1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu về thơ đi sứ của các nhà thơ trung đại việt nam

99 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 847,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình đang tự phát triển, tồn

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự cố gắng phấn đấu, học hỏi của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình, chu đáo của thầy

giáo PGS TS Nguyễn Văn Hạnh - người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá

trình thực hiện đề tài này Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Văn Hạnh và cũng xin chân thành cảm

ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Vinh

Trong khả năng còn hạn chế, bản thân còn chập chững trên con đường nghiên cứu khoa học nên khóa luận không tránh khỏi nhưng thiếu sót nhất định Kính mong những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và bạn bè

Xin chân thành cảm ơn

Vinh, tháng 5 năm 2009

Sinh viên

Ph¹m ThÞ Ngäc ¸nh

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng khảo sát, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Giới thuyết khái niệm 7

7 Cấu trúc khóa luận 11

Chương 1 Nhân vật trần thuật và điểm nhìn trần thuật 12

1.1 Nhân vật trần thuật 12

1.1.1 Giới thuyết khái niệm 12

1.1.2 Các dạng thức nhân vật trần thuật trong Mây và mặt trời 14

1.1.2.1 Nhân vật trần thuật trực tiếp 15

1.1.2.2 Nhân vật trần thuật gián tiếp 24

1.2 Điểm nhìn trần thuật 30

1.2.1 Giới thuyết khái niệm 30

1.2.2 Các loại điểm nhìn trần thuật trong Mây và mặt trời 31

1.2.2.1 Điểm nhìn bên trong 31

1.2.2.2 Điểm nhìn bên ngoài 39

Chương 2 Giọng điệu trần thuật 45

2.1 Giới thuyết khái niệm 45

2.1.1 Khái niệm giọng điệu 45

2.1.2 Vai trò của giọng điệu trong tác phẩm tự sự 48

2.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn R Tagore 51

2.2.1 Giọng điệu trữ tình 51

2.2.2 Kết hợp hài hoà giọng điệu bên trong và giọng điệu bên ngoài 58

2.2.3 Sử dụng lời bình trực tiếp của người kể chuyện 62

Trang 3

Chương 3 Cấu trúc ngôn ngữ trần thuật 70

3.1 Ngôn ngữ người trần thuật 70

3.2 Ngôn ngữ nhân vật 76

3.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 77

3.2.2 Ngôn ngữ độc thoại 83

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Rabindranath Tagore (1861 - 1941) là một trong số không nhiều

những người mà tên tuổi của họ đã trở thành biểu tượng cho năng lực sáng tạo

kỳ diệu của con người Là nhà thơ lớn, nhà văn hoá kiệt xuất của đất nước Ấn

Độ Ông được xem là một trong “Tam vị nhất thế” của Ấn Độ phục hưng (M Gandhi, J Nehru, R Tagore), người tiên phong trong cuộc cách mạng văn học ở Ấn Độ những năm đầu của thế kỷ XX, rút ngắn khoảng cách giữa hai nền văn hoá Đông - Tây Điều kỳ diệu hơn cả, từng làm kinh ngạc những ai đến thăm Bengan quê hương ông, là sự thâm nhập của thơ, văn, ca kịch R Tagore vào mọi tầng lớp nhân dân Tiếng hát và những suy nghĩ của ông đã trở thành hơi thở chung của mọi tâm hồn, nhịp đập chung của mọi trái tim ở đây Ngôn ngữ của R Tagore từ lâu đã trở thành mẫu mực, không phải chỉ riêng cho tiếng Bengan mà cho mọi ngôn ngữ văn học hiện đại Ấn Độ Tâm hồn của ông vừa có cái trầm ngâm sâu sắc, trừu tượng và bình lặng của Ấn

Độ lại vừa có cái sôi nổi, phóng khoáng của văn hoá tư sản tiến bộ phương Tây Bằng tài năng, trí tuệ siêu việt của mình, ông đã tạo nên một thời đại mới trong văn học Ấn Độ "Thời đại R Tagore" Toàn bộ trước tác của R Tagore được coi là vốn quý tinh thần của các dân tộc trên đất nước Ấn Độ bao la, cổ kính, hiện đại và tiến bộ ngày nay Vì vậy nghiên cứu sáng tác của R.Tagore không chỉ để tìm hiểu một tài năng kiệt xuất mà còn có ý nghĩa như sự khởi đầu nghiên cứu văn học Ấn Độ hiện đại, một nền văn học mà đến nay vẫn còn chứa đựng nhiều điều mới mẻ và bí ẩn, đặc biệt với độc giả Việt Nam

1.2 R Tagore là thiên tài của mọi thiên tài, mỗi nhà văn khi bước vào

con đường sáng tạo nghệ thuật, thường chỉ thành công ở một thể loại nhất định, nhưng R.Tagore dường như là một ngoại lệ Ông đã thể nghiệm ngòi bút của mình trên nhiều thể loại, và ở thể loại nào ông cũng thành công, khẳng định được tài năng Tám mươi năm miệt mài lao động nghệ thuật, ông để lại

Trang 5

cho đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ và phong phú: 52 tập thơ, 42 vở kịch,

12 cuốn tiểu thuyết, 63 tiểu luận, hàng trăm truyện ngắn, hàng ngàn bức tranh,

2006 ca khúc Ở lĩnh vực sáng tạo truyện ngắn, với hơn 100 truyện ngắn để lại, R.Tagore được xếp vào số những nhà văn viết truyện ngắn hàng đầu thế

kỷ XX, với một phong cách viết đậm chất trữ tình, lãng mạn Đọc những truyện ngắn R Tagore chúng ta thấy tâm hồn ông luôn mở rộng để lắng nghe mọi sự việc, tìm hiểu mọi tâm tình, cảm thông mọi cảnh đời trong cuộc sống,

và chẳng bao giờ nguôi khao khát, chẳng bao giờ thôi kể lể với ta những đau xót, những niềm vui Chính vì vậy tìm hiểu nghệ thuật tự sự của R.Tagore trong truyện ngắn có thể giúp ta có một sự hình dung đầy đủ hơn về tài năng nhiều mặt của R.Tagore cũng như đóng góp của R Tagore cho văn học Ấn

Độ thời kỳ phục hưng

1.3 Thế giới truyện ngắn R Tagore phong phú đa dạng, cả về đề tài lẫn

cách thể hiện, nhưng đều thống nhất ở một phong cách nghệ thuật độc đáo

Đó là sự hài hoà giữa trữ tình và triết lý, tư duy và mơ mộng, hiện thực và huyền ảo, truyền thống và hiện đại Đọc truyện ngắn R Tagore ta như lạc vào một thế giới huyền ảo, mơ mộng nhưng cũng rất gần gũi với đời thường,

có ý nghĩa nhân sinh to lớn Có được điều này bên cạnh tầm tư tưởng lớn lao còn do tài năng và phong cách nghệ thuật của R Tagore mà trước hết là ở nghệ thuật tự sự Tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn R Tagore, vì vậy, có thể xem là một sự khởi đầu cho quá trình khám phá thế giới nghệ thuật truyện ngắn R Tagore Nó không chỉ giúp ta tìm hiểu phong cách viết truyện ngắn R Tagore mà xa hơn là giúp ta có một cái nhìn đầy đủ hơn về tài năng, tư tưởng của con người kỳ diệu này

2 Lịch sử vấn đề

2.1 R Tagore là một thiên tài vĩ đại Có thể nói sự hình thành và phát

triển tài năng cùng sự nghiệp của ông không chỉ là niềm tự hào của nhân dân

Trang 6

Ấn Độ mà còn là niềm tự hào của toàn thể nhân loại Cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không ngừng nghỉ của ông đã thu hút sự quan tâm chú ý của giới nghiên cứu, lý luận phê bình trên thế giới Năm 1913, R Tagore bước lên đài vinh quang, trở thành người Châu Á đầu tiên được nhận giải Nobel văn học với tập

Thơ Dâng Kể từ đây ông được nói tới như một hiện tượng kỳ lạ của văn hoá

Phương Đông thế kỷ XX Có thể nói Thơ Dâng đã đạt tới kỷ lục trong việc dịch thuật và tái bản Riêng ở Pháp, tập Thơ Dâng qua bản dịch của Andre

Gide được tái bản tới 107 lần Một năm sau kể từ lúc R.Tagore đoạt giải

thưởng Nobel về văn học, ở Nga đã xuất hiện 4 bản dịch Thơ Dâng Các nước

như Ucraina, Aghentina cũng đã xuất hiện nhiều bản dịch Như vậy có thể thấy lĩnh vực được các dịch giả, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất là thơ ca Điều này vô hình trung đã làm nhoè mờ các lĩnh vực khác trong sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật của R Tagore, trong đó có truyện ngắn Cho mãi đến cuối thập niên 50 của thể kỷ trước, truyện ngắn R Tagore mới được dịch

và giới thiệu ở nhiều nước Châu Âu như Anh, Pháp, Nga với một số tập tiêu

biểu như Đá đói, Tuyển tập truyện ngắn R Tagore Như vậy, so với thơ,

truyện ngắn R Tagore được biết đến ở nước ngoài muộn hơn nhiều thập kỷ

2.2 Ở Việt Nam, tên tuổi R Tagore xuất hiện lần đầu tiên trên báo

Nam Phong số 84 và 85 (1924) với bài viết Một đại thi sỹ Ấn Độ - Ông

Rabindranath Tagore Cũng trên số báo này, trong bài Bàn phiếm về văn hoá Đông Tây, Thượng Chi đã nói đến R.Tagore như một tài năng siêu việt của

Văn hoá phương Đông, người đã chủ trương hoà hợp hai nền văn hoá Đông -

Tây Tuy nhiên, phải đến năm 1943, khi cuốn Thi hào R.Tagore của Nguyễn

Văn Hai được nhà xuất bản Tân Việt ấn hành, độc giả Việt Nam mới có cái nhìn đầy đủ hơn về R.Tagore Năm 1958, trong chuyến thăm Ấn Độ đầu tiên, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm bảo tàng R.Tagore ở thành phố Calcutta, quê hương ông Ghi lại chuyến đi này, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trên báo nhân dân số ngày 19/03/1958: “Đại thi hào R Tagore cả thế giới đều kính

Trang 7

trọng” Có thể xem đây là cột mốc quan trọng quá trình giới thiệu nghiên cứu R.Tagore ở Việt Nam

Năm 1961, kỷ niệm 100 năm ngày sinh R Tagore nhiều công trình nghiên cứu dịch thuật về R Tagore đã được xuất bản Trong đó đáng chú ý là

cuốn R Tagore- Thơ, kịch (Cao Huy Đỉnh, La Côn dịch và giới thiệu) do nhà

xuất bản Văn hoá Hà Nội ấn hành Đây được xem là công trình nghiên cứu, giới thiệu R Tagore quy mô nhất bấy giờ Trước khi tuyển dịch một số bài thơ và hai vở kịch, Cao Huy Đỉnh đã có 48 trang viết giới thiệu về cuộc đời,

tư tưởng nghệ thuật và một số đặc sắc trong sáng tác của R.Tagore, trong đó

có thể loại truyện ngắn Nhiều vấn đề phức tạp, mâu thuẫn trong tư tưởng, nghệ thuật R Tagore đã được ông phân tích, lý giải một cách sâu sắc có sức thuyết phục Ông viết: “Hai mặt của tâm hồn Rabindranath Tagore được chung đúc từ bé: Cái trầm ngâm sâu sắc, trừu tượng và bình lặng của Ấn Độ được hoà hợp với cái sôi nổi, phóng khoáng của văn hoá tư sản tiến bộ của Phương Tây Nhưng tâm hồn đó phải trải qua sóng gió hiện thực của cách mạng giải phóng dân tộc Ấn Độ mới hình thành, biến đổi và thể hiện được vào tác phẩm của nhà thơ” Theo chúng tôi, đây là một nhận xét có một ý nghĩa phương pháp luận, gợi mở nhiều vấn đề cho quá trình nghiên cứu R.Tagore, trong đó có truyện ngắn

Từ cách nhìn đó, nhận xét về truyện ngắn R Tagore, Cao Huy Đỉnh viết:

