Xuất phát từ việc đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh nên tôi, một giáo viên nhiều năm dạy môn Ngữ văn ở lớp 9 đã chọn nghiên cứu
Trang 1Phần thứ nhất
I Lý do chọn đề tài
Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang đợc quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trờng ở nhiều nớc trên thế giới.ở nớc ta hiện nay tinh thần tích hợp đã đợc thử nghiệm và áp dụng vào việc dạy học ở một số môn học,phối hợp các kiến thức kĩ năng và các môn học, hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng dạy ở cấp THCS quan điểm tích hợp thể hiện rõ nhất
ở môn Ngữ văn.Chơng trình THCS môn ngữ văn năm 2002 do Bộ GD&ĐT đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chơng trình,biên soạn SGK và lựa chọn các phơng phap giảng dạy”
Năm học 2010 - 2011 là năm thứ 9 thực hiện chơng trình thay sách giáo khoa
và đợc triển khai đại trà trên toàn quốc Trong bối cảnh ngành Giáo dục và Đào tạo đang nỗ lực đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng phát huy tính tích cực chủ
động sáng tạo của học sinh Phơng pháp dạy học đợc coi là cách thức hoạt động của giáo viên khi tổ chức các hoạt động học tập, nhằm giúp học sinh đạt đợc các mục tiêu dạy học để thực hiện công cuộc đổi mới giáo dục đòi hỏi phải có sự đầu
t quan tâm thích đáng từ nhiều mặt Chơng trình ngữ văn 9 của THCS đợc xây dựng theo nguyên tắc tích hợp Theo chơng trình này, ba phân môn: Văn - Tiếng Việt và Tập làm văn đợc thống nhất lại thành một môn học, gọi là môn Ngữ văn Coi trọng tính thực hành, sách giáo khoa Ngữ Văn 9 đã tập trung theo hớng phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập, trong đó phần Tiếng Việt
và lí thuyết Tập làm văn đã đợc coi trọng
Qua thực tế giảng dạy ở trờng THCS Hải Nhân tôi đã nhận thức rõ: Tiếng Việt
là phân môn nền tảng, là công cụ giao tiếp quan trọng trong đời sống và là cơ sở cho các môn học trong hệ thống trờng phổ thông Từ sự vận dụng Tiếng Việt trong việc lý giải vẻ đẹp và hiệu quả của nghệ thuật ngôn từ trong tác phẩm văn học, trong Tập Làm Văn và giao tiếp hằng ngày Học sinh sẽ tự nâng cao các tri thức Tiếng Việt và Văn học để tạo lập các kiểu văn bản nói và văn bản viết
Trang 2Nh vậy sản phẩm của Tập Làm Văn là căn cứ cơ bản để đánh giá kết quả việc học Tiếng Việt và Văn học của học sinh để hớng tới kỹ năng cơ bản: đọc, nói, viết mà chơng trình đã đặt ra Chính từ việc nhận thức đợc tầm quan trọng nh trên,
tôi xin trình bày một vài ý kiến về việc giảng dạy tích hợp đối với môn Ngữ văn lớp 9
Dạy học theo nguyên tắc tích hợp ở Ngữ văn 9 có một sự liên hệ chặt chẽ với những kiến thức đã học ở lớp dới,từ thực tiễn giảng dạy, tôi nhận thấy sự tiếp thu kiến thức và khả năng thực hành của học sinh khi học ở THCS còn nhiều hạn chế
Do vậy khi đa những câu hỏi tích hợp từ kiến thức ở lớp dới để hình thành, củng
cố, khắc sâu kiến thức cho học sinh Tích hợp là một vấn đề rất lớn không riêng gì
đối với môn Ngữ văn Tuy nhiên, môn Ngữ văn có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện trớc một bớc Văn học – Tiếng Việt và Tập làm văn đều có một yếu tố chung là Tiếng Việt, dù dạy văn học, Tiếng Việt hay Tập làm văn thì tất cả đều
do một giáo viên đảm nhiệm và ngời giáo viên đó do một khoa đào tạo Dĩ nhiên, việc cải tiến chơng trình Ngữ Văn theo hớng tích hợp có vận dụng kinh nghiệm của nhiều nớc, song trớc hết là xuất phát từ thực tiễn giáo dục của Việt Nam Việc tách môn văn thành 3 phân môn trên 20 năm qua tuy đa lại một số kinh nghiệm nhất định song đã ngày càng bộc lộ nhiều nhợc điểm, đặc biệt ở bậc THCS Hớng phấn đấu bao quát của việc thực hiện chuơng trình môn Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là làm sao kết hợp đợc thật tốt việc hình thành 4 kĩ năng: Nghe, nói,đọc, viết Chơng trình viết không nhằm mục đích riêng cho từng phân môn mà chỉ viết mục tiêu chung cho môn Ngữ văn chính là vì thế Để giải quyết một điểm nào đó trong yêu cầu của chơng trình đều phải có sự đóng góp hợp lực của cả 3 phân môn, không nên quan niệm “Tích hợp là phơng pháp dùng để rút bớt môn học hoặc biện pháp nhằm giảm tải” dẫu rằng đó là những hệ quả có thể xảy ra do việc thực hiện phơng hớng “Tích hợp” Trên nền giáo dục hiện đại, tích hợp là phơng pháp nhằm phối hợp một cách tối u các quá trình học tập riêng rẽ các môn học Phân môn khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau
Trang 3Tích hợp đợc xem là nguyên tắc tổng hợp của việc xây dựng cả hệ thống
ch-ơng trình Dạy tích hợp, ngời đứng lớp phải biết thực hiện mọi yêu cầu một cách linh hoạt, sáng tạo mà mấu chốt của sự sáng tạo là luôn suy nghĩ và mục tiêu của
