng núi bạtngàn như vậy, con người lại cảm thấy rất được tự do Sau này khi đithực tế, gặp gỡ các cô gái thanniên xung phong tôi mới hiểu ra rằngkhi con người được lao động, được sống và được huy sinh cho cái lýtưởng lớn lao trong tâm hồn mình thì con người đó sẽ cảm thấy rất tự

do, vui vẻ Nhân vật trong câu chuyện quả thật rất thảnh thơi và vô

tư lự nữa Họ có lý tưởng bảo vệ cuộc sống bình yên của đất nước

và đang hàng ngày hàng giờ thực hiện lý tưởng đó Thế cho nêntrong những giây phút nghỉ ngơi, họ sống hoàn toàn thoả mái Bomđạn không thể làm nguôi đi niềm vui sống trong tâm hồn họ”

* * * * * *

* *

Tác phẩm này được in lần đầu tiên trong tạp chí “Tác phẩm mới” và

cả trong tuyển tập “The art of the short story” (Nghệ thuật truyệnngắn thế giới) Sau này, tôi rất vui khi biết tác phẩm này được đưavào giảng dạy trong SGK lớp 9 Tôi cũng mong những thế hệ trẻ giờđây sẽ hiểu được phần nào cuộc sống của một thế trẻ trong chiếntranh Cho dù các bạn không phải trải qua những tháng ngày như

Trang 4

thế, thậm chí cả những thầy cô giáo giảng dạy về những tác phẩmchiến tranh cũng không có cuộc sống trải nghiệm Những quả thực,điều đó là rất khó Bởi lẽ có sống mới thực hiểu được tất cả những gì

mà những người lính, những cô gái thanh niên xung phong đã trảiqua Cũng chỉ có thế mới hiểu hết được giá trị thực sự của cuốc sốngnày Và như đã nói ban đầu, tôi hạnh phúc vì được sống trong thờiđại ấy…”

có nghề phụ làm thơ.”

* Đó là lúctôi dường như không biết lấy gì để vịn!Sốngtrên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đói

Trang 5

Sống như sông như suối

Bài thơ với nhan đề là “Nói với con”, đó là lời tâm sự của tôi với đứacon gái đầu lòng Tâm sự với con còn là tâm sự với chính mình.Nguyên do thì nhiều, nhưng lý do lớn nhất để bài thơ ra đời chính làlúc tôi dường như không biết lấy gì để vịn, để tin Cả xã hội lúc bấygiờ đang hối hả gấp gáp kiếm tìm tiền bạc Muốn sống đàng hoàngnhư một con người, tôi nghĩ phải bám vào văn hóa Phải tin vàonhững giá trị tích cực vĩnh cửu của văn hóa Chính vì thế, qua bài thơ

ấy, tôi muốn nói rằng chúng ta phải vượt qua sự ngặt nghèo, đói khổ

Trang 6

Xa nuôi chí lớn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnhSống trong thung không chê thung nghèo đói

Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương

Bài thơ 28 câu này được xem như là viết riêng cho đứa con đầu lòng

Ở phạm vi hẹp, bài thơ chủ yếu đề cập đến văn hóa dân tộc, nhằmtôn vinh nét đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc Tày

Tôi rất bất ngờ khi biết “Nói với con” được đưa vào SGK Tuy nhiêntôi không biết đích xác đưa vào năm nào Quan trọng là tác phẩm củatôi đã được đông đảo các em học sinh đón nhận Với những tác phẩmtrong SGK, việc cải cách liên tục như hiện nay thì một tác phẩm nay

“để”, mai “bóc” chuyện bình thường Vì thế phần thưởng lớn nhấtdành cho tôi là được mọi người biết đến, nhớ đến tác phẩm củamình

* Nhiều giáo viên và học sinh đã đến nhà nhờ giảng về bài thơ

Bài thơ “Nói với con”, dù thấy chẳng có gì đặc biệt hay, nhưng cũngkhiến nhiều người băn khoăn Chẳng hạn trong bài thơ có hai câu:

Đấy là hai câu chốt của bài thơ “Nói với con” Thế nhưng, nhiều giáoviên dường như chưa hiểu hàm ý của hai câu thơ Nên khi giảng bài,

Trang 7

họ chỉ dựa vào hướng dẫn trong SGK là chính Thực ra, theo tác giả,

ý nghĩa của bài thơ khác hơn nhiều Nó cao và sâu hơn câu chuyện vềtình phụ tử Chúng ta đừng viện cớ thiếu thốn khó khăn mà đánh mấtđạo đức, văn hóa Tôi thấy, dường như giờ đây, nhiều con em cácdân tộc không mấy mặn mà với văn hóa truyền thống Và họ đang tựnguyện nhập ngoại, lai căng một cách dễ dãi Tôi ủng hộ hòa nhậpnhưng không thể hòa tan Văn hóa dân tộc là tài sản lớn Giữ chomình và giữ cho con cháu mình Tôi là người dân tộc Tày Chúng tôisinh hoạt như những người Tày ngay giữa lòng Thủ đô Không phải

do tôi sợ đánh mất bản bản sắc riêng mà là niềm tự hào chính đáng

về văn hóa dân tộc của mình Tôi tự hào vì tôi là người Tày

Có lần, một cậu bé ở tận trong Huế lặn lội ra Hà Nội, tìm đến nhà vàhỏi chuyện tôi về bài thơ Hình như cậu bé chuẩn bị thi vào trườngquốc học Huế Đúng vậy Cậu học trò ấy đã chọn bài thơ “Nói vớicon” để làm bài thi môn văn Và cậu ấy đã đỗ thủ khoa Một số giáoviên ở trường chuyên ở các tỉnh, cũng đích thân tới tận nhà gặp vàhỏi trực tiếp tôi về bài thơ “Nói với con” Bài thơ mà mọi người hay băn khoăn thắc mắc nhất là hai câu:

“Chân phải bước tới cha/ Chân trái bước tới mẹ” nghĩa là sao? Tôi bậtcười, cái đó thì quá đơn giản Có gì đâu, đứa con sinh ra thì phải cócha có mẹ Đó là khởi điểm của một con người Một điều nữa “váchnhà ken câu hát” làyếu tố văn hóa phi vật thể Người con trai ngồingoài vách Người con gái ở bên trong vách Họ hát cho nhau nghe.Hát tràn đêm đến sáng bạch Bởi thế, bức vách ở đây không chỉ làmột bức vách cụ thể bằng đất bằng đá nữa Nó đã trở thành một chủthể văn hóa Văn hóa ăn nhau ở sự khác biệt chứ không nói sự hơnkém

Câu chuyện với nhà thơ người Tày Y Phương tưởng như không thểdứt ra được Từ chuyện ông ước mơ đi học các phép thuật để làmthầy tào; chuyện ông đi “buôn lậu” đến những quan niệm của ông vềlàm thơ Mời các bạn đón đọc kỳ sau

Nguyễn Đình Chiểu

Trang 8

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn hóa cận đại của Việt Nam sinh ngày

1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình , tỉnh Gia Định

(thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm

1888 tại Ba Tri , Bến Tre

Tiểu sử

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những chuỗi ngày gia biến

và quốc biến hãi hùng đã tác động đến nhận thức của ông Ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu đã theo cha chạy giặc.

Năm 1833 , Nguyễn Đình Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu) gửi Nguyễn Đình Chiểu cho một người bạn ở Huế để ăn học.

Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, năm 1847 ông ra Huế

học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849 Nhưng sau đó, mẹ ông mất, ông trở

về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khóc nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt Về quê, chịu tang mẹ xong, ông lại bị một gia đình giàu có bội ước Từ ấy ông vừa dạy học vừa làm thơ sống giữa tình thương của mọi người Về sau có người học trò cảm nghĩa thầy đã gả

em gái cho Nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu.

Khi Pháp xâm chiếm Gia Định, ông về ở Ba Tri , tỉnh Bến Tre , tiếp tục dạy học và làm thuốc Vốn nhiệt tình yêu nước, ông liên hệ mật thiết với các nhóm nghĩa binh của Đốc binh Nguyễn Văn Là , lãnh binh Trương Định Ông tích cực dùng văn chương kích động lòng yêu nước của sĩ phu và nhân dân Biết ông là người có uy tín lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông vẫn nêu cao khí tiết, không chịu khuất phục.

