Và liên đã trã lời: “có hề sao đâu….miễn là anh sống, luôn luôn có mÆt anh, tiÕng nãi cña anh trong gian nhµ nµy….” Trong cái buổi sáng có lẻ là buổi cuối cùng của đời mình,nhĩ vô cùng k[r]
Trang 1
Bút pháp ước lệ của nguyễn du
Qua cảnh thuý kiều đưa tiễn thúc sinh
Ước lệ được xem là một đặc điểm thi pháp của văn học trung đại, trong truyện kiều, nguyễn du sử dụng khá nhiều bút pháp ước lệ, có nhiều nhà văn sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo nên tránh được sói mòn, nhàn chán không những bút pháp ước lệ của nguyễn du còn góp phần diễn tả một cách tinh tế, sâu sắc tâm trạng nhân vật, điều đó thể hiện rất rỏ qua cảnh thuý kiều đưa tiễn thúc sinh về tự thú với hoạn thư
Thường thường khi chia tay người ta hay nắm lấy áo nhau tỏ tình quyến luyến, bịn rịn,níu
áo dần dần trở thành một cách nói quen thuộc
“chàng ơi ,buông áo em ra/ để em đi chợ kẻo mà chợ trưa”(ca dao) Trong buổi tiễn đưa, kiều cũng níu áo chàng thúc Cho đến chàng thúc lên ngựa, nàng mới chịu “chia bào” (buông áo) theo logic bình thường người này có buông áo, người kia mới lên ngựa được ậ đây nguyễn du cố ý sắp xếp lại: người lên ngựa, kẻ xuống bào”, theo tôi đây là một chi tiết cần được quan tâm, bởi vì qua cái chi tiết nhở như phi logĩc này, Nguyễn Du không chỉ thể hiện nỗi vấn vương, lưu luyến mà con thể hiện được tâm trạng đầy lo lắng của thuý kiều, nàg cố níu giữ thúc sinh về tự thú với hoạn thư là mong muốn cuộc sống yên ổn lâu dài Nhưng trong nửa năm chung sống, qua chàng thúc, nàng đã biết ít nhiều về hoạn thư, riêng cái uy con gái quan thượng thư bộ lại của hoạn thư cũng đã đủ cho thuý kiều e ngại, nàng lo sợ mất chàng- mất cái chổ dựa duy nhất dữa chốn “nước non quê người”, nàng lại sẻ rơi vào cảnh bơ vơ chân trời góc bể, vì vậy nàng cố níu giữ chàng ngay cả khi chàng đã lên ngựa, bằng một chi tiết có tính ước lệ, Nguyễn Du đã phần nào diễn tả
được cái tâm trạng “ngổn ngang trăm mối”của nàng kiều
Rừng phong lúc chớm thu lá dần ngả sang màu đỏ được nhắc đến khá nhiều trong thơ ca cổ điển trung hoa, cái màu đỏ của lá phong mùa thu có tính ước lệ này qua tay thiên tài Nguyễn Du đã biến thành “ màu quan san” –gợi sự xa xôi, cách trở Phải hiểu tâm trạng bất an của kiều khi chia tay thúc sinh về gặp hoạn thư nào có khác gì đi đến nơi xa xôi biên ải nếu theo logic bình thường thì rừng phong mới nhuốm “ màu quan san” thôi.nghĩa là lá phong đang ngẩ dần sang màu đỏ, kiều tiễn đưa thúc sinh lúc mới sang thu Nhưng “ màu quan san” lại rất phù hợp với tâm trạng lo lắng bất an cuă nàng kiều lúc này, Nguyễn Du tả màu sắc qua tâm trạng, chỉ thay một dấu từ
Trang 2“nhuộn” sang “nhuốm” mà cái “màu quan san” càng thêm xa xôi, cách trở
đây cũng là một nội dung ý nghệ thuật của nguyễn Du chăng?