bộ môn Ngữ văn nói chung để tìm ra những yếu tố đồng quy giữa 3 phần phân môn, tích hợp trong từng thời điểm theo từng vấn đề Quan điểm tích hợp phải quán triệt trong mọi khâu kể cả khâu đánh giá Có thể có những bài tập riêng cho từng phân môn, song chúng ta cần đánh giá cao những học sinh biết sử dụng những kiến thức của phân môn khác Đó chính là những thói quen, cơ sở ban đầu
để sau này học lên, các em sẽ có điều kiện tiếp thu và vân dụng dễ dàng hơn
ph-ơng pháp nghiên cứu chuyên ngành, cũng nh khi vào đời, các em có khả năng giải quyết dễ dàng hơn các vấn đề thực tiễn vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là tình huống tích hợp Tích hợp phải phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của học sinh, chủ thể học tập ở tất cả mọi khâu: từ việc chuẩn bị bài,
su tập t liệu trong tổ, nhóm, tự đáng giá và đánh giá bạn, tham gia, hoạt động thực tiễn theo quan điểm đặc trng bộ môn
Xuất phát từ việc đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh nên tôi, một giáo viên nhiều năm dạy môn
Ngữ văn ở lớp 9 đã chọn nghiên cứu đề tài “ Phơng pháp dạy tích hợp ba phân
môn:Đọc hiểu văn bản,Tiếng Việt, Tập làm văn ở môn Ngữ văn lớp 9”
II Mục đích nghiên cứu:
Một là: Đổi mới phơng pháp dạy học ngữ văn là một trong những việc làm hết sức cần thiết Trớc tình hình chung ngời dạy môn ngữ văn và học sinh khi tiếp cận phơng pháp giảng dạy mới còn lúng túng trong việc tiếp cận tác phẩm văn chơng theo phơng pháp tổng hợp: Tích hợp ba phân môn Tập làm văn - Văn - tiếng Việt Chính vì vậy mà kết quả đem lại cha thực sự khả quan cha phù hợp với
xu hớng phát triển của xã hội
Hai là: Bên cạnh việc tiếp cận sáng tạo các tác phẩm văn chơng của học sinh thì một trong những vấn đề đặt ra cho chúng ta là nhìn ở góc độ chủ quan thì
số ít giáo viên cha thuần thục với phơng pháp giảng dạy mới còn mang tính khái quát cha cụ thể và rõ ràng ở từng tiết bài và lợng kiến thức của mỗi tác phẩm và
Trang 4nhiều khi vận dụng hớng dẫn học sinh cha đem lại kết quả cao đặc biệt trong
ch-ơng trình thay sách của Bộ giáo dục
Ba là: sự khác nhau giữa cách soạn sách cũ và mới khác xa nhau hoàn toàn cả
về nội dung lợng kiến thức(kênh chữ và kênh hình).Sách mới viết theo hớng tích cực học sinh tự học,tự tìm tòi sáng tạo để đao sâu suy nghĩ phù hợp với việc thay sách lấy học sinh làm trung tâm
Bốn là qua nghiêncứu để đa vào thực tiễn day học nâng cao chất lợng giảng dạy môn Ngữ văn 9 nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho học sinh
III Nhiệm vụ của đề tài:
Giảng dạy tích hợp đối với Ngữ văn 9 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
đối với chơng trình và sách giáo khoa lần này là: Đổi mới phơng pháp dạy và học Trong chơng trình Ngữ văn THCS tích hợp 3 phân môn: Văn - Tiếng Việt - Tập làm văn lần này có tác dụng tạo mối liên kết khăng khít với nhau Vì vậy việc giảng dạy theo hớng tích hợp có tác dụng lớn đối với học sinh trong việc hấp thụ kiến thức cấu trúc sách giáo khoa Ngữ văn THCS cho thấy sự nhấn mạnh những
điểm đồng quy về kiến thức, kĩ năng giữa 3 phân môn để thực hiện quan điểm tích hợp Yếu tố đồng quy này chính là ngôn ngữ trong văn bản của mỗi bài Ngôn ngữ cần đợc hiểu theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm ngữ âm, từ vựng, cú pháp mà còn là kiểu văn bản, các quy tắc ngôn ngữ, các quy tắc tổ chức không gian, thời gian của văn bản
Nh vậy đối với chơng trình sách giáo khoa mới phải tận dụng những kiến thức,
kĩ năng giải mã và sản sinh văn bản và ngợc lại vận dụng những kiến thức kĩ năng giải mã để củng cố và phát triển những kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt Cấu trúc này cho thấy sự quan tâm phát huy năng lực tích cực, chủ động, và sáng tạo của học sinh trong học tập Ngữ văn Thông qua việc cung cấp kiến thức Văn – Tiếng Việt - Tập làm văn hình thành và phát triển cho học sinh cách tiếp nhận, cách tạo lập các loại hình văn bản, cách giải quyết và vận dụng những kiến thức và kĩ năng Văn - Tiếng Việt vào thực tiễn cuộc sống một cách năng động và sáng tạo
Trang 5IV Đối t ợng nghiên cứu:
Đề tài: Phơng pháp dạy tích hợp ba phân môn:Đọc hiểu văn bản,Tiếng Việt,
Nội dung và kết quả nghiên cứu
Phải phát huy tối đa tính tích hợp chủ động sáng tạo của học sinh Vì học sinh
là chủ thể học tập trong mọi khâu: Từ việc chuẩn bị bài, su tập tài liệu, phát biêu trong tổ, nhóm, đánh giá mình, đánh giá bạn…
Đổi mới việc giảng dạy tích hợp Ngữ văn 9: Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩ năng mới, những kiến thức và kĩ năng đã học tr-
ớc đó theo nguyên tắc đồng trục ( còn gọi là vòng tròn đồng tâm) hay vòng tròn xoáy trôn ốc Cụ thể là kiến thức và kĩ năng hình thành ở bài học, lớp học bâvj học sau bao hàm kiến thức, kĩ năng, bậc học trớc nhng cao hơn, sâu hơn trớc
Trang 6Tích hợp theo chiều dọc là dựa trên nguyên tắc đồng trục càng nên cao thì yêu cầu nội dung càng cao, kiến thức lớp trên, bậc trên cao hơn kiến thức bậc dới, lớp dới.