Người Việt Nam đánh giá ông không những là một nhà thơ lớn mà còn

là một nhà yêu nước, một nhà văn hóa Việt Nam của thế kỉ 19

Trang 9

sẽ góp phần lý giải sự biến đổi, phát triểncủa thể loại văn xuôi tự sự nói chung và thểtài tiểu thuyết nói riêng Trước đây, người tathường quan tâm đến thành phần cơ bảnnhư sự kiện, hành động, nhất là sự kiện mang tính “đột biến” Sangđầu thế kỷ XX, các tác giả hiện đại bắt đầu chú ý đến những yếu tố

“phi sự kiện” nhưng có vai trò quan trọng trong việc thiết tạo cốttruyện Bài viết này đặt vấn đề bàn thêm về các thành phần nghệthuật của cốt truyện trong tiểu thuyết hiện đại, một thể tài mới của

Những năm đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết chính thức có mặt và trởthành nhân vật chính trong tiến trình văn học dân tộc, bước đầu cónhững cách tân hiện đại so với truyện Nôm trước đó trên một sốphương diện: ngôn ngữ, nhân vật, cốt truyện… Từ xưa, cốt truyệnvẫn bị coi là thành phần “bảo thủ”, ít thay đổi nhất thì đến giai đoạnnày nó đã vận động khá mạnh mẽ, thậm chí bỏ qua lý thuyết cốttruyện truyền thống, dù chưa thật đồng bộ Trên phương diện chứcnăng, cốt truyện đảm bảo ba chức năng cơ bản: là phương tiện bộc

lộ tính cách của các nhân vật; phản ánh những mâu thuẫn và xungđột điển hình của hoàn cảnh xã hội mà nhà văn miêu tả; giúp cho tư

Trang 10

tưởng chủ đề và nội dung nghệ thuật có điều kiện bộc lộ một cáchđầy đủ nhất Xác định chức năng như thế nên trên phương diện lýthuyết, khái niệm cốt truyện cũng được hiểu rất sinh động và rộng

mở M.Gorki cho rằng “Cốt truyện như là một hệ thống các quan hệqua lại của các nhân vật, về thiện cảm và ác cảm của chúng, đã xácđịnh như là lịch sử của sự trưởng thành và tổ chức của một tính cáchnào đó”(1) B.Tomashevski lại viết “Tổng thể các sự kiện trong mốiliên hệ qua lại nội tại của chúng, ta sẽ gọi là cốt truyện”(2) Với chúng

ta, ngay ở thời kỳ văn học này một số nhà lập thuyết phát biểunhững luận điểm đáng lưu ý về cốt truyện như Phạm Quỳnh, Vũ ĐìnhLong Trong Thượng chi văn tập, Phạm Quỳnh viết “Trong một truyệnthời phải có người hành động, lại phải có những việc của các người

ấy làm ra: Một người nào ở trong một cảnh ngộ nào, làm ra nhữngcông việc gì đó là cốt một bộ tiểu thuyết”(3) Với tiểu thuyết Việt Namhiện đại, sau khi phân tích hệ thống khái niệm, nhà nghiên cứu vănhọc Phan Cự Đệ cũng xác định “Cốt truyện chỉ là một hệ thống các sựkiện và hành động trong một tác phẩm”(4) Như thế, khái niệm cốttruyện theo truyền thống và theo nghĩa khái quát nhất hiện nay thì sựkiện và hành động giữ vai trò quan trọng, thiết yếu, sự kiện luôn gắnliền với hành động Truyện Nôm Việt Nam quan tâm đến các hànhđộng, sự kiện với những nội dung cốt yếu mà hạn chế phát triểngiông dài những yếu tố “thừa”, “lặt vặt” như tiểu thuyết hiện đại Một

số kiểu cốt truyện như kết tinh phẩm chất thẩm mỹ đông phương naytrở nên đông cứng nên các nhà văn trung đại còn dè dặt trong việcsáng tác những cốt truyện mới mà thường chỉ thuật lại hoặc chăngbiến đổi đôi chút những tích truyện đã có sẵn Ví dụ như kiểu cốttruyện điển hình: Gặp gỡ – tai biến – lưu lạc – đoàn viên TruyệnKiều, Sơ kính tân trang, Lục Vân Tiên là các cốt truyện như thế.Chất truyện ở đây rất đậm và các cốt truyện thường được lấp đầybằng các sự kiện, hành động Trọng tâm truyện dồn vào miêu tả tỉ mỉnội tâm cũng như trạng thái tâm lý của nhân vật Vì vậy, mâu thuẫnnghệ thuật thường là mâu thuẫn xã hội – mâu thuẫn bên ngoài,không phải mâu thuẫn nội tâm – mâu thuẫn bên trong Cốt truyện

mà hành động bên ngoài chiếm ưu thế thì chủ yếu xây dựng trên các

“đột biến” trên các tiến trình sự kiện Thuật ngữ này từ thời Arixtốtdùng để chỉ “các biến động bất ngờ, gay gắt trong số phận nhân vật– các loại bước ngoặt có thể từ hạnh phúc đến bất hạnh và ngượclại”(5) Bước sang giai đoạn văn học đầu thế kỷ XX thì kiểu hành

Trang 11

động bên trong có một ý nghĩa lớn lao Nó không là các sự kiện độtbiến mà là những cơn thăng trầm trong cảm xúc của nhân vật thườngđộc lập với bất cứ sự kiện nào; sự cảm thụ và lý giải các hiện tượng

và thực tế khách quan ngày càng mới, những sự bừng sáng của contim hay trí tuệ Đầu những năm XX, một số tiểu thuyết mới được ramắt người đọc như Mảnh tình chung của Đinh Gia Thuyết; Cành hoađiểm tuyết, Cuộc tang thương của Đặng Trần Phất; Ai làm được, cayđắng mùi đời của Hồ Biểu Chánh đã bắt đầu chú ý hơn tới những sựkiện bên trong, nằm ngoài hành động Nhất là khi Tố Tâm của HoàngNgọc Phách ra đời, tác phẩm làm thay đổi của lối viết truyền thốngthì cốt truyện kiểu liên kết chuỗi sự kiện hành động không còn giữ vaitrò độc tôn nữa mà đã nhường chỗ cho việc miêu tả những điều khónói nằm sâu trong thế giới nội tâm của con người Cốt truyện lúc nàychính là hệ thống của những sự kiện biến cố nội tâm, hành động bênngoài đã nội hiện ở thế giới tinh thần phức tạp bên trong Xung đột

xã hội được khúc xạ qua xung đột nội tâm, giữa các nguyên tắc luân

lý đạo đức và tình cảm tự nhiên của con người, xung đột không kémphần quyết liệt giữa lý chí và tình cảm Song cũng không thể phủnhận một số tác giả vẫn còn sử dụng các cốt truyện kết cấu của vănhọc dân gian (Quả dưa đỏ – Nguyễn Trọng Thuật), tiểu thuyếtchương hồi của văn học Trung Quốc (Điểu Thám kỳ án – Trương Văn Chi) hoặc văn học phương tây như tiểu thuyết của Nguyễn Lân, HồBiểu Chánh

Cốt truyện được sáng tạo theo những mạch ngầm buộc người nghệ sĩphải chú ý và có nghệ thuật trong việc thể hiện các mạch truyện:mạch giải thích, bình luận, phân tích, miêu tả các yếu tố này, trướcđây người ta thường gọi là “trữ tình ngoại đề” hoặc yếu tố “xa đề” tức

là không gắn với cốt truyện Nhưng càng về sau người ta lại thấychúng là những bộ phận không thể thiếu của tác phẩm Trong Cànhhoa điểm tuyết (Đặng Trần Phất), Kim Anh lệ sử (Trọng Khiêm) cácnhà văn rất quan tâm miêu tả các sự kiện không phải trung tâm,không mang tính chất đột biến, nhưng lại rất cần cho truyện nhưnhững cảnh bàn đèn thuốc phiện, sòng bạc, nhà cô đầu để khắcthật đậm bi kịch số phận của nhân vật chính Trong Tố Tâm thìHoàng Ngọc Phách lại chú ý đến tình cảnh được nảy sinh trong mộttình huống cụ thể nào đó, quan tâm theo dõi những chuyển biến tinh

vi từ trạng thái này sang trạng thái khác, làm nổi bật lên tính chất

Trang 12

biện chứng của các diễn biến đó Để chân dung nhân vật trọn vẹn,nhà văn sử dụng các thủ pháp nghệ thuật tả rất phong phú: tả nộitâm qua môi trường thiên nhiên rộng như góc bể, chân mây, cánhđồng, bãi biển mênh mông; qua môi trường hẹp trong ngôi nhà số58; qua ngoại hình, hành động; qua đối thoại, độc thoại Đôi khi, tácgiả xen vào đó những lời bình luận ngoại đề của ký giả hoặc lời tròchuyện giữa nhân vật Đạm Thuỷ và ký giả Ở Mồ cô Phượng, đặcsắc nhất là khi tác giả Tùng Lâm Lê Cương Phụng đi sâu vào miêu tả

sự dằn vặt của cô Phượng vào đêm trước ngày từ bỏ chồng con theongười tình ra đi, hay những suy tính có vẻ thức thời nhưng thực ra lạirất khờ dại của một người phụ nữ quen sống trong cảnh trướng rủmàn che, chưa lường hết được những cạm bẫy nguy hiểm khi chuẩn

bị dấn thân vào cuộc đời sóng gió Mạch tả xuyên suốt các tác phẩmtrên, một mặt thể hiện sâu sắc tính cách, số phận của nhân vật, mặtkhác làm nổi bật xung đột truyện và trở thành bộ phận quan trọng