“Truyện ngắn của R.Tagore mang nhiều chất trữ tình Nó nói hộ triết lý và tình cảm của nhà thơ bằng những hình ảnh của thiên nhiên, bằng thần thoại, bằng biểu tượng và ngụ ngôn nhiều hơn là sự việc rút ra từ thực tế đời sống Nhưng

R Tagore đã chọn lọc, đúc kết rất chặt chẽ và tinh tế để phù hợp với đời sống hiện thời Tư tưởng rất súc tích đã được lồng qua những hình tượng hết sức mỹ

lệ Mỗi câu, mỗi chữ đều được tác giả nung nấu hết sức kỹ lưỡng để phục vụ sát chủ đề Có những truyện ngắn, chỉ có 10 dòng, nhưng nhờ sự việc tập trung

mà ta khám phá được cả một vấn đề lớn về nhân sinh và xã hội Cái tính chất

Trang 8

tập trung lôgic và thống nhất cao độ đó, rõ ràng là do ảnh hưởng của Phương Tây, còn những biểu tượng ngụ ngôn kia là sở trường của Ấn Độ Cả hai tính chất hiện thực và mỹ lệ đều có trong truyện ngắn của R Tagore” [5; 108] Có thể nói, đây là những nhận xét tinh tế, chính xác, đã phần nào chỉ ra được sự độc đáo, sức hấp dẫn riêng của truyện ngắn R.Tagore

Năm 1986, nhà xuất bản Văn hoá xuất bản tập truyện Mây và Mặt trời

của R.Tagore, gồm 25 truyện do Hoàng Cương, Nguyễn Tâm dịch Trong lời giới thiệu, Đào Anh Kha đã có một cái nhìn bao quát Ông chú ý đến một số đặc điểm cơ bản của truyện ngắn R Tagore, mà theo ông là hết sức tiêu biểu

Đó là “sự đan xen giữa hiện thực và huyền ảo, giữa triết lý và trữ tình, giữa đạo và đời” Đặc biệt Đào Anh Kha đã chú ý đến sự phong phú đa dạng của thế giới nhân vật trong sáng tác của R.Tagore nhất là những nhân vật trong truyện ngắn của R Tagore Ông viết: “R Tagore thường tránh cách dùng lý trí để mô tả và phân tích tâm lý nhân vật như phần lớn các nhà văn khác Ông

sử dụng tài tình các phương tiện thiên nhiên Dưới ngòi bút của ông, thiên nhiên có mặt khắp nơi, mọi lúc và bao giờ cũng nặng tâm tư, mọi sắc thái của cảnh vật đều phản ánh những biến động của tâm hồn” [22; 11] Nói về kết cấu truyện ngắn R Tagore, Đào Anh Kha cho rằng “Cách hư cấu của R Tagore là cho hiện thực lồng vào huyền thoại, là đúc kết những sự việc có thật trong xã hội rồi đem đặt bên cạnh những yếu tố, những tư liệu rút ra từ thần thoại, từ

cổ tích, dân ca và cả từ các tôn giáo” [22; 11] Như vậy, so với Cao Huy Đỉnh, Đào Anh Kha đã có cái nhìn bao quát và cụ thể hơn về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn R Tagore

Có cùng cái nhìn đó, khi đề cập đến đặc trưng cơ bản của truyện ngắn

R.Tagore, Lưu Đức Trung trong Giáo trình văn học Ấn Độ nhà xuất bản Giáo

dục, 1999 đã viết: “Truyện ngắn của R Tagore rất phong phú và đa dạng Có truyện rất ngắn chỉ mấy chục dòng, có truyện rất dài, kết cấu khá phức tạp, nhưng nói chung tính hiện thực sâu sắc Ông thường kết hợp tính chất huyền

Trang 9

ảo và hiện thực trong truyện, khiến cho tác phẩm có sức gợi cảm và hấp dẫn” [26; 21] Năm 2004, nhà xuất bản Lao Động và Trung tâm văn hoá ngôn ngữ

Đông Tây xuất bản R Tagore - Tuyển tập tác phẩm do Lưu Đức Trung tuyển

chọn và giới thiệu, trong đó có 36 truyện ngắn Năm 2006, nhà xuất bản Đại

học Sư phạm xuất bản cuốn Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà

trường - R Tagore (Lê Nguyên Cẩn chủ biên) trong đó đã có dẫn trích ý kiến

của nhiều nhà nghiên cứu về truyện ngắn R Tagore Đáng chú ý là nhiều nhà nghiên cứu Ấn Độ đều thống nhất khi cho rằng, R Tagore là người đã mang thể loại truyện ngắn đến cho văn học Ấn Độ “thậm chí khi người ta hầu như còn chưa biết đến nó tại Anh" [3; 59]

2.3 Điểm lại một số công trình nghiên cứu, giới thiệu về R Tagore trên

đây, có thể thấy, nghiên cứu về R Tagore ở Việt Nam đã có được những thành tựu đáng kể Tuy nhiên, cho đến này thành tựu nghiên cứu về truyện ngắn R.Tagore chưa có nhiều Điều đáng ghi nhận ở đây là những công trình

đó đã ít nhiều có ý nghĩa gợi mở về phương pháp luận Ngoài ra những năm gần đây trong các trường đại học, cao đẳng đã có một số luận văn của sinh viên, học viên bàn về truyện ngắn R Tagore trên một số phương diện Với chúng tôi đó là những gợi mở rất hữu ích để đi vào khám phá thế giới truyện ngắn R Tagore, trước hết là bình diện nghệ thuật Tự sự

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là: Làm rõ nghệ thuật tự

sự của R Tagore trong truyện ngắn, từ đó góp phần lý giải, chuyển biến nội dung tư tưởng, nghệ thuật trong các tác phẩm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khảo sát nghệ thuật tự sự của R Tagore trong truyện ngắn trên một

số phương diện chủ yếu Từ đó bước đầu nhận diện phong cách truyện ngắn R.Tagore

Trang 10

4 Đối tượng khảo sát, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng khảo sát

Thành tựu truyện ngắn R Tagore hết sức độc đáo Với hơn 100 truyện ngắn để lại, ông được đặt bên cạnh những bậc thầy truyện ngắn hiện đại như Môpátxăng (Pháp), A.Sêkhốp (Nga) Trong phạm vi tư liệu bao quát được, chúng tôi giới hạn khảo sát một số truyện ngắn R Tagore được tuyển chọn và

giới thiệu bằng tiếng Việt trong Mây và mặt trời (gồm 25 truyện) của nhóm

dịch giả Hoàng Cương, Nguyễn Tâm dịch, Nxb Văn học, 1986

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu trên một số phương diện sau:

- Nhân vật trần thuật và điểm nhìn trần thuật

- Giọng điệu trần thuật

- Cấu trúc ngôn ngữ trần thuật

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu

các phương pháp sau:

- Khảo sát, thống kê và phân tích theo đặc trưng thể loại, ở đây là truyện ngắn

- Ở chừng mực nhất định, chúng tôi kết hợp sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu nhằm chỉ ra những nét riêng về nghệ thuật tự sự của R Tagore trong truyện ngắn

6 Giới thuyết khái niệm

Nhiều người nói, thế kỷ XX là thế kỷ của lý luận văn học Từ đầu thế

kỷ XX đến nay, nhiều vấn đề lý luận đã được đề xuất, giải quyết Trong đó nổi lên một số vấn đề như: hoạt động văn học, cấu trúc tác phẩm, hệ thống chủ thể, cách thức tồn tại, phương diện tâm lý Trong các vấn đề văn học đó, vấn đề lý thuyết tự sự ngày càng được quan tâm phổ biến Từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, trường phái Praha, trường phái Tân

Trang 11

Aristote, triết học phân tích không trường phái nào không quan tâm tới vấn

đề tự sự trong văn xuôi "Lý thuyết tự sự trở thành một sản phẩm thực dụng

cụ thể của làn sóng lớn trong lý thuyết văn hóa về văn học, bởi lý thuyết tự sự ngày nay đã cung cấp một công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất giúp cho người

ta có thể đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu như điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa" [24; 368] Và người ta càng ngày càng nhận ra rằng nếu thiếu kiến thức cơ bản về tự sự học thì các phán đoán trong các ngành nghiên cứu rất dễ phạm những sai lầm rất sơ đẳng và các kết luận

có thể chỉ là những lâu đài xây trên cát Chẳng hạn rất phổ biến là nhầm lẫn

về tác giả và người trần thuật hay người kể chuyện xưng “tôi”, nhân vật hành động, nói năng Hay cũng đã nảy sinh ra những nhận định về chủ nghĩa tự nhiên ở nhà văn Nam Cao về sự tàn nhẫn, thiếu cái tâm của nhà văn này, nhà

văn nọ khi họ sử dụng một cách trần thuật nào đó

Lý thuyết tự sự có thể coi như một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm nay, nói theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn thì

đó là một bộ phận cấu thành của hệ hình lý luận hiện đại Chính vì vậy trước khi đi vào phân tích và làm sáng tỏ nghệ thuật tự sự của R Tagore trước hết chúng ta cần hiểu rõ một số vấn đề về khái niệm tự sự học, khái niệm tự sự:

Tự sự học là một nhánh của thi pháp học hiện đại, một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng, nghiên cứu cấu trúc văn bản tự sự và các vấn

đề liên quan, hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự Tên gọi tự sự học Narratology, Nrratologie là do nhà

nghiên cứu Pháp gốc Bungari đề xuất năm 1967 trong sách Ngữ pháp câu

chuyện mười ngày làm cho ngành nghiên cứu tự sự trước nay có được một cái

tên chính thức và trở thành một bộ môn có tính độc lập về nội hàm văn hóa của nó [24; 387]

Nó trở thành một bộ môn nghiên cứu liên nghành vì nghiên cứu tự sự học phải gắn liền với ngôn ngữ học, với sử học, nhân loại học Tự sự học

Trang 12

không đóng khung trong tiểu thuyết mà vận dụng vào cả các hình thức “tự sự” khác như: tôn giáo, lịch sử, điện ảnh, khoa học, triết học, chính trị

Nó mang nội hàm văn hóa vì các hình thức tự sự khác nhau có thể có chung nhau những nguyên tắc siêu tự sự Ngày nay tự sự không còn giản đơn

là việc kể chuyện, mà là một phương pháp không thể thiếu để giải thích, lý giải quá khứ, có nguyên lý riêng Roland Barthes nói: “Có bản thân lịch sử loài người thì đã có tự sự”, hay nhà giải cấu trúc Mỹ J.H.Miller có nói: “Tự sự

là cách để ta đưa các sự việc vào trật tự, và trật tự đó mà chúng có ý nghĩa Tự

sự là cách tạo nghĩa cho sự kiện, biến cố” Jonathan Culler trong sách Lý luận

văn học (1998) cũng nói: “Tự sự là phương thức chủ yếu để con người hiểu

biết sự vật” Muốn hiểu một sự vật nào thì người ta kể câu chuyện về sự vật

đó Trong văn học tự sự có ở thơ, thơ trữ tình, kịch chứ không chỉ là truyện ngắn, tiểu thuyết, ngụ ngôn như một phương thức tạo nghĩa và truyền thông tin Trong các hình thức tự sự, chỉ có tự sự văn học là phức tạp nhất, đáng để nghiên cứu nhất, làm thành đối tượng chủ yếu của tự sự học

Thuật ngữ tự sự đã được các công trình lý luận văn học cũng như các từ

điển định nghĩa Trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc

Phi, Trần Đình Sử chủ biên) định nghĩa tự sự là: “Phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác là trữ tính và kịch được dùng làm cơ sở

để phân loại tác phẩm văn học” [8; 328] Cũng trong Từ điển thuật ngữ văn

học các tác giả cho rằng: "Trong tác phẩm tự sự, nhà văn cũng thể hiện tư

tưởng và tình cảm của mình Nhưng ở đây tư tưởng và tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con người tới mức dường như giữa chúng không có sự phân biệt nào cả Nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạo hình đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của nhà văn" [8; 329]