Tích hợp theo chiều ngang: Tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về Văn học và Tập làm văn
Việc lựa chọn nội dung: Ngữ văn 9 chọn các kiểu thành phần câu nh: Thành phần biệt lập, khối ngữ nghĩa tờng minh, hàm ý phục vụ cho việc tạo lập các…văn bản nghị luận
Việc sắp xếp nội dung: Bộ sách giáo khoa Ngữ văn THCS chú ý sắp xếp nội dung theo kiểu xen kẽ các vấn đề về từ, về câu và tạo lập văn bản Sự liên kết theo chiều ngang với Văn học và Tập làm văn hơn là hệ thống kiến thức “Hàn lâm” ngôn ngữ học
Việc khai thác nội dung: Phần Tiếng Việt trong SGK Ngữ văn tận dụng mọi cơ hội có thể có để phục vụ việc học Văn bản và Tập làm văn
2 Cơ sở pháp lí:
Ngày 9/12/2000 quốc hội đã có nghị quyết số 40/2000 QH 10 về đổi mới
ch-ơng trình về giáo dục phổ thông Báo cáo BCH TW Đảng khoá VIII tại đại hội đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng về phát triển kinh tế - hội năm 2001 - 2010 đã nêu rõ việc “Khẩn trơng biên soạn và đa vào sử dụng ổn định trong cả nớc bộ ch-
ơng trình sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới” Mục tiêu của việc đổi mới chơng trình và sách giáo khoa là: Nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện tăng cờng bồi dỡng cho thế hệ trẻ lòng yêu nớc, yêu quê hơng và gia đình, tinh thần tự tôn dân tộc, lý tởng XHCN, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ, lập thân lập nghiệp, lòng nhân ái, ý thức kỉ luật, tôn trọng pháp luật Đổi mơi ph-
ơng pháp dạy học là phát huy t duy sáng tạo và tự học của học sinh Một trong những phơng pháp dạy học là phơng pháp dạy tích hợp
Trang 7Chơng II: Thực trạng việc đổi mới phơng pháp dạy học tích hợp ở môn Ngữ văn lớp 9 của trờng THCS Hải Nhân
1 Sơ l ợc khái quát về nhà tr ờng:
Trờng THCS Hải Nhân là một trờng trung tâm của phòng giáo dục huyện Tĩnh Gia Trờng có bề dày lịch sử về kinh nghiệm giảng dạy và học tập Trờng nhiều năm đạt danh hiệu trờng tiên tiến cấp Huyện Trờng có đội ngũ giáo viên giảng dạy vững vàng.Tổ chuyên môn Văn Sử có nhiều giáo viên dạy giỏi tâm huyết với nghề, tận tụy với học sinh
2 Một số vấn đề đặt ra:
Nhà trờng đã nắm bắt mục tiêu đổi mới của chơng trình nhằm nâng cao chất ợng giáo dục toàn diện Việc đổi mới phơng pháp dạy học, phát huy t duy sáng tạo và tự học của học sinh là việc cần thiết không thể thay thế đợc
Mục tiêu của việc đổi mới chơng trình giáo dục phổ thông là xây dựng chơng trình, phơng pháp giáo dục Sách giáo khoa phổ thông nhằm nâng cao chất lợng giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu phất triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, phù hợp với truyền thống và thực tiễn Việt Nam, tiếp cận chơng trình giáo dục phổ thông ở các nớc phát triển trên thế giới
1 Khái niệm tích hợp
- Tích hợp là một phơng pháp nhằm phối hợp một cách tối u các quá trình học tập riêng rẽ các môn học, phân môn khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau
- Tích hợp ngang: Tích hợp từng thời điểm (1 tiết học, 1 bài học)
- Tích hợp dọc: Tích hợp theo từng vấn đề (Tập trung ở bài ôn tập)
Đối với những vấn đề đã dạy: Cần sử dụng vấn đề này để củng cố ôn tập,
đồng thời rèn cho học sinh kiến thức là kĩ năng vận dụng mọi kiến thức đã học để
xử lý các vấn đề trớc mắt
Trang 8Đối với những kiến thức sẽ dạy: Có thể giới thiệu ở chừng mực cần thiết cho
sự hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đang đề cập, qua đó khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểu biết của học sinh và đặt cơ sở thuận lợi cho việc trình bày những kiến thức đã học ở sau
2 Các thao tác khi soạn bài
*, Thao tác 1: Đọc kĩ bài (Bài trớc đó và sau đó) Xác định mục tiêu bài dạy và
