Một vài bài thơ trước 1954 của Hoàng Cầm, dù đi giữa những quan tâm lớn lao về cuộc kháng chiến chống Pháp, vẫn hé lộ một hướng tư duy, một hứng thú viết, một thiên bẩm về sự kiến tạo ch
Trang 1Lối đi tâm linh trong thơ Hoàng Cầm
Chỉ có “Trường thơ Loạn” và nhóm “Xuân thu nhã tập” trước năm 1945 là hai thi phái hiện đại duy nhất ở Việt Nam có những quan tâm thật sự về tâm linh trong thơ, tâm linh theo nghĩa là một thứ “linh khí” của sáng tạo Tâm linh trong thơ ca của người Việt vẫn còn là mảnh đất tiếp tục mới
Tâm linh và văn học vốn được xem là một mối quan hệ phức tạp, đa nghĩa, “dễ phiền toái”, “gây hệ lụy” nên cả người viết lẫn người đọc đều không có khuynh hướng mổ xẻ, giãi bày nó làm gì Hơn nữa, “tâm linh” (xét như một tính chất của tác phẩm văn học) là một trong số những từ ngữ khó xác định nội hàm nhất Đức tin, hồn ma, mộng mị, thần thánh, ảo giác huyền hồ, ân oán trả đền, kiếp trước kiếp sau, tiên cảm tiên tri,… có phải tất cả đều là tâm linh, là cái mà lý trí thông thường khó chấp nhận? Sẽ giải thích thế nào trước một thực tế: Kinh Thánh Thiên Chúa giáo là suối nguồn vô tận cho những đỉnh cao văn học châu Âu, Kinh Thi, Đạo đức Kinh, Nam hoa Kinh của Trung Hoa đã làm nên biết bao tượng đài thơ ca châu Á, Kinh Veda của Ấn Độ, hệ thống Kinh điển Phật giáo Đại thừa Đông Á đã
“hiến tế” cho nhân loại những nghệ sĩ thượng thặng Trong sâu xa, cảm hứng “nói bằng sự kính tin” và “nói với đấng kính tin” có lẽ là cội nguồn miên mật của ngôn ngữ tôn giáo và cuộc sáng tạo bất tận của văn chương
Bởi vậy, những thiên tài văn chương qua nhiều thế kỷ của nhân loại thường được
ca tụng là “nhà tiên tri”, “kẻ thấu thị”, “người có con mắt trông thấu sáu cõi”,
“tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”… Tâm linh là những phần suy tư sâu sắc nhất được chưng cất mãnh liệt của con người về những cảm nghiệm sống, vượt qua nhiều giới hạn không gian và thời gian Tâm linh là một giá trị của văn học
Để có thể nói được những điều sâu kín mà phổ quát nhất, tác phẩm chắc chắn cần đến một bệ đỡ là những suy tư tâm linh mà sau đó sẽ biến thành quả ngọt sáng tạo Không thể có những tiếng nói đa thanh đa nghĩa đến cốt tủy nếu tác giả của những tiếng nói ấy lại là người sơ sài về “khả năng tâm linh”
Đương nhiên, cũng không có nguyên tắc nào để khẳng định chỉ có văn học tâm linh mới là đáng giá Nhưng tâm linh trong văn học và văn học tâm linh là hai chuyện khác nhau, và cũng thật khó tin rằng những tác phẩm đã bỏ mặc tiếng gọi của tâm linh sâu xa mà vẫn có thể đạt tới những giá trị lớn
Trang 2Honoré de Balzac, bậc thầy chủ nghĩa hiện thực châu Âu, cũng là tác giả của
“Miếng da lừa” huyền hoặc – một phúng dụ cay đắng về giá trị con người trong thử thách của xã hội đồng tiền, một huyền thoại giàu ý nghĩa tâm linh bổ sung vào cái nền hiện thực tàn bạo và đáng chán
Trở lại câu chuyện của thơ ca Việt, có quá nhiều lý do khách quan và chủ quan để nói rằng: “tâm linh” là một chủ đề nhạy cảm không thua kém bất kỳ sự nhạy cảm chính trị, tôn giáo nào Nó từng được ủ men trong Trường thơ Loạn, bởi chủ soái Hàn Mặc Tử vốn cũng là người yêu mến và am hiểu Thiên Chúa giáo, người đã rọi một thứ ánh sáng khác biệt xuống khoái cảm nghệ thuật của độc giả đương thời, một thứ ánh sáng ẩn mật, đau đớn và giàu ý nghĩa thần học Nhưng Trường thơ Loạn cũng sớm kết thúc sứ mệnh tâm linh ngắn ngủi cùng với sự ra đi của Hàn Đoàn Phú Tứ của Xuân thu nhã tập viết: “Còn những bạn nào nữa đây, ở những bến trời xa lạ, cùng chúng ta “giũ áo lên Đền”, trong một điệu đàn thanh khí”[1] Lần này, ở quãng cuối của trào lưu thơ mới, một tuyên ngôn đậm đặc yếu tính tâm linh lại xuất hiện Nó không nhận mình là “điên”, là “loạn” mà nhận là “thanh khí”, là “nhã” Thơ trở thành “Thi Đền” Sang trọng biết bao! Nhưng rồi nhóm Xuân thu nhã tập cũng biến mất cùng tiếng chuông lịch sử năm 1945, “cáo chung” thời đại cũ Thơ ca kháng chiến cuồn cuộn đưa con người vào cơn lốc chiến tranh, khó có chỗ cho tâm linh trú ngụ
Từ bấy đến nay, câu chuyện thơ ca và tâm linh vẫn còn là mối dở dang May thay,
có một người gợi cho tôi niềm tin mạnh mẽ về một thứ văn nghệ “biết đến tâm linh” và “biết đến cái đẹp của tâm linh” Người ấy là nhà thơ Hoàng Cầm
Một sớm du xuân về Thuận Thành, đứng ở chùa Dâu, rồi ngồi giữa đồng cạnh chùa Bút Tháp, tôi thấy hồn thơ Hoàng Cầm trở về không dứt Quả không phải chỉ Hoàng Cầm “về Kinh Bắc” Sẽ còn nhiều độc giả tiếp tục cuộc trở về ấy, không phải chỉ vì lời dụ gọi của những làn điệu quan họ mà hẳn còn vì họ muốn nhìn thấy muôn nghìn Kinh Bắc khác nữa, qua người dẫn đường kỳ lạ, người kể chuyện độc nhất vô nhị, người được Kinh Bắc sinh ra và sinh ra “Kinh Bắc”: Hoàng Cầm
Nếu đem đặt chất thôn quê bình dị của Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính với “hồn quê Việt” của Hoàng Cầm thì chẳng có gì sai, nhưng cách ấy không khéo rất dễ
Trang 3làm mờ tan ít nhiều phong vị ám ảnh từ âm ba cây đàn lia mà chàng hoàng tử bé
xứ Bắc Ninh xưa gẩy lên mê hoặc Vẫn cảnh quang và dải yếm quê mùa của cư dân vùng đồng bằng sông Hồng, song, cốt cách Hoàng Cầm vẫn không thể chia sẻ với giọng quê truyền thống Ông là một đối thoại rất khác biệt với truyền thống
1 Cảm hứng hồi tưởng – tâm linh hóa ký ức
Thơ Hoàng Cầm là tiếng nói của hồi tưởng Nhà thơ Hoàng Hưng có một bài viết lấy nhan đề Hoàng Cầm – Một đời nhớ tiếc, một đời “níu xuân xanh” Nỗi nhớ tiếc trong thơ Hoàng Cầm nhiều đến mức tạo nên “điệu nhớ” dai dẳng, và cũng giúp
ta cắt nghĩa được nhiều nỗi đa đoan trong nội tâm phong phú, u huyền của thi sĩ Nhớ và tiếc triền miên – đó là điệu thơ của người không bao giờ chịu già nua trong cảm xúc và ước mong
Nếu anh còn trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh
Nhưng thuyền em buộc sai duyên kiếp
Anh lụy đời quên bến khói sương
Năm tháng năm dây chùng phím nguyệt
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương (…)[2]
Bài thơ được viết năm 1941 Câu chuyện một mối tình buồn ở những bước đầu của sự nghiệp thơ ca đã sớm ghi dấu một khả năng dẫn dắt trường từ ngữ đến gần cửa ngõ tâm linh, qua cách nói: khoảng chiều buồn phơ phất/ níu xuân xanh/ sai duyên kiếp/ bến khói sương/ nợ Tầm Dương
Trang 4Một vài bài thơ trước 1954 của Hoàng Cầm, dù đi giữa những quan tâm lớn lao về cuộc kháng chiến chống Pháp, vẫn hé lộ một hướng tư duy, một hứng thú viết, một thiên bẩm về sự kiến tạo chiều sâu tâm linh cho thơ, ví dụ như những câu: cõi đời nghiêng ngửa giấc u minh (Lại gặp), ngọn gió điên rồ trên đất lạ/ là mắt em hay thần mộng anh linh/ nước sâu gạn đục, ánh giăng nhiệm màu (Sám hối), từ trên nguồn thơ dại/ em chải tóc rừng xanh (Tiếng hát sông Lô).
Bài thơ Bên kia sông Đuống (4-1948) của Hoàng Cầm là một trong những hồi tưởng lớn và thiêng liêng nhất của Hoàng Cầm Điều lạ là cái cách nói của bài thơ này, nỗi nhớ của nó, không có nhiều nét chung với bức tranh thơ ca kháng chiến hồi ấy (thậm chí khó mà được lòng cái “đại chúng” mơ hồ và quyết liệt của một thời) nhưng nó vẫn được yêu mến, được truyền tụng, được “chính thức hóa” (từng được đưa vào chương trình sách giáo khoa trung học phổ thông, trở thành
đề thi đại học nhiều năm) Được như thế có phải vì sức thuyết phục của một dòng chảy tâm thức thơ đạt tới mức “hoạt hóa cõi siêu thức”, đi thẳng vào tâm linh người đọc, bất chấp mọi “húy kị” chăng?
Chất giọng thanh tao pha lẫn nỗi mê sảng và cách đặc tả sang trọng đầy sức vẫy gọi đâu có dễ hiểu dễ cảm
Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Trang 5Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Thần thái Bên kia sông Đuống có lẽ nằm ở những tia sáng ẩn khuất của tâm linh hiện ra trong bài thơ Trong nỗi nhớ tiếc cuồng dại và thắm thiết, nhà thơ đã mở hoàn toàn cánh cửa tâm linh cho ký ức được trở về trong chiếc bóng khác Nó không còn là cảm xúc, tâm lý Nó vượt qua kỷ niệm để trở thành tưởng niệm, vượt qua hình ảnh để trở thành ám ảnh, vượt qua không gian địa lý để trở thành không gian tâm cảm Ký ức trở thành tâm linh là một trong nhiều sở trường của tư duy nghệ thuật Hoàng Cầm
Nỗi nhớ chỉ dừng ở cảm xúc cũng có thể sản sinh ra cái đẹp Nhưng nỗi nhớ đã thành tâm linh thì chính nó là cái đẹp Quang Dũng từng có câu thơ “thần sầu”:Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
“linh phù” phía sau: Thiên Thai, Bút Tháp, áo, ai, chuông chùa, ở đâu Nếu quả có một thế giới khác thực sự đã hiện ra sau tấm the đen mờ ảo kia thì tôi tin hồn vía đoạn thơ đã nhập cả vào không gian Thuận Thành xứ Dâu Keo Đó không phải là tâm linh thì biết gọi là gì?