Trang 13

Khác với tác phẩm trữ tình, phản ánh hiện thực qua những cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ của con người, được thể hiện trực tiếp qua những lời lẽ bộc bạch, thổ lộ, tức là qua cảm nhận chủ quan thì tác phẩm tự sự tái hiện, phản ánh đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó - qua con người, hành vi,

sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó Trong phân loại văn học, tính khách quan là thuộc tính của thế giới nghệ thuật so với chủ quan của

người trần thuật Đúng như Arixtốt nhận xét trong Nghệ thuật thi ca của ông:

“Thế giới của tác phẩm tự sự là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật, người trần thuật kể lại các sự kiện và con người như là những gì xảy ra bên ngoài mình, không phụ thuộc vào tình cảm, ý muốn của anh ta” Còn Bêlinxki viết: “Thơ tự sự chủ yếu là thơ khách quan, bề ngoài cả trong quan hệ với chính nó, với nhà thơ và cả với người đọc ở đây không thấy nhà thơ, thời gian được xác định một cách lập thể, tự nó phát triển, và nhà thơ dường như chỉ là người trần thuật giản đơn những gì đã tự nó xảy ra” [5; 375]

Như vậy thông qua tự sự nhà văn tái hiện toàn bộ thế giới, thể hiện mọi biểu hiện bên trong và bên ngoài của con người, và đều xem chúng là những

sự kiện khác nhau về cuộc sống con người Nhờ có sự kiện, tác giả tự sự có thể dẫn dắt người đọc đi về những miền khác nhau nhất, có thể lùi về dĩ vãng hay đắm mình trong hiện tại, có thể lướt qua mặt này mà tập trung vào mặt kia Chính vì vậy, so với kịch và tác phẩm trữ tình, tác phẩm tự sự hầu như không bị hạn chế bởi thời gian và không gian Nó có thể kể về những khoảnh khắc, lại có thể kể các sự kiện xảy ra hàng bao thế hệ, hàng chục năm Đặc điểm này chẳng những làm cho tác phẩm tự sự có khả năng bao quát cuộc sống trong một phạm vi rộng lớn, mà còn làm cho cốt truyện tự sự khác cốt truyện kịch, và nhịp điệu tự sự nói chung khoan thai, trầm tĩnh, khác hẳn nhịp điệu của hành động kịch và vận động tới những mục đích đã định Người xem truyện có thể dừng lại để hôm sau xem tiếp nhưng người xem kịch không thể làm việc đó Người viết kịch cũng không thể dừng hành động lại để chêm

Trang 14

những tình tiết xa xôi, hoặc bổ sung những đoạn tả cảnh, chân dung, hồi tưởng thật chi tiết như tự sự Và tác phẩm tự sự không chỉ phản ánh cái phần tồn tại vật chất với các việc làm, hành động của con người Nó cũng phản ánh thế giới bên trong bao gồm tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ của con người nữa Như Hêghen đã nói: “Cần phải trần thuật về những tình cảm, những suy nghĩ, cũng như tất cả những gì bề ngoài như một cái gì đã xảy ra, đã nói ra, nghĩ ra” Với ý nghĩa đó, nhân vật tự sự đã kể về việc các nhân vật khác nghĩ gì, cảm thấy sướng vui, hay khổ đau, xấu hổ thế nào như những đối tượng đem

ra phân tích nhận biết

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của khóa luận gồm ba chương:

Chương 1: Nhân vật trần thuật và điểm nhìn trần thuật

Chương 2: Giọng điệu trần thuật

Chương 3: Cấu trúc ngôn ngữ trần thuật

Cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo

Trang 15

Chương 1 NHÂN VẬT TRẦN THUẬT VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT

1.1 Nhân vật trần thuật

1.1.1 Giới thuyết khái niệm

Cho đến nay khái niệm người trần thuật còn có nhiều ý kiến khác nhau Andrew H.Plaks cho rằng: "Vấn đề người trần thuật là vấn đề trung tâm, còn giọng điệu trần thuật là vấn đề trung tâm của trung tâm" Các nhà nghiên cứu Pháp như G.Genette thì hiểu người trần thuật có chức năng của tác giả, vừa kể chuyện, vừa chỉ huy cách kể, vừa truyền đạt thông tin, vừa thuyết phục người đọc Các nhà nghiên cứu Anh, Mỹ thì lại thiên về hiểu người trần thuật là một vai trò thụ động do tác giả điều khiển, tác giả cần nó vì cần một giọng điệu, cần một điểm nhìn, cách nhìn Nhà lý luận Mỹ Johnathan Culler cho rằng: "Bất cứ trần thuật nào đều phải có người trần thuật, bất kể người trần thuật ấy có được xác nhận rõ ràng hay không Bởi vì vấn đề trung tâm của chủ

đề mỗi câu chuyện đều là vấn đề mối quan hệ giữa người trần thuật hàm ẩn (phạm vi tri thức, quan niệm giá trị) với câu chuyện mà nó kể ra Do đó muốn giải thích một đoạn tự sự bắt buộc phải xác nhận người kể chuyện hàm ẩn trong đó, xác nhận các bộ phận thuộc về cái nhìn của nó, phân biệt bản thân hành động và sự quan sát của người trần thuật đối với hành động đó"[23;189]

Để làm điểm tựa cho việc khảo sát, phân tích hình tượng người trần thuật trong truyện ngắn R Tagore chúng tôi giới thuyết cách hiểu khái niệm người trần thuật: Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong

cuốn Từ điển Thuật ngữ Văn học, NXBGD 1998 định nghĩa: "Người trần

thuật là hình thái của hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi" [8; 191] Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người trần thuật của nó Trong tác phẩm, mọi sự biểu hiện, miêu tả, đều từ tác giả mà ra, song để tạo nên hình

Trang 16

tượng nghệ thuật, tác giả thường tạo ra những kẻ môi giới đứng ra kể chuyện, quan sát miêu tả Tác giả không bao giờ hiện diện trong tác phẩm như một người kể, người phát ngôn mà chỉ xuất hiện như là một tác giả hàm ẩn, một cái tôi thứ hai của nhà văn với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm Mọi nội dung tư tưởng, ý đồ sáng tạo đều do tác giả nghĩ ra nhưng anh ta không trực tiếp đứng ra trần thuật mà sáng tạo ra một người trần thuật để thay mình làm điều đó Khi sáng tác, nhà văn giống như người “chép hộ” lời lẽ của người trần thuật do mình tạo ra (ví dụ: Lỗ Tấn viết

Nhật Ký Người Điên, Nam Cao viết Lão Hạc) như vậy tác giả đã mượn, xây

dựng hình thức người trần thuật để phân tích, nghiên cứu, khơi gợi, bình luận làm sáng tỏ mọi quan hệ phức tạp giữa nhân vật và hoàn cảnh M Gorki nói:

“Trong tiểu thuyết hay truyện, nghiên cứu con người được tác giả miêu tả đều hành động với sự giúp đỡ của tác giả, tác giả luôn luôn ở bên cạnh họ, mách cho người đọc biết rõ phải hiểu họ như thế nào, giải thích cho người đọc hiểu những ý nghĩ thầm kín, những động cơ bí mật phía sau những hành động của các nhân vật được miêu tả, tô đậm thêm cho tâm trạng họ bằng những đoạn miêu tả thiên nhiên, trình bày hoàn cảnh và nói chung là luôn luôn giật dây cho họ thực hiện những mục đích của mình, điều khiển một cách tự do và nhiều khi rất khéo léo, mặc dù người đọc không nhận thấy, những hành động những lời lẽ, những việc làm, những mối tương quan của họ” [8; 307] Ý kiến của M Gorki đã cho thấy rất cụ thể nhiều mặt vai trò của người trần thuật trong tác phẩm tự sự

Người đọc không phải bao giờ cũng được thông báo về số phận riêng

tư, diện mạo hoặc mối quan hệ qua lại của người trần thuật với các nhân vật, hoặc vì đâu, trong tình huống nào mà tiến hành kể chuyện Nhiều khi người trần thuật tỏ ra khách quan không để lộ mối thiện cảm, ác cảm hay các tình cảm suy nghĩ của mình như PhLôBe, SêKhốp nhưng bao giờ người đọc cũng cảm thấy được linh hồn của người trần thuật một cách rõ rệt, gần gũi

Trang 17

Người đọc nhận ra hình tượng người trần thuật qua cái nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ và chất tình cảm của anh ta Người xưa thường nói đến “tấm lòng”, “bút lực”, “con mắt tinh đời” của người trần thuật Và không phải bao giờ cũng có thể đồng nhất người trần thuật với bản thân tác giả Như một nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong cuộc đời Nguyễn

Du chín chắn, ít nói, trầm mặc còn người trần thuật trong Truyện Kiều thì lại

quát tháo, lớn tiếng, tinh nghịch, dí dỏm Cũng với hình tượng người trần thuật, còn có quan điểm trần thuật, thể hiện góc nhìn, khoảng cách xa gần đối với các hình tượng được miêu tả

Từ những dẫn giải ở trên, chúng ta có thể đúc rút lại khái niệm người trần thuật như sau:

Người trần thuật (còn gọi là người kể chuyện, người thuật chuyện) là khái niệm dùng để chỉ người thay thế tác giả, đại diện cho tác giả thuật lại câu chuyện trong tác phẩm Đó là nhân tố tích cực trong việc tổ chức tác phẩm, dẫn dắt, định hướng và khơi gợi khả năng đối thoại tranh luận cho người đọc Ngoài ra, người trần thuật còn là điểm tựa để tác giả bộc lộ những quan điểm của mình về cuộc sống, nghệ thuật Chính vì người trần thuật có chức năng quan trọng đặc biệt như vậy nên nhà văn khi sáng tác rất có ý thức trong việc lựa chọn và xác định cho mình một người kể chuyện thích hợp

1.1.2 Các dạng thức nhân vật trần thuật trong Mây và mặt trời

Người trần thuật trong tác phẩm văn học là một hình tượng nghệ thuật phức tạp nhất, mà ngôi kể chỉ là hình thức biểu hiện ước lệ Người trần thuật

có thể xuất hiện ở ngôi thứ nhất, ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ hai Song lý luận

tự sự hiện đại không phân biệt ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba như trước, mọi trần thuật đều xuất phát từ một cái tôi hiểu biết sự việc, đều là ngôi thứ nhất

cả, chỉ khác nhau ở mức độ ẩn - hiện Hay có thể nói sự khác biệt giữa các ngôi chỉ là sự bộc lộ và ẩn mình của người trần thuật Ngôi thứ nhất là hình

Trang 18

thức lộ diện, ngôi thứ ba là hình thức ẩn mình, sự ẩn mình của ngôi thứ ba

làm cho nó gần như vô nhân xưng

1.1.2.1 Nhân vật trần thuật trực tiếp

Nhân vật trần thuật trực tiếp có nhiệm vụ thay thế tác giả kể lại câu chuyện, là một cách thức khác biệt của việc tạo khoảng cách trần thuật từ tác giả đến truyện kể và nhân vật của tác phẩm Người trần thuật ở dạng thức này trực tiếp xuất hiện trong câu chuyện, trực tiếp bộc lộ mình trong tác phẩm với cách kể khách quan, thuần túy, có sao nói vậy Cũng có thể chen thêm sự bình luận và đánh giá

Khảo sát 25 truyện ngắn trong tập Mây và mặt trời chỉ có 9/25 tác

phẩm xuất hiện kiểu người trần thuật trực tiếp Đây là dạng thức người trần thuật tự kể về mình, thường gặp hình thức này ở các truyện tự thuật, truyện thực hoặc ít nhiều hư cấu Đây cũng là dạng trần thuật thường gặp trong sáng

tác của nhiều nhà văn, chẳng hạn: Những cánh hoa tàn, Cái mặt không chơi

được (Nam Cao); Mánh khoé, Nhân tài, Tôi chủ báo nó chủ báo (Nguyễn

Công Hoan); Đi thăm cha (Phan Thị Vàng Anh); Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng) Khoảng cách giữa người kể chuyện và truyện rất nhỏ, trong đó người

kể từng sống, từng chứng kiến mọi sự việc diễn ra cho nên cách cấu tạo và lời

kể cũng khác

Hình thức kể chuyện của các tác phẩm là hình thức trò chuyện đối thoại Với hình thức này tác giả có lợi thế: Chủ thể được bộc lộ một cách trực tiếp, quan niệm, thái độ của nhà văn cũng được bộc lộ và sự bình giá cũng