mục tiêu của phân môn
*, Thao tác 2: Tìm mối liên hệ giữa bài đang học với những bài trớc đó để tìm
điểm đồng quy qua đó giáo viên có định hớng tích hợp (ngang hay dọc; củng cố hay hé mở)
Ví dụ: Bài 18 - Ngữ văn 9
Phần đọc hiểu vb:Bàn về đọc sách
Phần Tiếng Việt: Khởi ngữ
Phần Tập làm văn: Phép phân tích và tổng hợp luyện tập phép phân tích tổng hợp
Điểm đồng quy của 3 phân môn này:
Văn bản “là một văn bản nghị luận Văn bản này đa ra để làm mẫu cho học sinh học tập cách làm văn nghị luận Trong văn bản có nhiều nhiều câu văn chứa khởi ngữ Còn về Tập làm văn, khi dạy bài phép phép phân tích tổng hợp, giáo viên đa ngay văn bản “Bàn về đọc sách” để phân tích mẫu về văn nghị luận Nh vậy văn bản “Bài về đọc sách” sẽ đợc soi sáng ở cả 3 góc độ của 3 phân môn và các phân môn đó đều có mối quan hệ với nhau
*, Thao tác 3: Xây dựng hệ thống câu hỏi tích hợp
Dựa trên thao tác 1, giáo viên bắt đầu thiết kế bài dạy và hệ thống câu hỏi Trong SGK câu hỏi có tính chất định hớng, hớng dẫn học sinh tìm hiểu những kiến thức và kĩ năng cơ bản trong bài học Câu hỏi cũng rất đa dạng: Câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi hớng dẫn hoạt động, câu hỏi gợi mở, câu hỏi thảo luận Nh… ng đó chỉ là những câu hỏi có tính chất “tĩnh” còn câu hỏi trong mỗi giờ học “động” mang đậm dấu ấn cá nhân của giáo viên trong nhận thức cũng nh truyền tải nội dung bài học đến với học sinh
Trang 9Câu hỏi tích hợp đợc xây dựng trên cơ sở:
Căn cứ vào điểm đồng quy giữa 3 phân môn, khi dạy phần văn học giáo viên
có nhiệm vụ hé mở những nội dung nào đó của Tiếng Việt và Tập làm văn để học sinh chuẩn bị tâm thế tốt cho bài học
Lu ý các chú thích ở Văn bản của mỗi thể loại học sinh nắm vững và nhớ đặc
điểm của từng thể loại Ngoài ra còn lu ý đến các chú thích khác để hiểu văn bản
Đồng thời hiểu nghĩa của các từ (cấu tạo từ, nghĩa của từ, các từ loại, các thành phần câu ) sẽ đ… ợc học ở phần Tiếng Việt
Ví dụ1: Bài 20 (Ngữ văn 9)
- Văn bản: Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.
- Tiếng Việt: Các thành phần biệt lập (Tiếp).
- Tập làm văn: + Bài viết số 5: Văn nghị luận.
+ Nghị luận một vấn đề t tởng, đạo lý.
Phần văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” giáo viên cần khai thác
nội dung bằng cách xây dựng những câu hỏi tích hợp sau:
Hỏi: Em hãy xác định thể loại và phơng thức biểu đạt của văn bản ?
Hỏi: Vấn đề nêu ra trong bài nghị luận này là gì ?
Hỏi: Vấn đề này đợc trình bày bằng hệ thống luận cứ ?
Hỏi: Em có nhận xét gì về cách xây dựng hệ thống luận cứ và cách lập luận của bài văn ?
Hỏi: Qua bài văn, em học tập đợc gì về cách viết văn nghị luận của tác giả ?
Phần Tiếng Việt: Các thành phần biệt lập (tiếp).
Trong phần luyện tập có một đoạn văn ở trong văn bản “Chuẩn bị hành trình vào thế kỉ mới”; “Bớc vào thế kỉ mới, muốn sánh vai cùng các cờng quốc năm châu Nhận ra điều đó quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất”
Để khai thác đoạn văn với yêu cầu của bài tập, giáo viên sẽ đặt ra những câu hỏi nh sau:
Hỏi: Đoạn văn có ở trong văn bản nào ?
Trang 10Hỏi: Em hãy tìm các thành phần biệt lập trong đoạn văn ? Xác định thành
phần biệt lập đó là gì ?
Yêu cầu: Học sinh xác định đợc các thành phần biệt lập => Đó là thành phần phụ chú
Nh vậy: Phần Tiếng Việt đã tích hợp kiến thức của phần Tập làm văn
Phần tập làm văn: “Nghi luận về một vấn đề t tởng đạo lý” Giáo viên có thể lấy ví dụ văn bản “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” để khai thác văn nghị luận với đặc điểm của thể loại Giáo viên có thể đặt một số câu hỏi nh sau:
Hỏi: Bài văn trên nêu nên vấn đề gì ? (Hay: Vấn đề nhị luận của bài văn là gì?)