Bên cạnh các yếu tố phi sự kiện, trong giai đoạn đầu thế kỷ XX người

ta nhận thấy có một số cốt truyện gần gũi nhau, nhất là các thànhphần nhỏ không thể phân chia được Nhà lý luận văn học NgaB.Tomashevski đã tìm được đơn vị đó và dùng chúng với thuật ngữcủa folklore học gọi là môtíp truyện Trên cơ sở đó ông chia ra thànhloại môtíp động – có tác dụng thúc đẩy cốt truyện phát triển, môtíptĩnh – không trực tiếp thúc đẩy cốt truyện Các dạng môtíp đượcchuyển đổi từ một sơ đồ kể chuyện này đến một sơ đồ kể chuyệnkhác Đối với thi pháp học so sánh, việc có thể chia nhỏ các môtíp rahơn nữa không quan trọng lắm Điều quan trọng là trong phạm vinghiên cứu thể loại người ta luôn tìm thấy những môtíp không thayđổi ấy Cốt truyện trong các sáng tác của Hồ Biểu Chánh có sự xuấthiện hệ thống môtíp quen thuộc của truyện thơ Nôm, truyện nghĩahiệp Người đọc có thể thấy ảnh hưởng nội trội của cốt truyện thơNôm, đặc biệt là Truyện Kiều trong U tình lục, ảnh hưởng của truyệnthơ Nôm, và truyện nghĩa hiệp ở Ai làm được hay môtíp phiêu lưu,Trượng nghĩa ở Bá tước Monto – Cristo (Alecxandre Dumas), Khônggia đình (Hector Malot), Những người khốn khổ (Victor Hugo) trongcác tác phẩm Chúa tàu Kim quy, Cay đắng mùi đời, Ngọn cỏ gióđùa kinh nghiệm nghệ thuật vốn sống mà Hồ Biểu Chánh tích lũyđược bị chi phối nặng nề bởi quan niệm đạo đức nên nó thực sự hằn

Trang 13

sâu trong các tác phẩm của ông Phần này, các sáng tác đã ảnhhưởng nhiều bởi một số môtíp truyện dân gian: Ở hiền gặp lành, Ácgiả ác báo nhân vật “thiện” trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánhthường xuất thân từ tầng lớp bị trị, con nhà nghèo, thấp cổ bé họngnhư các nhân vật chính của truyện cổ tích kiểu nhân vật bất hạnh.Chúng xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh éo le của số phận rồi bướcvào quá trình thử thách để dần khẳng định phẩm chất đạo đức, tàinăng, trí tuệ của mình (Giao nhiệm vụ là một kiểu môtíp điển hình).Kết thúc truyện luôn có hậu, nhân vật chính được hưởng hạnh phúctốt lành như trong Cay đắng mùi đời, Tiền bạc bạc tiền, Cha connghĩa nặng theo hướng đó cốt truyện được xem là tổng hợp cácmôtíp theo sự kế tục thời gian và theo nhân quả Đối với một mảng

đề tài khác viết về số phận người phụ nữ, chủ đề quen thuộc vẫnđược khai thác theo công thức sắc – tài – mệnh tương đố như BạchThủy trong Cành hoa điểm tuyết của Đặng Trần Phất, Kim Anh trongKim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách ởnhững sáng tác ấy, một số môtíp quen thuộc vẫn như bắt buộc, nếuthay đổi nó thì có thể làm thay đổi mối quan hệ nhân quả như kiểucảnh ngộ thử thách gái hồng nhan đa truân như môtíp về sự ra đi (CôPhượng trong Mồ cô Phượng, Kim Anh trong Kim Anh lệ sử) Nhữngmôtíp không thể bỏ được trong cốt truyện như thế gọi là môtíp liênquan Nhưng nếu chỉ vậy, cốt truyện của tiểu thuyết có nguy cơ lặplại những sườn đã có sẵn của văn học quá khứ mà không có sự sángtạo Sự khác biệt cơ bản ở đây chính là chất tư liệu bộn bề của hiẹnthực cuộc sống sinh động Tác giả Đặng Trần Phất đã đưa vào tácphẩm của mình nhiều cảnh đời, hạng người khác nhau mà lên ánh cái

xã hội xuống cấp nghiêm trọng về mặt đạo đức, hỗn độn, tăm tối vớicái bề ngoài choáng lộn, nhà cửa nguy nga, lâu đài rực rỡ, phố xásạch sẽ, rộng rãi, người người ăn mặc màu mỡ Hồ Biểu Chánh cũng

có những trang viết xúc động, cụ thể về sự sa đọa và tội ác của bọnđịa chủ, tư sản, về sự khốn cùng của nông dân và nỗi phẫn uất của

họ Những môtíp tự do ấy sẽ làm nên bản sắc và phong cách riêng

Tóm lại, tiểu thuyết là thể loại văn học được chia ở thời hiện tại chưahoàn thành, một số vấn đề về cấu trúc thể tài chưa đông cứng, trong

đó có cốt truyện Xem xét cốt truyện như là chuỗi các sự kiện, hànhđộng là việc làm cần thiết Song trong thực tế, với phẩm chất vô cùng

Trang 14

năng động, tiểu thuyết đã tổng hợp trong mình nhiều thể loại văn họckhác nhau khiến cho người nghiên cứu không chỉ giải mã nó bằng các

sự kiện đơn thuần mà còn phải chú ý tới những thành phần “phi cốttruyện” như bài viết đã đề cập Hơn nữa, các nhà văn cũng ý thứcsâu sắc về sự sống của một tác phẩm nê họ đã không ngừng sángtạo “Cái làm nên sức mạnh cho tiểu thuyết gia chính là ở chỗ anh tasáng tạo, anh ta hoàn toàn tự do sáng tạo không có mô hìnhmẫu”(6) Vì thế, quan tâm toàn diện tới các thành phần cấu trúc cốt

D.Q.S

Nguyễn Đình Chiểu

Nguyễn Đình Chiểu là một nhà văn hóa cận đại của Việt Nam sinh ngày

1 tháng 7 năm 1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình , tỉnh Gia Định

(thuộc Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) và mất ngày 3 tháng 7 năm

1888 tại Ba Tri , Bến Tre

Tiểu sử

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu sớm trải qua những chuỗi ngày gia biến

và quốc biến hãi hùng đã tác động đến nhận thức của ông Ngay từ nhỏ, Nguyễn Đình Chiểu đã theo cha chạy giặc.

Năm 1833 , Nguyễn Đình Huy (cụ thân sinh của Nguyễn Đình Chiểu) gửi Nguyễn Đình Chiểu cho một người bạn ở Huế để ăn học.

Năm 1843 ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định, năm 1847 ông ra Huế

học để chờ thi khoa Kỷ Dậu 1849 Nhưng sau đó, mẹ ông mất, ông trở

Trang 15

về chịu tang mẹ, dọc đường vất vả lại thương mẹ khóc nhiều nên ông bị bệnh rồi mù cả đôi mắt Về quê, chịu tang mẹ xong, ông lại bị một gia đình giàu có bội ước Từ ấy ông vừa dạy học vừa làm thơ sống giữa tình thương của mọi người Về sau có người học trò cảm nghĩa thầy đã gả

em gái cho Nhân dân thường gọi ông là Đồ Chiểu hay Tú Chiểu.

Khi Pháp xâm chiếm Gia Định, ông về ở Ba Tri , tỉnh Bến Tre , tiếp tục dạy học và làm thuốc Vốn nhiệt tình yêu nước, ông liên hệ mật thiết với các nhóm nghĩa binh của Đốc binh Nguyễn Văn Là , lãnh binh Trương Định Ông tích cực dùng văn chương kích động lòng yêu nước của sĩ phu và nhân dân Biết ông là người có uy tín lớn, Pháp nhiều lần mua chuộc nhưng ông vẫn nêu cao khí tiết, không chịu khuất phục.

Người Việt Nam đánh giá ông không những là một nhà thơ lớn mà còn

là một nhà yêu nước, một nhà văn hóa Việt Nam của thế kỉ 19

Tác phẩm chính

Lục Vân Tiên sáng tác trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, có tính chất tự truyện.

Dương Từ Hà Mậu (chưa xác định thời điểm sáng tác)

Ngư Tiều y thuật vấn đáp (chưa xác định thời điểm sáng tác)

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861)

Mười hai bài thơ và bài văn tế Trương Định (1864)

Mười bài thơ điếu Phan Tòng (1868)

Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh (1874)

Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây (chưa xác định thời điểm sáng tác)

Hịch đánh chuột (chưa xác định thời điểm sáng tác).

Thông tin thêm

Con gái thứ năm của ông là Nguyễn Thị Ngọc Khuê tức nữ sĩ Sương Nguyệt Anh và con thứ bảy là Nguyễn Đình Chiêm đều nổi tiếng trong giới văn chương.

Tố Hữu

Tố Hữu (tên thật là Nguyễn Kim Thành; 1920 – 2002 ) là một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam

Trang 16

Tiểu sử

Ông sinh tại Hội An , tỉnh Quảng Nam Nhiều tài liệu, sách báo thường ghi ông sinh tại làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền , tỉnh Thừa Thiên-Huế Ông đã nói rõ điều này trong cuốn Một thời nhớ lại, NXB Hội Nhà văn, 2000: Nhưng thực ra tôi sinh ở Hội An, tỉnh Quảng Nam, năm 1920, và ở đó đến năm chín tuổi mới theo cha ra Huế

(trang 8).