Hoàng Cầm kể lại cái thế giới sống trong hồi ức ấy: Con cò trắng bay vùn vụt/ Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu…; Lá đa lác đác trước lều/ vài ba vết máu loang chiều mùa đông/ Đêm buông xuống dòng sông Đuống / Con là ai – con ở đâu về; Khuôn mặt bừng lên như dựng giăng/ ngậm ngùi tóc trắng đang thầm kể/ những
Trang 6chuyện muôn đời không nói năng; Em đi trảy hội non sông/ cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh “Viết như đang chiêm bao” thế này, “nói như tiếng mơ hồ” thế này, về sau, trong bài Đi tìm ẩn ngữ thơ Hoàng Cầm (tìm hiểu tập Về Kinh Bắc), Đỗ Lai Thúy đã cắt nghĩa thành thủ pháp của “giấc mơ với những liên tưởng đứt đoạn, những hình ảnh rời rạc và rất nhiều khoảng trắng, các dấu lặng… Tất cả trôi đi trong một nhịp điệu thôi miên” và thế giới thơ ông là “một thực tại siêu thực trong vô thức” Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng, cái “khoảng trắng”, “dấu lặng” được nhắc đến đó chính là lối đi của một thứ tâm linh nhạy bén trong bản năng thơ của Hoàng Cầm Một nhà thơ dân dã, bình dị, đầy chật những quan niệm Nho gia buổi giao thời như Nguyễn Đình Chiểu cũng có lúc buột ra một câu thơ sâu thẳm: “Ba nghìn thế giới ta là vô danh” Thơ ca gắn với tâm linh như là bản mệnh Một nhà thơ trong một đời thơ cũng ít nhiều “buột ra” những câu thơ
đi vào vĩnh cửu bởi sự hội tụ tâm linh đạt tới mức lấp lánh Nhưng Hoàng Cầm không thuộc kiểu thi sĩ đôi khi buột ra hiếm hoi theo cách ấy Ông tư duy trên tâm linh Bản năng thi sĩ của ông nằm ở đó Thành tựu của thơ ông chảy từ nguồn đó
Những mảng hồi ức hóa tâm linh còn len lỏi tinh tế trong những bài thơ cắm sâu vào lòng người đọc như Lá diêu bông, Chùa Hương, Cây tam cúc, Cỏ Bồng Thi, Hội yếm bay… Đó là những: Buồn pha lê thiên không nức nở/ mù xanh thủng đáy chúa tiên rơi; Em cầm chiếc lá/ đi đầu non cuối bể/ gió quê vi vút gọi/ Diêu Bông hời…; ù ù gió thổi/ e vọng ai đâu mà hóa đá; thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi/
Em đứng nhìn theo Em gọi đôi… Đã có nhiều bút mực của công chúng yêu thơ cho thế giới “siêu nghiệm” của Hoàng Cầm Điều làm người đọc phải suy tư nhiều chính là ở khả năng tâm linh hóa những biến cố tinh thần, tình cảm ở nhà thơ Có phải vì khả năng ấy mà những câu chuyện tình dị thường, diễm lệ, buồn đau riêng của ông cũng trở thành “điển cố” cho chính ông, ở lại trong lòng người đọc một cách lâu bền bởi những ngôn từ “tha tâm thông” (thấu lòng người) một cách tự nhiên
2 Lằn ranh nhục cảm và tâm linh
Niềm sung sướng không cưỡng được của người đọc khi nhẩn nha những câu thơ
“đầm đìa sắc dục” của Hoàng Cầm xuất phát từ chỗ nó vẫn không ngừng dính líu với vẻ đẹp nguyên sơ của tinh thần Đó là một thứ khoái cảm chính đáng và hiếm hoi
Trang 7Thuở ấy Chị chưa về thơ Anh
Áo tơ dính chặt bó khuôn hình
Đến khi xé lụa bừng da thịt
Ngửa mặt phù du khép gió xanh
Rung suốt dây si nhịp quá mê
Nghe nghìn thế giới trượt ghềnh V
Lung liêng hồn liệng quỳ khe núi
Van suối trần tâm khép nép về
(Dâng thơ)
Dòng thơ “dềnh dàng” giữa cảm thức thánh thiện và cảm giác nhục dục được tạo thành từ nữ sĩ thiên tài Hồ Xuân Hương Dòng thơ ấy được nối tiếp bằng Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng và Hoàng Cầm Ở mỗi thi sĩ, nhục cảm và tâm linh chi phối lẫn nhau bằng một cấu trúc khác biệt Nếu thơ Hồ Xuân Hương được cảm nhận từ phía “cổ mẫu”, từ những “hoài niệm phồn thực”[3] thì thơ Bích Khê là tiếng nói tân kỳ về cái đẹp tĩnh tại của xác thân Phong cách tượng trưng và yếu tố tương giao cảm giác ở nhà thơ này chiếm ưu thế hơn ấn tượng tâm linh Hàn Mặc Tử thì gắn triết lý thần học về thánh giá với nỗi đau riêng, chuyển hóa cảm xúc tình dục thành những ảo giác tâm linh về sự chết Bùi Giáng với “tài năng rồ dại” đã trộn lẫn hoàn toàn phần tâm linh và phần nhục cảm đến độ tự nhiên, thuần thục khó ngờ, với thú chơi chữ và lối cấu tứ không thể lặp lại ở bất kỳ một cây bút nào khác Tâm linh và nhục cảm không quí ở chủ đề Nó quí vì sự thử thách Bởi hầu hết những tài năng thiên phú về văn chương đều ít nhiều để lại tầm vóc họ qua
Trang 8những cái bẫy nghiệt của đẳng cấp chữ nghĩa, nơi cái thanh và cái tục giải mã được cho nhau.
Cách riêng của Hoàng Cầm là trút hết cái nhấn nhá tài hoa của xứ sở “mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên” vào dáng vẻ nhục cảm Trong ngòi bút của nhà thơ, hồn đất hồn người hồn quê hồn nước nhập hết làm một, tràn vào mỗi hình tượng, cảm xúc, biến tất cả những trạng thái tính giao thành những cuộc cung hiến nồng nhiệt ở cõi thanh cao Trong tâm điểm cung hiến, Hoàng Cầm đã “thiên thai hóa” mọi niềm vui của cuộc đời hạn hẹp, kéo nó thành vô hạn và cao sang: sau “xé lụa bừng da thịt” thì sẽ là “ngửa mặt”, “khép gió xanh”, “nghìn thế giới”,
“trượt ghềnh V”, “hồn liệng”, “quỳ khe núi”, “van”, “suối trần”, “khép” Những từ ngữ này càng mang vẻ thiêng liêng bao nhiêu thì càng “lồ lộ” một cuộc “mây
mưa” bấy nhiêu Đó là bức tranh cuộn vẽ thiên nhiên đang cơn lạc thú, một thiên nhiên có thần thức của con người
Nếu lọc ra những từ ngữ “kì dị” của thi sĩ xứ Kinh Bắc, người ta càng sửng sốt, ví
dụ từ “chắp” trong câu: Hai người chợt tiếc mùa xuân/ Vội chắp lại đêm xuân thứ nhất/ Nhờ đó tôi ra đời (Tôi người làng quan họ); “sấp ngửa”, “ổ rơm thơm” trong câu: Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa/ Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì (Cây tam cúc); “tính”, “nhẵn nhụi”, “tròn lăn” trong câu: Quân cờ chí chát đêm Kinh Bắc/ Mấy ngón tay tính nước vào ra/ Vân vê nhẵn nhụi cạnh ngà/ Tròn lăn cung cấm trẻ con chơi (Hội đền Tám vua triều Lý); “chảy”, “nhún” trong câu: Luồn tay ôm say/ Giấc bay lay đỉnh núi/ Tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành/ Đùi chảy búp dài thon nhún vội/ Bàng hoàng tia chớp liệng nghiêng xanh (Thi đánh đu) Thật chẳng thua gì bà chúa thơ Nôm ngày trước, những là “giọt nước hữu tình”, “con thuyền vô trạo”, “nhảy ngựa”, “vén phứa”, “đầy phè”…
Thơ Hoàng Cầm ở những khúc đoạn “nhạy cảm” thường không tinh nghịch đến cùng Điều ấy giữ cho thơ ông một màu sắc ẩn nhã dù chẳng xa niềm chăn gối Tâm linh đã làm công việc đó, xoay xở cho những thú vui nghìn đời kia của loài người trở thành những lời khấn bằng thể xác Mỗi cử động, mỗi xúc động là một khấn nguyện trước hư vô Bởi vậy mới có những câu thơ:
Yếm may ba ngày mẹ vá lại
Trang 9Khuya nghe buồng động bóng đêm rằm
(Đêm Mộc)
Chuông chiều cởi yếm
Chuông sớm đội khăn
Hỗn mang mê vô cùng
Địa đàng say tới tấp
Không giờ không
Thăm thẳm nguyện cầu hơi em nồng
(Hội chen Nga Hoàng)
Hỗn mang, địa đàng, thăm thẳm, “không”, đó là những tên gọi khác của cuộc giao hòa cùng tận
Trang 10Đỗ Lai Thúy bình: “Mưa là một phiếm thể, dễ thay hình đổi dạng (mưa ngâu, mưa xuân, đi lối mưa, thềm hong mưa, lun phun mưa, mưa hoa nhài, mưa nằm, mưa ngồi, ao mưa nhòe nắng, mắt nhìn như mưa trắng…) Mưa là biểu tượng của tinh dịch Trời ban xuống cho Đất Mưa trong thơ Hoàng Cầm, bởi vậy, mang màu sắc tính dục đậm”[4] Nền tảng mỹ học và triết học phương Tây cho phép người đọc thấm thía đến mức ấy những câu thơ mơ sảng của Hoàng Cầm Đọc lại mấy Mưa Thuận Thành mới thấy quả đúng thế:
Nhớ mưa Thuận Thành
long lanh mắt ướt
là mưa ái phi
tơ tằm óng chuốt
Ngón tay trắng nuột
nâng bồng Thiên Thai
(…)
Phủ Chúa mưa lơi
Cung Vua mưa chơi
lên ngôi hoàng hậu
… Lách qua cửa hẹp
Mưa càng chứa chan
…
mưa nằm lẳng lặng
Trang 11hỏi gì xin thưa
nhớ lụa mưa lùa
sồi non yếm tơ
“nghiêng nghiêng” của sông Đuống là kỳ quan tinh thần của nhà thơ để lại cho đời hơn là một phát hiện mang tính địa lý Chiếc yếm bay không có mấy chiều sâu nếu
nó không được khắc vào trong những câu thơ “nguồn sống tuôn thơm nhựa ứa đầy/ một chiều hoảng sợ mấy chiều say”; “Hương ngát em lồng kín cõi – anh/ Yếm đào trút lại phía vô linh/ đung đưa gác lửng nghênh xuân ấy/ đôi núm hồng
em nở hết mình” (Hội yếm bay)
Không khí tâm linh trong thơ Hoàng Cầm mang hơi hướng “cứu chuộc” những cái
bị cho là thô xấu, tội lỗi “Dâng hiến” và “cứu chuộc” là bản chất sâu xa của mọi niềm tin tôn giáo Đó là những khái niệm không còn là khái niệm Dâng hiến và
Trang 12yêu thương là một Làm cho đẹp cũng là cứu chuộc Hình ảnh nhục cảm mà gợi nên những sự đẹp đẽ thì chính nó đã cứu chuộc cho những ý nghĩ thấp tối về nó Bài Cầu Phật của Hoàng Cầm chứng tỏ kiểu thơ tâm linh ấy:
Ngủ quỳ chân Phật thức thâu đêm
Nghìn mắt không soi tỏ nỗi niềm
Mảnh lá run xanh khe suối nép
Nghìn tay sao nỡ thắt y xiêm
Chế Lan Viên, một đối chọi về phong cách với Hoàng Cầm, từng viết: “Phật trăm tay anh giấu mình vào cánh tay thứ mấy/ Nhiều tay chi thêm bối rối trước đời” Lời than vãn thông minh này là một triết lý nho nhỏ nhưng rất sâu, gợi ra hình ảnh một con người suy tưởng Còn vị Bồ Tát Chuẩn đề của Hoàng Cầm lại hiện lên theo cách khác, không phải trong hình dung của lý trí bảo ban, mà như một lời thốt, lời van đa đoan: “sao nỡ thắt y xiêm”; điều đó có nghĩa rằng: những cánh tay cứu chuộc kia có thể nào đóng lại vĩnh viễn những khát khao cùng tận thể xác của con người? khép lại mọi nhục dục của con người? Có thể nào như thế không? …
Xứ Phật nghìn năm vẫn làm rơi ra những câu thơ táo bạo và “liều lĩnh” bực ấy Nhà thơ của những sợi cỏ Bồng Thi vẫn tiếp tục liều lĩnh với đám thơ nửa tiên nửa tục:
Cởi xiêm y mà thành cởi cả bóng chiều:
Trăng đêm qua chẳng nhớ về
Áo mong manh cởi chiều mê mải sầu
(Đi bên em)
Những “chạm”, “đau”, “khát”, “phun” đa nghĩa:
Trang 13Em lấy cõi mưa nhung
Miên miên tơ óng xuôi vùng khe sâu
Em ngồi đâu chị đứng đâu
bỗng dưng hai đứa hai đầu hư không…
Em chìm chưa Chị nổi chưa
bỗng dưng hai đứa hai bờ tháng năm
(Gọi đôi)
Trộn lẫn “đỉnh”, “ngực” vào tiếng chuông xuất thế:
Ôm em đỉnh núi sao buông thấp
hai ngực hòa tan một tiếng chuông
(Chùa Hương)
Trang 14Đẩy những trụi trần vào chốn âm dương huyền vi:Tình cờ đâu triệu triệu năm
Bỗng nằm
bỗng thắm
bỗng chằm hai thân
Bỗng âm dương toát mình trần
Để sinh chi chit mắt ngần chớp mi
Để thành em của huyền vi
Âm vang khối sét cành si khuấy trời
…
Vỡ anh bừng tiếng kêu thầm
Vũng mê nũng gối nguyệt cầm gọi đôi
Trang 15Hoàng Cầm đánh bẫy người đọc bằng kiểu viết hoa của ông Nhất là hai nhân vật trữ tình thuộc loại đáo để nhất là Chị và Em, khiến người ta hay có xu hướng cảm nhận đó là ám ảnh duy nhất của thơ ông Nhưng ông còn viết hoa cả chữ Anh nữa Vậy đâu phải trong ông chỉ có niềm ám ảnh tình “chị chị em em” sến sẩm Trong thế giới được tâm linh hóa đến từng cử chỉ, từng ước vọng đa tình, mỗi đại biểu đa tình ấy đều được nhà thơ viết hoa Con người hiện ra như một sinh thể linh thiêng, thế giới hiện ra như một khối linh thiêng, cuộc giao hoan hiện ra như một nghi lễ linh thiêng Đó là sự cô đặc đến kiệt cùng một lối tư duy chọn tâm linh làm nơi giải mã mọi bi hoan của đời.
3 Nghĩ về một “mỹ cảm linh hóa” trong thơ Hoàng Cầm
Rất nhiều nhà thơ vẫn là đỉnh cao dù họ chỉ xuất hiện một vài lần với một vài bài thơ hoặc một vài câu thơ trứ danh Một vài lần đáng giá ấy cho thấy họ được sinh
ra từ một nền mỹ học nào đó, kết quả của một đợt “kết tụ” thầm lặng nào đó những giá trị mỹ học mà họ đã dung hóa được Còn một số ít nhà thơ khác thì ngược lại, chính họ sinh ra mỹ học bởi khối trước tác khổng lồ về nhiều mặt của
họ Nguyễn Du là một thi hào đẻ ra mỹ học cho truyện thơ Nôm, cho lục bát, cũng như Hồ Xuân Hương đẻ ra mỹ học cho một kiểu thơ Nôm dạn dày phồn thực Ở thời hiện đại, những nhà thơ biết đẻ ra một mỹ học cho mình không phải nhiều Tất nhiên “mỹ học” ấy là một cách nói đứng từ góc độ thưởng thức hơn là từ quan niệm khoa học Trong con số ít ỏi đó có Hoàng Cầm
Thơ Hoàng Cầm gợi cho tôi ý nghĩ về một “mỹ cảm linh
hóa”.
Trang 16Tránh từ “thiêng hóa” vì trong thế đối trọng sẽ có từ “giải thiêng” Hoàng Cầm không phải là người thiêng hóa rồi giải thiêng Không có cuộc lật đổ nào trong thơ ông cả Thế giới đó linh thiêng từ đầu đến cuối.
Nụ cười của nàng hàng xén phải là “mùa thu tỏa nắng”, chiếc yếm cổ truyền dù bị
“phanh” ra, “quăng” hết nhưng phải là “yếm đào trút lại phía vô linh”, lá rơi thì không phải “vèo qua” mà phải là “rơi trên bờ lạnh thuở hồng hoang”, còn ngày gặp lại em thì “Bao giờ Anh xế về Em/ Ôm cây cỏ đắng ủ men cuối đời/ Cung đàn hoàng tử ngậm ngùi/ nghĩ sao thuở ấy hé cười ánh trăng”, lên chùa Hương chẳng giản đơn mà “Em trẩy chùa Hương phía giải oan”, “Anh trẩy chùa Hương phía xót thương” để rồi “Cầm tay em lạnh đưa đi mãi/ mê mải rừng mai thấp thoáng
hương”… Không nỡ để bất kỳ một hiện hữu nào thiếu đi bóng tâm linh, thơ Hoàng Cầm khiến người đọc không yên, hiểu ít hiểu nhiều cũng đều không yên, bởi
những phấp phỏng rất thật và rất lạ trong mỗi bài thơ Cũng vì thế, mỗi câu thơ đắc địa của Hoàng Cầm đều mở ra những chân trời thăm thẳm Suy cho cùng, tâm linh cũng là một quyền lực Trong một bài phỏng vấn, Hoàng Cầm trả lời rất trong sáng: “Thần linh đọc Diêu Bông, tôi chép Diêu Bông” Không, có lẽ không phải thần tiên giáng bút đâu Ông nâng niu cảm hứng của mình, đặt cho nó cái tên là Thần linh Linh hóa chính cảm hứng của mình, điều ấy sẽ dắt đưa ông đến những
bờ thơ ít người lai vãng, nhưng âm vang của nó lại xuyên biết bao không gian thời gian Dịch thơ Hoàng Cầm ra tiếng nước ngoài hẳn là rất khó, vì phần hồn ảo diệu
mơ hồ trong đó quá nhiều Dịch ngôn từ thì sao khó bằng dịch hồn Mà hồn thì có cách nào dịch được?
Trường hợp Hoàng Cầm là cả một sự mâu thuẫn: viết như ông ít người hiểu, ít người bắt chước được, nhưng viết như ông thì được công chúng yêu mến “điên cuồng” Những ý thơ như: “Anh đàn em hát níu xuân xanh”, “yếm rách còn ngăn được gió – tình em dang dở yếm nào che”, “diêu bông hỡi diêu bông”… đều đã sống tươi tắn trong những giai điệu đẹp của nền nhạc nhẹ Việt Nam
Hoàng Cầm là nhà thơ được nhiều độc giả yêu mến và “lựa” được người đọc mình Bài viết “Hoàng Cầm – một đời nhớ tiếc, một đời níu xuân xanh” của Hoàng Hưng, người đồng hương, người cùng hội cùng thuyền thơ ca, chứa đựng rất nhiều ý tưởng quan trọng trong việc định hướng tiếp cận giá trị thơ Hoàng Cầm:
“Trong suốt hai thập niên trở thành gương mặt văn học “ăn khách” bậc nhất, ông
Trang 17luôn xuất hiện như một khách thơ tài hoa đa tình quanh quẩn với hai loại tình: tình quê hương quan họ và tình “chị - em” độc đáo, ông như bị chế biến thành món giải trí dễ dãi cho một số đông tò mò hơn là thực sự thưởng thức văn
chương”, và “Rất ít người để ý đến một Hoàng Cầm mới lạ của tổ khúc thơ rock siêu thực – xuất biểu có một không hai trong thơ Việt Nam”, rằng tập thơ Về Kinh Bắc là “thế giới hoài niệm với thơ là nơi bấu víu, là nguồn sống, là năng lượng giải thoát độc nhất”, rằng nhạc điệu thơ Hoàng Cầm là thứ nhạc “dặt dìu, đón đưa, dan díu, buông bắt” Những ý tưởng này không phải của một người đọc bình thường, mà là sản phẩm của một niềm yêu vô kể và đớn đau vô kể, sản phẩm của một người đọc tri kỷ và nhẫn chịu nhiều phiền lụy từ tình yêu thơ Tiểu luận
Hoàng Cầm, gã phù du Kinh Bắc của Chu Văn Sơn là bức phù điêu tạc tượng thơ Hoàng Cầm Nhãn tự của bài viết là chữ “phù du” – một thứ nhãn tự nói được quá nhiều khí chất, tư dung, ám gợi và cảm nghiệm của nhà thơ Hoàng Cầm Và rất đáng chú ý, bài viết Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm của Đỗ Lai Thúy nhận được “một đảm bảo vàng” từ Hoàng Cầm với lời bình luận rằng người viết đã
“bóc ra đúng cái con người thầm kín ở trong ông”
Bấy nhiêu tên tuổi ở ngay buổi đương đại này cũng là những “đảm bảo” đáng giá cho sức sống của một tài thơ Thơ khó đọc mà chọn được cả người đọc, chọn được cả công phu và sở trường của người đọc là rất hiếm Hoàng Cầm, người thơ
xứ Thuận Thành, người mãi ham mê “vớt mắt em về bến hóa sinh” đã làm được việc ấy Hoàng Cầm đánh thức tinh hoa của những người chịu đọc ông Tôi cho rằng đó là vinh dự lớn hơn hết của một đời thơ; dường như hơn cả niềm vinh dự
“được tuổi trẻ hoan nghênh” như chàng Xuân Diệu năm xưa
ĐI TÌM PHONG CÁCH THƠ HOÀNG CẦM
TỪ ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ NGƯỜI LÀNG QUAN HỌ
Sự tích hợp của môi trường văn hóa sinh thái nhân văn trong tư tưởng cảm xúc thẩm mĩ thơ Hoàng Cầm là vấn đề quan tâm của văn học – văn hóa Trong đó,
Trang 18thi pháp thơ Hoàng Cầm được xem như một sự tích hợp đáng kể những đặc điểm tâm lý cư dân người Việt vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Vì vậy, việc diễn giải về sự khúc xạ, biến dịch và tịnh tiến của các giá trị văn hóa truyền thống trong thơ Hoàng Cầm sẽ góp phần nhận diện sáng rõ hơn phong cách tác giả.