Hỏi: Vấn đề nghị luận đợc triển khai bằng cách gì ?
Yêu cầu: Bằng phơng pháp giải thích - chứng minh
Hỏi: Em hãy tìm những câu văn và đoạn văn mà tác giả nêu cách lập luận giải
thích ?
Hỏi: Tìm những dẫn chứng làm sáng tỏ cho lập luận tiện ?
Hỏi: Xác định bố cục cho bài văn ? Nhận xét gì về bố cục của bài văn nghị luận ?
Ví dụ 2: Bài 4 Ngữ văn 9
- Văn bản: Chuyện ngời con gái Nam Xơng
- Tiếng Việt: Cách dẫn trực tiếp và gián tiếp
- Tập làm văn: Luyện tập tóm tắt văn bản tự sự
Phần văn bản: Tiết 16-17 “Chuyện ngời con gái Nam Xơng”
Khai thác bài học, giáo viên có thể đặt một số câu hỏi có liên quan đến phần Tiếng Việt và Tập làm văn nh sau:
Hỏi: Em hãy xác định thể loại và phơng thức biểu đạt của văn bản “Chuyện ngời con gái Nam Xơng”?
Yêu cầu: - Thể loại: Truyện ngắn (Thể truyền kì mạn lục)
- phơng thức biểu đạt: Tự sự
Hỏi: Em hãy tóm tắt cốt truyện ?
Trang 11Hỏi: Truyện đợc xây dựng dựa trên những tình tiết nào ?
Nh vậy: Phần văn bản đã đa ra một số câu hỏi để hớng học sinh khai thác nội dung bài học có liên quan đến phần Tập làm văn
Phần Tiếng Việt: “Cách dẫn trực tiếp và gián tiếp”
Khi dạy bài này giáo viên lấy ví dụ là 1 đoạn văn bản đợc trích trong văn bản
“Chuyện ngời con gái Nam Xơng” Ta có thể chọn đoạn văn trích dẫn lời trực tiếp, đó là lời của Vũ Nơng than khóc với chồng khi bị oan: “ Thiếp vốn con kẻ khó, đợc nơng tựa nhà giàu Sum họp cha thoả tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh Cách biệt 3 năm giữ gìn một tiết.”
Giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Hỏi: Đoạn văn có trong văn bản nào ?
Hỏi: Đoạn văn trích đãn lời nói của ai ?
Hỏi: Lời trích dẫn đó là lời trích dẫn trực tiếp hay gián tiếp ?
- Mẹ Trơng Sinh ốm chết, Vũ Nơng lo toan ma chay cho mẹ
- Giặc tan, Trơng sinh trở về, nghe lời con nhỏ, nghi oan cho vợ
- Vũ Nơng bị oan, gieo mình xuống sông Hoàng Giang
- Phan Lang là ngời cùng làng với Vũ Nơng đã gặp lại Vũ Nơng trong động Linh Phi, hai ngời nhận ra nhau Phan Lang trở về trần gian, Vũ Nơng gửi chiếc bông tai vàng cho chồng cùng lời nhắn
- Trơng Sinh lập đàn giải oan…
Hỏi: Các sự việc trên đã đợc nêu đầy đủ cha?
Hỏi: Các sự việc trên sắp xếp đã hợp lí cha ?
Hỏi: Dựa vào các sự việc trên em hãy tóm tắt truyện ?
Trang 12Nh vậy: Trong cụm bài 4, cả 3 phân môn đều có kiến thức tích hợp liên quan
đến nhau Khi khai thác giáo viên cần hớng học sinh chú ý đến những kiến thức tích hợp này để học sinh nắm vững, sâu kiến thức cần ghi nhớ
Kết luận: Nh vậy ta có thể nói rằng tích hợp đợc thể hiện trong các khâu:
- Kiểm tra bài cũ
- Quá trình soạn bài, giảng bài
- Đánh giá kiểm tra bài cũ, tiếp nhận kiến thức mới
- Chuẩn bị bài ở nhà
Tuy nhiên chơng trình cũng khẳng định quan điểm tích hợp ở nớc ta hiện cha thể áp dụng một cách triệt để, giảng dạy theo quan điểm tích hợp không phủ định việc dạy các tri thức, kĩ năng riêng của từng phân môn Vấn đề là làm thế nào để phối hợp một cách hợp lí các tri thức, kĩ năng riên rẽ của từng phân môn tới mục tiêu chung của Ngữ văn Tích hợp phải hợp lí, lôgic với bài dạy không nên tích hợp gò ép, xơ cứng, thô bạo khiến bài dạy vụn vặt Tích hợp mà không làm mất
đi đặc trng của phân môn mà còn có tác dụng làm cho kiến thức đợc xoáy sâu, nhuần nhuyễn Xác định, lựa chọn, sắp xếp sử dụng câu hỏi tích hợp sao cho phù hợp với nội dung bài học và đối tợng học sinh mà không tách xa khỏi hệ thống câu hỏi sách giáo khoa
* Kết quả:
Gần 9 năm thực hiện chơng trình thay sách giao khoa mới, và đợc trực tiếp giảng dạy tại trờng THCS Hải Nhân tôi đã nhận thấy rằng việc vận dụng phơng pháp giảng dạy tích hợp là việc cần thiết đối với giáo viên giảng dạy Ngữ văn Vận dụng đợc phơng pháp này, phát huy đợc trí thông minh của học sinh Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách dễ dàng và rất sâu Vì kiến thức đợc lồng ghép cả 3 phân môn trong từng cụm bài