Năm lên 12 tuổi, mẹ mất Năm 13 tuổi, vào trường Quốc học ( Huế ) Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng của Karl Marx , Friedrich Engels , Vladimir Ilyich Lenin , Hồ Chí Minh , Maxim Gorki qua sách báo, kết hợp với sự vận động của các đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam bấy giờ ( Lê Duẩn , Phan Ðăng Lưu , Nguyễn Chí Diểu), Nguyễn Kim Thành sớm tiếp cận với lý tưởng cộng sản Ông gia nhập Ðoàn thanh niên và được kết nạp vào đảng năm 1938.

Tháng 4 năm 1939, bị bắt, bị tra tấn dã man và đày đi nhiều nhà lao Trong tù, Nguyễn Kim Thành luôn giữ vững khí tiết, tiếp tục hoạt động cách mạng ở mọi hoàn cảnh.

Cuối 1941, vượt ngục (về hoạt động bí mật ở Hậu Lộc , Thanh Hóa ) Khi

Cách mạng tháng Tám bùng nổ, là chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của thành phố Huế Năm 1946, là bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa Cuối 1947, lên

Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn Từ đó, luôn giữ những trọng trách trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Ðảng và nhà nước:

1948: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam;

1963: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam;

Tại đại hội Ðảng lần II (1951): Ủy viên dự khuyết Trung ương; 1955: Ủy viên chính thức;

Tại đại hội Ðảng lần III (1960): vào Ban Bí thư;

Tại đại hội Ðảng lần IV (1976): Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị,

Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương;

Trang 17

Ông từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác như Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương Ông còn

là Đại biểu Quốc hội khoá II và VII.

Sau khi Lê Duẩn mất, có sự thay đổi mạnh mẽ tiến tới đổi mới nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế toàn diện Ông bị mất uy tín vì vai trò

"nhà thơ đi làm kinh tế" không thành công nên bị miễn nhiệm mọi chức

vụ, chỉ còn làm một chức nghiên cứu hình thức.

Ông mất 9h15' ngày 9 tháng 12 năm 2002 tại Bệnh viện 108

Các tác phẩm

Đi đi em!

Bầm ơi! Trên Trang Thơ Việt Nam

Bài ca mùa xuân 1961

Bài ca quê hương

Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan

Đường bạch dương sương trắng nắng ngàn (có nguồn [2] ghi là

nắng tràn)

Anh đi, nghe tiếng người xưa vọng

Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn

Trang 18

Tiếng chổi tre

Tiếng hát sông Hương

Vườn nhà

Việt Nam máu và hoa

Xuân đang ở đâu

Xuân đấy

Nguyễn Trãi

Chân dung phổ biến của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi ( chữ Hán : 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋), 1380 – 1442 , là một anh hùng dân tộc Việt Nam , một danh nhân văn hóa thế giới.

Tiểu sử

Quê gốc Nguyễn Trãi là làng Chi Ngại, huyện Chí Linh , tỉnh Hải Dương

nhưng sinh ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ Trần

Trang 19

Nguyên Đán , về sau dời về sống ở làng Ngọc Ổi , xã Nhị Khê , tỉnh Hà Tây Ông là con trai của ông Nguyễn Phi Khanh , vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học sinh và bà Trần Thị Thái-con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Trần

Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam sau bài thơ Nam quốc sơn hà

Công thần bị tội

Bị vạ với người trong họ

Sau thắng lợi 1 năm, đầu năm 1429, Lê Lợi nghi ngờ Trần Nguyên Hãn, một tướng giỏi là dòng dõi nhà Trần , mưu phản, sai người đi bắt hỏi tội Trần Nguyên Hãn nhảy xuống sông tự vẫn Vì Nguyên Hãn là anh em

họ của Nguyễn Trãi nên ông cũng cũng bị bắt giam vì nghi ngờ có liên quan tới tội mưu phản Sau đó vì không có chứng cứ buộc tội, vua Lê lại thả ông ra Tuy nhiên cũng từ đó ông không còn được trọng dụng như trước nữa.

Thực chất, cuộc thanh trừng công thần của Lê Thái Tổ có động cơ từ việc muốn thiên hạ hết mong nhớ nhà Trần; đồng thời cũng là cuộc tranh chấp quyền lực thời bình giữa các tướng có xuất thân họ hàng hoặc cùng quê với vua Lê - do Lê Sát đứng đầu - và các tướng xuất thân vùng khác, tiêu biểu là Trần Nguyên hãn và Phạm Văn Xảo hơn nữa đó lại còn là cuộc tranh chấp ngôi thái tử giữa con cả của vua là Lê Tư Tề (được Nguyên Hãn ủng hộ) với con thứ Lê Nguyên Long (được Lê Sát ủng hộ)

Năm 1433, sau khi vua Lê Thái Tổ mất, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn , Kiếp Bạc, thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.

Các tác phẩm văn thơ

Nguyễn Trãi để lại rất nhiều trước tác, cả bằng Hán văn và bằng chữ Nôm , song đã bị thất lạc sau vụ án Lệ Chi Viên Ông là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt Nam thời phong kiến, điển hình là tác phẩm Quốc âm thi tập.

Trang 20

Được biết đến nhiều nhất là Bình Ngô đại cáo được viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm ( 1417 – 1427 ) Tác phẩm này đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt cũng như việc lấy dân làm gốc với những câu như:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,

Nước non bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác;

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương; Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,

Song hào kiệt thời nào cũng có.

(trích theo bản dịch của Ngô Tất Tố )

Bình Ngô đại cáo được người đương thời rất thán phục, coi là "thiên cổ

Trang 21

Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Đình Thi ( 20 tháng 12 , 1924 – 18 tháng 4 , 2001 ) là nhà văn và nhạc sĩ Việt Nam

Tiểu sử

Ông sinh ngày 20 tháng 12 năm 1924 ở Luông Phabăng ( Lào ) Quê ở

làng Vũ Thạch (nay là phố Bà Triệu), Hà Nội Cha là viên chức Sở bưu điện Đông Dương có sang làm việc ở Lào.

Ông thuộc thế hệ các nghệ sỹ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp Ông viết sách khảo luận triết học, viết văn, làm thơ, soạn nhạc, soạn kịch, viết lý luận phê bình Ông được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996

Sau Cách mạng tháng Tám , Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Từ năm 1958 đến năm 1989 làm Tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam Từ năm 1995 , ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật

Trang 22

Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 2001 tại Hà Nội.

Bài thơ Hắc Hải (1958)

Dòng sông trong xanh (1974 )

Trang 23

Hồ Chí Minh ( chữ Hán : 胡志 明 ; 19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm

1969 ) là một nhà cách mạng , một người đấu tranh giành độc lập và toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam và là một người cộng sản theo chủ nghĩa dân tộc Hồ Chí Minh là một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập và sau này thống nhất nước Việt Nam Ông làm Chủ tịch ( 1945 - 1969 ) của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Ông còn có các tên khác là Nguyễn Tất Thành ( 阮必成), Nguyễn Ái Quốc (阮愛國), Lý Thụy (李瑞), Hồ Quang hay Bác Hồ, Cụ Hồ và khi ở

chiến khu Việt Bắc ông được người dân địa phương gọi là Ông Ké.

tháng 6 năm 1923 lại ghi ngày sinh là 15 tháng 2 năm 1895.

Ông tên thật là Nguyễn Sinh Cung ( 阮 生 恭 , giọng địa phương phát âm

là Côông), tự là Tất Thành, sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên nôm là làng Chùa) cùng huyện Nam Đàn và sống ở đây cho đến năm

1895 Thân phụ ông là một nhà nho tên là Nguyễn Sinh Sắc , từng đỗ

Phó bảng Thân mẫu ông là bà Hoàng Thị Loan ( 1868 - 1901 ) Ông có một người chị là Nguyễn Thị Thanh ( 1884 - 1954 ), một người anh là

Nguyễn Sinh Khiêm ( 1888 - 1950 ), tự là Tất Đạt, còn gọi là ông Cả Khiêm

và một người em trai nhưng mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận ( 1900 - 1901

*************************

Nguyễn Du

Trang 24

( chữ Hán : 阮攸; 1765 – 1820 ) [1] là một nhà thơ Việt Nam Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh).

Nguyễn Du tên tự là Tố Như ( 素如), tên hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là

Hồng Sơn lạp hộ.

Cuộc đời

Ông quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân , tỉnh Hà Tĩnh , nhưng sinh và trải qua thời thơ ấu ở Thăng Long Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới

triều Lê ; mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người

xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 người con) Anh khác mẹ (con

bà chính) của ông là Toản Quận Công Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều.

Năm 1771, ông cùng gia đình Tể tướng Nguyễn Nghiễm chuyển về ở làng Tiên Điền

Năm 1775, lúc 10 tuổi Nguyễn Du mồ côi cha.

Năm 1778, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ, ông phải ra Thăng Long ở với anh cả là Nguyễn Khản Được vài năm, Nguyễn Du trở về làng Tiên Điền ở với người chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành

Năm 1783 , Nguyễn Du thi hương tại trường thi Nghệ An và đậu Tam trường Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thi lên nữa, mà đi nhận một chức quan võ ở Thái Nguyễn, kế chân người cha nuôi của ông vừa mới từ trần.

