1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Phương pháp dạy học Hóa Học X

29 158 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 299,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo hướng hoàn thiện chất lượng các PPDH hiện có, cần tăngcường sử dụng thí nghiệm v à các phương tịên trực quan, có biện pháphình thành từng bước năng lực giải quyết vấn đề một cách sá

Trang 1

Chương X

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HOÁ HỌC

Trong chương IV, m ục §4, II đã trình bày về nhu cầu đổi mới phươngpháp dạy học (PPDH) và phương hướng đổi mới phương pháp dạy họcHoá học (PPDHHH)

Theo hướng hoàn thiện chất lượng các PPDH hiện có, cần tăngcường sử dụng thí nghiệm v à các phương tịên trực quan, có biện pháphình thành từng bước năng lực giải quyết vấn đề một cách sáng tạo từthấp đến cao, làm cho học sinh trở thành chủ thể hoạt động tích cực, sángtạo, năng động thích ứng với thực tiễn

Theo hướng sáng tạo ra các PPDH mới, cần li ên kết nhiều PPDHriêng lẻ thành những PPDH phức hợp nh ư dạy học giải quyết vấn đề,phương pháp algorit d ạy học, dạy học chương trình hoá, dạy học với công

cụ máy tính điện tử, hoặc ch uyển hoá phương pháp khoa học thànhphương pháp dạy học như phương pháp dạy học grap dạy học

Do hạn chế về thời gian, trong ch ương này chỉ xét 3 vấn đề: hoạtđộng hoá người học, dạy học giải quyết vấn đề v à dạy học chương trìnhhoá

§1 HOẠT ĐỘNG HOÁ NGƯỜI HỌC NHẰM NÂNG CAO VAI TR Ò CHỦ THỂ HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC V À TƯ DUY TÍCH CỰC, SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH.

I, ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Bản chất của việc đổi mới PPDH là tổ chức cho con người học đượchọc tập trong hoạt động v à bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo,

Mục tiêu:

1 Nội dung: SV nắm vững được: SV nắm vững được: định

hướng cơ bản về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, bản chất của dạy học giải quyết vấn đề; đặc điểm của dạy học chương trình hoá.

2 Phương pháp: SV nắm được phương pháp luận về đổi mới

phương pháp dạy học, đề ra được hướng phấn đấu rèn luyện cho bản thân, để nâng cao năng lực nghề nghiệp cho bản thân.

Trang 2

trong đó việc xây dựng phong cách học tập sáng tạo l à cốt lõi của đổi mớiphương pháp giáo dục nói chung và PPDH nói riêng.

Định hướng trên đây về đổi mới PPDH là dựa trên cơ sở của nhữngnghiên cứu tâm lí về khả năng lưu giữ thông tin của học sinh

Khả năng lưu giữ thông tin bằng đọc chỉ đạt 5%, bằng nghe chỉ đạt15%, bằng nhìn đạt được 20%, vừa nghe, vừa nh ìn 25%, bằng thảo luậnđạt được 55%, thu nhận kinh nghiệm bằng h ành động đạt được 75%, khidạy lại cho người khác có thể đạt tới 90%

Đổi mới phương pháp giáo duc là m ột yêu cầu cấp bách của thời đại

Chúng ta đạng đứng trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI, thế giới đang xảy

ra sự bừng nổ tri thức khoa học v à công nghệ Xã hội mới phồn vinh ở thế

kỉ XXI phải là một xã hội "dựa vào trí thức", dựa vào tư duy sáng tạo, tàinăng sáng chế của con người Sự thịnh vượng về mặt kinh tế của một đấtnước dựa trên việc sử dụng tài sản trí tuệ và nguồn lực về các ngành nghệthuật, các khoa học công nghệ, đồng thời nhờ v ào việc phát triển lựclượng lao động rất lành nghề và thường xuyên học hỏi

Điều đó đòi hỏi chúng ta không những phải học hỏi kinh nghiệm củacác nước phát triển, mà còn đòi hỏi áp dụng những kinh nghiệm đó mộtcách sáng tạo, tìm ra con đường phát triển riêng phù hợp với hoàn cảnh cụthể của đất nước

Nền giáo dục hiện đại ở n ước ta đang phải giải quyết hai nhiệm vụđào tạo về mặt trí tuệ

1 Trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học kĩ thuật hiện đại, tinh tuý nhất của nhân loại để họ có thể sử dụng đ ược vào lao động

sản xuất Nền sản xuất ở thế kỉ XXI l à nền sản xuất dựa trên chất xámnhiều hơn hoạt động chân tay Người công nhân ở thế kỉ XXI phải l à ngườicông nhân áo trắng, vừa có kiến thức khoa học sâu rộng, vừa có kĩ năng.Tuy nhiên, ngày nay kho tàng trí t hức khoa học của nhân loại rất nhiều, vôcùng phong phú, thời gian ở nhà trường quá ngắn ngủi, không đủ để cóthể học hết những kiến thức cần thiết chỉ cho một ng ành khoa học chứchưa nói đến toàn bộ những môn học cần thiết! Bởi vậy, ngay trong việc tự

học hôm nay trên ghế của nhà trường đã phải chuẩn bị tích cực cho việc

học lâu dài sau này Như vậy, học tập của học sinh ng ày nay mang nhiều ý

nghĩa "tự học"