Thúc sinh đi rồi, kiều cứ đứng nhìn theo mãi: “Dặm hồng bụi kín chinh an/ trong người đã khuất mấy ngàn dâu xanh” thường khi tả đoàn quân xuất trạn mới có cảnh “dặm hồng bụi cuốn”.trong bình xa hành của đỗ phủ cùng với tiếng ngựa hí là cảnh cát bụi bay ngút trời Người chinh phgu trong chinh phụ ngâm; “ thét roi cầu vị ào ào gió thu” “ bụi cuốn” nghĩa là bụi mù trời Gió ào ào… Nguyễn Du tả thúc sinh đi về cô tích gặp hoạn thư chẳng khác gì đi ra chiến trận Theo logíc bình thương thì không thật đúng, nửa năm ăn ở với người đẹp, giờ phải chia tay, chàng thúc chắc bịn rịn lắm nếu cóphi thì chang chỉ phi nước kiêu thôi, làm gì có chuyện “ bụi cuốn”mù trời như thế, ngay khi chia tay hoạn thư, vừa lên ngựa chàng đã: “ thẳng ruổi nước non quê người”, vẫn không thấy nguyễn du tả một tí bụi nào cho dù thẳng ruổilà phi rất nhanh, phi theo kiểu nước đại để mau về gặp lại thuý kiều với tâm trạng háo hức, thúc sinh nhìn cái gì cũng đẹp: “ long lanh đáy nước in trời/ thành xây khói biếc , non phơi bóng vàng” Phi nước đại như thế không hề có một tí bui nào còn phi nước kệu lại “dặm hồng bụi cuốn”?đây chính là cảnh được nhìn qua tâm trạng đầy lo âu của nàng kiều Bụi chắc có nhưng ít thôi, gió chắc cũng nhẹ thôi nhưng với nàng kiều: chàng thúc như
đang đi vào nơi đầy bụi, gió bức chẳng khác gì ra trận Mà chàng thúc đang
“ra trận” thật, bởi vì chàng sắp “ chiến đấu” với hoạn thư- một cuộc chiến không cân sức giữa hai chàng non gan với bà vợ đầy uy lực vừa đây “uy ma,chứoc quỷ làm sao mà kiều có thể yên tâm được, một lần nữa ta hiểu thêm dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du qua một chi tiết hêt sức bình thường
Trang 3Thiết kế giáo án bài
Nước đại việt ta
A.Mục tiêu cần đạt:
- giúp HS thấy được đoạn văn có ý nghĩa ngư lời tuyên ngôn đọc lập của dân tộc ta ở thế kỉ XV
- Thấy được phần nào sức thuyết phục của nghệ thuật văn chính luận của nguyễn trãi, lập luận chặt chẽ, sự kết hợp giữa lí lẻ và thực tiễn
B.Chuẩn bị:
-GV: chân dung nguyễn trãi, máy prọecter, phiếu học tập cho cá nhân, bảng phụ, phô to toàn bài bình ngô đại cáo phát trước cho HS tham khảo
-HS: xem lại bài Nam Quốc Sơn Hà, tiểu sử nguyễn trãi (ở bài ca côn sơn)
đã học ở lớp 7,sạo bài theo câu hỏi trong SGK và một số câu hỏi của giáo viên
-Tích Hợp:
+phần văn : bài Nam quốc sơn hà, tiểu sử nguyễn trải, bài hai chử nước nhà
+phần tiếng việt: giải nghĩa từ, phép liệt kê, đối…
+phần tập làm văn:lập luận trong văn nghị luận văn chứng minh
+tích hợp với một số kiến thức trong môn lịch sử
C Tiến trình Dạy- học
- Giới thiệu bài mới
Hoạt động của GV Hình thức
hoạt động của HS
Kêt quả cần đạt
I Hướng dẫn HS đọc- tìm hiểu
chung về tác giả tác phẩm
>chiếu chân dung Nguyễn Trải
- em còn nhớ điều gì về thân thế,
sự nghiệp nguyễn trải, hãy nói
những điểm cơ bản về ông cho cả
lớp cùng nghe?
-Dựa vào kiến thức đã học ở bài ca côn sơn
để trả lời
I Đọc và tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm:
1.tác giả:
Nguyễn trải(1380-1442)
-Nhà văn nhà thơ lón -Anh hùng dân tộc
- Danh nhân văn hoá
Trang 4-tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh
nào?