Ở bài viết này, chúng tôi không có tham vọng bàn về sự đa dạng của tâm lý người Việt lưu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng, mà chỉ xin phác thảo một vài nét văn hóa ứng xử tình nghĩa, lịch lãm, dễ thương kết tinh trong bề sâu đời sống tinh thần người vùng Quan họ Những đặc điểm tâm lý ấy đã di thực vào thơ Hoàng Cầm, tồn tại vĩnh cữu như một quy ước ngầm, và góp phần tô điểm, tạo dựng nên một phong cách, diện mạo riêng không thể trộn lẫn, nhòa mờ trong số các gương mặt thơ thành danh thế kỷ XX Theo nhà nghiên cứu Phan Ngọc “Phong cách là một cấu trúc hữu cơ của tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm hay một tác giả”[3, 31] Rõ ràng, sau mỗi mùa hội làng, sau canh hát dân ca; cái còn đọng lại chen lẫn vào cõi thơ Hoàng Cầm là bóng hình thấp thoáng của những liền chị, liền anh bên dòng sông, ngọn núi, đình chùa, bãi bờ làng quê xứ Bắc Và một lớp nhân quần trong lễ hội nhân sinh vẫn thấy lòng mình còn nặng nợ, vương vấn, nhớ tiếc thủa ngày xưa, vẫn dàng díu, xoắn bện, dùng dằng với thế thái nhân tình
1 Có thể nói ước lệ rằng, “dùng dằng” là một cụm từ đắc địa mà cụ Nguyễn Tiên Điền sử dụng để mô tả về sự lưu luyến, phải lòng nhau của hình tượng cặp đôi
“trai tài gái sắc” Kim Trọng – Thúy Kiều trong thời khắc trẩy hội mùa xuân “Dùng dằng nửa ở nửa về/ Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần” (Truyện Kiều) Đây không chỉ là nét đặc thù được hư cấu từ góc nhìn thiện cảm của Nguyễn Du với những con người tài tử, mà còn là nét phổ biến lắng đọng bên trong tâm thức cư dân người Việt lưu vực đồng châu thổ sông Hồng Bởi vì, xét từ góc nhìn địa văn hóa, tâm lý “dùng dằng” được xem như một sự khúc xạ từ độ bằng phẳng nhàn
hạ của bước chân người nông dân chốn đồng bằng, hoặc in dấu từ sự uốn lượn của các dòng sông, bãi bờ phù sa ngoắt nghéo, và khác biệt với bước chân của cư dân vùng cao với dốc núi cheo leo, trèo trượt, hơi thở gấp gáp hổn hển, gắng gỏi của con người Có lẽ, đặc điểm này đã được biểu hiện khá rành rõ trong tâm lý người làng quan họ nói riêng, và suối nguồn thơ ca người Việt nói chung Bởi ở đó
có dòng sông Cầu “lơ thơ nước chảy”, sông Đuống “nghiêng nghiêng”, và sông
Trang 19Thương “nước chảy đôi dòng” Đặc biệt, qua sự đọc các văn bản thơ Hoàng Cầm, độc giả rất dễ nhận ra một sự “dùng dằng” như một kiểu tích hợp của các giá trị văn hóa truyền thống trong không gian thơ Quả vậy, có một mô hình nhà Nho tài
tử ít nhiều biến dịch và chi phối không nhỏ đến thơ ông Và nếu nhìn từ phía gia đình, có thể nhận thấy hình ảnh một người cha là nhà nho cuối mùa ít nhiều xê dịch, một người mẹ quan họ thôn quê mộc mạc, hồn nhiên, lúng liếng đa tình Có
lẽ, chỉ ở những thi sĩ tắm mình trong sinh quyển ngôn ngữ dân ca, dân nhạc xứ đồng quê Kinh Bắc, đồng thời hít thở trong bầu “sinh quyển” văn hóa Quan họ, và gắn bó tâm hồn mình với nền nếp ứng xử nền nã, hữu tình mới có thể khúc xạ được vào máu thịt nhiều giá trị nhân văn có sức sống lâu bền, bởi lẽ “Cái gì cổ còn lại với chúng ta ngày nay hẳn đã biến đổi ít nhiều qua các thời đại, nhưng cốt lõi xưa vẫn còn”[1, 81]
Một điều thú vị nữa là, khi thưởng thức các văn bản thơ trữ tình của Hoàng Cầm, độc giả sẽ dễ dàng tri nhận được dư âm dìu dặt của một số làn điệu dân ca quan họ giao duyên, và cảm giác bắt gặp nhiều điệp khúc bịn rịn khép lại lễ hội mùa xuân “Người ơi người ở…đừng về” Cũng có khi “Hội đã tan rồi không buông vạt áo”, và dĩ nhiên là những liền chị, liền anh quan họ sau buổi chia tay đám bạn hát, từ sâu thẳm trong đầu vẫn còn hoài nhớ “Người về cởi áo cho nhau/ Người
về cởi áo gối đầu lấy hơi/ Người về đằng ấy xa xôi/ Xin người nghỉ lại với tôi bên này” (Người về bỏ bạn sao đành – Dân ca quan họ), vẫn luôn canh cánh đợi chờ vào một ngày “đến hẹn lại lên” ở mùa hội năm sau Phải chăng, cái “hương âm” ngọt ngào của nhiều canh hát ngồi tựa mạn thuyền, trên đê, đầu đình, hay một sườn đồi thoai thoải, hoặc tựa song đào ở nhà một “bọn quan họ” mạnh thường quân nào đấy vẫn còn đằm sâu trong ký ức Có những kỷ niệm thăng hoa trong
âm nhạc, lời ca mà liền anh, liền chị Kinh Bắc thường mang về sau mỗi mùa hội làng ngắn ngủi, là nỗi nhớ thương da diết về một “khoảng trời riêng”, hoặc một sự
ám ảnh từ ánh mắt, bờ môi, nụ cười duyên dáng làm “nghiêng mái chèo” và rất khó diễn giải thành lời Nó như những “khoảng lặng” ùa đến bất chợt bên vợ, bên chồng, thậm chí “Đồng sàng dị mộng” như một niềm riêng khó nói Vì vậy, nhiều khoảnh khắc tự do tươi mát của con người trong lễ hội mùa xuân như : sự ngẫu hứng ứng tác tài hoa, sự quy cũ trong “đặt câu bẻ giọng”, “giọn chữ cho nền nã”, nhả chữ cho nhịp nhàng “vang rền nền nẩy” cứ chập chờn thức dậy và ám ảnh bên trong cõi lòng Như vậy, lễ hội nguyên sinh đã phần nào hòa giải được mối thân tình cộng cảm giữa con người trong làng, trong nước Mặt khác, chúng lại
Trang 20tích tụ, nhức nhối nơi miền vô thức, tiềm thức, cũng có lúc bất chợt ùa về đày ải, dồn đuổi người nghệ sĩ Hơn nữa, một điều không thể chối cãi là những quy luật tuần hoàn bất tận của tự nhiên, của dòng đời cứ lặng lẽ trôi về phía trước, và ở một phút lắng sâu, tạm dừng nào đó, người ta chợt “ngộ ra” trong lòng mình vẫn còn thương thầm, nhớ trộm “buổi ngày xưa”, chợt nuối tiếc, xót xa cho “cái tuổi trăng tròn chợt khuyết theo thời gian”, và cố níu kéo “cái thuở xuân xanh khuất bóng sau luỹ tre làng”.