Năm 1789 , Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân nhà Thanh Nguyễn Du, vì tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn

Từ năm 1789 đến năm 1795, ông sống ở Thái Bình - quê vợ.

Năm 1796 : Nguyễn Du dự định vào Gia Định cộng tác với Chúa Nguyễn , âm mưu bị bại lộ, bị nhà Tây Sơn bắt giam ba tháng.

Trang 25

Có thể Nguyễn Du đã thai nghén Truyện Kiều vào thời gian này; năm đó Nguyễn Du đúng 30 tuổi ("Trải qua một cuộc bể dâu" - một bể dâu bằng khoảng 30 năm [2] ).

Nhưng theo Giáo sư Nguyễn Lộc ("Từ điển Văn học" tập II - Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1984) trang 455 viết: " Đoạn trường tân thanh (đoạn trường: đứt ruột; tân thanh: tiếng mới) là một truyện thơ Nôm viết bằng thể lục bát, dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân , Trung Quốc Có thuyết nói Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ Trung Quốc (1814-20).

Có thuyết nói Nguyễn Du viết trước khi đi sứ, có thể vào thời gian làm Cai bạ ở Quảng Bình (1804-09) Thuyết sau này được nhiều người chấp nhận"[3]

Chi tiết xem thêm bài Truyện Kiều

Từ 1797 đến năm 1804: Nguyễn Du ẩn dật tại Tiên Điền

Khi Nguyễn Phúc Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản , rồi mời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh Năm 1805 , ông bắt đầu vào Huế làm quan với nhà Nguyễn

và được thăng Đông Các điện học sĩ, tước Du Đức Hầu Năm 1813 , thăng Cần Chánh điện học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc Sau khi về nước, năm 1815 , ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.

Đường công danh của Nguyễn Du với nhà Nguyễn chẳng có mấy trở ngại Ông thăng chức nhanh và giữ chức trọng, song chẳng mấy khi vui, thường u uất bất đắc chí.

Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng

sợ sệt như không biết nói năng gì "

Năm 1820 , Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông đột ngột qua đời.

Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống

thuốc, bảo người nhà sờ tay chân Họ thưa đã lạnh cả rồi Ông nói

"được" rồi mất; không trối lại điều gì."

Tác phẩm tiêu biểu

Ngoài Truyện Kiều nổi tiếng ra, Nguyễn Du còn để lại

Trang 26

Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu

Thác Lời Trai Phường Nón (bằng chữ Nôm )

Ba tập thơ chữ Hán điển hình

Thanh Hiên Thi Tập

Nam Trung Tạp Ngâm

Bắc Hành Tạp Lục

Các bài thơ khác : - Cảm Hứng Trong Tù - Đầu Sông Chơi Dạo - Đứng Trên Cầu Hoàng Mai Buổi Chiều - Đêm Đậu Thuyền Cửa Sông Tam Giang - Đêm Rằm Tháng Giêng Ở Quỳnh Côi - Lưu Biệt Anh Nguyễn -

Mộ Đỗ Thiếu Lăng Ở Lôi Dương - Miếu Thờ Mã Phục Ba Ở Giáp Thành - Ngày Thu Gởi Hứng - Nói Hàn Tín Luyện Quân - Người Hát Rong Phủ Vĩnh Bình - Ngồi Một Mình Trong Thủy Các - Ngựa Bỏ Bên Thành - Ngày Xuân Chợt Hứng - Long Thành Cẩm Giả Ca - Tranh Biệt Cùng Giả Nghị - Qua Sông Hoài Nhớ Thừa Tướng Văn - Xúc Cảm Đình Ven Sông - Viếng Người Con Hát Thành La

Bằng Việt

Bằng Việt (sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941 ) là một nhà thơ Việt Nam Ông đã từng là Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam và đang là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội.

Tiểu sử

Bằng Việt tên thật là Nguyễn Việt Bằng, nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất , tỉnh Hà Tây nhưng ông sinh tại thành phố Huế và học trung học tại Hà Nội Sau khi tốt nghiệp khoa Pháp lý, Đại học Tổng hợp Kiev vào năm 1965 , Bằng Việt về Việt Nam, công tác tại Viện Luật học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam Đến năm 1969 , ông chuyển sang công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam Năm 1970 , ông tham gia công tác ở chiến trường Bình Trị Thiên , với tư cách là một phóng viên

chiến trường và làm tại Bảo tàng truyền thống cho đoàn Trường Sơn Năm 1975 , ông công tác ở Nhà xuất bản Tác phẩm mới.

Sau khi về Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội (gọi tắt là Hội Văn nghệ Hà Nội) năm 1983 , ông được bầu làm Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật

Trang 27

Hà Nội (1983-1989) và là một trong những người sáng lập tờ báo văn

nghệ Người Hà Nội (xuất bản từ 1985 ).

Sau đó được bầu làm Uỷ viên Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, làm tổng biên tập tờ tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam (1989 - 1991 ).

Năm 2001 , ông được bầu làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội và được bầu lại làm Chủ tịch Hội nhiệm kỳ 2006 - 2010

Tại Ðại hội lần thứ VII Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam (tháng 9 năm 2005), Bằng Việt được bầu làm một trong 5 Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Ông cũng từng làm Thư ký thường trực, rồi Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội (1991-2000).

Sau Đại hội Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VII, Bằng Việt đã đệ đơn lên Ban Chấp hành xin từ chức sau khi đã giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Thơ suốt hai nhiệm kỳ với lý do công việc.

Tác phẩm

Sáng tác

Hương cây - Bếp lửa, (Tập thơ; 1968, 2005), đồng tác giả với Lưu Quang Vũ

Trong tập này có bài Bếp lửa (Household warm) sau này được in

trong sách giáo khoa phổ thông ở Việt Nam

Giờ cháu đã đi xa

Có ngọn khói trăm tàu

Có niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng khi nào quên nhắc nhở

Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?

Những gương mặt - Những khoảng trời (Some faces and pieces of sky; 1973)

Đất sau mưa (1977).

Khoảng cách giữa lời (1984).

Cát sáng (1985), in chung với Vũ Quần Phương

Bếp lửa - Khoảng trời (Tập thơ) (1986).

Trang 28

Phía nửa mặt trăng chìm (1995).

Thơ Bằng Việt (Tập thơ), (2001).

Ném câu thơ vào gió (Tập thơ; Flying a verse with the wind; 2003)

Huy Cận

Huy Cận (tên khai sinh là Cù Huy Cận; 31 tháng 5 năm 1919 – 19 tháng 2

năm 2005 ), là một nhà thơ của Việt Nam Ông là bạn thân giao của

Xuân Diệu , một nhà thơ nổi tiếng khác của Việt Nam.

Ông sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 , trong một gia đình nhà nho nghèo gốc nông dân dưới chân núi Mồng Gà ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn

(nay là xã Ân Phú, huyện Vũ Quang ), tỉnh Hà Tĩnh Huy Cận lúc nhỏ học ở quê, sau vào Huế học trung học, rồi ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh nông Trong thời gian học Cao đẳng, ông ở phố Hàng Than cùng với Xuân Diệu Từ năm 1942 , ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh , Huy Cận đã tham dự Quốc dân đại hội ở Tân Trào ( tháng 8 năm 1945 ) và được bầu vào Ủy ban giải phóng (tức Chính phủ Cách mạng lâm thời sau đó) Huy Cận cũng từng cộng tác với nhóm Tự Lực Văn Đoàn

Sau Tổng khởi nghĩa tháng Tám , ông là Bộ trưởng Bộ Canh nông trong

Chính phủ liên hiệp lâm thời

Sau này ông làm thứ trưởng Bộ Văn hóa, rồi Bộ trưởng đặc trách Văn hóa Thông tin trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam , phụ trách các công tác văn hóa và văn nghệ Từ 1984, ông là Chủ tịch (rồi Phó Chủ tịch) Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.

Huy Cận đã được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I - năm 1996).

Tháng 6 năm 2001, Huy Cận được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ Thế giới

Về đời tư, Huy Cận có hai người vợ Người vợ đầu của ông là em gái của Xuân Diệu Có nhiều người tin rằng Huy Cận cùng với Xuân Diệu

là hai nhà thơ đồng tính luyến ái Huy Cận và Xuân Diệu từng sống với

Trang 29

nhau nhiều năm, và cho những bài thơ Tình trai, Em đi của Xuân Diệu

và Ngủ chung của Huy Cận là viết về đề tài này.

Huy Cận mất ngày 19 tháng 2 năm 2005 tại Hà Nội

Con trai ông là Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ , hiện nay đang tự ra ứng cử

Bộ trưởng Bộ văn hóa- Thông tin.