Người giáo viên cần chú ý dạy việc học, dạy cách học thông qua toàn

bộ quá trình dạy học Ý tưởng này càng được nhấn mạnh trong lí luận và

thực tiễn dạy học trên quy mô quốc tế, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau:learning how to learn, apprendre à apprendre Đương nhiên ý tưởng nàychỉ có thể được thực hiện trong những quá trình mà người học thật sựhoạt động để đạt được những gì mà họ cần đạt

2 Phải chuẩn bị, rèn luyện một cách có hệ thống cho học sinh từ

khi còn bé để mỗi cá nhân phải tìm được con đường riêng, sáng tạo ra

Trang 3

được một phương pháp mới phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình Việc

học tập kinh nghiệm của các nước tiên tiến là một điều rất cần thiết, rấtquan trọng, tạo điều kiện để rút ngắn khoảng cách giữa nước ta và cácnước tiên tiến; nhưng con đường "học tập kinh nghiệm" máy móc đó nhiềunhất cũng là sử dụng những cái mà người ta đã làm rồi mà nhiều khikhông phải là cái tốt nhất của người ta Cho nên, cái sống còn của một dântộc, một đất nước hiện nay là trên cơ sở học tập cộng đồng thế giới, phảisáng tạo ra con đường riêng của mình Mà điều đó thì không dễ dàng mộtchút nào! Sáng tạo trong khoa học - kĩ thuật, trong xây dựng kinh tế khôngchỉ là những mãnh khoé khôn vặt mà người ít học có thể nghĩ ra đươc

Như vậy, mục đích của giáo dục ngày nay không chỉ dừng lại ở việctruyền thụ cho học sinh những kiến thức, những kinh nghiệm mà loàingười đã tích luỹ trước đây, mà còn phải bồi dưỡng cho họ năng lực sángtạo ra những kiến thức mới, phương tiện mới, cách giải quyết mới chưatừng có Mặt khác, những kiến thức và kinh nghiệm mà loài người tích luỹđược trong thế kỉ XX đã tăng lên vô cùng nhanh chóng và được ứng dụngvào sản xuất nhanh lẹ Thời gian ngắn ngủi ở phổ thông chỉ đủ trang bị chohọc sinh một phần cơ bản rất nhỏ Sau này trong cuộc sống, đi vào từnglĩnh vực hoạt động cụ thể, họ còn phải tiếp tục học nhiều mới đáp ứngđược nhu cầu của chuyên môn Cần lưu ý thêm trong xã hội luôn biếnđộng trong thế kỉ XXI, người lao động không thể gắn cả đời mình với mộtchuyên môn, mà nhiều khi cần phải thay đổi cho phù hợp với sự phát triểncủa khoa học kĩ thuật Lúc đó, người lao động cần có khả năng tự địnhhướng và tự học để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội Giáo dục khôngphải chỉ chú ý đến yêu cầu của xã hội đối với lao động, mà còn phải chú ýđến quyền lợi, nguyện vọng, năng lực, sở trường của cá nhân Sự pháttriển đa dạng của cá nhân sẽ dẫn tới sự phát triển toàn diện, hài hoà của

xã hội

Trong khi giao lưu, hoà nhập với cộng đồng thế giới trong cơ chế thịtrường ở thời đại thông tin bùng nổ, giao thông liên lạc thuận lợi, một loạtvấn đề mới được đạt ra trong công tác giáo dục thế hệ trẻ: giữ gìn bản sắctruyền thống dân tộc, lòng nhân ái, tinh thần sống theo Pháp luật, ý thứcgiữ gìn môi trường và phát triển dân số, quan hệ với cộng đồng quốc tế…Những quan niệm về đạo đức đó không đơn thuần chỉ là một vấn đề tìnhcảm tự phát, mà còn đòi hỏi những sự hiểu biết có căn cứ khoa học và cầnphải trở thành một nội dung của nền giáo dục mới

Muốn thực hiện được những mục tiêu nói trên, cần phải đổi mớimạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ nền giáo dục ở tầm vĩ mô của Nhà nước,của toàn xã hội cũng như ở tầm vi mô của mỗi trường, lớp học Ở tầm vĩ

mô là những vấn đề như mục tiêu giáo dục, hệ thống giáo dục, thiết kéchương trình, cung cấp phương tiện dạy học, chính sách đối với ngườidạy, người học… Ở tầm vi mô là vấn đề phương pháp giáo dục, phươngpháp dạy học là tác động qua lại giữa thầy và trò và môi trường giáo dục.Những vẫn đề ở tầm vĩ mô và vi mô ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau

Trang 4

Tuy nhiên, chất lượng giáo dục thể hiện ở sản phẩm cuối cùng của quátrình giáo dục, đó là phẩm chất, nhân cách của học sinh.