2 Văn chương và con người vùng Quan họ có tính chất như vậy, “dùng dằng” khi phải lòng “một người tình không quen biết” (Tản Đà) trong đám hội làng, “dùng dằng” trong giấc ngủ và hoài niệm đau đáu với “Cái thở ban đầu lưu luyến ấy/ Ngàn năm chưa dễ đã ai quên” (Thế Lữ) Thơ Hoàng Cầm cũng nằm trong nguồn mạch văn hóa đó, và góp phần cấu kiện lên một phong cách thơ có nhiều sự
“dùng dằng”
2.1 Trước hết, sự “dùng dằng” được minh chứng bằng một tình yêu quê hương
da diết, cháy bỏng mà Hoàng Cầm đã nhờ nỗi nhớ bắc hộ cho mình cây cầu hoài niệm qua dòng sông Đuống, để gửi niềm thương về “Quê hương ta ngụt lửa
hoang tàn” Ông nhớ cái hương vị ngày mùa của “lúa nếp thơm nồng” ở bên kia sông – “bên bão tố” phảng phất ùa về “bên bình yên” làm cho không gian tưởng tượng ở một miền ký ức trong trẻo được kéo về gần Bên kia sông Đuống là bài thơ có nhiều cung bậc “dùng dằng” Đó là vào một đêm cuối năm 1948, vào cái rét Nàng Bân, tâm trạng Hoàng Cầm “như một bãi cỏ rối lút người” khi nghe tin quê hương rơi vào tay giặc, và trong xa xăm, có một giọng nữ nào đó khẽ khàng đọc
hộ nhà thơ một kiệt tác với rất nhiều hoài niệm dư ba Dĩ nhiên, Hoàng Cầm phải thật sự gắn bó với miền đất Kinh Bắc như chính máu thịt thì mới có đủ sức để gọi dậy những điệu hồn ông cha, “hồn xưa đất nước”, hồn vía làng mạc cùng đồng hiện trong tâm thức văn hóa Chẳng hạn, hình tượng một dòng sông “nghiêng nghiêng” đôi bờ cát trắng có từ thời tiền sử, đồng thời cũng là hình ảnh trường tồn của một nền văn hóa trồng lúa nước bốn nghìn năm Nơi ấy đã cho ta những hạt nếp cái hoa vàng gói lá sen xanh với bao dư vị ngọt ngào, cùng tấm lòng thơm thảo, thành kính mà ông cha đã gói cả hương vị đất trời, dâng lên người xưa vào ngày giỗ Tổ Đặc biệt, là sự tiếc thương, “dùng dằng” với các di sản văn hoá vật thể như : gánh trầu cau, giấy dó, phẩm hồng mà người mẹ Kinh Bắc đáng thương
“bước cao thấp” trên con đường trơn lạnh ngắt, và xót xa hơn khi những báu vật
Trang 21gia truyền ấy bị dẫm nát Tuy nhiên, sự “dùng dằng” lưu luyến, đáng lưu tâm nhất lại ở những giá trị văn hóa phi vật thể của dòng hội họa làng Hồ như : Đám cưới chuột, Mẹ con đàn lợn âm dương Cũng vậy, sự tiếc nhớ đượm buồn còn hằn in trong nỗi cô đơn, sự vắng bóng những nụ cười dìu dịu của “cô hàng xén răng đen” như một nỗ lực nhằm níu giữ nét duyên quan họ còn hằn sâu bên trong tục ăn trầu người Việt Rõ ràng “Vượt lên trên tất cả là cái ân, cái nghĩa Lòng thủy chung
đã trở thành một chuẩn mực đạo đức khiến mọi người khát khao vươn tới, một nguyên tắc tối cao trong quá trình xây dựng mối quan hệ lành mạnh giữa bầu bạn” [4, 120].Vì vậy, ở cuối bài thơ Bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm đã đưa ra một lời hẹn ước vào ngày “trẩy hội non sông”, ở đó, ông có thể say sưa chiêm nghiệm, ngưỡng phục một thế giới trang phục sang trọng chùng chình của liền chị Kinh Bắc như : dải yếm thắm, thắt lưng lụa hồng, và tắm gội thỏa thích trên tinh thần cộng hưởng hợp sinh hài hòa giữa hai giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, đồng thời lấy vẻ đẹp của nụ cười mê say đầy ánh sáng làm trung tâm
2.2 Hơn nữa, Hoàng Cầm là một nhà thơ được sinh ra và lớn lên ở vùng “phên dậu kinh thành”, một vùng “quê thiêng Kinh Bắc” Nơi có những làn điệu quan họ mênh mang “Khi mùa Xuân trở về/ Tiếng hát bay theo đầu ngọn gió/ ngập ngừng nơi ruộng lúa, bờ mương” (Khi mùa Xuân trở về) Ở đó, hình dáng yêu kiều của liền chị Kinh Bắc còn đọng lại qua nét đằm thắm duyên quê, được kết tinh trong thơ ca, âm nhạc, hội họa, và như một nguồn cảm hứng vô tận cho người đời sau
Đó là “má đồng tiền tủm tỉm”, những “mắt bồ câu long lanh” như một “vùng núi
sự tích” chảy ra “biển trữ tình” và “trầm đầy một nỗi phương Đông…”[2, 81] Mặt khác, nét duyên quan họ còn phát lộ qua áo tứ thân mớ bảy, mớ ba thấp thoáng bên bờ sông Đuống, sông Cầu Cũng có khi chỉ là nửa khuôn mặt thanh tú, e lệ nép mình đằng sau “nón quai thao chòng chành” Thậm chí, nét duyên mặn mòi của người con gái Kinh Bắc còn được tô điểm qua những “yếm thắm”, “lụa hồng”,
“yếm đào lụa nõn Bắc Ninh”… Trong bối cảnh mùa xuân mát mắt những gã trai làng, Hoàng Cầm cũng là một trường hợp không nằm ngoài ngoại lệ Ông như một
“kẻ khờ” đang mê mẩn, đắm mình trong hương sắc mùa xuân, đang căng mở mọi giác quan để thỏa sức hít thở thứ hương vị trầu cay còn phả ra trên cặp môi hồng, hay một mùi hương nồng toả ra từ da thịt, vương nơi tóc ấm của người “Chị” lớn tuổi, và còn thơm lâu ngây ngất, ngưng đọng ở trong lòng
Trang 222.3 Một điều thú vị nữa là, Hoàng Cầm đã góp phần làm sống dậy những cái
“dùng dằng” của người quan họ trong thơ mình Ông sáng tạo ra những thi đề, thi
tứ độc đáo để ít nhiều mô tả các cung bậc tình cảm quanh co như những khúc quành khó nói Và có lẽ, ở những bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc, có giá trị nghệ thuật cao, và neo lại trong lòng bạn đọc như : Bên kia sông Đuống, Cây Tam cúc, Quả vườn ổi, Lá Diêu bông, Cỏ Bồng Thi, Mưa Thuận Thành, Giọt mưa phương Nam… đã minh chứng cho điều đó Các văn bản trên như một cứ liệu giúp chúng tôi lần tìm được một vài đầu mối quan trọng để lý giải về một phong cách thơ độc đáo Bởi thế, khi đọc bài thơ Lá Diêu Bông, độc giả sẽ ít nhiều suy nghĩ về một mối tình đầu của “Gã trai làng Kinh Bắc” Đó là một người em đã đến tuổi dậy thì mà con tim thường rất khó bảo Và do nhân vật trữ tình đã đặt niềm tin tuyệt đối vào một lời bông đùa của người Chị, nên cứ nhủng nhẳng chạy theo để mà yêu, để mê mẩn mà quên cả bản thân mình Thậm chí, quá say sưa, đắm đuối với mối tình đầu mà chẳng thèm quan tâm để ý về đời Chị đã mấy độ sang trang Tuy nhiên, trên hành trình đi tìm Chị qua những “Mùa Đông sau em tìm thấy lá”, bóng dáng người em đã khúc xạ thành một hình tượng “dùng dằng” Lá Diêu bông đã khiến cho độc giả sau khi hoàn tất một quá trình tiếp nhận mà vẫn có nhiều ám ảnh, tiêng tiếc, không sao dứt ra được Tuy nhiên, để minh định vì sao lại như vậy, thì rất khó Phải chăng, những mơ ước lãng mạn mà ai đó muốn được quay về cái thời trắng trong, được trở lại với chính mình để đi tiếp trên cánh đồng chiều còn nhiều rơm rạ, được nhảy chân sáo trên con đê về làng, để rồi tiếc nuối với cái thuở “Sao em nỡ vội lấy chồng” (tên bài hát Lời ru buồn, nhạc Trần Tiến, ý thơ Hoàng Cầm) Đó chính là các giá trị văn hoá ngầm chảy bền bỉ bên trong tâm hồn con người, và chỉ chợt chói sáng ở một phút giây thăng hoa, bất chợt nào đó
trong trí nhớ của người nghệ sĩ tài hoa đa tình
Tiếp nữa, ở bài thơ Quả vườn ổi, Hoàng Cầm đã đưa độc giả dạo gót trong một khu vườn “Em mười hai tuổi đi theo Chị/ Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa/ Đi…/ Ngày tháng lụi tìm không thấy/ Giải yếm lòng trai mãi phất cờ” Người em đi trong vườn ổi có cả “quả chín”, “quả ương”, và dù có cố van xin Chị nhưng tất cả cũng chỉ là một sự đón nhận những “điều không thấy” Vì thế, người khách bộ hành bỗng trở thành một kẻ đơn độc trong cuộc tình “Lẽo đẽo Em đi vườn mai sau/ cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng” Mảnh vườn mà Hoàng Cầm đã tạo dựng, đón mời đôi tình nhân đến dạo chơi, song đó cũng chỉ là những bước chân khập khiễng,
mơ ước, và đứa Em ở tuổi mười hai sẽ mãi là người lỡ nhịp muộn mằn Do vậy,
Trang 23nhân vật Em cứ một đời níu kéo, cứ khao khát được đi qua cầu Bà Sấm, bến Cô Mưa để được lắng nghe dư âm của “tiếng sét ái tình”, suy cho cùng, đây là một sự
nỗ lực nhằm khẳng định về vấn đề tồn tại vĩnh viễn của tuổi trẻ và tình yêu Cho
dù có phải đọa đày trong chiều mưa tê tái, nhưng nhân vật Em vẫn quyết tâm nhặt được “dăm quả rụng” dưới gót chân người Chị lớn tuổi
Để minh định cho phong cách “dùng dằng”, chúng tôi xin dẫn thêm bài thơ Cỏ Bồng Thi làm luận chứng Điều dễ thấy ở hai nhân vật Chị - Em trong bài thơ ấy là
họ cứ xoắn luyến, bện chặt vào nhau trên một con đường “Chị đưa Em đến bến này/ cheo leo mỏm đá” Nhân vật Chị đã dùng thứ “bùa ngải” tình yêu làm mê mẩn và trói chặt chân đứa Em tội nghiệp bằng “Thòng lọng tơ gì quấn gót” để đưa nhau về chốn rừng xanh có nhiều dự cảm chẳng lành Dù cho cái số kiếp đa tình nhiều lận đận “Em vọng ai đâu mà hoá đá” cũng tỏ ra mệt mỏi, thấm thía về sự trắc trở ngang trái của tình yêu trong các qui chuẩn đạo đức thời văn minh Phải chăng, qua vai người Chị, người đọc sẽ soi ngắm rõ hơn về hình tượng người Em,