Sáng tác

Huy Cận có thơ đăng báo từ 1936, cho in tập thơ đầu Lửa Thiêng năm

1940 (gồm những bài đã đăng báo, khoảng 1936 - 1940 ) và trở thành một tên tuổi hàng đầu của phong trào Thơ mới lúc bấy giờ Bao trùm Lửa Thiêng là một nỗi buồn mênh mang da diết Thiên nhiên trong tập thơ

thường bao la, hiu quạnh, đẹp nhưng thường buồn Nỗi buồn đó dường như vô cớ, siêu hình nhưng xét đến cùng, chủ yếu là buồn thương về cuộc đời, kiếp người, về quê hương đất nước Hồn thơ "ảo não", bơ vơ

đó vẫn cố tìm được sự hài hòa và mạch sống âm thầm trong tạo vật và cuộc đời Trong Kinh cầu tự ( 1942 , văn xuôi triết lí ) và Vũ trụ ca (thơ đăng báo 1940 - 1942 ), Huy Cận đã tìm đến ca ngợi niềm vui, sự sống trong vũ trụ vô biên song vẫn chưa thoát khỏi bế tắc.

Sau Cách Mạng Tháng Tám - nhất là từ 1958 - hồn thơ Huy Cận được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và lao động xây dựng của nhân dân, trở nên dồi dào, tràn đầy lạc quan Các tập thơ của Huy Cận sau Cách mạng: Trời mỗi ngày lại sáng ( 1958 ), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời

( 1963 ), Hai bàn tay em (thơ thiếu nhi, 1967 ), Những năm sáu mươi

( 1968 ), Chiến trường gần đến chiến trường xa ( 1973 ), Họp mặt thiếu niên anh hùng ( 1973 ), Những người mẹ, những người vợ ( 1974 ), Ngày hằng sống ngày hằng thơ ( 1975 ), Ngôi nhà giữa nắng ( 1978 ), Hạt lại gieo

( 1984 ) …

Chính Hữu

Chính Hữu, tên thật là Trần Đình Đắc, là một nhà thơ Việt Nam , Phó tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật (năm 2000 ).

Tiểu sử hoạt động

Trang 30

Ông sinh ngày 15 tháng 12 năm 1926 tại Vinh ( Nghệ An ) Tuy nhiên, quê của ông lại là huyện Can Lộc , tỉnh Hà Tĩnh Ông học

tú tài (triết học) ở Hà Nội trươcs cách mạng tháng tám Năm

1946 , ông gia nhập Trung đoàn Thủ Đô và hoạt động trong quân đội suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống

Mỹ Ông còn làm chính trị viên đại hội (chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954) Ông làm thơ từ năm 1947 và hầu như chỉ viết về người

lính và chiến tranh Tập thơ Đầu súng trăng treo (1966 ) là tác phẩm chính của ông Bài thơ "Đồng chí" được in vào tháng 2-

1948 Thơ ông không nhiều nhưng lại có nhiều bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và hình ảnh chọn lọc, hàm súc Ông đã sáng tác bài thơ "Đồng chí" mà sau này đã được phổ nhạc cho bài hát "Tình đồng chí"

Phạm Tiến Duật

Phạm Tiến Duật (sinh năm 1941 ) là một nhà thơ Việt Nam với nhiều tác phẩm tiêu biểu viết trong thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ cứu nước Hiện nay ông là Phó trưởng ban đối ngoại Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam

Tiểu sử

Phạm Tiến Duật sinh ngày 14 tháng 1 năm 1941 , quê ở huyện Thanh

Ba , tỉnh Phú Thọ Cha ông là nhà giáo, dạy chữ Hán và chữ Pháp , còn

mẹ làm ruộng, không biết chữ Ông tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm

Hà Nội năm 1964, nhưng sau đó không tiếp tục với nghề giáo mà quyết định lên đường nhập ngũ Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng.

Chiến tranh kết thúc, ông trở lại với công tác của mình Hiện nay, ông sống ở Hà Nội

Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và hội viên Hội nhà Văn Việt Nam (gia nhập năm 1970) Ông đã được giải nhất cuộc thi thơ báo

Văn nghệ 1969–1970.

Đóng góp

Trang 31

Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông tham gia quân ngũ Thơ của ông được các nhà văn khác đánh giá cao và có nét riêng như: giọng điệu sôi nổi, trẻ trung nhưng cũng tinh nghịch và sâu sắc Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát để động viên tinh thần chống Mỹ

Những tập thơ chính của nhà thơ Phạm Tiến Duật:

Vũ Đình Liên

Vũ Đình Liên (sinh ngày 12 tháng 11 năm 1913 - mất năm 1996) là một

nhà thơ , nhà giáo nhân dân Việt Nam , từng là chủ nhiệm khoa tiếng Pháp trường Đại học Quốc gia Hà Nội , và là chủ biên sách sơ khảo Lịch

sử thơ Việt Nam.

Tác phẩm chính: Vàng và máu (truyện vừa, 1934), Mấy vần thơ (thơ, 1935), Bên đường Thiên lôi (truyện ngắn, 1936), Lê Phong phóng viên (tiểu thuyết, 1937) Mai Hương và Lê Phong (tiểu thuyết, 1937), Đòn hẹn (truyện, 1939), Gói thuốc lá (tiểu thuyết, 1940), Gió trăng ngàn (truyện, 1941), Trại Bồ Tùng Linh (truyện vừa, 1941), Thoa (truyện ngắn, 1943) Ngoài ra Thế Lữ còn viết nhiều kịch bản: Cụ Đạo sư ông (1946), Đoàn

Trang 32

biệt động (1947), Đợi chờ (1949), Tin chiến thắng Nghĩa Lộ (1952) Ông dịch nhiều vở kịch của Sếchxpia, Gơtơ, Sinle và N.Pôgôđin

Nam Cao

Nam Cao (1915-1951)

Nam Cao ( 1915 - 1951 ) là một trong những nhà văn Việt Nam tiêu biểu nhất thế kỷ 20 Nhiều truyện ngắn của ông được xem như là khuôn thước cho thể loại này Đặc biệt một số nhân vật của Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình, được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày

Tiểu sử

Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri [1] , giấy khai sinh ghi ngày 29 tháng 10

năm 1917 , nhưng theo người em ruột của ông là Trần Hữu Đạt thì ông sinh năm 1915 Quê ông tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Song, tỉnh Hà Nam - nay là xã Hòa Hậu , huyện Lý Nhân , Hà Nam Ông

đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh: Nam Cao.

Xuất thân từ một gia đình bậc trung Công giáo , cha Nam Cao là ông Trần Hữu Huệ, thợ mộc, làm thuốc, mẹ là bà Trần Thị Minh làm vườn, làm ruộng và dệt vải Nam Cao học sơ học ở trường làng Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành chung ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 tuổi Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương đầu tiên vì mục đích mưu sinh Năm 18 thuổi vào Sài Gòn , ông

Trang 33

nhận làm thư ký cho một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác Ông gửi in trên Tiểu thuyết thứ bảy , trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư Có thể nói, các sáng tác "tìm đường" của

Nam Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương thời.

Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Thành, trên đường Thụy Khuê , Hà Nội

Ông đưa in truyện ngắn Cái chết của con Mực trên báo Hà Nội tân văn

và in thơ cùng trên báo này với các bút danh Xuân Du, Nguyệt.

Năm 1941, tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi, tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ, với bút danh Nam Cao do NXB Đời mới Hà Nội ấn hành

được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó Sau này khi in

lại, Nam Cao đã đổi tên là Chí Phèo Phát xít Nhật vào Đông Dương , trường bị trưng dụng, Nam Cao thôi dạy học.

Rời Hà Nội, Nam Cao về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình , rồi về lại làng quê Đại Hoàng Thời kỳ này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm Ông in truyện dài nhiều kỳ Truyện người hàng xóm trên Trung Bắc Chủ nhật, viết xong tiểu thuyết Chết mòn, sao đổi là Sống mòn Tháng 4 1943 , Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và

là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này.

Năm 1945 , Cách mạng tháng Tám thành công Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi ông được cử làm Chủ tịch xã của chính

quyền mới ở địa phương Ông cho in truyện ngắn Mò sâm banh trên tạp chí Tiên Phong.

Năm 1946 , Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên Tại Nam Bộ , Nam

Cao viết và gửi in truyện ngắn Nỗi truân chuyên của khách má hồng trên tạp chí Tiên Phong, in tập truyện ngắn Cười ở NXB Minh Đức, in lại tập truyện ngắn Chí Phèo Ra Bắc, Nam Cao nhận công tác ở Ty Văn hóa Hà Nam, làm báo Giữ nước và Cờ chiến thắng của tỉnh này Mùa thu năm 1947 , Nam Cao lên Việt Bắc Ông là thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, viết Nhật ký ở rừng Tại chiến khu, năm 1948 Nam Cao

gia nhập Đảng cộng sản Việt Nam

Trang 34

Năm 1950 Nam Cao chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam ,

làm việc trong toà soạn tạp chí Văn nghệ Tháng 6, ông thuyết trình về

vấn đề ruộng đất trong hội nghị học tập của văn nghệ sỹ, sau đó ông được cử làm Ủy viên tiểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng Trong năm đó, ông tham gia chiến dịch biên giới

Tháng 5 1951 , Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng về dự Hội nghị văn nghệ Liên khu 3 , sau đó hai nhà văn cùng vào công tác khu 4 Nam Cao trở ra tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp, vào vùng địch hậu khu

3 Ông có ý định kết hợp lấy thêm tài liệu cho cuốn tiểu thuyết sẽ hoàn thành.

Năm 1951, trong chuyến công tác tại tỉnh Ninh Bình , Nam Cao bị quân Pháp phục kích bắt được và xử bắn.