được thể hiện trực tiếp trong tác phẩm Tiêu biểu là các truyện: Người láng

giềng xinh đẹp, Lá số tử vi, Đá đói, Bộ xương, Người chủ bút, Bác hàng rong người Kabun, Các Babu vùng Nayanjor, Những bậc bến tắm bên sông, Ảo ảnh tan vỡ Sau đây chúng tôi đi vào phân tích:

Người trần thuật xưng "tôi" đóng vai trò người thuyết minh dẫn dắt người đọc vào truyện "Có thể từ bối cảnh thời gian, không gian đến nhân vật,

Trang 19

có thể đi thẳng vào nhân vật, có thể từ nhân vật đi ra ngoài bối cảnh, hoạt động Đây là những cách thuyết minh cổ điển nhằm tạo một tình huống bao quát hay như người ta nói là "không khí của truyện" Ngôn ngữ thuyết minh nhằm cụ thể hoá sự vật, sự kiện ở mức độ cao nhất" [14; 56]

Vai trò thứ nhất của người trần thuật này là giới thiệu thời gian và

không gian nghệ thuật, như trong truyện Các Babu vùng Nayanjor: “Ngày

xưa các Babu vùng Nayanjor là những điền chủ trứ danh Họ nổi tiếng vì ngông nghênh kiểu vương giả Diêm áo bằng hàng muxơlin Đăcca mà thô nháp cọ vào da là họ xé phăng Nghe nói vào một dịp long trọng nào đó, để biến đêm thành ngày, họ đã thắp vô vàn ngọn đèn và thả chỉ bạc từ trên không xuống như mưa, giả làm ánh sáng mặt trời Đó là thời kỳ trước nạn đại hồng thủy” [22; 315] Hay trong truyện ngắn Lá số tử vi mở đầu truyện tác giả

giới thiệu: “Ở thời buổi hùng tráng xa xưa, đàn ông phải chinh phục vợ mình

bằng lòng dũng cảm Chỉ có lòng dũng cảm mới xứng với sắc đẹp.Tôi đã chinh phục vợ tôi bằng một mưu mẹo hèn nhát, nhưng mãi về sau vợ tôi mới biết Tuy nhiên tôi có thể quả quyết rằng, những gì tôi đã chiếm lấy bằng gian lận, tôi đã cố tỏ ra xứng đáng sau ngày cưới và trả giá hàng ngày" [22;133]

Cách mở chuyện này làm cho người đọc tin đây là câu chuyện thực của chính cuộc đời người kể chuyện, bởi ngôi kể thứ nhất có đặc điểm là người trần thuật trực tiếp lộ diện trong tác phẩm kể câu chuyện của cuộc đời mình hay một câu chuyện mà mình đã chứng kiến hoặc được nghe kể lại

Đó có thể là lời giới thiệu mở đầu với không gian nhỏ bé trong một căn

phòng: “Trong gian phòng cạnh buồng bọn con trai chúng tôi thường ngủ có

treo một bộ xương người Ban đêm gió thổi đu đưa bộ xương làm các xương

va nhau lách cách” [22; 221] Hoặc một không gian rộng lớn trong Ảo ảnh tan vỡ: “Khi tôi tới thị trấn Dajilinh, các ngọn núi chìm trong màn mây mù dày đặc Tôi không muốn bước chân ra khỏi nhà chút nào, lại càng không muốn ở lại trong nhà Mưa đã tạnh, nhưng bốn bề chung quanh không nhìn

Trang 20

thấy gì hết ngoài lớp sương mù mịt ”[22; 345] Không gian mênh mông, xa

vắng gợi nỗi niềm nhớ quê hương trong lòng nhân vật tôi: "Tôi dạo bước, vẫn

vơi đi lại trên con đường Cancơta vắng ngắt, cảm thấy rất cô đơn và buồn chán vì phải lưu lại ở xứ sở của sương mây bồng bềnh mêng mang này, nhớ

da diết những vẻ đẹp đa dạng của quả đất Mẹ chúng ta và chỉ muốn bấu víu lấy đất bằng tất cả các giác quan của mình" [22; 345] Cũng có thể là bức

tranh thiên nhiên trong Cô dâu bé nhỏ: “Con sông nhỏ chảy qua đây cứ hết

mùa mưa là cạn khô, nhưng lúc này đang độ gió mùa tháng bảy, những trận mưa to làm sông đầy nước, bao quanh toàn bộ lũy làng tới tận những bụi tre Mặt trời lại xuất hiện trên bầu trời quang đãng sau những trận mưa xối xả kéo dài mấy ngày liền” [22; 249] Như vậy bức tranh thiên nhiên và không

gian, thời gian được miêu tả ở phần mở đầu đã góp phần định hình xác lập vị thế khách quan của người thuật truyện, cũng như xác định thái độ tình cảm và những trạng thái tinh thần của người trần thuật và nhân vật trong truyện kể

Vai trò thứ hai của người trần thuật là giới thiệu qua về nhân vật kể chuyện tính cách Đó là sự dẫn dắt để các nhân vật tính cách bắt đầu vào câu

chuyện kể của mình Như trong truyện Ảo ảnh tan vỡ nhân vật "tôi" kể lại câu

chuyện về cuộc gặp gỡ với người con gái tiểu vương GôlamKađe Khan:

“Bỗng nhiên, tôi có cảm giác nghe thấy một âm thanh mơ hồ như tiếng khóc

của đàn bà Trong thế giới đầy đau khổ này, điều đó không có gì lạ Tôi đi về phía tiếng khóc và gặp một người đàn bà khoác một tấm áo vàng nhà tu khổ hạnh, những món tóc hung hung rối tung cuộn thành một búi trên đầu Người đàn bà ấy ngồi trên một phiến đá bên vệ đường khe khẽ nức nở ” [22; 346]

Người trần thuật không chỉ miêu tả về ngoại hình của người đàn bà mà còn

nêu lên những suy nghĩ của mình: "Một nữ khất sư khóc trên đỉnh núi, một

điều tôi không hề nghĩ mình sẽ tận mắt chứng kiến" [22; 347], " rõ ràng người đàn bà này biết ban lệnh Và tôi phải thú thực rằng, tôi cảm thấy phần nào phấn chấn trước vinh dự lớn lao bà dành cho tôi" [22; 348] Sau đó

Trang 21

người trần thuật khơi gợi nhân vật kể về câu chuyện của mình: “ Tôi thưa,

nếu lệnh bà vui lòng hạ cố kể chuyện, tức là lệnh bà đã rót một bình hương thơm vào tai kẻ hạ thần xiết bao mong mỏi được nghe tiếng nói của lệnh bà

Bà ta bắt đầu câu chuyện của mình Người con gái tiểu vương tiếp tục kể ”[22; 350-351] Qua cuộc gặp gỡ và qua câu chuyện mà người đàn bà kể

cho nghe, người trần thuật xưng "tôi'' đã thấy được khát vọng tình yêu của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Ấn Độ Vì tình yêu với Kesaclan cô đã

từ bỏ dòng dõi cao sang để trở thành "một phụ nữ Balamôn" Kesaclan là hình bóng mà cô ngưỡng mộ Nhưng cô không thể ngờ được rằng chàng chỉ là một

người bình thường như bao con người khác Để rồi khi “tôi gặp Kesaclan già

nua trong đám thổ dân Butan với người vợ Butan đầu tóc rối bù, cùng đám con cháu bẩn thỉu, nhếch nhác xung quanh Ông ta ngồi ở một góc sân nhớp nhúa đang bóc vỏ đậu ” thì ảo ảnh trong cô vụt tan biến để rổi phải thốt lên: ''Hỡi ôi, hỡi chàng Balamôn, chàng đã dễ vứt bỏ toàn bộ những nề nếp tín ngưỡng hàng ngày để tiếp nhận những cách sống khác, nhưng còn tôi, làm sao tôi có thể thay thế được cuộc sống, tuổi trẻ mà tôi đã mất, đã phung phí ”, đó là tiếng than não lòng của cô gái về những gì mà cô đã trải qua

Bình thản và khách quan hơn từ khoảng cách trần thuật được nới rộng, người thuật truyện xưng "tôi" có cơ hội khám xét toàn diện phẩm cách nhân vật Đó

là sự đồng điệu chia sẻ với nhân vật người đàn bà: “Còn tôi cứ ngồi như vậy,

nhắm mắt mơ màng Những hình ảnh hiện lên trước mắt tôi, thoạt tiên là một

cô gái mười sáu tuổi, ngồi trên tấm nệm dệt bằng chỉ vàng, bên cạnh khung cửa sổ nhìn xuống dòng sông Jumma Sau đó là một nhà tu nữ khổ hạnh ngồi trong sân đền, ngước con mắt thiết tha thành kính lên hình ảnh sáng ngời của thần linh trong buổi lễ chiều, rồi đến người đàn bà tuổi tác, tuyệt vọng, chìm trong màn sương mù, trái tim tan nát với các ảo ảnh rơi lả tả bên vệ đường từ Dajlinh đi Cacơta Tiếng nhạc nẩy ra từ sự hội tụ giữa hai trào lưu đối lập nhau là đạo Balamôn và đạo Hồi trong cơ thể một phụ nữ nhạy cảm, cuồng

Trang 22

nhiệt tiếp tục ngân lên như những đợt sóng trong tâm trí tôi không biết bao nhiêu lâu ” [22; 364]

Trong truyện Đá đói người trần thuật giới thiệu về câu chuyện mà mình

đã được nghe kể: “Tôi cùng với một người bà con đi trẩy hội Puja, trên

đường trở về Cancơta thì gặp người ấy trên tàu Nhìn cách ăn mặc và cử chỉ của hắn, thoạt tiên chúng tôi nghĩ hắn là người Manomedan miền ngược, nhưng khi nghe hắn nói chuyện thì chúng tôi phải kinh ngạc Hắn giảng giải mọi điều với một vẻ tự tin cứ y như là Đấng tối cao nhất nhất cái gì cũng hỏi

ý kiến hắn khi an bài mọi sự” [22; 145] Trong truyện, nhân vật “tôi” là người

kể lại câu chuyện của Xrijut X - một nhân viên thu thuế bông trong giấc mơ

đã chứng kiến những câu chuyện diễn ra trong tòa lâu đài cổ, ở đó anh được gặp các hồn mà trinh nữ với những hoạt động của họ Qua câu chuyện “tôi” thấy được hình bóng của những người phụ nữ Ấn Độ, họ có số phận bi thảm

và luôn khao khát tự do hạnh phúc

Xuất hiện ở ngôi thứ nhất, trong tư cách người kể chuyện, có khi “tôi”

là đầu mối dẫn ra câu chuyện, là tấm gương soi chiếu bộ mặt các nhân vật Bằng cách này, tác giả có điều kiện bộc bạch trực tiếp quan điểm của mình

(Người láng giềng xinh đẹp, Lá số tử vi, Người chủ bút, Bác hàng rong

Kabun) Nhân vật “tôi” trong Người láng giềng xinh đẹp là một nhà thơ

“Tôi” thầm yêu trộm nhớ người láng giềng xinh đẹp nhưng “Sự đắm say

giống như con suối trên núi, không chịu bị giam hãm ở nơi phát sinh mà phải tìm một lối thoát Vì lẽ đó, tôi đã tìm cách thể hiện những cảm xúc của mình bằng những bài thơ, song ngòi bút miễn cưỡng của tôi không chịu viết ra những điều báng bổ đối với thần tượng của tôi” [22; 115] Giữa lúc “tôi”

đang bất lực vì không thể dùng ngòi bút của mình để thể hiện những cảm xúc đang dâng trào trong lòng thì Nabin - một người bạn của “tôi” lại mắc bệnh sính làm thơ nhưng lại chưa có sự chuẩn bị gì về cả vần lẫn điệu, đến nhờ