và ngược lại qua vai người Em lại thấy được sự đỏng đảnh đa tình của người Chị như “Lắc đầu hoa tím rụng/ ngó rừng xanh Em hỏi cội nguồn/ Biết rồi/ Thôi/ nghe hoa tím hát” Câu thơ trên như một chứng tích của mẫu gốc vẫn còn bỏ ngỏ, và cho đến tận ngày nay, người đời vẫn rất cần một sự nỗ lực để bù đắp cho những băn khoăn, thắc mắc, và chưa thể giải quyết cho thật tường tận, thỏa đáng Tình yêu là vậy, dù Hoàng Cầm có tự vấn về thân phận con người, về sự mỏng manh của một mối tình “trước vực sau khe”, và cũng chính vì đứa Em biết nhận thức, vỡ
lẽ về vấn đề trên quá muộn mằn, nên tất cả chỉ là sự “dùng dằng” trong tâm thức Đây là những hành động tâm lý mà Hoàng Cầm đã cố níu kéo, lưu giữ thành kỷ niệm đẹp, và ở một phút giây loé sáng bất chợt nào đó, những “nỗi niềm tinh vân” (chữ dùng của Huy Cận) ấy sẽ thăng hoa phát khởi thành thơ
2.4 Phải chăng, “dùng dằng” là một trong những khí chất lưu truyền từ trong “nết đất” của con người vùng quan họ Dù cho ít người nói ra, nhưng nhiều người đều thấu hiểu Nó như một thứ luật bất thành văn, một quy luật bên trong của tình cảm mà những liền chị, liền anh Kinh Bắc còn níu kéo nhau qua mấy mùa lễ hội, mấy độ xuân về Đây là một đặc điểm tâm lý nói chung của những người quan họ
có tâm hồn giàu chất đa tình, và Hoàng Cầm là một trong những con số không nhiều đó Mặt khác, nhân vật Em lại biết yêu, biết say, biết quen hơi những liền chị quá sớm Tuy nhiên, niềm khát khao của cái tôi trữ tình cũng chỉ được thực thi
Trang 24ở mức độ một đứa em quá ư ngoan ngoãn và thật thà Và khi biết thấm thía các nguyên do dẫn đến những dang dở, tất yếu vấn đề này sẽ phần nào thức nhận sâu sắc, và nhức nhối bên trong cõi lòng của người thi sĩ đã trót mang kiểu “gene” của dòng giống “nòi tình” Mâu thẫn ấy vừa tự hòa giải vừa tích tụ, đầy ải con người bằng nhiều biến thái khác nhau của tình cảm, của sự “ham muốn” Trong sự lỡ nhịp ấy, con người cũng chỉ biết mang theo sự rạo rực trong mình mà lặng lẽ tìm
về “bến xưa”, nơi “đò đầy, đò đã sang sông”, “đến duyên em em phải lấy chồng”,
là những ẩn ức không thể giải tỏa, hoặc một miền hoài niệm, “dùng dằng” mà Hoàng Cầm đã tạc vào thơ mình Phải chăng, đây còn là một sự di thực tự nhiên của các giá trị văn hóa dân gian Kinh Bắc vào trong thi ca, và chính Hoàng Cầm là người đã thâu nhận, nuôi trồng được, và làm cho nó tỏa sáng nhờ vẻ đẹp lung linh của ngôn ngữ
2.5 Về sự vận động của không gian và thời gian, Hoàng Cầm đã ngắm nhìn hai đại lượng này bằng nhãn quan của một chàng trai tinh ý, đa tình “Chiều qua chia nhớ làm hai ngấn/ Một trắng manh mai một chéo hồng” (Chia nhớ) Có lẽ, sức cuốn hút, sự mê hoặc của tình yêu đã làm cho thi nhân đắm đuối Ông mê mẩn đến nỗi phổ cả vào bức tranh của buổi hoàng hôn ráng đỏ một sắc màu đậm chất nhục cảm Ông nhìn áng mây ngũ sắc còn ánh lên vài tia nắng bảy sắc cầu vồng xiên xiên rỉa quạt buổi hoàng hôn như một người thiếu nữ đài các cổ cao ba ngấn mà dáng hình của họ vẫn còn in bóng ở tận chân trời Chúng tôi nghĩ, đây là hai câu thơ hay, xuất thần, bởi nó đã thâu tóm được sự luyến tiếc của một con người đứng trước sự trôi chảy của thời gian Vẻ đẹp đó dù có rất mong manh, cứ chợt
“vụt hiện” (chữ của Hoàng Hưng) rồi chợt ẩn mình trong bóng đêm, nhưng đã để lại sự bất tử trong nghệ thuật
2.6 Tiếp nữa, dường như cũng vì những cái “dùng dằng”, mà cái Tôi trữ tình đã mấy lần bị “tiếng sét ái tình” suýt “đánh chết” Cái Tôi ngu ngơ, non nớt ấy vẫn chẳng chừa cái thói “dùng dằng” đã ăn vào máu Và trải qua những cuộc tình theo gió bay đi, thậm chí xa vời như “nắng vãn bên sông”, tàn tích còn lại, lắng đọng vào trong cõi thơ Hoàng Cầm là cái “bản lai diện mục” (chữ dùng của Phật học) của nhà nghệ sĩ Phải chăng, đây là sự nhất quán trong các sáng tác của nhà thơ Những kỷ niệm “dùng dằng” không chịu ngủ yên, nó thường trở đi, trở lại, thao thức thường trực cùng người nghệ sĩ và tạo nên những dòng chảy cảm xúc bền bỉ, vô hình mà ta có thể suy luận, liên tưởng được qua một số sáng tác của
Trang 25ông Chẳng hạn, qua các bài thơ mà Hoàng Cầm viết về lễ hội Kinh Bắc như Thi sợi bún, Thi ăn mía thổi cơm, Hội Vân Hà, Hội vật, Thi đánh đu, Hội chen Nga Hoàng, Thi dệt vải, Thi thêu gấm, Hội Gióng…, người đọc có thể tri nhận được nhiều hệ giá trị khác nhau Tuy nhiên, điều mà độc giả có thể cảm nhận được qua những lễ hội đó là những “má xuân hồng”, “cơn sốt bỏng môi hoa”, hay một hình bóng nào
đó vẫn còn tìm về trong mộng ở Hội chen nga hoàng một thời trên bộc trong dâu Đây chính là những trạng thái khiêu khích “dùng dằng” không dứt ra được
3 Và nếu như trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã đưa những nhận định tinh
tế, đồng thời khái quát, thâu tóm được nhiều phong cách thơ mà tên tuổi của họ
đã góp phần quan trọng làm nên “Một thời đại trong thi ca” dựa trên tư tưởng thẩm mĩ và nghệ thuật của tác phẩm Chẳng hạn, Thế Lữ được xem như một
người khách bộ hành phiêu lãng, một hồn thơ “rộng mở” Lưu Trọng Lư như một
kẻ chinh phu đang “mơ màng” trước vẻ đẹp của một mùa thu mang hồn xứ sở Huy Thông với âm vang Tiếng địch sông ô ngân nga những hồi trống giục từ trong chuyện xưa, tích cũ đất Trung Hoa đã đưa ông trở thành một phong cách thơ
“hùng tráng” một thời Nguyễn Nhược Pháp lại như một “ông già” tỉnh táo mơ làm ông Nghè, ông Thám võng anh đi trước, võng nàng theo sau Dù cho giấc mơ
ấy có rất mực ngộ nghĩnh, mang vài nét hồn nhiên và đáng yêu như những huyền thoại trong mắt trẻ con Bởi vậy, chúng ta có thể nói ví von rằng, Nguyễn Nhược Pháp đã xây cất lên một “lâu đài cổ tích” bằng những tưởng tượng của một hồn thơ “trong sáng” đến tuyệt vời
Nhưng nếu chỉ so sánh phong cách thơ Hoàng Cầm với một số phong cách thơ trên, có lẽ, chúng ta cũng chưa có đủ cơ sở để khẳng định về sự độc đáo, sự
thống nhất trong đa dạng của phong cách thơ Hoàng Cầm trong dòng chảy thơ Việt Nam thế kỷ XX Chúng tôi xin dẫn thêm một số kết quả nghiên cứu của Hoài Thanh để tiếp tục công việc định danh này Trong làng Thơ mới, Huy Cận được gọi
là “Một cái linh hồn nhỏ/ Mang mang thiên cổ sầu”, thơ ông đâu chỉ có áo trắng buổi tan trường mà còn có cái buồn thương “ảo não” trước những đêm mưa, những cảnh đời chia lìa đôi ngả, những tâm sự “mòn xói tâm can” Chế Lan Viên – một nhà thơ “kinh dị” lại có một chốn nương thân thoắt ẩn, thoắt hiện trong những Tháp Chàm Đọc thơ ông, ta thấy ám ảnh, rờn rợn bởi những đống xương tàn, những kiếp “ma hời sờ soạng đêm thâu”, và cả một nền văn hóa Chàm chỉ còn vang bóng Đến với Hàn Mặc Tử, chúng ta bắt gặp một con người cô độc đến
Trang 26muôn kiếp, có lúc dở khóc, dở cười, và dám làm nhà thơ “điên cuồng”, “ngộ dại” bằng cái phần tinh hoa sâu lắng nhất trong tâm hồn mình, đồng thời bay vút lên bằng đôi cánh của ước mơ Ông như một “nhà chân thi sĩ” đang gồng mình vượt thoát trên những giới hạn chật hẹp của cuộc sống tầm thường Ta có cảm tưởng rằng, tập thơ Xuân như ý đã nói được rất nhiều điều về con người, mảnh đất vùng Nam Trung Bộ Trong tập thơ trên, chúng tôi thấy Hàn Mặc Tử giống như một vị
sứ giả của Thượng đế đến cư ngụ chốn trần gian để “ban ơn phước lành cho cả thiên hạ” bằng những câu thơ đẹp đẽ, sáng láng, thơm tho như dâng mật ngọt cho đời Trở về với vùng đất Sơn Nam chiêm khê mùa thối, cùng những hội chèo làng Đặng, thôn Đoài, thôn Đông, hàng cau, giàn trầu, ao bèo, giếng thơi, giậu mồng tơi… Chúng ta bắt gặp được nhiều bài thơ mà đọc lên cứ thấy nhẹ nhàng, mộc mạc, quê kiểng như những điệu ca dao, hay những câu Kiều du dương từ mấy trăm năm trước Có lẽ, chỉ đến với Nguyễn Bính, đề tài đồng quê xứ Bắc, cách yêu đương, tỏ tình, tương tư kiểu “nhà quê” mới thật sự phát lộ qua các cung đường trở về với “Chân quê” Và chừng nào làng Việt cổ truyền còn là một đề tài thú vị của văn hoá và thi ca, chừng nào còn có hình bóng của những anh trai làng
mơ làm Quan trạng, thì chừng ấy “hương đồng”, “gió nội” vẫn còn vấn vương trong thơ Nguyễn Bính Thiết nghĩ, đây là một đề tài rất hay, chúng tôi hy vọng sẽ
có dịp trở lại trong một bài viết khác Cùng dòng chảy Thơ mới, chúng tôi muốn dẫn thêm một nhà thơ “mới nhất” mà tác phẩm của ông còn rất thân thiết với tuổi trẻ Xuân Diệu là thế, ở ông, ta bắt gặp một cái tôi “thiết tha, rạo rực và băn khoăn” Và chỉ đến nhà thơ này, thời đại của chữ Tôi mới có một bức tranh hoàn hảo sắc màu Đây không phải là “màu đỏ choét” mà các cụ ta ưa thích, quen thân, màu đại diện cho “Thơ cũ” Mà là “màu xanh nhạt” hay một cách gọi tên tương đối khác, đó chính là “Thời đại màu xanh” (chúng tôi nhấn mạnh) Nếu không có công đầu của Xuân Diệu ở những câu thơ “rất Tây” không có chỗ trú ngụ cho hình bóng người già, thì sẽ rất khó có một kiểu tư duy thơ hiện đại vươn ngang tầm nhân loại Vậy đâu là sự khác biệt giữa Hoàng Cầm và các phong cách thơ trên? Theo quan điểm của L.X Vưgôtxky trong công trình Tâm lý học nghệ thuật nổi tiếng “Không có một sự nghiên cứu chuyên môn về tâm lý thì chúng ta chẳng bao giờ hiểu nổi những quy luật nào đang điều khiển cảm xúc trong tác phẩm nghệ thuật, và chúng ta có thể, bất cứ lúc nào, sa vào những sai lầm thô bạo nhất”[6, 47] Từ những điều mà chúng tôi đã chứng minh qua một số sáng tác của ông, có thể nói, “dùng dằng” là cách gọi tên ước lệ dành riêng cho Hoàng Cầm Chúng tôi nói như vậy vì có những cơ sở như sau :