Ông có một vợ và năm người con, trong đó một người đã mất trong nạn đói năm 1945

Tác phẩm

Kịch

Đóng góp (1951)

Tiểu thuyết

Truyện người hàng xóm (1944) - Báo Trung văn Chủ nhật.

Sống mòn (1956), ban đầu có tên Chết mòn - Nhà xuất bản Văn

Trang 35

Anh Chi

1 Thị xã Thanh Hoá năm 1971, những đêm phòng thủ không đènđiện đã đành, còn rất hiếm thấy ánh đèn dầu Đêm chiến tranh thậtnhiều những ái ngại và lo âu Bỗng có người gọi chúng tôi và bảorằng: Có bạn từ ngoài Bắc vào thăm Người bạn đó là Hữu Thỉnh, thời

ấy được coi là nhà thơ trẻ

Đương thời, trong đời sống văn chương, người ta hay nói thơ chống

Mỹ, là để gọi một trào lưu thơ mới khởi phát mạnh mẽ, cũng là để nóitới một thế hệ các nhà thơ đang dồi dào sức viết, mới trỗi dậy, tạonên một sức sống mới cho thơ ca Năm 1971, nhà thơ trẻ Hữu Thỉnhđang là một người lính binh chủng Thiết giáp, trên đường hành binhvào tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào Anh ghé thăm tôi chừnghai tiếng đồng hồ, khoảng thời gian đoàn binh thiết giáp nghỉ để lấylại sức

Đêm tuyến lửa, chúng tôi uống trà ba hào, loại trà vụn 0,3 đồng mộtgói, và nói toàn chuyện thơ ca, thơ chống Mỹ Nào chuyện Bằng Việtnói những điều to tát qua những câu thơ nặng về suy tưởng LưuQuang Vũ thì thật tinh tế và đa cảm, ngọt ngào Và Phạm Tiến Duậtđang nổi danh bởi thơ viết về bộ đội Trường Sơn Đêm ấy, tiễn HữuThỉnh đi, dáng anh gầy, đi cặm cụi, dấn thân Và khi ấy, chúng tôicảm nhận rằng, rồi anh sẽ tạo nên được một thứ thơ của riêng anh,chắc sẽ không giống thơ của những nhà thơ trẻ mà chúng tôi vừanhắc tới Chúng tôi còn chạy theo, tặng Hữu Thỉnh cây bút Hồng Hà

mà mình đã dùng viết những bài thơ đầu tiên

Thế rồi, vài năm tiếp sau đó, Hữu Thỉnh cho in những bài thơ vềchiến tranh, xúc cảm trần đời hơn Hành binh trên xe tăng, nghĩ tớingười mình yêu, anh viết: Chúng đang nhằm bắn anh và đồng đội/

Em biết không? (Ý nghĩ không vần) Trong bài Giấc ngủ trên đường

ra trận, có những câu thơ vừa quyết liệt vừa vững lòng: Bom Mỹ cắnvào đêm mơ mộng/ Con suối dài cứ hát để đi xa Là thứ thơ viếtđược trên đường đánh trận, đói và rét, và đổ máu thật nhiều, nên nómang cái thực của tình đời Có được cái tình ấy, thơ mới nhiềuthương cảm, như bài Chuyến đò đêm giáp ranh, những câu mô tả màkhiến người ta xao xuyến lòng: Bìm bịp chùm đôi kêu dính vào nhau/

Trang 36

Tiếng nước vỗ tan ra rồi chập lại/ Đêm chỉ thực bằng âm thanh chừngấy/ Tất cả là ru, tất cả là mơ

Với bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh và bài thơ dài Sức bền của đất,Hữu Thỉnh được tặng giải Nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ 1975-

1976 Đó là sự ghi nhận của đời sống văn chương đối với một giọngthơ về trận mạc không mấy tô hồng, biểu dương, mà gần với tình đờithực Người hiểu Hữu Thỉnh thì biết, đó là thơ anh viết về bản thânmình, về những người thân yêu cùng đói no, ấm lạnh, cùng đổ máu,

mồ hôi và nước mắt

Sinh năm 1942 ở quê hương Vĩnh Phúc, được học tập ở trường quê,vào tuổi hai mươi thì vào bộ đội Tăng thiết giáp, đi vào cuộc chiếntranh bằng việc cụ thể là chiến đấu trực tiếp ở các chiến trường Trảiqua các trận chiến, với một tâm hồn đa cảm, mỗi ngày sống là lạithêm bao thương nhớ ngổn ngang, và, nó trở thành thơ anh Nhìnnhận về Hữu Thỉnh trong cuộc đời như thế, mới hiểu rằng, chính conđường số phận anh đã làm cái việc đưa anh dấn bước trên con đườngthơ của mình

Ngay sau Giải thưởng thơ Báo Văn nghệ, Hữu Thỉnh được về dự mộttrại sáng tác tại Hà Nội, và anh bắt đầu khởi thảo trường ca Đườngtới thành phố, một tác phẩm quan trọng bậc nhất của đời thơ anh,cũng là một tác phẩm hay của nền thơ Việt Nam hiện đại Mở đầutrường ca này là chương Ngọn lửa chiến trường, những câu thơ đầu,anh viết về các chiến binh xòe bàn tay lạnh cóng hơ trên đống lửa,sưởi một chặng đường dài tất bật Những câu thơ đưa người đọc đếnvới một không gian ngoài đống lửa, thật rộng lớn: Trước mặt là baonhiêu miền quê/ Sau lưng là bao nhiêu miền quê/ Ngọn lửa ta đốt lên

ở giữa

Rồi câu thơ lại đưa độc giả vào chiều sâu thời gian của đời người:Nếu mẹ biết ta còn đông đủ/ Đang bập bùng thương nhớ suốt hànhlang/ Giọt đèn ấy bớt đi nhiều khuya khoắt

Giọt đèn ấy là giọt đèn đêm đêm mẹ thương những đứa con trậnmạc Những câu thơ như rọi cho người đọc thấy từng gương mặtchiến binh, chủ những căn hầm, đã đốt ngọn lửa để tìm vào tri kỷ

Mẹ lại hiện lên trong tâm trí: Mẹ đang đi gánh rạ giữa đồng/ Rạchẳng nặng mà nặng nhiều vì gió Và, mẹ đã nhập vào hình tượng

Trang 37

lớn hơn, như quê hương, lại như người có sứ mệnh lớn lao nhất, dẫndắt đoàn chiến binh: Những cánh đồng in dấu chân của mẹ/ Cứ ngàyngày ra khẩu lệnh cho tôi

Khi viết Đường tới thành phố, bút lực của Hữu Thỉnh thật sung mãn.Cấu trúc từng chương, từng khúc nhỏ trong chương đó, vừa có hìnhtượng thơ độc lập, lại có những liên kết với nhau, tạo thành chỉnh thểlớn của trường ca Ngôn ngữ thơ giàu xúc cảm và cũng phong phú chitiết sống: Gạo chỉ mang đủ mười ngày/ Còn dành mang súng/ Cònmang thuốc/ Còn mang bao nhiêu tai biến dọc đường Nhiều khi,qua một chi tiết sống có phần đau thương, xúc cảm thơ trào dângmột vẻ đẹp cao cả, như chi tiết những người lính thêu họ, tên, đơn vịmình lên ngực áo, để có thể: Người ta tìm áo báo tin cho mẹ/ Nếuchẳng may anh ngã xuống nơi đâu/ Đến cái chết đã chẳng cần giấugiếm/ Trái tim anh càng đập ngang tàng

Chúng tôi nhìn lại một chút tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, thấydường như suốt mấy chục năm trời chỉ thật nhiều thơ viết về chiếntranh Sau một thời đại thơ ca (chữ của Hoài Thanh gọi giai đoạn Thơmới 1932-1942), từ năm 1946 lại bắt đầu một thời đại thơ ca mớinữa, và nó được khởi lên từ máu lửa, trận mạc, với Đèo cả của HữuLoan và Nhớ máu của Trần Mai Ninh Họ đã viết trước khi chínhquyền nước Việt Nam dân chủ và độc lập phát lệnh toàn quốc khángchiến chống xâm lược Pháp

Hai nhà thơ đặc sắc đó đã tạo cho thơ ca Việt Nam những hình tượnghùng tráng, xúc cảm thật to lớn, giọng điệu ngùn ngụt máu lửa, chưatừng có trong thơ ca dân tộc Đó lại là hai phong cách thơ khác nhau,

và cho đến nay, đầu thế kỷ XXI, bút pháp của Hữu Loan và Trần MaiNinh vẫn khiến người ta kính phục! Đó là lịch sử tạo nên nhà thơ, làmnên thơ ca của mình Nêu nhận xét trên, chúng tôi không có ý sosánh thơ Hữu Thỉnh với thơ của hai nhà thơ ấy; bởi, mọi sự so sánhđều khập khiễng

Chúng tôi chỉ muốn lưu ý rằng, năm 1975, lịch sử dân tộc ta lại ghithêm một dấu mốc thật huy hoàng với Chiến dịch Hồ Chí Minh, giảiphóng Sài Gòn, thống nhất đất nước Con đường số phận riêng củaHữu Thỉnh đã đưa anh vào cuộc hành tiến của Binh đoàn thiết giáp,một đơn vị chủ công, có vai trò lớn trong việc mở đường tiến vào Sài