“tôi” giúp đỡ, “tôi” đã đem hết niềm say đắm nồng nàn bị kìm hãm của mình

Trang 23

trút sang những lời thổ lộ của Nabin Những bài thơ của nhân vật “tôi” mang

biết bao tình cảm yêu mến dưới vỏ bọc ngụy trang của Nabin đã “Không còn

gì cản trở ngòi bút thao thao bất tuyệt của tôi nữa và những tình cảm thực sự nồng nàn, trào ra thành những bài thơ viết hộ người khác” [22; 116] Và thật

trớ trêu thay, chính “tôi” chứ không ai khác đã khiến người láng giềng xinh đẹp và cả Nabin thay đổi cách suy nghĩ rằng: Những người phụ nữ góa chồng không thể tái hôn Cuối cùng “tôi” chợt nhận ra rằng, tình cảm khiến con người có thể vượt qua mọi rào cản ngăn cách Nhưng chính lúc “tôi” nhận ra

được điều đó cũng là lúc mà “tôi” cảm thấy đau đớn nhất: “Nhưng tôi nguyền

rủa ai mới được cơ chứ? Rủa Nabin à? Hay rủa chính mình tôi? Rủa Trời à? Tôi rủa tất cả” [22; 121] Có thể thấy rằng, chỉ có thể nguyền rủa lễ giáo

phong kiến, đó chính là rào cản đã khiến cho “tôi” không thể vượt qua được

Người trần thuật xưng “tôi” còn có vai trò bình giá, kết luận, khơi gợi suy ngẫm cho độc giả về câu chuyện đang kể Trong đoạn mở đầu của truyện

ngắn Lá số tử vi nhân vật "tôi" bộc lộ: "Hôn nhân là một bản nhạc mà người

ta diễn tấu trọn đời Lời ca chỉ là một điệp khúc đơn giản nhưng có hàng ngàn cách ứng tấu khác nhau hàng ngày" [22; 133] Đó là lời tâm sự nhẹ

nhàng của nhân vật "tôi" với một cái nhìn tiến bộ về hạnh phúc, hôn nhân Đó cũng chính là lời tâm sự mang màu sắc triết lý của R Tagore R.Tagore đã

đưa ra một quan điểm về hôn nhân rất hay, giàu liên tưởng: "một bản nhạc mà

ta diễn tấu trọn đời" Hôn nhân là cái đích đến cuối cùng của tình yêu nhưng

nó không phải là sự ràng buộc mà là tự nguyện và theo R Tagore hôn nhân, tình yêu luôn luôn là một điều bí ẩn, với nhiều cung bậc vang ngân như những nốt nhạc trong bản hoà tấu cuộc đời, và mỗi người cần tìm ra một cách ứng tấu riêng để luôn có sự mới mẻ, thú vị trong tình yêu và cuộc sống Cũng

trong truyện này, nhân vật tôi bộc bạch: "Tôi sung sướng không biết vì sao ở

mỗi chúng ta có một con người bí hiểm không cùng, chỉ tình yêu mới có cái chìa khoá vàng để mở, còn tính kiêu ngạo như giấy bạc giả không tài nào

Trang 24

khám phá được" và " tình yêu khám phá cái phi thường trong cái thông thường" [22; 135] Đó chính là bản chất đích thực của tình yêu, tình yêu

không phải là cái gì huyền bí, siêu hình mà tình yêu có sẵn trong mỗi chúng

ta Qua những lời tâm sự của nhân vật kể chuyện xưng "tôi", ta thấy rạo rực

lên một niềm yêu thương tha thiết với con người và cuộc sống: "tôi hiểu ra

bản thân mình trong niềm vui thấy có một người khác đã hiểu thực được tôi trong tình yêu ” [22; 135] Một tâm hồn tràn ngập niềm vui và niềm tin

Một số truyện như: Đá đói, Bộ xương, Ảo ảnh tan vỡ R.Tagore sử dụng

yếu tố huyền thoại vào trong cốt truyện khiến cho người kể chuyện xưng "tôi" như được bao bọc trong một lớp sương khói huyền ảo, bí ẩn Có thể nói đó là những tác phẩm ảo tưởng nhưng qua đó người đọc thấy hiện rõ lên một hiện thực cuộc sống cùng với tất cả ý nghĩa sâu sắc của nó Và qua đôi mắt tâm tư của người trần thuật, chúng ta dường như được nhìn thấy trong niềm sảng khoái kì diệu: "Toà lâu đài pha lê của chân lý" như R.Tagore thường nói

Trong truyện Đá đói, yếu tố huyền thoại được tác giả khai thác triệt để

nhằm chuyển tải những thông điệp chứa đựng một giá trị hiện thực, một tinh thần nhân đạo sâu sắc Đó là một câu chuyện hoang tưởng kì ảo được R.Tagore kết hợp hết sức tài tình giữa các yếu tố hiện thực với các yếu tố huyền thoại Sự kết hợp này tạo một sức hấp dẫn mới mẻ và rất riêng ở truyện ngắn của ông Nếu như nhà văn Nga M Gorki lồng các yếu tố truyền thuyết vào các yều tố hiện thực để nhằm làm rõ chủ đề tư tưởng trong truyện ngắn

thì R Tagore lại cho hiện thực lồng vào huyền thoại Ở truyện ngắn Makar

Tsuđra, hay truyện Bà lão Izecghin, người kể chuyện (cũng đồng thời là tên

truyện) là người đang sống ở hiện tại, cùng thời với tác giả Tuy vậy người kể chuyện ở đây vừa là người chứng kiến truyền thuyết cũng vừa là người chứng kiến thực tại Tác giả M Gorki sử dụng cách kết hợp này nhằm mục đích làm cho người đọc có ấn tượng như câu chuyện đang xẩy ra trong cuộc đời thực

trong bấy giờ Còn truyện ngắn Đá đói, R Tagore lại lồng hiện thực vào

Trang 25

huyền thoại nên câu chuyện mang tính chất là những truyện ảo tưởng Những hình ảnh hoang đường trong tác phẩm chỉ có ý nghĩa tượng trưng để người trần thuật bộc lộ những tình cảm, thái độ của mình trong câu chuyện đang được kể Khi các lớp vỏ ảo tưởng, huyền thoại ấy được bóc trần, người đọc dễ nhận ra cuộc sống hiện thực của người dân Ấn Độ, nói chính xác hơn đó chính là số phận của những người phụ nữ dưới quyền lực với những quy định

vô hình, những phong tục, tập quán hủ lậu và hết sức nghiệt ngã

Bên cạnh người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng "tôi" trong truyện ngắn

R Tagore còn có sự xuất hiện của nhân vật người kể chuyện nhập vai, thuộc ngôi thứ hai Cách trần thuật từ ngôi thứ hai với những hình thức trò chuyện độc đáo cũng được tác giả khai thác để làm phong phú các phương tiện tiếp cận vấn đề và biểu đạt đa dạng những tư tưởng độc lập mang tính đối thoại

Về thực chất, đó là sự đồng nhất giữa nhân vật người kể chuyện và nhân vật chính trong truyện Tiêu biểu cho hình thức kể chuyện này là các tác phẩm:

Ảo ảnh tan vỡ, Những bậc bến tắm bên sông, Đá đói, Bộ xương

Người dẫn truyện ở dạng thức này được xác định với đặc trưng ngoại hình, tính cách, thái độ cảm xúc và có số phận đóng vai trò khách quan hóa chuyện kể trong tương quan với ý thức tác giả Đó là nhân vật mới quen trên

tàu trong Đá đói, hay nhân vật người con gái tiểu vương trong Ảo ảnh tan vỡ

Cũng là câu chuyện ảo tưởng như trong Đá đói nhưng truyện ngắn Bộ

xương, người trần thuật lại dẫn người đọc vào khung cảnh của một đêm tối để

chứng kiến câu chuyện về cuộc đời đau khổ của cô gái goá chồng nhưng phải bóp ngẹt trái tim tuổi trẻ của mình vì những quan điểm hà khắc, tàn nhẫn của

xã hội Câu chuyện bắt đầu vào gần nửa đêm, khi bóng ma đi tìm bộ xương của mình và kết thúc lúc trời sắp sáng Qua câu chuyện giữa nhân vật "tôi" với bóng ma vô hình, cuộc đời cô gái Ấn Độ trẻ đẹp nhưng rất đau thương hiện lên Ở đây xuất hiện thêm một người kể chuyện nữa là bóng ma cô gái,

kể về cuộc đời mình Cuộc đời cô bước sang một bước ngoặt mới khi cô lấy

Trang 26

chồng, chồng cô chết sớm và bố mẹ chồng xem cô là kẻ sát phu Cô trở về nhà bố mẹ đẻ và sống trong đơn độc, lẻ loi, không được gặp gỡ với bất cứ một

ai Trái tim mười sáu tràn đầy nhựa sống ấy sống cô đơn, xa cách mọi người Người duy nhất mà cô gặp đó là LêKha, bạn của anh trai cô và là bác sĩ chữa bệnh cho cô Trái tim cô đã rung động, cô sống với niềm vui và hi vọng Nhưng cuối cùng, cô rơi vào bi kịch không lối thoát khi hay tin LêKha lấy vợ

và sắp tổ chức cưới Cô tìm đến cái chết và cố giữ nụ cười trên môi khi đi vào

"gian phòng cô dâu vĩnh cửu" Thế nhưng ngay cái chết cũng không yên ổn:

"Nhưng than ôi, còn đâu là phòng cô dâu, còn đâu là xiêm áo cô dâu bằng

lụa thêu kim tuyến! Bỗng nhiên mấy tiếng lách cách trong cơ thể làm tôi bừng tỉnh, tôi thấy ba đứa nhãi con đang chật vật học môn cơ thể học trên bộ xương của mình Trong lồng ngực, nơi xưa kia tim tôi rộn đập với những niềm vui, và nỗi buồn, nơi cánh hoa của tuổi thanh xuân ngày ngày hé mở thì

ở đó, giờ đây một ông giáo đang cầm gậy vừa trỏ, vừa gõ tên từng chiếc xương Còn cái nụ cười cuối cùng, cái nụ cười đã nở ra đón cái chết ấy giờ đây còn đâu nữa ” [22; 231] Ẩn sau lớp vỏ ảo tưởng ấy là cả một hiện thực

đau xót về cuộc đời của người phụ nữ goá chồng Họ sống với trái tim, với sức sống tràn đầy nhưng bị mọi người xa lánh, bỏ quên họ Cuộc đời của những người phụ nữ ấy rơi vào bi kịch đau đớn Qua câu chuyện, thể hiện sự đồng cảm thương xót của người trần thuật

Đặt biệt, trong truyện Những bậc bến tắm bên sông, “tôi” chính là sự

hoá thân của những bậc bến tắm bên sông, chứng kiến hết thảy mọi việc diễn

ra giữa Kuxum - một người góa phụ - với vị khất sư và kể lại Qua câu chuyện

kể của “tôi” ta thấy xuất hiện lên hình ảnh của Kuxum - một góa phụ giàu cảm xúc Tám tuổi, mới được gặp chồng một hoặc hai lần thì được tin chồng chết, cô xóa bỏ dấu son của người đàn bà có chồng trên trán, cởi bỏ các vòng đeo ở cổ tay, cổ chân và trở về với ngôi nhà cũ bên con sông Hằng Mười năm trôi qua và Kuxum lúc này đã trưởng thành, cùng lúc đó có một vị khất sư

Trang 27

tuổi còn trẻ đến trụ trì tại ngôi đền Xiva trước mặt “tôi” Theo lời mọi người thì người đó chính là chồng Kuxum Mặc dù hai người đã nhận ra nhau, sau

đó một thời gian và Kuxum hằng ngày đến cúi đầu bên chân vị khất sư “Tôi”