-Hãy giải thích Bình Ngô Đại
cáo có nghĩa là gì?
-Vì sao đánh giặc minh mà lại
gọi là bình Ngô?
-Em hiểu “cáo”là một thể loại
như thế nào?(lưu ý HS phân biệt
cáo là một kiểu văn hành chính
được viết theo thể loại văn nghị
luận với báo cáo là một kiểu văn
bản hành chính hiện nay)
-yêu cầu HS mở toàn bài văn bản
dịch bài Bình Ngô Đại Cáo- giới
thiệu bố cục một báo cáo nói
chung, bài bình ngô đại cáo nói
riêng bằng máy chiếu- giới thiêu
vị trí của đoạn trích,
:” chiếu toàn bộ đoạn trích (chữ
hán phiên âm, bản dịch)
-giáo viên đọc mẫu đoanh trích
-hỏi:em có nhận xét gì về giọng
điệu của đoạn văn này?
-GV:Hướng dẫn đọc đoạn trích-
gọi HS đọc
-theo các em, đoạn trích Nước
Đại Việt Ta có thể chia làm mấy
phần? Nêu rõ nội dung từng
phần?
Chiếu Đáp án: bố cục của đoạn
trích: 3 phần
+Hai câu đầu:nguyên lí nhân
nghĩa
+tám câu tiếp:chân lí về sự tồn
tại độp lập có chủ quyền của dân
tộc Đại Viêt
-Dựa vào chú thích trong SGK để trả lời -Độc lập
-Dựa vào chú thích trong SGK để trả lời
- Mở toàn bài văn cáo và nghe GV giới thiệu
-Đọc lập
-một HS
đọc-HS khác nhận xét
-Đọc lập
thế giới…
2 tác phẩm:
a) Hoàn cảnh sáng tác:
1428 (sau chiến thắng quân minh)
b) thể loại : cáo : -nghị luận cổ, có tính hùng biện, lối văn biểu ngẫu
- vua chúa hay thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương hay cồng
bố kết quả một sự nghiệp
-Lời lẻ đạnh thép, lí luận sẵc bén, kêt cấu mãnh lạc
c)Vị Trí Đoạn trích: phần đầu
d)bố cục đoạn trích: 3 phần
Trang 5+sáu câu còn lại: sức mạnh của
nguyên lí nhân nghĩa, của chân lí
độc lập dân tộc
+chuyển ý bằng cách nêu vấn đề
II Hướng dẫn HS đọc-tìm hiểu
chi tiết đoạn trích:
-> Chiếu hai câu đầu
-gọi HS đọc hai câu đầu
-hãy giải thích nghĩa của từ nhân
nghĩa?
-qua hai cầu đầu, em hiểu cốt lỏi
tư tưởng nhân nghĩa theo quan
điểm của nho giáo là gì?
-em hiểu “dân” ở đây là ai? “ yên
dân” là như thế nào?
-nhưng để cho dân được yên ổn
làm ăn, theo Nguyễn Trải thì
việc trước hết phải làm là việc
gì?
-em hiểu “bạo” ở đây là những
kẻ nào?
-vậy qua hai câu đầu, em hiểu
cốt lỏi tư tưởng nhân nghĩa của
nguyễn trải là gì?
-trong hai nội dung đó, so với tư
tưởng của nho giáo, em thấy nội
dung nào kế thừa Nội dung nào
là mới?
->GV chốt:+cốt lỏi tư tưởng
nhân nghĩa của nguyễn trãi là
“yên dân” và “trừ bạo” ngược lại
, “trừ bạo” đánh đủi giặc minh
xâm lược, bảo vệ độc lập dân tộc
là để cho dân dược yên đó là lập
trương chính nghĩa và cũng là
mục đích của cuốc khởi nghĩa
lam sơn
+mối qua lại khăng khít ấy là
một nguyên lí, một nguyên lí
đúng với mọi thời đại-nguyên lí
nhân nghĩa
-Một HS đọc
-Độc lập
-Độc lập -Độc lập
-Độc lập -Độc lập
-Độc lập -Độc lập
-Độc lập
III.Đọc-tìm hiểu chi tiết đoạn trích
1.Nguyên lí nhân nghĩa:
-Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của nguyễn trãi
-sự kế thừa và phát triển tư tưởng nhân nghĩa của nguyễn trãi
so với nho giáo
Trang 6->Ghi tiêu đè của phần I.