Trang 38

Qua suốt cuộc hành tiến, may sao Hữu Thỉnh không chết, vậy nên đờisống thơ ca có thêm trường ca Đường tới thành phố! Thơ ấy, tất cóđược những xúc cảm lớn về Tổ quốc, về nhân dân, về biết bao ngườicon đi suốt qua lửa máu và hi sinh Thơ ấy, tất có được những suy tư

về quê hương, đất nước, về tình yêu và lẽ sống Thơ ấy viết về nhữnggiá trị lớn hơn cả thơ ca: Anh quên thơ để nhớ gốc sim cằn/ Dăm bảy

lá lèo tèo như mực rớt Nhưng thứ sim cằn ấy ở cái ranh giới giữa tavới kẻ thù, người chiến binh vệ quốc phải thấy sim ấy là đất đai Tổquốc mình

Và người lính ấy phải bò về phía gốc sim / Một nửa người anh dâmdấp máu/ Anh đang đau cho đất đá anh yêu/ Gốc sim cằn và xơ xáclàm sao/ Không che nổi anh đâu, bò cách chi cũng lộ Sau những mô

tả, là trữ tình, khiến rơi nước mắt: Em có thể mất anh bất cứ lúc nào/

Em có thể bơ vơ khi em còn rất trẻ

Đường tới thành phố dằng dặc, đau đớn, mất mát Chiếc máy baycán gáo của kẻ thù ròng một xác đồng chí của anh đã bị chúng chặtđầu, câu thơ như tạc: Máu anh nhỏ xuống núi ngàn/ Đời anh treomột dấu than giữa trời Đan xen giữa những khúc thơ khốc liệt, máulửa, là nhiều đoạn trữ tình Có khi trữ tình về cái đói: Bứt lấy lá raunhư bíu lấy lá buồm/ Qua sóng gió hiểm nghèo trăm trận đói Có khitrữ tình về sự tướp da, nhỏ máu: Em có nghe thấy không? / Sỏibuốt quá/ Bò thì đau mà không bò thì chết

Dằng dặc mấy thì hành trình tới thành phố cũng đến hồi thần tốc,những câu thơ như thét lên: Xuân Lộc/ Tôi gọi những cánh rừng caosu/ Rừng cao su bật gốc/ Chân nhang la liệt đất Những đoạn cuốitrường ca, nhiều khúc trữ tình hơn, trữ tình về mẹ: Nếu mẹ biết/ Đêmnay nữa là con vào thành phố/ Mẹ sẽ khóc/ Tưởng sáng là con đã cónhà Cũng đã có cái hào sảng, tưng bừng, thứ hào sảng tưng bừng

mà trước đó chưa từng có và sau này không có trong thơ Hữu Thỉnh.Anh đã nhận được ân huệ của thời điểm lịch sử, vào thành phố, tưngbừng nụ cười, tưng bừng nước mắt!

Đọc Đường tới thành phố, chúng tôi tự dưng nhớ câu thơ của HànMặc Tử: Xin dâng này máu đang tươi/ Này đây nước mắt nụ cườichen nhau Có liên quan gì đâu, câu thơ của người bốn mươi năm

Trang 39

trước với bản trường ca của người bốn mơi năm sau?! Có đấy chứ,cùng là dâng hiến cả thôi.

Người xưa, với cái tôi trữ tình cao vợi, muốn hiến dâng cho đời cái giátrị lớn nhất mình có Người sau, đi trên đường số phận mình trongcuộc đi cùng bao người chung lòng, chung sức, với rất nhiều buồnvui, sướng khổ, rồi cũng muốn dâng cho đời phần giá trị nhất mình cóđược trong cuộc hành trình Và, quà hiến dâng cũng giống nhau đấychứ Là máu tươi, nước mắt và nụ cười! Xin người đọc coi suyngẫm này của chúng tôi là một suy ngẫm về thành công của thơ ca!

2 Sau Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh còn viết ngay Trường cabiển, xong lần thứ nhất từ năm 1981, và hơn mười năm sau, anh mớisửa chữa lại, rồi xuất bản năm 1994 Cũng xin nói thêm, bài thơ dàiSức bền của đất mà báo Văn Nghệ trao tặng giải Nhất cuộc thi thơ1975-1976 (cùng bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh), là một trường

ca, Hữu Thỉnh viết trước cả trường ca Đường tới thành phố

Và rồi, gần 20 năm sau anh mới sửa chữa và xuất bản năm 2004 Haitrường ca này, dù xuất bản muộn, nó cũng nằm trong chặng thứ nhấtcuộc đời thơ Hữu Thỉnh, chặng thơ viết về chiến tranh Trong Trường

ca biển, Hữu Thỉnh vẫn sáng tạo được những câu thơ rất giàu mỹcảm, như những câu thơ mô tả những người lính đảo trên bãi cátmép đảo: Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà/ Chiều áo rộng vài vạtmây hờ hững/ Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa

Hoặc những câu trữ tình về cuộc đời người mẹ trong quá khứ buồnkhổ: Mẹ đành gọi bán lúa non/ Liềm hái buồn quang gánh cũngbuồn / Rơm rạ sang khói bếp nhà người

Những năm khởi viết Trường ca biển, sửa chữa trường ca này, và sửachữa trường ca Sức bền của đất, là những năm sau chiến tranh, đờisống đứng trước những thử thách mới, những thử thách rất lớn Cuộcsống người dân hàng ngày có nhiều va đập, nhiều khổ nhọc trongmưu sinh, nên tâm tính con người có nhiều xao xác Giới trí thức phảidằn vặt, nghĩ ngợi nhiều về các vấn đề lớn, như đạo đức, hạnhphúc Và, có lẽ những tác gia, nhà nghiên cứu, thi sĩ là day dứtnhiều nhất Những day dứt đó cùng bản lĩnh và lòng yêu cuộc sống,

họ đem bày tỏ trong tác phẩm Nhà thơ Hữu Thỉnh cũng vậy, anh viếtnhững bài thơ của mình, rồi đến năm 1994 đem in trong tập Thư mùa

Trang 40

Năm 1995, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo có viết một bài bình giá về tậpthơ mới này của Hữu Thỉnh Nguyễn Trọng Tạo nhận định: " Nhữngcâu thơ hay thời đầu của anh thường thiên về cảm Bây giờ câu thơHữu Thỉnh đậm màu triết học hơn, nó có sức nặng của ngẫm ngợi vàchiêm nghiệm " Cũng như Nguyễn Trọng Tạo và nhiều người mừngcho thành công mới của Hữu Thỉnh, chúng tôi lại có cách nhìn nhậnkhác hơn một chút (bởi nói triết học ở nước ta, là nói đến một điềuquá xa vời)

Chúng tôi thấy, trong những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ XX,tâm hồn con người, mộng ước tươi tốt về hạnh phúc con người đãvập vào nhiều trở lực thật lớn Mỗi nghệ sĩ lớn, mỗi nhà khoa học đềuthấy kiếm sống là việc rất khó, và giữ được phẩm hạnh còn khó hơn.Vậy mà, Hữu Thỉnh vẫn là một thi sĩ thật giàu mơ mộng, cũng nhưthời anh ở chiến trường bom đạn bời bời vẫn cứ mơ mộng Ví dụ:Ngồi trong xe tăng nóng nung như trong một quả bom hơi, cũng mơmộng được: Năm anh em trong chiếc xe tăng/ Như năm bông hoa nởcùng một cội Khi sát kề cái chết, xúc cảm rất to lớn, vẫn nhuốm mơmộng: Trời ơi nếu kẻ thù chiếm được/ Chỉ một gốc sim thôi dù chỉgốc sim cằn/ Tổ quốc sẽ ra sao, Tổ quốc?/ Thơ ơi hãy ghì lấy gốcsim (Trường ca Đường tới thành phố)

Hữu Thỉnh còn viết thẳng về việc mơ: Tôi thức dậy với giấc mơ đầycát/ Cát đầy dấu chân chim/ Chim đầy mùi trời/ Trời đầy mùi thiên hạ(Trường ca biển)

Khi nhìn nhận phẩm chất mơ mộng của Hữu Thỉnh, chúng tôi hay nhớđến một luận điểm đặc sắc của Valéry Nhà thơ lớn của Pháp này chorằng: Mơ mộng là nhận thức Thơ Hữu Thỉnh in trong tập Thư mùađông, thể hiện những nhìn nhận về lẽ sống, về tình đời những nămđầy xáo động: Ta đâu đề phòng ở phía người yêu/ Cây đổ về nơikhông có vết rìu, là mơ mộng đấy, và cũng là nhận thức đấy chứ! Haicâu thơ trên ở trong bài Tự thú Với bài Hạnh phúc, mơ mộng mà đauthót ngực: Ra sông vớt đám củi rều/ Cha tôi mang về những khúc catrôi nổi/ Cây khế có thêm vị buồn

Là mơ mộng khi đau về nhân tình đấy, mà vẫn nhận ra một thế thái,

Ngày đăng: 27/06/2015, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w