đã chứng kiến mọi điều về họ Tuy nhiên, sau đó Kuxum lại không đến bến

tắm nữa vì: “Tôi đã tôn thờ một người như tôn thờ Thượng đế, và sự sùng

kính ấy làm lòng tôi tràn ngập hạnh phúc Nhưng một đêm, tôi mơ thấy vị hôn phu của lòng tôi đang ngồi ở một khu vườn đâu đó, nắm chặt tay của tôi trong bàn tay trái của người và thì thầm với tôi về tình yêu Tất cả cảnh ấy hoàn toàn không có gì lạ lùng đối với tôi Giấc mơ tan đi rồi nhưng lòng tôi vẫn còn vương vấn Hôm sau, ngắm nhìn người ấy, tôi thấy người ấy hiện ra với vẻ khác trước Hình ảnh trong mơ kia cứ ám ảnh mãi tâm trí tôi Tôi đã sợ hãi chạy xa người ấy, nhưng hình ảnh kia vẫn bám riết tôi Từ đó, lòng tôi không còn yên tĩnh, mọi sự đều tối sầm lại trong tôi" [18; 265] Và người mà

Kuxum tưởng nhớ tới không ai khác chính là vị khất sư nhưng đó chỉ là mong ước của nàng còn thực tế thì hai người thuộc về hai thế giới khác nhau “Tôi” chứng kiến mọi việc và cảm thấy xót xa thương cảm cho Kuxum, suốt cuộc đời nàng cũng chỉ toàn là cô đơn buồn tủi mà thôi

1.1.2.2 Nhân vật trần thuật gián tiếp

Sự kiện đã và đang xảy ra trong quá trình, thời gian xung quanh chúng

ta, tất cả đều có thể trở thành cái được kể, nhưng không thành chuyện nếu không có một hành vi trần thuật bằng lời nói trong hội thoại Nhưng ai là người kể? Dĩ nhiên người kể là chủ thể nói năng, chủ thể trần thuật ở ngôi thứ nhất xưng "tôi" Người kể có thể tham gia vào chuyện và cũng không nói thẳng ra là tôi kể mà cứ để cho sự kiện hiện dần lên, hết sự kiện này đến sự kiện khác cho đến kết thúc như nó vốn có Nhưng trong thực tế, không thể nói

là "Chuyện là tự nó, chứ không có ai kể" (T.Todorov) [14; 28] Cái tự nó khi đưa vào đối thoại thì không thể tự nó được nữa Lời trần thuật của anh, ngôn ngữ của anh, vậy anh là người kể đích thực Đồng thời có một người nữa,

Trang 28

người biết hết câu chuyện đã xảy ra, có mặt lúc này lúc khác như là một nhân chứng của chuyện theo dõi nó, lắp ghép cho thành mạch lạc: "Có đầu có đuôi,

có xuôi có ngược" mà không một lời bình phẩm nào cả, không đối thoại với

người nghe chuyện Đó là người kể hàm ẩn, người kể này biết tất cả, sống với

tất cả, sắp xếp lại tất cả, vì như ta biết, cùng một thời điểm có vô số sự kiện giao nhau theo quy luật tương tác nhưng nó chỉ giữ lại những gì là tương tác trực tiếp, gạt bỏ cái gián tiếp để cho chuyện trở thành truyện

Dạng thức người trần thuật gián tiếp trong sáng tác nghệ thuật của R.Tagore thường được xác lập trên cơ sở của hình thức trần thuật khách quan (là hình thức kể chuyện với sự ẩn khuất của người trần thuật) Mục đích biểu đạt dạng thức này là tăng cường tính chân thật cho chuyện kể để câu chuyện diễn tiến theo mạch thẳng của thời gian sự kiện Từ đó góp phần cá tính hoá nhân vật theo ý đồ sáng tác riêng

Ngôi kể của người trần thuật ở dạng này là ngôi thứ ba số ít không lộ diện, và thường là "vô hình", không nhân vật hoá, phi nhân cách hoá, không xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm là giấu mình trong không gian và thời gian, nhưng vẫn quan sát, nhận biết được diễn biến câu chuyện, và nắm bắt kể lại cho độc giả Khả năng bao quát và trường nhìn rộng khiến cho hình tượng này thâm nhập vào mọi ngõ ngách của chuyện kể cũng như tinh thần tâm lý của các nhân vật Tiêu biểu cho dạng thức người trần thuật này là ở các truyện:

Mây và mặt trời, Chúng tôi xin tôn anh lên làm vua, Thầy Masai, Chiến thắng, Dàn hoả thiêu, Từ con, Kho vàng bí mật, Gửi của, Kẻ lang thang, Của phù vân, Quan chánh án, Xuba, Thầy ký bưu điện, Cô dâu bé nhỏ

Về mặt hình thức đây là người trần thuật không xuất hiện trực tiếp trên

bề mặt tác phẩm, không có một cái tên hay một lời giới thiệu nào cho biết sự

có mặt của nhân vật này, cũng không hề có thông tin gì về số phận anh ta, về quan hệ của anh ta với các nhân vật, về hoàn cảnh của việc kể lại, anh ta thường "không trọng lượng, không hình thù, và có mặt khắp nơi" (Thomas

Trang 29

Mann) [1; 372] Thế nhưng, anh ta vẫn quan sát, nhận biết được diễn biến câu chuyện và nắm bắt kể lại cho độc giả Chính vì không trực tiếp hiện diện trong tác phẩm nên còn gọi là người kể chuyện giấu mặt

Đọc tác phẩm chúng ta thấy câu chuyện và nhân vật được giới thiệu sẽ miêu tả trên trang sách bởi một người trần thuật không xác định, vô hình, gần với tác giả Người đọc có thể thấy đằng sau các nhân vật, sự kiện tưởng như

tự phơi bày bóng dáng của người nào đó đang âm thầm quan sát, theo dõi diễn

biến câu chuyện, đối thoại với độc giả Chẳng hạn trong truyện ngắn Mây và

mặt trời người trần thuật như đang đối thoại với độc giả: "Các bạn trai đọc những dòng này chắc sẽ nghĩ rằng câu gọi kia là nói với một cô bạn gái đứng hơi xa một chút, nhưng các nữ độc giả của tôi chắc dễ dàng hiểu ngay là không

có ai ở xa và đích nhắm ở ngay cạnh đấy thôi ” [22; 30] Hay "Các độc giả của tôi đều biết rõ những lý do khiến cho việc tra cứu sách luật cũng như việc thử tài hùng biện của Xasibuxan không được dùng vào đâu ” [22; 31] Trong

truyện ''Quan chánh án'' bóng dáng người trần thuật hiện lên qua lời kể: ''Để

bạn đọc biết lí do này, chúng tôi thấy cần phải kể lại một phần tiểu sử của MôhítMôhan hồi trẻ ” [22; 338]

Với vai trò “là hình thái ước lệ của hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm”, người trần thuật gián tiếp có một quyền năng và vị thế khá đặc biệt Ở ngôi thứ ba người kể chuyện giấu mặt không xuất hiện, cuộc sống khách quan

ở cách kể khách quan: ''bản thân cuộc sống hạnh phúc thời ấy không có gì kì

diệu hoặc phi thường Nó trôi đi một cách tự nhiên trong những công việc nhỏ nhặt, niềm vui nhỏ bé ” [22; 47]

Trong các truyện ngắn của R Tagore xuất hiện nhiều cụm từ mang ngữ điệu, sắc thái độc lập, tự biểu hiện, có tính hồ nghi, là một trong những dấu hiệu đặc biệt xác định dạng thức người trần thuật trong tác phẩm Đó là những

từ ngữ xuất hiện với tần số cao, như trong truyện ngắn Chúng tôi xin tôn anh

Trang 30

lên làm vua: "Liệu Nabendu có tìm thấy niềm an ủi nào ở sự việc đó không, chỉ có anh ta mới biết, còn chúng tôi rất nghi ngờ" [22; 66] Hay lời tự nhủ

của người trần thật ở truyện Thầy Masai: '' ý nghĩ, rồi chính bản thân ý nghĩ

cũng chấm dứt, y như thể một cái bong bóng chứa đầy hơi nóng của nỗi đau

đã nổ tung và giờ đây không có bóng tối, cũng không có ánh sáng mà chỉ có môt sự căng thẳng ” [22; 92] Có thể là những suy ngẫm sâu sắc như ở

truyện Từ con: "Thời gian dừng lại như một đại dương chìm trong im lặng

Trên cái nền của màn đêm vĩnh cửu ấy, số phận dường như đã vẽ lên bức tranh duy nhất này cho mọi thời ” [22; 132] Có khi là những lời gợi tả đối

với độc giả ở truyện Xuba: "Song không biết liệu có ai để ý thấy giữa những

dấu hiệu của sự phong phú vật chất còn có một cô gái nhỏ, khi xong công việc thường lén ra ngoài bờ sông Nhưng chính ở đây thiên nhiên đã bù lại cho tất

cả khuyết ngôn của Xuba và nói thay cô ( ) nghĩ mà xem, giả dụ Xuba là một

nữ thuỷ thần, cô sẽ có thể từ lòng sông hiện dần lên, đem theo hạt ngọc ở đầu con trăn đến bến tàu” [22; 303]

Người trần thuật hàm ẩn chỉ có một quan hệ với sự kiện trong chuyện

Sự kiện chấm dứt người kể hàm ẩn cũng không còn nữa Sang chuyện khác lại có người kể hàm ẩn khác, vì người kể hàm ẩn là ''nhân vật vô hình'' chứng kiến tất cả, hiểu biết tất cả các nhân vật, sự kiện trong chuyện

Người trần thuật hàm ẩn được xem là người kể kể về người khác Phần lớn, các truyện của R Tagore được cấu tạo theo lối kể này Người kể đứng ở

vị trí khách quan ''giả vờ'' không dính líu đến câu chuyện Nói cách khác là giữ một khoảng cách giữa người kể và nhân vật, cốt truyện, để rộng đường hư cấu đảm bảo tính khách quan của hiện thực và làm ''người thư kí của thời đại''

Chẳng hạn: Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Tắt đèn (Ngô Tất Tố),

Giông tố (Vũ Trọng Phụng) Tuy nhiên, cũng khó mà hoàn toàn khách quan

như một phóng sự điều tra vì không thể thờ ơ với số phận nhân vật và mặt khác như nhiều người chỉ ra, người kể phải ''chịu trách nhiệm'' những số phận

Trang 31

ấy hoặc về chiều hướng phát triển của các sự kiện được kể lại Hiện thực cuộc sống không phải như ý muốn của người kể chuyện và ngay góc nhìn, sự lựa chọn của người kể cũng chứa đựng những yếu tố chủ quan Ta có thể hình dung cùng một câu chuyện nhưng soi chiếu dưới những góc nhìn khác nhau của mỗi người kể chuyện thì câu chuyện đó cũng hoàn toàn khác nhau, nó trở nên có nhiều biến thể, tuy nó vẫn khách quan ngoài người kể chuyện Như lời khuyên của G.Flaubet nhà văn lớn của nước Pháp: '' Phải quan sát miêu tả một cái lá không giống với bất cứ cái lá nào khác Đồng thời nhìn sự vật phải nhìn với góc nhìn của người kể chuyện chứ không phải góc nhìn chung chung được Điều này tạo cho sự quan sát và miêu tả chẳng những không giống với các nhà tự nhiên học mà còn không giống với một kẻ bình thường Nói cách khác, mọi sự được kể ra đều tham gia vào tình huống kể chuyện Một ánh trăng tại những thời điểm a,b,c đều khác nhau va tâm trạng những nhân vật A,B,C lại còn khác nhau hơn nữa [12; 57] Và có thể thấy trong truyện tất

cả các chi tiết từ lời nói, hình ảnh, phong cảnh, hồi ức, suy luận đều tham gia vào việc kể chuyện

Trong quá trình vận động cốt truyện, không phải lúc nào người kể chuyện cũng dấu mặt mà đôi khi người kể chuyện cũng thấy cần bộc lộ thái

độ chủ quan của mình thì không ngần ngại cắt đứt mạch sự kiện, trực tiếp hiện diện trong tác phẩm để bình luận, đánh giá về hiên thực cuộc sống đang