Trong hơn nửa thế kỉ qua, ở trên thế giới cũng như trong nước ta đãbắt đầu chú trọng đến mặt thứ hai của vấn đề Đã có nhiều phương pháp

và biện pháp dạy học được đề xuất và thí nghiệm: kích thích tính tích cựccủa học sinh, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tích cực, dạy học lấy họcsinh làm trung tâm, … Mỗi một phương pháp, biện pháp trên đều có nhữnghiệu quả tích cực nhất định, song chưa đi sâu vào đời sống học đường,chưa lôi cuốn được đông đảo giáo viên áp dụng và đặc biệt là chưa thực

sự làm cho công việc học tập của học sinh trở thành hứng thú; bản thânhọc sinh chưa thấy lao động học tập là niềm vui và đem lại cho họ mộtniềm tin ở chính sức lực của mình

II HỌC TẬP VÀ SÁNG TẠO, VAI TRÒ MỚI CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

1 Học tập và sáng tạo.

Sáng tạo là hoạt động của con người nhằm biến đổi thế giới tự

nhiên, xã hội phù hợp với mục đích và nhu cầu của con người trên cơ sởcác quy luật khách quan của thực tiễn; sáng tạo là hoạt động được đặc

trưng bởi tính không lặp lại, tính độc đáo và tính duy nhất "Sáng tạo là một

loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất

có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị" (Sáng tạo Đại bách khoa

toàn thư Liên Xô Matxcơva 1976 Tập 42, tr 54)

Có tác giả cho rằng sáng tạo là "quá trình trở nên nhạy cảm đối vớinhững khó khăn, khiếm khuyết, những lỗ hổng kiến thức, những yếu tốcòn thiếu, những bất ổn … là quá trình xác định khó khăn, tìm kiếm giảipháp, đưa ra những phỏng đoán, nêu lên những giả thiết về sự khiếmkhuyết, kiểm tra và tái kiểm tra những tác giả thiết đó và cụ thể là cả điềuchỉnh và kiểm tra lại những điều chỉnh đó; và cuối cùng là truyền đạt kếtquả"

Tư duy sáng tạo là sự phát sinh những ý tưởng mới và tăng bề dày

nhận thức … Sáng tạo là một dạng trí thông minh có thể được rèn luyện và

phát triển giống như bất kì một dạng tư duy nào khác Nó không chỉ đơnthuần là vấn đề "làm xiếc" với mọi thứ, với ngẫu nhiên hay tình cờ, mà ở

mức cao nhất thì nó chính là kết quả của một lỗ lực nghiêm túc, kiên trì để suy ngẫm về bất kì lĩnh vực học tập nào.

Nói đơn giản, sáng tạo có ý nghĩa là tạo ra, làm ra, sản xuất ra sản

phẩm mới, đề ra cách giải quyết mới có giá trị.

Đối với học sinh PT, tất cả những gì mà họ "tự nghĩ ra" được khi mà giáo viên chưa dạy, học sinh chưa đọc sách, chưa biết được nhờ trao đổi với bạn đều coi như có mang "tính sáng tạo" Sáng tạo là một bước nhảy

vọt trong sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh Không có conđường logic để dẫn đến sáng tạo mà bản thân học sinh phải tự tìm lấybằng kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của mình

Trang 5

Học tập và sáng tạo không phải là hai hoạt động tách biệt mà là haimặt của một quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau Học không phải chỉ là

"tiếp thu" kinh nghiệm đã có sẵn của nhân loại mà chính là "sáng tạo lại"cho bản thân mình Ngay trong bài học đầu tiên của môn khoa học đã đặthọc sinh vào vị trí của người nghiên cứu, khám phá rồi Ngược lại, chínhnhờ cách học nghiên cứu khám phá, cách học sáng tạo đó mà học sinhnắm vững kiến thức biết sử dụng kiến thức một cách linh hoạt để rồi tiếptục sáng tạo ra cải mới Hầu như mọi người đều thấy được sự cần thiếtphải chấm dứt tình trạng học tập thụ động máy móc hiện nay và thay thếvào đó một cách học thông minh sáng tạo, bởi vậy chỉ nên để một kiểu học

tập tồn tại trong nhà trường, đó là "học tập sáng tạo" và coi xây dựng

phong cách "học tập sáng tạo" là cốt lõi của việc đổi mới PPDH.

Như vậy, ta có thể coi học tập là một loại hoạt động đặc thù của conngười nhằm biến những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mà loài người đã tíchluỹ được thành của cá nhân mình, qua đó mà phát triển năng lực sáng tạo

và hình thành nhân cách

Tâm lí học và Lí luận dạy học hiện đại khẳng định: con đường có

hiệu quả nhất để làm cho học sinh nắm vững kiến thức và phát triển được năng lực sáng tạo là phải đưa học sinh vào vị trí của chủ thể hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực sáng tạo và hình thành quan điểm đạo đức.