-hai cầu đầu nêu nguyên lí nhân
nghĩa, vậy lí lẻ ấy của tác giả
xuất phát từ đâu?
# Chuyển: Trong tư tưởng của
nguyễn trải, khi nhân nghĩa gắn
liền với yêu nước, chống xâm
lược thì bảo vệ nền độc lập của
đất nước cũng là việc làm nhân
nghĩa chính vì vậy , sau khi nêu
nguyên lí nhân nghĩa, Nguyễn
Trải đã khẳng định chân lí về sự
tồn tại độc lập, có chủ quyền về
dân tộc đại Việt
* chiếu tám câu tiếp theo, gọi
một học sinh đọc
-trong đoạn này, tác giả đã đưa
ra những yếu tố nào để xác định
đọc lập, chủ quyền của dân
tộc?căn cứ vào đâu em lại khẳng
định như vậy?
Chiếu câu hỏi thảo luận: - nhiều
ý kiến cho rằng: ý thứ dân tộc ở
đoạn trích Nước đại việt ta là sự
tiếp nối và phát triển ý thức dân
tộc ở bài thơ Sông núi nước nam
Em có đồng ý như vậy không?
Vì sao?
-trước khi cho HS thảo luận , gọi
một HS đọc lại bài Sông núi
nước nam
-chiếu đáp án: sự tiếp nối và phát
triển ý thức dân tộc của nước đại
việt ta so với Sông núi nước nam
GV chốt: +sự phát triển toàn diện
sâu sắc về ý thức dân tộc trong
nước đại việt ta
+quan niệm hoàn chỉnh của
Nguyễn trãi về quốc gia dân tộc
-“văn hiến” nghi là gì?
-tại sao Nguyễn Trãi lại đưa “văn
-Độc lập
-Độc lập
-thảo luận nhóm->cử đại diện trình bày->các nhóm nhận xét lẫn nhau
-Dựa vào
đoạn phim
-Văn chính luận của nguyễn trãi là có sự kêt hợp giữa lí lẽ và thực tiễn
2 chân lí về sự tồn tại
đọc lập có chũ quyền của dân tộc:
-văn hiến- lãnh thỗ- phong tục-lịch sử- chũ quỳên-chân lí:quan niệm về tổ quốc, sự thể hiện ý thức dân tộc của nguyễn trãi
-Sự tiếp nối và phát triển ý thức dân tộc của nước đại việt ta so với Sông núi nước nam:phát triển toàn diện và sâu sắc
hơn->quan niệm hoàn chỉnh của nguyễn trãi
về quốc gia, dân tộc
Trang 7hiến”lên vị trí hàng đầu so với
các yếu tố khác?
-cho HS xem một đoạn phim về
văn miếu – quốc tử giám rồi
chiếu lại câu hỏi trên
*bình:
+đặt trong bất cứ hoàn cảnh lịch
sử nào thì “văn hiến”cũng là yếu
tố cơ bản nhất, là hạt nhân để xác
định tư cách tồn tại đọc lập của
một dân tộc
+đưa yếu tố “văn hiến”lên đầu và
việc nhấn mạnh thêm nền văn
hiến nước ta ở sự có mặt luôn
luôn của những người tài gỏi:
“tuy mạnh yếu…cũng có”, cũng
là một cách đập thẳng vào luận
điệu coi thường dân ta, gọi dân ta
là man dí, mọi kiến của bon
phường bắc
+ngày nay, hội nhập là xu thế
phát triển chung của thời đại
nhưng chúng ta phải giữa gìn bản
sắc văn hoá dân tộc Có thể nói,
tư tưởng của nguyễn trãi dường
như đi trước thời đại
-đọc thầm lại đoạn hai và nhận
xét về cách viết của nguyễn trãi
trong đoạn này, đồng thời nêu
tác dụng của cách viết ấy?