được tái hiện trong tác phẩm Ví dụ “Hai người ở cái góc nhỏ này trên quả

đất đùa giỡn cũng chỉ nhẹ nhàng, hời hợt và thoáng qua như nắng và mây trên trời” [22; 16] Hay “Cả làng này quanh năm suốt tháng chỉ cãi lộn nhau, bày mưu tính kế chống đối nhau về chuyện ruộng mía, chuyện kiện cáo bất chính, chuyện buôn bán gai đay, độc có Xasibuxan và Giribala là những người duy nhất quan tâm đến tư tưởng và văn chương” [22; 27] Người trần

thuật còn trực tiếp bộc lộ tâm sự của mình bằng những lời bình luận: ''Thực

và hư xen lẫn nhau trong cuộc sống như thế đấy và con người còn trang điểm

Trang 32

thêm cái riêng của mình vào cái thượng đế đã tạo ra.'' [22;95] Dường như ở

đây người trần thuật đang thể hiện một niềm vui hân hoan khi con người ''trang điểm thêm'', làm đẹp thêm cuộc sống, không chỉ dừng lại ở những gì

mà thượng đế đã tạo ra mà còn biết làm phong phú thêm, tô điểm thêm để cuộc đời này tràn đầy niềm vui và hạnh phúc Hay lời bình trực tiếp sâu sắc:

''thật đáng buồn cho số phận của những ai đó ngay đến thời kỳ này vẫn không

có một chiếc giường để ngả lưng, một ngọn đèn thắp sáng đón mình lúc bước chân về nhà ban tối" [22; 336]

Có lúc người trần thuật hiện diện trong tác phẩm với những suy nghĩ

hết sức dí dỏm: “Có cần phải nói với độc giả rằng nếu như vị thần xe tơ kết

tóc đã quên lãng quá lâu đôi trai gái này thì vị thần xe những sợi dây yêu thương lại không để uổng phí suốt thời gian đó Trong khi vị thần già Prajapati ngủ gà ngủ gật thì vị thần tình ái Kandacpa trai trẻ lại tỉnh như sáo” [22; 105] Và đôi khi lời nhận xét của người trần thuật thấp thoáng, xen

kẽ trong những suy nghĩ của nhân vật đang được kể: “ Ông lại nhìn chiếc

nhẫn vàng và khi ngước mắt lên, người đàn bà tội lỗi, người đàn bà sa đoạ trước mặt được bọc trong một vầng hào quang Chiếc nhẫn nhỏ bé đã biến chị thành hình ảnh sáng ngời của một nữ thần” [22; 345]

Qua những phân tích ở trên có thể thấy người trần thuật hàm ẩn, đại diện cho chủ thể sáng tạo là đặc trưng của phong cách trần thuật trong truyện ngắn R.Tagore Thông thường người trần thuật này đứng đằng sau các nhân vật tạo cho câu chuyện có vẻ như tự biểu hiện, nhưng cũng có lúc đột ngột xuất hiện gián tiếp qua vài lời giới thiệu, bình luận, dẫn dắt, kiến giải Người trần thuật này trong tác phẩm của nhà văn thực thi các chức năng cơ bản sau: giới thiệu dẫn nhập môi giới các sự kiện, nhân vật và tình tiết trong tác phẩm, thể hiện lập trường quan điểm mỹ học và nhân đạo của nhà văn, đồng thời có khả năng thâm nhập vào đời sống nội tâm nhân vật để phân tích đánh giá

Trang 33

1.2 Điểm nhìn trần thuật

1.2.1 Giới thuyết khái niệm

Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của nghệ thuật tự sự gắn liền với tư tưởng nghệ thuật nhà văn Lựa chọn điểm nhìn trần thuật, vì vậy luôn gắn liền với ý đồ sáng tạo của nhà văn Nó mở ra khả năng

để nhà văn nhìn sâu, nhìn xa vào cốt lõi vấn đề, đồng thời đưa đến cho người đọc một cách cảm thụ tác phẩm sâu sắc nhất đúng như người viết mong muốn Với các nhà văn việc xác định điểm nhìn trần thuật cho mình có vai trò hết sức quan trọng

Nói đến người kể chuyện, trước hết phải nói đến điểm nhìn của người kể Fluldock là một trong những người đầu tiên chỉ ra mối quan hệ giữa người kể chuyện với điểm nhìn Ông viết: "Tôi cho rằng toàn bộ vấn đề rắc rối về phương pháp nghệ thuật sáng tác phụ thuộc vào vấn đề điểm nhìn - vấn đề thái độ người

kể chuyện với việc trần thuật'' [dẫn theo Đỗ Hải Phong, 117] Từ góc độ thi pháp Trần Đình Sử quan niệm: "điểm nhìn văn bản là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của tác giả Khái niệm điểm nhìn mang tính ẩn dụ bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới Nó là cái vị trí dùng để quan sát, cảm nhận đánh giá, bao gồm cả chủ thể vả khách thể cả phương diện tâm lý, vật lý, văn học." [23; 149]

Có ý kiến cho rằng: "Nghệ sỹ không thể miêu tả trần thuật các sự kiện về đời sống được nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật" Hoặc ý kiến khác cho rằng: "Điểm nhìn chỉ thuần tuý xét về kỹ thuật chọn chỗ đứng của nhà văn trong tọa độ không gian và thời gian để quan sát Điểm nhìn này được thể hiện ở phương hướng nhìn, khoảng cách nhìn và đặc điểm của khách thể được nhìn" [dẫn theo bài giảng của thầy Lê Quốc Hán]

Tuy có những chỗ khác nhau nhưng hầu hết các ý kiến đều thống nhất

ở chỗ, xem điểm nhìn của người kể chuyện chính là phương thức phát ngôn

Trang 34

trình bày, miêu tả phù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ của anh ta Từ đó mà nảy sinh ra mối quan hệ giữa quan điểm đánh giá, cảm thụ với các loại nhân vật trong tác phẩm Người kể chuyện có thể tiến hành trần thuật theo quan điểm của mình hoặc theo quan điểm một số nhân vật khác Nhân vật trong tác phẩm vừa là người đánh giá, cảm thụ, lại vừa là đối tượng của sự đánh giá cảm thụ Do đó hệ thống điểm nhìn đánh giá trong tác phẩm không phải là một chiều mà nhiều chiều, nhiều cái nhìn, cách đánh giá với các trường nhìn cũng khác nhau

So với nhân vật, điểm nhìn tác giả thường là của người đứng ngoài, vì tác giả thường có vấn đề suy nghĩ riêng không trùng với nhân vật Điểm nhìn nhân vật là điểm nhìn theo cá tính, địa vị, tâm lý nhân vật Điểm nhìn người trần thuật có thể dựa vào điểm nhìn nhân vật để mà miêu tả thế giới theo cảm nhận chủ quan của nhân vật Theo Bakhtin thì: "thế giới chủ thể của người trần thuật với thế giới khách thể của nhân vật là một thế giới khác hẳn nhau Khi người kể chuyện xưng "tôi" vừa là một nhân vật, thì ta có thể có một thế giới thống nhất" [23; 195]

Để ý đồ nghệ thuật của mình được thể hiện có hiệu quả, các nhà văn thường lựa chọn cho mình một điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm, R.Tagore khi viết truyện ngắn cũng đã rất quan tâm tới đặc điểm này Thông thường trong miêu tả vừa có điểm nhìn bên ngoài (trong tương quan với đối tượng miêu tả) và điểm nhìn bên trong (đối với người miêu tả) Khảo sát tập

truyện ngắn Mây và mặt trời của R Tagore chúng ta có thể xác định điểm

nhìn người trần thuật theo hai loại cơ bản là điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài

1.2.2 Các loại điểm nhìn trần thuật trong Mây và mặt trời

1.2.2.1 Điểm nhìn bên trong

Theo Trần Đình Sử, đã có một sự không thống nhất trong quan niệm về điểm nhìn Một số học giả phân biệt diểm nhìn chủ quan và khách quan, một

Trang 35

số khác phân biệt điểm nhìn tâm lý; số khác nữa phân biệt bên trong và bên ngoài Sự khác biệt các khái niệm này không lớn Bởi vì “Cái bên trong ở đây không phải là cái bên trong của khách thể nào đó, mà chính là cái hoạt động

tự cảm thấy Tức là tính chủ quan, đời sống tâm lí Tuy vậy, sự phân biệt bên trong và bên ngoài có tính bản thể luận này có ý nghĩa đặc thù đối với nghệ thuật: cái bên trong là cái tự cảm thấy, không thể quan sát từ bên ngoài được Hai mặt này không phải bao giờ cũng nhất trí với nhau Do đó phải có một điểm nhìn bên trong mới thể hiện con người hòan chỉnh Điểm nhìn bên trong biểu hiện bằng hình thức tự quan sát của nhân vật “tôi”, bằng tự thú nhận, hoặc bằng hình thức người trần thuật tựa vào giác quan, tâm hồn nhân vật để biểu hiện cảm nhận về thế giới” [23; 193] Còn theo mô hình tự sự, G.Genette

và Mieke Bal cho rằng, trần thuật theo tiêu cự bên trong hay tự sự hạn chế thông qua nội tâm nhân vật Như vậy, về thực chất, điểm nhìn bên trong là người kể chuyện hạn chế điểm nhìn tự sự của mình vào điểm nhìn nhân vật Anh ta thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng của nhân vật, nhìn thế giới theo con mắt của nhân vật Với điểm nhìn này, người kể chuyện có khả năng thâm nhập sâu vào đời sống bên trong của nhân vật, có thể biết được nhân vật đang nghĩ gì, sự hiểu biết của người kể chuyện hoàn toàn bằng với sự hiểu biết của nhân vật

Người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong thường có hai dạng biểu hiện cơ bản: thứ nhất, người kể chuyện xưng "tôi", tự thú nhận, tự bộc bạch chuyện của mình, kể về những tâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải Thứ hai, cũng là dạng điểm nhìn mà R Tagore lựa chọn, người kể chuyện theo điểm nhìn bên trong là người kể chuyện ở ngôi thứ ba, từ bên ngoài nhưng lại tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể Song lời kể chuyện của các nhân vật nói trên vẫn nằm trong cái khung bao quát của người kể toàn thông Tức là người

kể chuyện ở đây có vai trò toàn năng đối với mọi diễn biến của tác phẩm Hình tượng người kể chuyện là người làm chủ sự vận động, phát triển của

Trang 36

mạch truyện Sự tham dự của người kể chuyện khá rõ ràng đó là người chứng kiến, tái hiện, xâu chuỗi, tổ chức cốt chuyện từ rất nhiều yếu tố Bộc lộ sự nhận thức đánh giá, khám phá chiều sâu tâm lý nhân vật, bình luận các sự kiện thường là “đặc quyền” của người kể chuyện trong điểm nhãn này

Đọc truyện ngắn R Tagore ta thấy, điểm nhìn bên trong xuất hiện khá nhiều Nhất là khi tác giả đi sâu vào khai thác tâm lý nhân vật Người kể chuyện đã nhập vào vai các nhân vật, nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, hồi tưởng của nhân vật, nhìn nhận thế giới theo cảm nhận của nhân vật và thuật lại bằng chính giọng điệu của nó Qua đó bộc lộ thái độ, cảm xúc của người kể chuyện Cách di chuyển điểm nhìn vào bên trong này được tác giả tiến hành một cách hết sức tự nhiên và linh hoạt Khi khoảng cách giữa người kể chuyện với nhân vật thu hẹp lại gần như không còn nữa, hai điểm nhìn nhập vào làm một Thế giới tâm hồn của nhân vật được trải ra trực tiếp Trong tác

phẩm Quan chánh án điều này hiện lên khá rõ "Những ánh đèn cùng những

hình bóng, những bài ca từ sân nhà bên ấy vượt sang hoà lẫn với những mơ ước và ham muốn của cô Cứ thế cô xây lên trong óc tưởng tượng của mình một lâu đài kỳ ảo, và trong cảnh cô đơn giữa đêm khuya, cô đặt thần tượng tôn sùng của mình vào trong đó" [22; 340] Ở đây người đọc có thể cảm nhận