2 Vai trò của người giáo viên với tư cách người thiết kế, uỷ thác điều khiển và thể chế hoá.

Sự xác lập vị trí chủ thể của người học không hề làm suy giảm màngược lại còn nâng cao vai trò, trách nhiệm của người thầy Trong khikhẳng định vai trò của người giáo viên không suy giảm, cần phải thấy tínhchất của vai trò này đã thay đổi: người giáo viên không phải là nguồn phátthông tin duy nhất, không phải là người làm mọi việc cụ thể ở trên lớp.Trách nhiệm của giáo viên bây giờ là ở chỗ khác, làm chủ yếu 4 việc sau:

-Thiết kế: lập kế hoạch, chuẩn bị quá trình dạy học cả về mặt mục

đích, nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức

- Uỷ thác: biến ý đồ dạy học của giáo viên thành nhiệm vụ học tập tự

nguyện, tự giác của học sinh, là chuyển giao cho trò không phải những trithức dưới dạng có sẵn mà là những tình huống để trò hoạt động và thíchnghi

- Điều khiển: kể cả điều khiển về mặt tâm lí, bao gồm sự động viên

hướng dẫn trợ giúp và đánh giá

- Thể chế hoá: Xác nhận những kiến thức mới phát hiện, đồng nhất

hoá những kiến thức riêng lẻ mang màu sắc cá thể, phụ thuộc hoàn cảnh

và thời gian của từng học sinh thành tri thức khoa học của xã hội, tuân thủchương trình và định vị tri thức mới trong hệ thống tri thức đã có, hướng

Trang 6

dẫn vận dụng và ghi nhớ hoặc giải phóng khỏi trí nhớ nếu không còn cầnthiết.

Vai trò, trách nhiệm của người giáo viên bây giờ quan trọng hơn,nặng nề hơn, nhưng tế nhị hơn

Người giáo viên phải tạo ra những điều kiện tốt nhất cho học sinhhoạt động sáng tạo có kết quả Học sinh phải tự lực hoạt động để tái tạo ranhững kiến thức và năng lực mà loài người đã tích luỹ được để biến chúngthành của mình Tuy nhiên học sinh không đủ thời gian và không có khảnăng hoàn toàn tự lực thực hiện điều đó như một nhà khoa học Cần phải

có sự giúp đỡ, hướng dẫn của giáo viên để học sinh có thể thực hiện đượcnhiệm vụ học tập một cách tốt nhất trong một thời gian ngắn nhất Vai tròcủa người giáo viên lại càng nặng nề, quan trọng và phức taph hơn Trướckia người giáo viên chỉ cần nắm vững nội dung môn học để giảng dạy,minh hoạ rõ ràng mạch lạc là đủ, vì vậy hễ có kiến thức là dạy học được

Còn bây giờ, theo kiểu dạy học mới, người giáo viên không những phải nắm vững nội dung môn học, mà còn phải am hiểu sâu sắc học sinh; giáo

viên không trình bày những điều mình đã biết, đã chuẩn bị mà là tổ chức

hướng dẫn cho học sinh hoạt động sáng tạo để họ đạt được những điều

giáo viên định đem lại cho họ hoặc là họ tự phát hiện thấy là cần thiết vàtin tưởng có thể đạt được

3 Tổ chức quá trình học tập của học sinh tương tự với quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học.

Ta có thể tổ chức quá trình học tập của học sinh tương tự với quátrình nghiên cứu của các nhà khoa học Cần chú ý là thực chất hai quátrình đó có sự khác biệt rất lớn Muốn thành công phải chú ý xử lí nhữngvấn đề có liên quan đến đặc điểm của học sinh và những điều kiện làmviệc của họ

- Nhà khoa học phải tìm ra cái mới, giải pháp mới mà trước đây loàingười chưa hề biết đến, còn học sinh thì tìm lại cho bản thân mình cái màloài người đã biết, đặc biệt là giáo viên đã biết Như vậy, việc học sinhkhám phá ra những tính chất, định luật không phải để làm phong phú thêmcho kho tàng kiến thức của nhân loại mà cho chính bản thân của học sinh.Những kiến thức ấy họ có thể tìm thấy dưới dạng hoàn chỉnh có sẵn trongsách vở, tài liệu Điều quan trọng là học sinh phải "tự phám phá lại" để tậplàm cái công việc khám phá đó trong hoạt động thực tiễn sau này

- Về thời gian, nhà khoa học có thể để nhiều tháng, nhiều năm, thậmtrí cả đời mình để khám phá một định luật, xây dựng một lí thuyết nào đó.Còn học sinh thì chỉ có thời gian rất ngắn trên lớp, thậm chí chỉ có mươiphút, nửa giờ

- Về phương tiện, nhà khoa học có thiết bị thí nghiệm, máy móc tinh

vi, còn học sinh trong điều kiện của trường phổ thông chỉ có những dụng

cụ đơn giản, sơ sài

Trang 7

- Điều đặc biệt quan trọng là hoạt động khoa học là hoạt động sángtạo Nhà khoa học phải thực hiện một bước nhảy vọt trong quá trình nhậnthức tự nhiên Ông ta phải tìm ra cái mà trước kia người ta chưa tìm thấy,nhận thấy cái mà trước kia nhân loại chưa nhận thấy và đó cũng là thựcchất của hoạt động sáng tạo Cơ chế của hoạt động sáng tạo diễn ra trong

óc con người thế nào còn chưa được rõ Người giáo viên không hi vọnghọc sinh nhờ áp dụng phương pháp khoa học có được những sáng tạo lớnhơn như nhà khoa học mà chỉ muốn các em làm quen với cách suy nghĩkhoa học, tạo ra những yếu tố ban đầu của hoạt động sáng tạo