- Về phía giáo viên:
+ Không còn lúng túng khi soạn bài
+ Bài giảng lôgic, chặt chẽ, hợp lí nhờ biết xác điịnh điểm đồng quy
+ Kiến thức đợc vận dụng một cách nhuần nhuyễn
+ Hạn chế tình trạng cháy giáo án
Trang 13-Về phía học sinh: Bớc đầu hình thành kĩ năng tự học, tự tìm hiểu t duy giáo
dục Học sinh có tâm thế tốt hơn khi tiếp nhận kiến thức bài học Học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản và sâu Vì kiến thức ôn luyện đều ở các phân môn áp dụng phơng pháp này phát huy đợc tính chủ động, sáng tạo cho học sinh
Cụ thể là chất lợng học tập bộ môn Ngữ văn của học sinh lớp 9 do tôi đảm nhiệm giảng dạy số em đạt khá giỏi và đạt trung bình cao hơn :
Qua nhiều năm giảng dạy ngữ văn 9 với nhiều tác phẩm văn học nớc ngoài
và văn học Việt Nam Tôi đa ra cho mình những phơng pháp giảng dạy phù hợp – thích hợp với học sinh bằng việc phát huy vai trò chủ động sáng tạo lấy học sinh làm trung tâm, tự nghiên cứu tìm tòi đã đem lại kết quả
Là kết quả thử nghiệm bớc đầu tiên đem lại sự thành công trong việc dạy học theo phơng pháp đổi mới lấy học sinh làm trung tâm, theo phơng pháp tích hợp trong chơng trình thay sách của BGD&ĐT
Tuy là kết quả cha cao xong đó là cả quá trình phấn đấu của cả ngời dạy và ngời học nhằm phát triển hình thành trí tuệ, sáng tạo, tìm tòi, khám phá của học sinh đặc biệt là là học sinh lớp 9
Trên đây là một vài phơng pháp đổi mới dạy học theo hớng tích cực lấy học sinh làm trung tâm chủ động sáng tạo trong học tập theo định hớng tích hợp
Trang 14tổng hợp giữa ba phân môn Tập làm văn – Văn – Tiếng Việt trong phân môn Ngữ văn 9 cho học sinh đã đạt những kết quả bớc đầu khởi sắc.
II/Khuyến nghị:
Để đạt đợc những kết quả trên về học sinh cần phải chú ý học theo cách ớng đẫn cụ thể của giáo viên từ bài học cũ đến mới chuẩn bị chu đáo, giáo viên phải hớng học sinh vào học tập một cách hứng thú và say mê dựa vào những ph-
h-ơng pháp mà giáo viên phải đa ra để học sinh có cách tiếp cận thích hợp nhất Yêu cầu thiết yếu của học sinh là phải tự học tự tìm tòi say mê và nghiên cứu tài liệu có liên quan
Cần học kĩ phần văn bản để nắm bắt nội dung một cách chắc chắn nhất làm cơ sở để tìm hiểu văn bản theo hớng tích cực tích hợp với phầnTiếng Việt và Tập làm văn từ văn Có nh thế học sinh mới có cảm nhận và hiểu sâu sắc về kiến thức của cả ba phân môn một cách khoa học nhất và dễ nhớ nhất
Giáo viên cần đa ra những hệ thống kiến thức dới hình thức những câu hỏi chuẩn bị ở nhà và trắc nghiệm trên lớp phù hợp với học sinh Yêu cầu của ngời giáo viên cần phải tìm tòi học hỏi su tầm những tài liệu quan trọng có liên quan
đến tiết giảng của mình, vận dụng một cách hợp lý nhất cả về hình thức và nội dung đặc biệt là các phiếu kiểm tra trắc nghiệm cuối giờ bài tập luyện tập trên lớp
và bài tập bổ trợ ở nhà đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng thành thạo các đồ dùng trực quan khác của học sinh nh tranh ảnh, t liệu có liên quan đến bài dạy Giáo viên phải kiểm tra bài cũ yêu cầu học sinh học thuộc lòng bài thơ, chú thích ngay từ khi chuẩn bị bài ở nhà, phải có những tác phẩm bổ sung cho bài giảng của mình đặc biệt là những kiến thức không có trong sách giáo khoa để
mở rộng cho học sinh hiểu sâu hơn về nhà thơ và tác phẩm mà mình đang dạy
Với những phơng pháp giảng dạy mới sẽ phát huy vai trò chủ động sáng tạo của học sinh để học sinh học tập say mê đem lại kết quả cao đó chính là động lực thúc đẩy học sinh học yêu thích hứng thú với bộ môn Ngữ văn, tạo nền móng
Trang 15cho học cấp cao hơn Phơng pháp giảng dạy phù hợp với sự phát triển chung của thời kỳ bùng nổ thông tin.