Trang 27Thứ nhất, “dùng dằng” là một từ thuần khiết của người Việt, một phạm trù giá trị cấu thành đặc điểm “thị tài đa tình” trong mẫu người nhà Nho tài tử Vấn đề này đã được Nguyễn Du lựa chọn để mô tả về những cuộc gặp gỡ của các bậc tài
tử – giai nhân trong Truyện Kiều Rõ ràng, chứng tích của các khúc thức “dùng dằng” còn bàng bạc trong sinh hoạt văn hóa Quan họ, phổ biến trong truyện Nôm, đồng thời tích hợp mạnh mẽ trong cảm quan thẩm mĩ Hoàng Cầm Thứ hai, có thể nói ước lệ rằng “dùng dằng” như một sự khúc xạ từ hình ảnh các dòng sông, bãi
bờ làng quê trù mật, nên thơ của người Việt tụ cư lâu đời trên lưu vực vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, hoặc một sự níu kéo dằng dai bên trong hội hát đối đáp của những liền anh, liền chị quan họ thôn quê Đây là một đặc điểm tâm lý của con người làng xã với những suy nghĩ quanh quẩn trên một vùng liên tưởng thẩm
mĩ hạn hẹp trong nhà ngoài ngõ, hoặc những khuôn mặt thân quen trong làng trong nước, trong canh hát quan họ, hoặc một số nét văn hóa giao tiếp ứng xử hào hoa, thanh lịch, nền nã, hữu tình góp phần kích hoạt lên trong tư duy hướng nội của Hoàng Cầm một nhu cầu hồi qui vĩnh cửu Nói cách khác, đó là nét duyên dáng, mặn mà quyến rũ của một thế giới người xưa – người đẹp còn hằn in trong
sự trải nghiệm cá nhân, đồng thời vượt qua ngưỡng cửa thời gian, tồn tại trong cái nhìn ẩn ức, trong bản chất, cá tính sáng tạo của tác giả để bất tử đến muôn đời Thứ ba, nếu theo mô hình tâm lý học nhân cách, thì “dùng dằng” còn có thể được xem như một nét tâm lý – văn hóa ứng xử, một đặc điểm đáng yêu về tình sâu, nghĩa nặng giữa người với người trong làng, trong nước, là những tình cảm phổ quát, tiềm ẩn bên trong bề sâu tâm hồn người Việt “Bất chấp tất cả những đổi thay của lịch sử, sẽ không có gì làm thay đổi tâm hồn ấy được Đó là chất quê hương xứ sở”[5] Hơn nữa, để chạm đến các giá trị Chân – Thiện – Mĩ, chắc chắn những con người làng xã phải luôn phấn đấu hoàn thiện nhân cách, giữ gìn phẩm chất góp phần tô điểm thêm cho khuôn mặt của gia đình -làng – họ, và dĩ nhiên người ta cũng phải tự xác định được đâu là các giới hạn, quy ước, tôn chỉ của “lệ làng” đã được cả cộng đồng chấp nhận như một thứ luật bất thành văn Nó luôn nhắc nhở người Quan họ phải biết định vị được điểm dừng trước bến bờ của cái đẹp, cái cao cả để trân trọng, nâng niu Phải chăng, đó là nét ứng xử chừng mực của con người một vùng đất học, một miền quê có bề dày truyền thống văn hóa Bởi vì, sinh hoạt văn nghệ quan họ thường đi liền với tục kết bạn giữa các làng quan họ liên tục qua nhiều đời, kèm theo qui ước không được lấy nhau Quan niệm này tạo ra một nét văn hóa ứng xử chan chứa tình nghĩa, thân thiết trong
Trang 28tình cảm bạn bè, và sự gắn bó keo sơn bền chặt, đi lại thăm hỏi nhau đến trọn đời Tuy nhiên, xu hướng của nghệ thuật không chỉ phản ánh những vẻ đẹp của ánh mắt, bờ môi, nụ cười duyên dáng, mà còn cảm mến trước những cung bậc bổng trầm của câu hát giao duyên, những biến thái rung động bên trong của cõi lòng, hoặc những khoảnh khắc “phải lòng” không cưỡng lại được Cho nên, một mặt người Quan họ vừa e sợ trước sức ép tỏ chiết của tinh thần quân chủ làng mạc, mặt khác lại vừa thích thú mê say với cái đẹp lúng liếng đa tình, “dùng dằng” trong tâm thức kiểu “hội đã tan rồi không buông vạt áo”, hoặc luyến tiếc với
“người ở đừng về” như một nhu cầu nhân bản Phải chăng, do những ranh giới,
ức chế không thể đạt tới trong tình yêu mà đỉnh điểm của nó là hôn nhân, không
có sự hòa hợp giữa tâm hồn và thể xác nên người Quan họ đã sáng tác ra nhiều làn điệu rất hay, dìu dặt, phổ vào lớp ca từ nhiều cung bậc của tình cảm lứa đôi như một cách giải tỏa những ẩn ức của riêng mình Có lẽ, sống trong không khí hội hát đối đáp giao duyên, Hoàng Cầm đã phần nào thâu nhận được những nét văn hóa ứng xử của người Quan họ, tích hợp vào trong thơ trữ tình như một sự di truyền những đặc điểm tâm lý tộc người Cuối cùng, nếu cơ chế của khoa học là thích đi trên con đường thẳng băng, ưa sự tường minh, khúc chiết, rạch ròi thì nghệ thuật lại quan tâm đến những giây phút trì hoãn, quanh co ngập ngừng, thích đi trên một con đường vòng vèo ngoắt nghéo không mấy thuận chiều, đồng thời tự tiết chế, kìm nén để thăng hoa và thỏa mãn trong niềm vui, sự khoái cảm thẩm mĩ
Tóm lại, Hoàng Cầm đã sáng tạo ra một di sản tinh thần trên cơ sở tích hợp nhiều giá trị văn hóa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Ông đã đưa được những cung bậc tình cảm, những nét văn hóa ứng xử của người Việt vào trong thơ mình Do vậy, nó vẫn có sức sống bền bỉ Và chính mối liên hệ qua lại giữa văn học và văn hoá đã giúp chúng tôi nhận diện các giá trị tư tưởng thẩm mĩ, nghệ thuật của người nghệ sĩ thêm sáng rõ
Đặc điểm lạ hóa trong ngôn ngữ nghệ thuật thơ Hoàng Cầm
Trang 29Ngôn ngữ là chất liệu của tác phẩm văn chương, là cái vỏ vật chất của tư duy, là
hệ thống ký hiệu biểu đạt tư tưởng Ngôn ngữ là sự hiện thực hoá của tư tưởng
Nhà thơ Hoàng Cầm
Nhà văn khi sáng tạo nên tác phẩm, bên cạnh việc sáng tạo ra hệ thống nhân vật,
hệ thống hình tượng, thế giới nghệ thuật thì cũng đồng thời sáng tạo hệ thống lời văn, lời thơ
Như vậy, sáng tạo văn chương cũng đồng thời là quá trình sáng tạo ra một hệ thống ngôn ngữ Nghiên cứu tư duy nghệ thuật của một nhà văn, nhà thơ chính là nghiên cứu xem nhà thơ đó tư duy như thế nào trên chất liệu ngôn ngữ
Lâu nay, nhiều cuốn sách lý luận và từ điển văn học của ta vẫn cho rằng khái niệm
“hiệu ứng lạ hoá” là do nhà soạn kịch người Đức Bertolt Brecht (1898-1956) đưa
ra, và người ta đồng nhất khái niệm của Brecht với khái niệm “lạ hoá” do nhà lý luận hình thức chủ nghĩa người Nga Viktor Shklovski [hay Shklovsky] đề xướng từ
1917 Ví dụ cuốn Từ điển văn học (bộ mới) (1) (với mục từ “Lạ hoá” do Lại Nguyên
Ân biên soạn); hay cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (2) Trong sáng tác văn học, nhà văn sử dụng thủ pháp “lạ hoá” chính là để khơi dậy những cảm xúc mới lạ của người đọc, không để cho họ bị chi phối bởi các thói quen và định kiến vô thức có sẵn về đối tượng nhận thức tính thẩm mỹ Dưới góc độ ngôn ngữ học, Lạ hoá là
“toàn bộ những thủ pháp (nghịch dị, nghịch lý…) được dùng trong nghệ thuật một cách có chủ đích, nhằm đạt tới một hiệu quả nghệ thuật, theo đó, hiện tượng được miêu tả không phải như ta đã quen biết, hiển nhiên, bình thường, mà như một cái gì mới mẻ, chưa quen, khác lạ” (3)
Là một thành tố văn học, ngôn ngữ văn chương đã tồn tại như một phương tiện bảo tồn gìn giữ và sáng tạo văn hoá hữu hiệu Thơ Hoàng Cầm được bắt nguồn từ ngôn ngữ trong văn hoá dân gian vùng Kinh Bắc Qua lăng kính chủ quan của
mình, Hoàng Cầm đã chọn lọc, gọt giũa, tái tạo và không ngừng sáng tạo ngôn ngữ Việt để cho tiếng Việt ngày càng phong phú, trong sáng, giàu giá trị biểu vật, biểu cảm Và quan trọng hơn, ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm đã trở thành phương tiện, hình thức để biểu đạt những giá trị về các biểu trưng văn hoá vùng quê Kinh Bắc
và được diễn đạt bởi một thứ ngôn ngữ siêu lôgíc, thứ ngôn ngữ được chồng xếp nhiều tầng ý nghĩa, nhiều khi rời rạc tưởng chừng như cách xa, không ăn nhập gì
Trang 30với nhau, nhưng thực ra lại có cấu trúc chặt chẽ, không hề ngẫu nhiên, lỏng lẻo
Đó là hình tượng ngôn ngữ có chiều sâu ngữ nghĩa, được mỹ lệ hoá, làm đẹp hơn những gì vốn quen thuộc, bình thường
Thông thường, nhà thơ Hoàng Cầm làm thơ không theo chủ định trước, không bao giờ ông ngồi "nghĩ thơ" mà phần lớn nó tự đến từ một rung cảm vô thức, một hoài niệm hay một nỗi đau buồn nào đấy Những xúc cảm ấy thường đến trong đêm khuya, bằng một giọng nữ văng vẳng bên tai: "Bên kia sông Đuống", "Về Kinh Bắc", "Mưa Thuận Thành", "Men đá vàng", "99 tình khúc" - những tập thơ chính của ông đều xuất phát từ những xúc cảm đó và xuyên suốt trong thơ ông là chất trữ tình bay bổng của một vùng văn hóa phồn thịnh Kinh Bắc Do vậy thơ ông luôn