4 Tập dượt cho học sinh vượt qua những khó khăn trong khi áp dụng phương pháp khoa học.

mà con người phải giải quyết vấn đề đang đứng và nơi mà họ phải đạt đến

và có thể thực hiện được với sự cố gắng nỗ lực của bản thân dưới sự giúp

đỡ của người lớn hay của những người ngang hàng nhưng có khả nănghơn một chút Không có con đường logic để vượt qua chỗ trống đó, nhưnghoàn toàn có khả năng thu hẹp chỗ trống đó đến mức thích hợp để mỗingười có thể thực hiện một bước nhảy vượt qua được Tuy nhiên cũngphải dũng cảm tự lực thực hiện một số lần (có thể thất bại) sau đó mới cókinh nghiệm thực hiện được mau lẹ, vững chắc hơn, thực hiện nhữngbước nhảy xa hơn

b Những điều kiện cần thiết để học sinh có thể học tập sáng tạo.

Năng lực nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng không phải dobẩm sinh có mà được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt độngcủa chủ thể Bởi vậy muồn hình thành năng lực học tập sáng tạo, chuẩn bịcho học sinh những điều kiện cần thiết để họ có thể thực hiện thành cônghoạt động đó Những điều kiện đó là:

- Lựa trọn một logic nội dung thích hợp để có thể chuyển kiến thứckhoa học thành kiến thức của học sinh phù hợp với trình độ cùa học sinh;

- Tạo động cơ hứng thú hoạt động nhận thức sáng tạo;

- Rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phương pháp hoạt động nhận thức;

- Cung cấp những phương tiện hoạt động nhận thức và huấn luyện

sử dụng các phương tiện hoạt động nhận thức;

- Kiểm tra, đánh giá động viên khuyến khích kịp thời

c Tổ chức quá trình học tập sáng tạo của học sinh.

Trang 8

Dựa trên những nghiên cứu lí thuýêt và thực tiễn, một số tác giả đềxuất tổ chức quá trình học tập sáng tạo của học sinh như sau:

- Tạo ra tình huống có vấn đề để tạo động cơ, nhu cầu, hứng thúnhằm huy động cao độ sức lực, trí tuệ của học sinh vào hoạt động sángtạo

- Giáo viên phân chia nhiệm vụ nhận thức thành hệ thống nhữngnhiệm vụ nhỏ liên tiếp thuộc vùng phát triển gần của học sinh

- Học sinh tự lực hoạt động, áp dụng những phương pháp nhận thức

đã biết để thích nghi với môi trường, vượt qua khó khăn, giải quyết nhữngvấn đề nêu ra Trong qúa trình giải quyết nhiệm vụ có thể trao đổi với cácbạn cùng nhóm, cùng bàn hay thảo luận chung cả lớp dưới sự hướng dẫncủa giáo viên để giúp nhau kinh nghiệm và những gợi ý

- Thảo luận với tập thể, nhóm hay lớp, để xác định tính đúng đắn củanhững lời giải đáp (những biện pháp) mới tìm ra

- Thiết kế bài học linh hoạt, dự kiến nhiều phương án giải quyết vấn

đề phổ biến hay khó khăn phức tạp

III CÁC BIỆN PHÁP HOẠT ĐỘNG HOÁ NGƯỜI HỌC TRONG DAYKHỌC HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

Công tác điều tra thực trạng giảng dạy Hoá học ở các trường PT(xem chương IV, mục §4 II) cho thấy thời gian dành cho học sinh hoạtđộng trong một tiết học quá ít, hình thức hoạt động cũng đơn điệu mà chủyếu là nghe thầy đọc và chép vào vở, học sinh ít được động não vàthường ít chủ động tích cực

Vì những lí do trên đây, việc nghiên cứu xác định "các biện pháphoạt động hoá người học và một số biện pháp phát triển tư duy sáng tạo,năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học Hoá học ở trường phổ thông" làđòi hỏi cần thiết của lí luận và thực tiễn dạy học Hoá học ở nước ta

Phương hướng chung của việc hoạt động hoá người học trong dạyhọc bộ môn Hoá học là quan tâm và tạo mọi điều kiện để người học trởthành chủ thể hoạt động trong giờ học

Những kết quả nghiên cứu về Tâm lí học và Giáo dục học đã khẳngđịnh học sinh chỉ có thể đạt được kết quả học tập tốt khi họ tự giác, chủđộng và tích cực hoạt động học tập Trong dạy học Hoá học, có thể làmcho học sinh trở thành chủ thể hoạt động bằng một số biện pháp sau đây:

1 Khai thác đặc thù môn Hoá học tạo ra các hình thức hoạt động

đa dạng phong phú của học sinh trong giờ học.

Đó là tăng cường sử dụng thí nghiệm Hoá học, các phương tiện trực

quan trong dạy học Hoá học Sử dụng phối hợp nhiều hình thức hoạt động

của học sinh, nhiều phương pháp dạy học của giáo viên nhằm giúp học

sinh được hoạt động tích cực chủ động

Trang 9

a Các hình thức hoạt động của học sinh.