Trên đây là một số vấn đề về phơng pháp giảng dạy tích hợp ba phân môn trong môn Ngữ văn lớp 9, Việc thực hiện phơng pháp này còn gặp không ít những khó khăn, thử thách.Nhng tôi tin rằng mỗi chúng ta,bằng lòng yêu nghề,tâm huyết với môn dạy,chúng ta sẽ thực hiện tốt tinh thần đổi mới của môn học
Qua bài viết này tôi xin đợc mạnh dạn trao đổi ý kiến của mình và mong đợc
sự góp ý để tích luỹ cho mình nhiều bài học quý báu trong công tác giảng dạy Rất mong đợc ý kiến đóng góp của quý vị và bạn đọc !
Hải Nhân ngày 02 tháng 4 năm 2011 Ngời viết đề tài
Nguyễn Thị Vi Nhận xét đánh giá xếp loại của HĐKH cấp cơ sở
I Lý do chọn đề tài:
Trong quá trình dạy học sinh môn toán lớp 8 có phần “ Tứ giác” tôi nhận thấy học sinh còn nhiều vớng mắc về phơng pháp học, quá trình học,
Trang 16tiếp thu của học sinh trên lớp còn chậm, kỹ năng nhận dạng, ghi nhớ và suy luận các kiến thức mới còn rất yếu, khả năng vận dụng kiến thức vào giải các bài tập còn kém Lí do là học sinh cha có phơng pháp học, cha có cách suy luận và ghi nhớ các kiến thức đã học, cha biết vận dụng các kiến thức
đã học vào giải bài tập Mặt khác tính chất của các hình, dấu hiệu nhận biết của các hình đợc xây dựng theo hệ thống rất lôgic, tính chất của hình này đ-
ợc xây dựng bằng cách mở rộng từ tính chất của hình kia, do đó có những tính chất giống nhau, nên học sinh còn hay nhầm lẫn tính chất của các tứ giác với nhau Mặc dù chơng trình sách giáo khoa sắp xếp hệ thống và lôgic hơn sách cũ rất nhiều, có lợi thế để dạy học sinh về vấn đề này ( chẳng hạn nh học sinh đã đợc học về định nghĩa, tính chất của hình bình hành thì
có thể xây dựng tính chất của hình thoi từ hình bình hành ), nh… ng tôi thấy
để học sinh phát hiện và nêu ra đợc tính chất của hình mới từ hình đã học thì học sinh vẫn còn lúng túng, việc vận dụng các kiến thức vào làm bài tập còn cha có lập luận chặt chẽ, cha hợp lí Chính vì vậy, trong khi giảng dạy
về vấn đề này tôi nghĩ cần phải làm thế nào để học sinh biết ghi nhớ, biết xây dựng kiến thức mới từ những kiến thức đã có và biết áp dụng định nghĩa, tính chất của các hình đã học để tìm ra đợc phơng pháp giải các bài tập Từ đó học sinh sẽ nắm vững các kiến thức về tứ giác một cách có hệ thống, có kỹ năng vận dụng kiến thức để giải bài tập chặt chẽ hơn, có ý thức tìm tòi, sử dụng phơng pháp học tập hợp lí, có hiệu quả hơn
Chính vì những lí do trên mà tôi chọn và trình bày kinh nghiệm
Ph
“ ơng pháp học toán hình học- phần tứ giác Môn toán- lớp 8.”
II Mục đích nghiên cứu:
Cung cấp cho học sinh lớp 8 một số kiến thức về cách học, phơng pháp học toán hình học phần tứ để học sinh có thể tiếp thu và nhớ kiến thức lâu, có hệ thống ngay khi học bài mới Có khả năng suy luận ra các kiến thức, các tính chất mới bằng hình vẽ và so sánh tính chất của các tứ giác dựa
Trang 17vào hình Biết vận dụng kiến thức để lập luận làm bài tập chặt chẽ hơn
Đồng thời cũng điều chỉnh phơng pháp dạy, cách thức truyền đạt kiến thức của giáo viên cho phù hợp, có hiệu quả hơn
III Đối t ợng nghiên cứu:
+ Khách thể: Học sinh lớp 8
+ Đối t ợng nghiên cứu : "Phơng pháp học toán hình học phần tứ giác" Môn toán - lớp 8
IV Phạm vi nghiên cứu
Các phơng pháp học toán hình học phần tứ giác, môn toán lớp 8
V Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tóm tắt một số phơng pháp học tập nói chung, toán hình học nói riêng
- Hớng dẫn học sinh một số phơng pháp học toán hình học phần tứ giác, môn toán - lớp 8
VI Ph ơng pháp nghiên cứu:
- Phơng pháp nghiên cứu lí luận: Tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu bồi ỡng, sách giáo khoa, sách tham khảo…
d Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm ở những lớp học sinh trớc để rút kinh nghiệm cho lớp học sinh sau và vừa dạy học vừa đúc rút, nghiên cứu và
áp dụng
VII Thời gian nghiên cứu:
- Thời gian bắt đầu nghiên cứu: 20/08/2010
- Thời gian hoàn thành đề tài : 10/01/2011
Phần THứ HAI: Nội dung
Ch
ơng I: Cơ sở lý luận của đề tài
Với học sinh lớp 8 thì việc học phần “Tứ giác” gặp rất nhiều khó khăn
do khả năng suy luận của học sinh còn chậm, học sinh cha biết cách sắp xếp
Trang 18và sử dụng kiến thức một cách có hệ thống Chính vì Vậy mà khi học phần…này học sinh thờng lúng túng không ghi nhớ đợc tính chất của các hình cũng nh cha có khả năng suy luận, tìm tòi, xây dựng ra kiến thức mới Khi cha hớng dẫn học sinh học bằng cách áp dụng phơng pháp học mà đề tàiđa
ra, học sinh học thờng vớng mắc nh sau:
Ví dụ 1: Cho hình vẽ: Cho biết đó là hình gì? Nêu tính chất của hình?