có sự lạ hoá trong hệ thống ngôn từ để tạo nên một ý niệm về cái đẹp trong “một hiện tượng cảm quan” (4) của nghệ thuật thi ca
Quả thực thơ Hoàng Cầm là hay, là tuyệt tác, hình thức ngôn ngữ thơ của Hoàng Cầm là tân kỳ, sáng tạo, đó là một lối “tư duy thơ đứt đoạn, những hình ảnh mới
lạ đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, lộn xộn tạo ra nhiều khoảng trống gây khó hiểu” (5) Song dù thích hay không nhiều người vẫn thấy thơ Hoàng Cầm là lạ,
là có một cái gì khác lạ ở giọng điệu, ngôn ngữ và trong hình thức Rõ ràng, những tìm tòi hình thức trong thơ nói chung, sự cách tân của Hoàng Cầm nói riêng có điều gì đó đã phụ thuộc vào môi trường văn hoá thẩm mỹ, văn hoá cá nhân để tạo ra những thay đổi, và có sự lao tâm, khổ tứ của cá nhân tác giả vào môi
trường của sự sáng tạo để tạo nên sự cách tân đáng kể ấy
Thơ Hoàng Cầm có một hệ lời đầy tính sáng tạo, bất ngờ Con chữ trong thơ ông như có hồn, như chuyển động theo nhịp thơ, như những âm thanh vang vọng vào trong tâm thức tư duy bạn đọc Người xưa gọi là “nhãn tự, là linh hồn của câu thơ, bài thơ Hoàng Cầm rất tinh và tài tình trong việc sử dụng động từ Mỗi động
từ làm nên cái hồn của câu thơ, bài thơ, từ đó hướng đến những trường nghĩa khác rộng hơn cái mà nó vốn có, nhằm tạo ra một nét nghĩa mới với sự lạ hoá trong lối tư duy Ví dụ: “Giếng ngọc ễnh ương quát đêm tiền sử (Đêm hoả), “Trăng lên chém đầu ngọn gió (Đêm hoả), “Tiếng trống chèo vuốt ngực Châu Long” (Luân hồi), “Gió mát chồi xuân đay nghiến luỹ tre làng” (Đêm mộc) Đó là những động
từ biểu cảm thế giới tâm trạng, cảm quan của nhà thơ về cuộc đời, văn hoá tâm lý sống của con người nơi vùng quê Kinh Bắc đã khúc xạ vào trong thơ ông và thực
Trang 31tế ông đã “bị cuốn hút vào quá trình sáng tạo” (6) của thi ca Ví dụ trong những bài thơ có âm hưởng của văn hóa dân ca Quan họ, nhà thơ không trực tiếp hoặc
đi sâu miêu tả tiếng hát, nhưng đã nói được cái linh hồn của văn hoá Quan họ
Đó là những giai điệu “ứ hự”, “hừ la” đầy ngẹn ngào, ẩn ức, thứ ngôn ngữ riêng biệt chỉ có trong lời ca, lời thơ Quan họ Đó là các từ phụ trợ, từ đệm trong giai điệu thơ Hoàng Cầm, mà theo IU.M.LOTMAN thì “trong câu thơ các từ phụ trợ - liên kết - thực hiện chức năng ngữ pháp - cú pháp là các từ và các bộ phận của từ
đã được nghĩa hoá” (7), hiện tượng “nghĩa hoá” ấy trong hệ thống từ phụ trợ thơ Hoàng Cầm thể hiện sự “dùng dằng”, “tình tứ” của người Quan họ Đó cũng chính
là nét riêng tạo ra cái hay, cái mới lạ của thơ ông Đọc thơ ông, đâu đâu ta cũng gặp cái thứ ngôn ngữ Quan họ ấy Thơ hay bao giờ cũng là cuộc hôn phối kỳ diệu giữa âm thanh và ý nghĩa, hình tượng Chữ và nghĩa quan họ trong ngôn ngữ thi
ca Hoàng Cầm hoà quện với nhau như hình với bóng, như xác với hồn nên việc tách rời chúng ra khỏi nhau sẽ làm tổn hại đến bình diện ngôn ngữ và tính thẩm
mỹ của câu thơ Và thơ ca Hoàng Cầm ám ảnh người đọc phải chăng cũng vì vẻ đẹp toát ra từ thực thể ngôn ngữ duy mỹ của văn hoá Kinh Bắc ấy? Vũ trụ tâm hồn thi nhân đã hoà điệu với tâm hồn người đọc, đã “tri âm” với người tiếp nhận thông qua chiếc cầu nối ngôn ngữ văn hoá quan họ
Từ sự am hiểu văn hóa dân gian vùng Kinh Bắc, Hoàng Cầm đã tạo ra một lớp ý nghĩa mới, mà qua đó trò chơi vô thức đã tạo ra hai lớp nghĩa của cùng một lớp ngôn từ và một giọng điệu biểu hiện lên thế giới hình tượng của chính nó Nói cách khác, nó “tạo ra các siêu nghĩa” (8) , “Các “siêu nghĩa” tình huống, những cái vốn không thể có được nếu đứng ngoài cấu trúc văn bản” (9) Xoá nhoà ranh giới, trình tự giữa vật thể và trừu tượng, thi sỹ đã sinh men trong sáng tác cũng như triết lý mới cho thơ, qua đó đã làm được nhiệm vụ mà nghệ thuật thơ ca đòi hỏi
Trong thực thể sáng tác, Hoàng Cầm đã đưa được các “xúc tua” văn hóa thẩm mỹ vùng vào trường tư duy thơ để tạo nên con bạch tuộc lắm vòi là cái mã văn hoá- ngôn ngữ khá đặc biệt với cái vẻ long lanh và bí ẩn trong thơ ông Các tín hiệu nghệ thuật mà ông sử dụng kết hợp với hệ thống ngôn ngữ bao quanh đều tạo nên một cái chủ tố thẩm mỹ làm nên cái lạ thực sự lạ Vì thế, người đọc, một khi chưa nhập kịp vào tác giả, cảm thấy ngỡ ngàng, vừa quen mà vừa lạ: “Khấn thầm như mẹ lỡ đò ngang/ Miệng hé hạt na nhòa bến vắng/ Bao giờ mẹ về/ Buộc yếm
Trang 32đào phai vỗ hát ru” (Đợt mùa); “Ta con phù du ao trời chật chội/ đứng cánh bèo
đo gió lặng tìm sao/ uống nước mắt con vành khuyên nhớ tổ/vừa rụng chiều này/ dềnh mặt trước hương sen/ Ta soi/ chỉ còn ta đạp lùi tinh tú/ Ngủ say rồi/ Đôi cá đòng đong” (Về với ta)…
Viết văn làm thơ, trước hết là sự sáng tạo ngôn ngữ Hoàng Cầm, Quang Dũng, Trần Dần, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng làm mới thơ sau 1945 trước hết bằng sự sáng tạo ngôn ngữ Trước 1945 Xuân Diệu độc đáo trước hết ở khả năng “lạ hoá” ngôn ngữ, Sau 1945, trong thơ Hoàng Cầm với những câu như: “Giếng ngọc ễnh ương quát đêm tiền sử; Hoàng phi bện dây đay chằng lụa thủng/ Từng đêm vuốt bụng/ nổi vết bào thai/ Khóc âm y trước lúc ra đời; Đêm khoanh tròn ngủ tay bưng đầu/ Ngón cụt thói quen rờ ngực yếm/ ghì mảnh sành thia lia”;…được nhà thơ sắp đặt lại theo lối viết tự động hoá và được “lạ hoá” thêm một bước về ngôn ngữ, tạo ra trường nghĩa khác, đem đến cho tư duy người đọc sự thú vị đa chiều trong việc khám phá ngôn từ Một mặt ông đã dùng động từ tạo âm hưởng cho câu thơ đột biến, mặt khác nó cụ thể hoá cái rất trừu tượng Nó giúp chúng ta cảm nhận được những thế giới vô hình và mông lung Động từ trong thơ ông đã
cụ thể hoá cái thế giới nội tâm huyền bí, sâu xa của bản thể tác giả: “Gió mát chồi xuân đay nghiến luỹ tre làng” (Đêm mộc); “Bình pha lê nghiêng rượu niệm đêm tàn” (Ngựa 1);… Sử dụng động từ như một nhân tố tạo nên cái hồn của sự vật:
“Câu thơ chểnh mảng gối đầu tay” (Đèn nhang 1); “Chuồn chuồn khiêng nắng liệng sang sông” (Đêm thổ)… Động từ biểu hiện thế giới tâm trạng, cảm quan của nhà thơ về cuộc đời và con người: “Ốc sên hiếng mắt ngó rình sớm mai” (Tháng giêng đi chậm); “chìa vôi quệt gió hững hờ” (Theo đuổi)… Con chữ trong tầm tay của ông, dù là những con chữ bình thường cũng trở nên có sức sống kỳ lạ, mang tâm tư, tập tính, hồn vía của con người Kinh Bắc Sự lạ hoá ngôn ngữ trong thơ Hoàng Cầm lại là cách làm cho người đọc cảm thấy ngỡ ngàng, vừ quen mà vừa lạ Ông tạo sự “lạ hoá” bằng cách đem những từ ngữ trong các trường nghĩa khác nhau đặt bên nhau, tạo xé nát cấu trúc hình tượng, rồi lắp ghép vào những chiều không gian khác nhau, để phá vỡ cách nhận thức bằng tư duy logic của người đọc, khiến bài thơ trở thành một rừng chữ nghĩa, một trường liên tưởng thẩm mỹ khó thâm nhập: “Em chở nứa sang bờ duyên phận/ Tay đóng bè chân xuôi thác
ghềnh/ Tuổi đã rách vá gì cho kịp/ Da mỡ đông tuốt sẹo ngang thân” (Tắm đêm)
Trang 33Chính bởi thế nên câu thơ Hoàng Cầm chứa đựng nhiều tầng, nhiều lớp ý nghĩa
Nó còn có khả năng mở ra và nảy sinh vô vàn những suy tư qua các lớp nghĩa gợi
mở đó, đọc một lần không dễ gì ta hiểu được Do đó cách đọc thơ Hoàng Cầm là bất chợt đọc, đọc rả rích để cảm nhận sự đồng cảm tự nhiên và thốt nhiên với chính thế giới mà mình đang sống cùng với thế giới mà mình chưa biết nhưng có thể sống Thơ Hoàng Cầm kết nối được những thế giới khác nhau như thế đem đến cho ta cảm giác vừa mơ hồ vừa rõ rệt về một giấc mơ trong những câu thơ thuần Việt, Việt từ trong máu huyết của từ ngữ, của âm điệu, của bóng hình lịch
sử dân tộc: “Bắn nát chiều mai ráng đỏ/ Châu chấu ma vờn cổ yếm xây/ Không gặp người quen/ Hờ/ Ngõ cũ” (Đêm thổ)
Thơ Hoàng Cầm đã phản ánh đầy đủ, trung thực văn hóa, văn minh tinh thần của quê hương Kinh Bắc - miền quê Quan họ Ông là người kế tục ngôn ngữ Thơ Mới và đi xa hơn về phía hiện đại - một lối thơ siêu thực Đó là tiếng thơ của một cuộc đời đầy chiêm nghiệm và cũng tràn trề giải thoát Từ thực tại đã thăng hoa tới miền hư viễn của tâm linh với sự thăng hoa của xúc cảm vô thức Thơ ông hấp dẫn nhiều thế hệ người đọc khác nhau, vì ngoài những tìm tòi cách tân về nghệ thuật, Hoàng Cầm vẫn gìn giữ cho bản thể thơ ông một vốn ngôn ngữ và hình ảnh đặc trưng Kinh Bắc, độc đáo, long lanh, tài hoa Có những câu thơ của ông, dù không phải thơ tình, vẫn làm say đắm biết bao trái tim người Việt, đó chính là sự khám phá sáng tạo của chính nhà thơ
Hoàng Cầm - Ấn tượng Hoàng Cầm (nguyễn trọng tạo)
Ông viết văn từ trước cách mạng, kịch thơ Hận Nam Quan xuất bản 1944, Kiều Loan viết từ 1942, diễn 1946 Về thơ, Hoàng Cầm trở nên quen biết từ bài thơ dài Bên kia sông Đuống (1948) Bên kia sông Đuống cùng với Nhớ của Hồng Nguyên, Tây tiến của Quang Dũng, Đồng chí của Chính Hữu đã là những thành tựu tiêu