Khi lụa chọn, phối hợp các PPDH của giáo viên và các hình thức hoạtđộng của học sinh, cần lưu ý chọn ưu tiên các hình thức hoạt động vàPPDH thể hiện được phương pháp nhận thức khoa học đặc trưng của bộmôn Hoá học Theo nguyên tắc vừa trình bày thì cần lựa chọn ưu tiên theothứ tự sau đây các PPDH của giáo viên và hình thức hoạt động của họcsinh:

1) Học sinh (HS) quan sát thí nghiệm do giáo viên (GV) biểu diễn

2) HS quan sát đồ dùng dạy học: hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mẫu vật,

mô hình

3) HS tự làm thí nghiệm khi học bài mới (thí nghiệm nghiên cứu - thínghiệm đồng loạt), trong giờ thực hành, trong hoạt động ngoại khoá.4) Phương pháp nghiên cứu trong dạy học

5) Dạy học giải quýêt vấn đề

6) HS nghe, ghi chép/ GV thuyết trình

7) HS trả lời câu hỏi (phương pháp vấn đáp)

8) HS nghiên cứu sách giáo khoa và trả lời câu hỏi

9) HS làm bài tập và toán hoá học

10) HS làm bài kiểm tra (kiểm tra miệng, viết)

11) HS đọc tài liệu tham khảo

12) HS xem phim đèn chiếu, phim xinê

13) HS xem băng, đĩa hình trong gờ Hoá học

14) HS nghe bằng ghi âm có trong nội dung Hoá học

15) HS tham quan sản xuất hoá học hoặc triển lãm về khoa họchoá học và công nghệ hoá học

16) Thảo luận (hội thảo)

17) Báo cáo khoa học (câu lạc bộ khoa học)

b Các biện pháp cần thực hiện khi sử dụng thí nghiệm và phương tiện trực quan.

- Học sinh tự quan sát, nhận xét hiện tượng thí nghiệm và tính chấtkhi quan sát trực tiếp thí nghiệm, mẫu vật, tranh ảnh, mô hình, phim,phần mềm dạy học…

Trang 10

- Học sinh được tự làm thí nghiệm khi học bài mới và khi ôn tập củng

cố, tự lắp ráp mô hình…

- Tăng dần việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trong dạy họcHoá học nói chung và trong khi tiến hành thí nghiệm Hoá học nói riêng

2 Tăng thời gian dành cho học sinh hoạt động trong giờ học.

Có thể thực hiện biện pháp này bằng nhiều cách:

a Giảm thuyết trình của giáo viên xuống dưới 50% thời gian của mộttiết học Tăng đàm thoại (vấn đáp) giữa thầy và trò, trong đó ưu tiên sửdụng phương pháp đàm thoại phát hiện (đàm thoại ơrixtic) Cho họcsinh được thảo luận, tranh luận

b Khi học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa tại lớp, cần yêu cầuhọc sinh trả lời những câu hỏi tổng hợp đòi hỏi học sinh phải so sánhkhái quát, suy luận nhằm khắc sâu kiến thức Cần nêu những câu hỏiyêu cầu học sinh phải gia công thêm mà không chỉ chép (đọc) nguyên xi

từ sách giáo khoa

3 Tăng mức độ hoạt động trí lực chủ động tích cực của học sinh.

a Tăng cường sử dụng các bài tập (câu hỏi) và bài toán đòi hỏi học

sinh phải suy luận sáng tạo, trong đó có những bài tập dùng hình vẽ.

Những bài tập và bài toán tổng hợp đòi hỏi học sinh phải vận dụngkiến thức ở nhiều phần khác nhưu của chương trình thuộc một lớp hoặcnhiều lớp khác nhau của môn Hoá học, kiến thức của nhiều môn họckhác nhau cũng như những bài toán gồm nhiều dạng toán cơ bản đãđược biến đổi và phức tạp hoá cần được sử dụng

b Thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học phức hợp - dạy học đặt và giải quýêt vấn đề - và dạy cho học sinh giải quyết các vấn đề học tập (các bài toán nhận thức) từ thấp đến cao.

Ví dụ: Ở lớp 9, bài "Nhôm", khi bắt đầu nghiên cứu tính chất hoá học

của nhôm, giáo viên nêu câu hỏi cho cả lớp: "Từ vị trí của nhôm lim loạitrong dãy hoạt động của các kim loại và dựa vào tính chất hoá họcchung của kim loại, hãy dự đoán những tính chất hoá học của nhôm.Với các hoá chất có trên bàn, có thể tiến hành những thí nghiệm nào đểxác định các tính chất hoá học của nhôm kim loại?" (Mỗi bàn 4 học sinh

đã có một khay men chứa một giá gỗ có đặt sẵn 3 ống nghiệm đựngkhoảng 3ml dung dịch hoá chất có dán nhãn: axit HCL (1 ống nghiệm),CuSO4 (2 ống nghiệm) và 2 mảnh lá nhôm có buộc dây chỉ ở một đầu).Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nêu vấn đề học tập cần giải đáp:

Trang 11

- Nhôm có thể tác dụng được với axit?

- Nhôm có thể phản ứng với dung dịch các muối của kim loại đứngsau nhôm trong dãy hoạt động các kim loại?