(GV nhắc HS xem chú thích 6
trong SGK về triều đại triệu)
-những cách viết ấy đã tạo nên
một giọng văn như thế
nào?giọng văn ấy góp phần thể
hiện điều gì?
*chiếu sáu câu cuối
-trình bày lại nội dung khái quát
của sáu câu này?
-để thể hiện được những điều đó,
tác giả đã đưa ra những dẫn
vừa xem và những ý kiến thức đã học về lịch sử và văn học để trả lời câu hỏi
-Nghe GV bình
-Độc lập
-Độc lập
-Độc lập -Độc lập
Vai trò quan trọng của
“văn hiến” đối với dân tộc->they được vì sao Nguyễn Trãi lại đưa
“văn hiến” lên vị trí hàng đầu so với các yếu tố khác->tư tưởng của nguyễn trãi đi trước thời đại
-Liệt kê, đối để so sánh->các triều đại của
ta sánh ngang hàng với các triều đại lớn của trung quốc
-các nhà văn dài, ngắn khác nhau->dung lượng hiện thực lớn, bao trim nhiều triều
đại
-Đặt các triều đại của
ta lên các triều đại của trung quốc một cách rất tự hào
-giọng văn hào sảng
Trang 8chứng nào?nhận xét cách trình
bày các dẫn chứng đó?
(GV nhắc lại HS xem chú thích
12 trong SGK về tạo độ và ô mã
nhi)
-cách chuyễn đoạn bằng từ ngữ
chuyễn tiếp “ vậy nên” cho ta
they giữa phần trên và phần này
có mối quan hệ như thế nào về ý
nghĩa? Qua sự chuyễn đoạn
ấy,em có nhận xét gì về cách lập
luận của tác giả?
->ghi tiêu đề của phần ba
(hai câu cuối đột nhiên ngắn lại
tạo một giọng điệu đanh chắc,
khẳng định một cách đanh thép
sức mạnh của chân lí, của chính
nghĩa quốc gia, dân tộc)
III Hướng dẫn HS tổng kết bài:
*Chiếu câu hỏi: Bình ngô đại cáo
đước coi như là bản tuyên ngôn
đọc lập thứ hai trong lịch sử dân
tộc ta, có thể noi: nội dung cốt
lõi, tinh thần và cả lời văn của
bản tuyên ngôn đó được gói gọn
trong đoạn trích Nước Đại Việt
Ta Tại sao có thể nói như vậy?
*GV mở rộng:
-sức thuyết phục của nghệ thuật
văn chính luận cuă nguyễn trãi
-vị trí quan trọng của đoạn trích
so với toàn bài cáo
IV Hướng Dẫn HS luyện tập
*Chiếu bài tập: Điền vầo sơ đồ
trình tự lập luận của đoạn trích
Nước Đại Việt Ta
Tổ choc trò chơi dán ô chữ-chia
lớp làm hai đội chơi
-chiếu đáp án
* Hướng dẫn HS làm bài tập về
nhà:
-Độc lập
-Độc lập
-Độc lập
-HS đọc thầm ghi nhớ trong SGK rồi khái quát lại nội dung của phần ghi nhớ -HS làm bài tập dưới hình thức trò chơi (học sinh lên bảng làm-HS khác nhận xét)
-Nghe GV hướng dẫn
thể hiện một cách sâu sắc niềm tự hào dân tộc
3.Sức mạnh của nhân nghĩa, của đọc lập dân tộc
-thất bại thảm hại của giặc, chiến thắng oanh liệt của ta
-dẫn chứng được trình bày theo trình tự thời gian một cách linh hoạt
-Giữa phần ba và hai phần trên có mối quan
hệ nhân quả->lập luận chặt chẽ
III.Ghi nhớ -nội dung: giống như một bản tuyên ngôn -Nghệ thuật: lời lẽ, giọng điệu, cách lập luận giống như một bản tuyên ngôn
IV luyện tập 1,ở lớp: HS nắm được trình tự lập luận của
đoạn trích qua việc
điền vào sơ đồ
2, ở nhà:
A,tại sao người biên soạn SGK lại đặt tên cho đoạn trích là nước
đại việt ta?