được những rung cảm tinh tế nhất, mơ hồ nhất trong cõi lòng nhân vật Vì vậy, chân dung tinh thần của nhân vật trong tác phẩm này hiện lên một cách toàn diện, đầy đặn Trần thuật theo điểm nhìn bên trong (chủ quan hoá) khiến cho người kể chuyện nhiều khi nhập thân vào nhân vật, mô phỏng hoạt động cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật Khi khai thác thế giới nội tâm đầy bí ẩn này của các nhân vật, R Tagore đã sử dụng những dòng độc thoại nội tâm, để cho nhân vật tự bày tỏ bộc lộ những cảm xúc, dằn vặt suy tư của mình, nhân vật

như đối diện với chính mình để suy ngẫm Chẳng hạn: "Hỡi người thanh khiết

nhất trong đám người thanh khiết, người không chịu nhận mảy may gì của bên ngoài, cả sự phục dịch của những kẻ không xứng đáng, cả sự hào phóng

Trang 37

của những kẻ giàu sang, cả tuổi thanh xuân của một cô gái, tình yêu của một người đàn bà Độc lập, cô đơn, luôn luôn thanh khiết, cách biệt không ai có thể đến gần, cho nên em cũng không xứng đáng được xả thân vì chàng chăng? '' [22; 357] Tác giả đã tái hiện được một sự biến chuyển khá phức

tạp ẩn chứa trong nhân vật người đàn bà với một tâm hồn đang muốn nổi

loạn, muốn phá tung ''Và từ ngày ấy, lúc nào trong óc tôi cũng hiện lên hình

ảnh của gương mặt nghiêm khắc, bị lôi cuốn không sao cưỡng nổi về một điều huyền bí lớn lao nào đó, không kẻ đồng hành, không người phục dịch

và cũng không muốn ai phục dịch, tự mình lo liệu hết, tâm trí ngời sáng, dưới sự chiêm ngưỡng của mặt trăng và các vì sao trong niềm khâm phục lặng lẽ” [22; 361]

Các nhân vật trong truyện ngắn R Tagore đều mang khát vọng tìm kiếm và đấu tranh cho tình yêu và cuộc sống, bằng lý tưởng và niềm tin Tiềm tàng trong họ những khát khao và niềm tin ở cuộc đời cho dù xã hội có cho phép họ thực hiện điều ấy không Khi con người va chạm với cuộc sống đời thường nhiều khi rất phũ phàng tàn nhẫn, họ mới nhận ra rằng, khát vọng của mình vẫn không thể thực hiện được Họ phải hy sinh bằng sự dâng hiến Quan niệm về hạnh phúc, về cái được và cái mất đã không còn quan trọng khi họ có được một sự thanh thản Trong khi miêu tả thế giới nội tâm nhân vật, người trần thuật và nhân vật dường như đã lẫn vào nhau Nhiều lúc ta không còn phân định được đâu là tâm trạng của người trần thuật đâu là tâm trạng nhân

vật Chẳng hạn trong truyện ngắn Dàn hỏa thiêu, tác giả viết “Anh đã mất đi

rồi cô gái Mahamaya anh hằng quen thuộc và trong khi ấy người đàn bà trùm khăn kín mặt lúc nào cũng ngồi lặng lẽ bên cạnh, không để cho anh đưa vào cuộc sống của mình những kỷ niệm êm đềm anh còn giữ được về nàng hồi còn nhỏ Bây giờ dường như nàng lại sinh ra lần thứ hai và đến với mình với hai hàng rào bảo vệ quanh người Ngay cả khi ngồi cạnh, nàng vẫn xa vời đến nỗi mình không đụng tới nổi” [22; 112]

Trang 38

Trong tác phẩm, có thể nói, R Tagore là người trần thuật không lộ diện, người tổ chức toàn bộ cốt truyện và cấu trúc hình tượng nghệ thuật Khảo sát các tác phẩm, ta thấy người viết tỏ ra “vô can”, như “không tham gia” như đứng ngoài cuộc Nhưng thấp thoáng đằng sau những sự kiện, những biến cố là cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, một cái nhìn mang đậm màu sắc chủ quan của người nghệ sĩ, tình cảm yêu ghét được định hình rõ rệt Với R Tagore hiện thực không phải chỉ những gì nhìn thấy mà cả vô số những ngẫu

nhiên, tình cờ mà con người không thể nào ý thức nổi: '' Trong thế giới trần

trụi này, dưới ánh sáng bóc trần mọi việc, câu chuyện kỳ quái kia đối với tôi hình như không thật nữa Thậm chí tôi cũng không thể quả quyết rằng đó chỉ

là một sản phẩm kỳ quái của trí tưởng tượng ở tôi sinh ra từ sự hoà trộn giữa sương mù và khói thuốc lá; và cái pháo đài bên sông Jumna, bà công chúa hồi giáo, chàng trai Bà la môn làm binh biến, khắc khổ và táo bạo, cùng tất

cả câu chuyện này chỉ là hoàn toàn hoang tưởng” [22; 365]

Đặc biệt việc sử dụng kết cấu đảo lộn thời gian sự kiện theo điểm nhìn bên trong là sự lựa chọn đúng đắn để khắc họa những tính cách có chiều sâu của nhân vật Điều này có nghĩa là các sự kiện không được sắp xếp theo trình

tự liên tiếp trước sau theo thời gian tuyến tính, mà luôn bị xáo trộn theo dòng

ý thức nội tâm nhân vật Truyện ngắn R Tagore có nội dung phong phú và sâu sắc Hiện thực của đất nước Ấn Độ thời cận hiện đại đã hiện lên qua từng trang viết của ông Hầu hết các chủ đề trong truyện ngắn của ông là những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống hiện đại Đó là tình yêu, là số phận người phụ nữ, trẻ em lang thang, là sức lôi cuốn, cám dỗ của vật chất Đọc truyện ngắn R Tagore, chúng ta bắt gặp nhiều tác phẩm thời gian bị đẩy lùi về quá

khứ Chẳng hạn truyện ngắn Đá đói, Bộ xương, Chiến thắng, Ảo ảnh tan vỡ

Trong những tác phẩm này, nhà văn đã đúc rút những việc có thật trong cuộc sống con người hiện tại, những vấn đề nóng hổi của đất nước, của dân tộc Ấn

Độ rồi hư cấu chúng bằng cách đẩy lùi về một thế giới xa xưa mang màu sắc

Trang 39

cổ tích Tác dụng của thủ pháp này đã tạo được một khoảng cách cần thiết giữa người đọc với thế giới nghệ thuật của tác phẩm, tạo cho họ có điều kiện

để chiêm nghiệm, nhìn nhận một cách sâu sắc hơn tư tưởng, chủ đề mà nhà

văn muốn gửi gắm Truyện ngắn Đá đói kể về những sự kiện hết sức kỳ lạ

diễn ra trong một tòa lâu đài bằng cẩm thạch được xây dựng cách đây 250 năm về trước Với thủ pháp đẩy lùi thời gian về quá khứ tác giả đã tạo nên một điểm nhìn trần thuật hết sức thú vị Nhân vật "tôi" - người kể lại câu chuyện này là một nhân viên thu thuế Ở toà lâu đài anh ta đã có dịp tiếp xúc với những con người - đúng hơn là với những “hồn ma” của gần ba thế kỷ

trước thông qua ảo giác và cả những giấc mơ: “Tôi không nhìn thấy ai nhưng

cảm thấy như có người đang khẽ lay mình Tôi nhỏm dậy, người đàn bà không nói câu nào, chỉ vẫy năm ngón tay đeo đầy nhẫn ra hiệu bảo tôi hãy cẩn thận đi theo” [22; 153] Những sự kiện này diễn ra liên tiếp trong rất

nhiều đêm đối và anh ta không biết làm thế nào để thoát ra khỏi nó Bởi chính

những hồn ma oan nghiệt ấy đã mê hoặc anh ta “Tôi cảm thấy trong lòng bồn

chồn náo nức không biết vì sợ hãi, vui sướng hay tò mò Tôi thiết tha ao ước nhìn thấy họ rõ hơn, nhưng trước mắt tôi vẫn chỉ là cái gì đó hư ảo mơ hồ ”

[22; 149] và “khi màn đêm buông xuống là tôi bị mắc và ngợp vào trong một

chiếc bẫy làm cho tôi mê mẩn lạ lùng Lúc đấy tôi biến thành một nhân vật vô danh nào đấy của một thời kỳ xa xưa ” Trong giấc mơ, cuộc sống 250 năm

về trước hiện ra với bao nhiêu nghiệt ngã “Hôm đó, vào đúng nửa đêm, tôi

lại nghe thấy những tiếng nức nở nghẹn ngào xé lòng của ai đó, tưởng đâu từ dưới giường, bên dưới sàn nhà, bên dưới nền móng bằng đá của tòa lâu đài,

từ khoảng sâu thẳm của một nấm mồ đen tối ẩm ướt, một giọng ai oán não nùng than vãn và cầu khẩn tôi: ôi, xin hãy rủ lòng cứu vớt tôi! Hãy phá tan hộ tôi những cánh cửa của ảo giác và mê muội, những giấc ngủ nặng nề như chết

và những giấc mơ vô ích kia” [22; 157] Với cái nhìn bên trong, nhân vật người

kể chuyện đã nhập vào câu chuyện của các trinh nữ Ba tư cách đây gần ba thế

Trang 40

kỷ ấy và buông lời độc thoại day dứt với những câu hỏi khôn cùng: “Tôi là ai

kia chứ! ôi làm sao tôi có thể cứu được nàng? Tôi sẽ lôi kéo vẻ đẹp đắm đuối nào đây, hiện thân nào đây của sự đam mê khỏi cơn lốc ảo mộng điên cuồng này? Ôi hỡi bóng siêu trần đáng yêu! Nàng đã lớn lên ở nơi nao và từ bao giờ? Nàng đã sinh ra bên con suối mát lạnh nào, dưới khóm cây chà là nào, trong lòng kẻ phiêu lãng nào nơi sa mạc? Tên Ả Rập nào đã giật nàng ra khỏi cánh tay mẫu thân như bứt một nụ hoa chớm nở khỏi một thân cây dại?” [22;

158] Câu chuyện nhuốm màu sắc huyền ảo nhưng lại không hề hoang tưởng Với thủ pháp nghệ thuật này một cuộc sống ngột ngạt đầy chết chóc, bệnh hoạn của xã hội thuộc địa bất công được hiện lên rõ ràng Nhà văn tố cáo ách

áp bức bóc lột của kẻ thống trị và bộc lộ một nỗi xót thương vô hạn đối với số

phận con người “Nỗi đau đớn thống khổ này là của ai vậy? Vì đâu mà nảy

sinh nỗi buồn khôn nguôi này” Đảo lộn trật tự thời gian sự kiện theo điểm

nhìn bên trong, cho phép người đọc từ hiện tại quay về quá khứ để lắng nghe những tiếng lòng thổn thức đau thương, để hiểu thêm một hiện thực nghiệt ngã của xã hội, để cảm thông, sẻ chia với những chuỗi ngày buồn, vui, đau khổ trong cuộc đời nhân vật

Thủ pháp đảo lộn trật tự thời gian sự kiện theo điểm nhìn bên trong còn

thể hiện rõ trong truyện ngắn Lá số tử vi Tác phẩm là một bài ca ca ngợi sức

mạnh của tình yêu Tình yêu đích thực giúp con người vượt qua những bất hạnh trở ngại trong cuộc sống, thậm chí cả cái gọi là số phận Với giọng trữ tình đằm thắm pha sắc thái hài hước, nhân vật tôi đã kể lại câu chuyện tình

yêu và hôn nhân của mình sau hơn hai mươi năm qua “Ở thời buổi hùng tráng

xa xưa, đàn ông phải chinh phục vợ mình bằng lòng dũng cảm Chỉ có lòng dũng cảm mới xứng đáng với sắc đẹp Tôi đã chinh phục vợ tôi bằng một mưu mẹo hèn nhát nhưng mãi về sau vợ tôi mới biết” [22; 133] Như một sự trùng

lặp ngẫu nhiên - quá khứ dội về cuộc sống hiện tại hôm nay Người chồng đã

kể lại câu chuyện sửa lá số năm xưa của mình và khẳng định “tình yêu mạnh

Ngày đăng: 16/10/2021, 18:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w