Giáo viên hướng dẫn cách tiến hành thí nghiệm 1 và chỉ định các họcsinh ngồi ở đầu bàn bên trái làm thí nghiệm này (cho mẩu hoặc dâynhôm vào ống nghiệm đựng dung dịch axit HCL) Giáo viên yêu cầu họcsinh quan sát, nhận xét các hiện tượng xảy ra (có bọt khí bay lên, nhôm

có phản ứng với axit) Giáo viên yêu cầu học sinh viết phương trìnhphản ứng hoá học xảy ra:

6HCL + 2Al  2AlCl3+ 3H2

Sau đó giáo viên chỉ định các học sinh ngồi ở đầu bàn bên phải làmthí nghiệm 2 và hướng dẫn cách làm: cho mẩu hoặc dây nhôm vào ốngnghiệm đựng dung dịch CuSO4 Cho học sinh nhận xét các hiện tượngxảy ra (có đồng kim loại màu gạch đỏ bám trên bể mặt dây nhôm, màudung dịch CuSO4bị nhạt dần đi so với màu dung dịch ở ống CuSO4 làmđổi chứng; hiện tượng một phần lá nhôm bị tan đi có thể khó nhậnthấy) Cho học sinh giải thích các hiện tượng quan sát thấy và viếtphương trình phản ứng:

2Al + 3CuSO4  Al2(SO4)3+ 3Cu

Sau đó giáo viên hướng dẫn cho một học sinh làm thí nghiệm biểudiễn ở trên bàn giáo viên cho cả lớp quan sát về sự cháy của bột nhôm

ở trong không khí và cho học sinh viết phương trình phản ứng hoá họcxảy ra:

4Al + 3O2 2Al2O3

Dựa vào các thí nghiệm đã được thực hiện, giáo viên hướng dẫn học

sinh rút ra kết luận chung:

- Nhôm có tác dụng mạnh với dung dịch axit, giải phóng hiđro

- Nhôm có tác dụng với dung dịch muối của các kim loại đứng saunhôm trong dãy hoạt động hoá học của các kim loại

- Nhôm có tác dụng mạnh với các phi kim như oxi, clo

Ở đây giáo viên cũng đã sử dụng phương pháp nghiên cứu trongdạy học, cho học sinh tự giành lấy kiến thức qua thí nghiệm Hoá học,nhưng sử dụng phương pháp nghiên cứu ở trình độ cao và tập luyệncho học sinh giải quyết một vấn đề học tập thông qua hoạt động thựchành và tư duy độc lập

c Từng bước đổi mới công tác kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá

cao những biểu hiện chủ động, sáng tạo của học sinh và đánh giá cao kĩ năng thực hành cũng như kĩ năng biết giải quyết những vấn

đề của thực tiễn.

Trang 12

4 Điều kiện đảm bảo cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học.

Người giáo viên có thể thực hiện các biện pháp hoạt động hoá ngườihọc trên đây và người học sinh có thể trở thành chủ thể hoạt động trongdạy và học bộ môn Hóa học nếu đảm bảo được các điều kiện sau:

a Nâng cao tiềm lực về Hóa học cho người giáo viên Hóa học, trong

đó có kiến thức Hóa học, kỹ năng thí nghiệm Hóa học và kỹ năng

sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học

b Nâng cao trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên, trong đó có

kỹ thuật dạy học, đặc biệt là năng lực sử dụng các phương phápdạy học mới, giáo viên biết xác định đúng đắn và nắm vững yêucầu trọng tâm từng giờ học, giảm bớt thì giờ dành cho nhữngphần dễ và tương đối đơn giản để có đủ thời gian tập trung vàonhững phần trọng tâm của bài, ưu tiên dành thì giờ cho việc sửdụng thí nghiệm Hóa học và luyện tập, làm bài tập ở những phầntrọng tâm

c Cung cấp đầy đủ hơn cho các trường phổ thông các dụng cụ, hóachất, các phương tiện trực quan và các phương tiện kĩ thuật dạyhọc

d Bớt số lượng học sinh trong mỗi lớp học ở trường phổ thông,không nên để số học sinh quá 40 người trong một lớp

e Có chính sách thỏa đáng hơn đối với giáo viện và giáo viên giỏi,đảm bảo cho giáo viên yên tâm tập trung sức lực và tâm trí để họctập nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, hoànthiện phẩm chất và đạo đức cá nhân, đáp ứng được yêu cầu “ dạychữ, dạy người”

§2 PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC HÓA HỌC

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dừng

ở nhiều nước, để chỉ những phương pháp giáo dục và dạy học theo hướngphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học (1)

Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tíchcực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việcphát huy tính tích cực của người học, chứ không phải tập trung vào việcphát huy tính tích cực của người dạy Phương pháp dạy học tích cực hàmchứa cả phương pháp dạy và phương pháp học

Trang 13

Người giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dầnxây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức,

từ thấp đến cao Ở đây phải có sự phối hợp tốt hoạt động dạy và hoạt độnghọc

Có thể nêu ra 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản của các phương pháptích cực (2):

1 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh(như đã trình bày ở mục t1, chương VIII);

2 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học;

3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác;

4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường phổ thông là dạy học giải quyết vấn đề (hay dạy học nêu vấn đề , dạy học