Trang 9-chiếu bài tập về nhà
Cho một hs đọc diễn cảm lại
đoạn trích (đóng vai một vị quan)
đúc kết buổi học
làm bài tập về nhà
Nghe đọc diễn cảm
B, so sánh để chỉ ra sự gióng nhau và khác nhau của ba thể: chiếu, hịch , cáo
C, soạn bài:hành động nói(phần tiếp theo)
Trang 10Bến quê Bản di chúc nghệ thuật của Nguyễn minh châu
1, không hiều sao, đã từ lâu, khi đọc bến quê tôi cứ đinh ninh đay là bản di choc nghệ thuật mà Nguyễn Minh Châu gửi lại cho đời , được ông viết ngay từ hơn bốn năm trước lúc biết mình bị bệnh-bệnh ung thư máu, trong một dung lượng chữ rất tiêt kiệm, chỉ sáu trang sách (bến quê có lẽ thuộc trong số những truyện ngắn ngắn nhất của minh châu), nhà văn đã giữ gắm những chiêm nghiệm sâu sắc, minh triết về cuộc đời con người, chỉ có thể có
được khi một người đã đi gần trọn đời mình, nhìn lại và vượt qua mai ham
hố, danh vọng, ảo tưởng, để thấu đạt tới nhứng giá trị đích thực, giản dị và bền vững của cuộc sống
2, Cũng như ở nhiều truyện ngắn thành công khác của mình, Nguyễn minh Châu đã sáng tạo một tình thế đặc biệt trong bến quê để đặt nhân vật vào đó soi rọi vào thế giới bên trong của họ làm bật lên vấn đề và tư tưởng của truyện Tình thế( theo cách gọi của Nguyễn Minh Châu) hay tình huốg trong bến quê là một hoàn cảnh đầy vẻ nghịch lí, nhân vật chính trong truyện-anh Nhĩ-từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, về cuối đời lại cột chặt vào gường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo đến nỗi không thể tự mình dịch chuyển lấy vài mươi phân trên chiếc phản hẹp kê bên cửa sổ
Nhưng cũng chính vào một buổi sáng trong những ngày cuối của cuộc
đời mình từ cửa sổ căn gác, nhĩ đã nhận ra được ở vùng đất bãi bồi bên kia sông, nơi bến quê quen thuộc, một vẻ đẹp bình dị mà hết sức quyến rũ
Vào cái buổi sấng đầu thu ấy, từ trên chiếc phản hẹp kê bên cửa sổ căn gác nhà mình, nhĩ đã bật gặp nơi không gian ngoài kia nhưng cãnh vật vốn quen thuộc lại được hiện ra trong những màu sắc vẻ đẹp như lần đầu anh được they, những bông hao bằng lăng thưa thớt cuối mùa như tím them hơn “tiết trời đầu thu đêm đến cho con sông hồng một màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra, vòm trời cũng như cao hơn” và lần đầu tiên nhĩ đã thấy được
vẻ đẹp kì lạ của một vùng bãi bồi: “những tia nắng sơm đang từ từ di chuyển
từ mặt nước lên những khoảng bờ bãi bên kia sông,và cả một vùng phù sa lâu
đời của bãi bồi bên kia sông hồng lúc này đang phô ra trước khuôn cửa sổ của gian giác nhà nhĩ một thứ màu vàng thau xen với màu xanh non-những màu sắc thân thuộc quá như da thịt, hơi thở của đất màu mỡ”.cánh bãi bồi bên kia sông, một không gian gần gặn và quenn thuộc vẫn hiện ra phía trước cửa sổ nhà nhĩ, nhưng anh chưa một lần đặt chân đến,dù ruốt đời nhĩ đã tong
Bản di chúc nghệ thuật