2
1 2
1
B
D O
+ Học sinh phát hiện ra đó là hình thoi, nhng chỉ nêu đợc tính chất về cạnh của hình thoi là các cạnh bằng nhau, các cạnh đối song song và bằng nhau chứ không nêu đợc các tính chất về góc và đờng chéo
Ví dụ 2: Cho biết hình sau là hình gì?
CD
Học sinh chỉ nêu đợc đó là hình vuông mà quên mất rằng đó cũng là hình chữ nhật, hình bình hành hay hình thoi chính vì vậy mà khi yêu cầu học sinh xây dựng dấu hiệu nhận biết hình vuông từ các hình đó, học sinh tỏ ra lúng túng, không biết phải thêm bớt điều kiện nào
Trang 19ơng II: thực trạng của đề tài
Khi cha áp dụng đề tài tôi khảo sát lớp 8 trờng TH & THCS Pá Hu với
Tôi thấy học sinh còn rất lúng túng khi xây dựng dấu hiệu nhận biết,
do cha nắm vững tính chất của hình bình hành và hình thang cân, cha ghi nhớ có hệ thống nên còn nhầm lẫn giữa tính chất của hai hình trên Do vậy khi đa ra dấu hiệu mới bị sai, nhầm lẫn hoặc thiếu
ơng III: giải quyết vấn đề
I Những kiến thức cơ bản liên quan đến ph ơng pháp học toán hình học phần tứ giác môn toán- lớp 8:
- Kĩ năng vẽ hình và ghi nhớ hình vẽ
Trang 20- Phơng pháp suy luận bằng cách so sánh các hình vẽ để nêu ra một số
đặc điểm, tính chất mới nào đó của một hình
II Những biện pháp tác động giáo dục và giải pháp khoa học tiến hành.
Yêu cầu học sinh:
- Biết vẽ hình chính xác, biết nhận dạng các đặc điểm của hình vẽ, sau
đó giáo viên cung cấp tên gọi của hình là hình gì để từ đó học sinh nêu ra
đợc định nghĩa và tính chất cũng nh dấu hiệu nhận biết của hình đó
- Học sinh phải học và ghi nhớ bài một cách có hệ thống, lôgic theo trình tự các bài, các hình trong sách giáo khoa vì các hình, các kiến thức của bài mới, đợc xây dựng từ các hình, các bài đã học
- Đối với một tứ giác, học sinh phải lu ý đến ba yếu tố đó là: Cạnh, góc và đờng chéo để từ đó nêu đủ các tính chất cũng nh các dấu hiệu nhận biết của các hình
- Từ chỗ nhận dạng đợc hình vẽ là hình gì học sinh có thể dựa vào hình vẽ để ghi nhớ định nghĩa, tính chất cũng nh dấu hiệu nhận biết của hình đó mà không cần học và ghi nhớ máy móc Khi cần nêu định nghĩa, tính chất cũng nh dấu hiệu nhận biết của một hình nào đó học sinh chỉ cần
vẽ hình là có thể nêu đầy đủ các kiến thức của hình
Từ các biện pháp trên tôi vận dụng để hớng dẫn học sinh học một số bài, hình tứ giác cụ thể nh sau:
1 Tứ giác:
- Khi học bài mới: Giáo viên vẽ hình và nêu tên đó là tứ giác và yêu cầu học sinh nêu các đặc điểm về số lợng cạnh, góc, số đo góc
Trang 21Học sinh phải dựa vào trực quan để nêu ra đợc có 4 cạnh và có bốn góc từ
đó sẽ củng cố và khắc sâu cái tên Tứ giác ( Tứ là 4) còn về góc phải dựa vào tổng ba góc trong một tam giác (vẽ thêm đờng chéo tứ giác thành 2 tam giác)
ở phần này học sinh cần ghi nhớ định lí "Tổng bốn góc trong một tứ giác bằng 1800 " do vậy cần tự làm thành thạo các bài tập tính góc nh bài 1,2VD: Bài 1 (SGK.T66)
Hình 5a Học sinh nhận dạng đợc hình
là tứ giác và bài yêu cầu tính góc Do vậy học
sinh cần tự đặt các câu hỏi liên quan đến góc
nh tổng các trong tứ giác bằng bao nhiêu?
từ đó đa ra lời giải
- Học sinh phải tự so sánh điểm giống và khác nhau giữa các hình Từ đó rút
ra tính chất về các cạnh, góc và đờng chéo
- Vẽ đợc sơ đồ thể hiện mối liên hệ giữa hình các hình từ đó xây dựng đợc dấu hiệu nhận biết của các hình
B A
Hình thang là tứ giác có hai cạnh đối song song
Trang 22- ở hình thang cân học sinh cần khai thác các tính chất:
Hai góc kề một
đáy bằng nhau
Có một góc vuông
- Hình thang vuông là hình
thang có một góc vuông hoặc
- Hình thang vuông là tứ giác
có hai cạnh đối song song và
có một góc vuông
- Hình thang cân là hình thang có hai góc kề một đáy bằng nhau
- Hình thang cân là hình thang có hai đờng chéo bằng nhau
C D