đặt và giải quyết vấn đề), đàm thoại phát hiện (hay vấn đáp tìm tòi), dạy họchợp tác trong nhóm nhỏ (hay phương pháp thảo luận nhóm)

Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường Đại học Cao đẳng là phương pháp thảo luận (xêmine), phương pháp đề án

(phương pháp project), phương pháp tập dượt nghiên cứu khoa học, dạy vi

mô (kèm cặp, giúp đỡ, chỉ dẫn từng người), đổi mới phương pháp thuyếttrình và bài diễn giảng

Sau đây ta sẽ nghiên cứu kĩ hơn về dạy học giải quyết vấn đề là mộttrong các tổ hợp phương pháp dạy học tích cực, sau đó sẽ nghiên cứu vềdạy học chương trình hóa Đó là hai phương pháp dạy học không truyềnthống sẽ được đề cập trong giáo trình này

§3 ÁP DỤNG DẠY HỌC ĐẶT VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC

I ÁP DỤNG DẠY HỌC ĐẶT VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LÀ MỘTTRONG NHỮNG HƯỚNG ĐỔI MỚI VÀ PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁPDẠY HỌC

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề không phải là một PPDH riêng biệt

mà là một tập hợp nhiều PPDH liên kết chặt chẽ với nhau và tương tác vớinhau, trong đó phương pháp xây dựng tình huống có vấn đề và dạy học giảiquyết vấn đề giữ vai trò trung tâm, gắn bó các PPDH khác trong tập hợp.Dạy học đặt và giải quyết vấn đề có khả năng thâm nhập vào hầu hết cácPPDH khác và làm cho tính chất của chúng trở nên tích cực hơn Dạy họcđặt và giải quyết vấn đề sẽ góp phần nâng cao tính tích cực tư duy của họcsinh, gắn liền hai mặt kiến thức và tư duy, đồng thời hình thành ở học sinh

Trang 14

nhân cách có khả năng sáng tạo thực sự, góp phần rèn luyện trí thông minhcho học sinh.

Mỗi một PPDH đều phải xem xét khả năng sử dụng các tình huống

có vấn đề ở giai đoạn tương ứng của việc lĩnh hội kiến thức

II BẢN CHẤT CỦA DẠY HỌC ĐẶT VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Bản chất của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là giáo viên đặt ra

trước học sinh các vấn đề của khoa học (các bài toán nhận thức) và mở ra cho các em những con đường giải quyết các vấn đề đó; việc điều khiển quá

trình tiếp thu kiến thức của học sinh ở đây được thực hiện theo phương

pháp tạo ra một hệ thống những tình huống có vấn đề, những điều kiện bảo

đảm việc giải quyết những tình huống đó và những chỉ dẫn cụ thể cho học

sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề.

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề là sự tổng hợp những hoạt độngnhằm tổ chức các tình huống có vấn đề, trình bày các vấn đề; giúp đỡ cầnthiết cho học sinh trong việc giải quyết vấn đề và kiểm tra những cách giảiquyết đó; cuối cùng là lãnh đạo việc vận dụng kiến thức (1)

Dạy học đặt và giải quyết vấn đề có ba đặc trưng cơ bản sau:

1 Giáo viên đặt ra trước học sinh một loạt những b ài toán nhận thức

có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm, nhưng chúng

được cấu trúc lại một cách sử phạm, gọi là những bài tập nêu vấn ơrixtic (những bài toán nêu vấn đề nhận thức và yêu cầu phải tìm tòi- pháthiện)

đề-2 Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán ơrixtic như mâu thuẫn

của nội tâm mình và được đặt vào hình huống có vấn đề, tức là trạng thái

có nhu cầu bên trong bức thiết muốn giải quyết bằng được bài toán đó

3 Trong và bằng cách tổ chức giải bài toán ơrixtic mà học sinh lĩnh

hội một cách tự giác và tích cực cả kiến thức, cả cách thức giải và do đó cóđược niềm vui sướng của sự nhận thức sáng tạo (“Ơrêka”- tôi tìm thấy)(2)

Quá trình dạy học giải quyết vấn đề là quá trình giáo viên tổ chức,hướng dẫn sự nghiên cứu tự lực, tự phát hiện tích cực và sáng tạo cácchân lí khoa học ở học sinh Có thể nói đó là sự nghiên cứu khoa học thuhẹp trong khuôn khổ của sự dạy học Tương tự như quá trình nghiên cứukhoa học, quá trình dạy học giải quyết vấn đề cũng bao gồm ba giai đoạn:1) Quan sát và đề xuất vấn đề cần nghiên cứu học tập (xây dựng tìnhhuống có vấn đề); 2) Giải quyết vấn đề (xây dựng và kiểm tra giả thuyết); và3) Vận dụng độc lập kiến thức mới Tuy nhiên mỗi yếu tố, mỗi giai đoạn đó

đã có sự biến đổi do điều kiện của sự dạy học

Dưới đây ta sẽ xét kĩ hơn giai đoạn 1 và 2 của dạy học giải quyết vấnđề

III XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG CÓ VẤN ĐỀ

Ngày đăng: 15/06/2015, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w