Đánh giá đất đai là nền tảng của quy hoạch sử dụng đất đai trong tương lai. Đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích nghi của đất đai bao gồm các yếu tố về tự nhiên và kinh tế xã hội, các yếu tố đó phát triển theo thời gian cùng với sự phát triển của đất nước luôn mang theo sự phát triển đó thì các yếu tố về đất đai, cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp dần dần lạc hậu, điều đó đòi hỏi cần phải đánh giá lại khả năng thích nghi đất đai đặc biệt là đánh giá khả năng thích nghi định lượng về kinh tế là điều kiện tối ưu và rất cần thiết để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững và lâu dài, theo kịp với sự phát triển của thời đại.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận án:
Đánh giá đất đai là nền tảng của quy hoạch sử dụng đất đai trong tương lai Đánh giá đất đai là đánh giá khả năng thích nghi của đất đai bao gồm các yếu tố về tự nhiên và kinh tế - xã hội, các yếu tố đó phát triển theo thời gian cùng với sự phát triển của đất nước luôn mang theo sự phát triển đó thì các yếu tố về đất đai, cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp dần dần lạc hậu, điều đó đòi hỏi cần phải đánh giá lại khả năng thích nghi đất đai đặc biệt là đánh giá khả năng thích nghi định lượng về kinh tế là điều kiện tối ưu và rất cần thiết để đảm bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững
và lâu dài, theo kịp với sự phát triển của thời đại
Hiện nay trên thế giới có các hệ thống đánh giá đất đai như hệ thống đánh giá của FAO (1976), hệ thống đánh giá đất ở Ấn Độ, hệ thống đánh giá đất của Trung Quốc
Về quan điểm phương thức đánh giá đất đai , ngoài những quy trình độc lập riêng cho từng nhà nghiên cứu, còn có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đ ất đai tổng hợp từ các quy trình đánh giá đơn tính hoặc tổng hợp các quy trình đánh giá đất đai khác nhau
để đánh giá đất đai theo một mục tiêu nhất định như:
- Đánh giá đất đai theo Muzilli (1985): Hướng của nghiên cứu này là kiềm chế tối thiểu viê ̣c ảnh hưởng môi trường do sản xuấ t Những nhân tố chính là : Lượng mưa không thường xuyên, tuyết, đô ̣ chua của đất, đô ̣ phì thấp của đất, bê ̣nh cây, kết hợp với sự quản tri ̣ đất không hợp lý đều đượ c thảo luâ ̣n trong đánh giá đất đai Từ đó cần có sự cải ta ̣o như : Giữ lượng nước còn la ̣i cho sản xuất trồng tro ̣t , bảo vệ đất, điều chỉnh
đô ̣ pH hữu du ̣ng, nhu cầu bón vôi và bón hợp lý
- Đánh giá đất đai theo Cook ; Dickinson; Rudra và Wall (1985): Quan điểm này là sử dụng kỹ thuật tin học để tính toán sự xói mòn đất và sự phân bố thuỷ văn Kết quả phương pháp cho thấy có liên quan đến tính kinh tế đối với vùng đất xói mòn v à sự phân phối nước trong k ênh rạch Từ đó cho được những mô hình để quản lý đất mô ̣t cách thực tế và có chiến lược trong bảo vệ đất Và chương trình nghiên cứu sẽ là công
cụ hữu dụng hỗ trợ cho việc định lượng tương đối hệ thống bảo vệ đất trên đất xói mòn và hướng của dòng chảy trong phân phối nước
- Đánh giá đấ t đai theo Wu và Cheng (1985): Đánh giá đất đai về mă ̣t kinh tế đươ ̣c thực hiê ̣n dựa theo sự phân tích chi phí lợi nhuâ ̣n , trên cơ sở đầu tư của nhà nước cho viê ̣c bảo vê ̣ nguồn tài nguyên nước và đất và chương trình kiểm soát lũ với 5 dự án đã đươ ̣c tiến hành ở mô ̣t số vùng Trên cơ sở giá cả được tính toán theo giá năm 1983, số liê ̣u giá điều tra từ giai đoa ̣n 1980-1983 bao gồm 5 mục: Quản trị rừng, bảo vệ nước và đất trên cùng đất dốc , xử lý vấn đề trượt đất , kỹ thuật kiểm tra các đê , đâ ̣p (hồ nước)
Trang 2và sự kiểm soát ngập lũ , viê ̣c đánh giá đã được tiến hành nhằm bảo vê ̣ sự phát triển kinh tế trong tương lai của trung tâm đô thi ̣ và tránh được sự thiê ̣t ha ̣i về sinh ma ̣ng và tài sản trong vùng ngập lũ Kết quả nghiên cứu đưa ra hai kết luâ ̣n là (1) sự đầu tư của nhà nước ở chương trình trên cần đươ ̣c đánh giá mô ̣t cách cẩn thâ ̣n trước khi thực hiê ̣n; và (2) cần phải tiến hành đánh giá toàn diê ̣n
- Đánh giá đất đai theo Driessen (1986): Ông cho rằng phương thức đánh giá đất đai
đi ̣nh lượng là phương tiê ̣n quan tro ̣ng có thể cho phép đề xuất sự phát triển chiến lược tốt hơn mà mu ̣c đích là sản xuất nông nghiê ̣p bền vững Phương thức này gồm 3 mức
đô ̣ phân cấp, đó là: Tình trạng sản xuất cấp 1, cấp 2 và cấp 3; phân tích thực tra ̣ng qua đó cung cấp kỹ thuâ ̣t kiến thức quản lý và đầu vào theo yêu cầu và phân tích bổ sung các yêu cầu cụ thể hơn như nhu cầu sử dụng phân bón
- Đánh giá đất đai theo Haeringen (1989): Ông đã nghiên cứu mô ̣t vài phương pháp liên quan đế n sự phân tích về tính phát triển của viê ̣c sử du ̣ng đất đai ở đi ̣a phương Các phương pháp này có cùng mục đích là sử dụng bền vững môi trường tự nhiên và sự thực hiê ̣n những yêu cầu cơ bản của dân đi ̣a phương Phương pháp bao gồm viê ̣c nghiên cứ u hê ̣ thống nông tra ̣i - phân tích hê ̣ sinh thái nông nghiê ̣p và quản lý tài nguyên đất đai , cấp quản lý , phương pháp thực hiê ̣n kế hoa ̣ch sử du ̣ng đất… đây là những thông tin rất cần thiết cho viê ̣c lâ ̣p kế hoạch sử dụng đất
- Đánh giá đất đai theo Edward (1994): Đây là phương pháp cho thấy có sự đóng góp
mô ̣t giải pháp để cải thiê ̣n trong quản tri ̣ đất đai có được về mă ̣t kỹ thuâ ̣t từ các tra ̣m nghiên cứu hê ̣ thống canh tác bảo vê ̣ tự nhiên Kết quả khảo sát đánh giá khả năng thích nghi ở các nông trại trên cơ sở phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của các nông dân đã được thực hiê ̣n để xem xét nh ững biện pháp kỹ thuật như hê ̣ thống sửa soạn đất, môi trường xã hô ̣i, sự hiểu biết của nông dân và sự tiếp nhâ ̣n của nông dân từ những chuyển giao kỹ thuâ ̣t Với những kết quả của những phương pháp đánh giá sẽ tác động lên việc nhận thức và là tiềm năng cho việc chấp n hâ ̣n viê ̣c phân tích các kỹ thuâ ̣t này Phương pháp này bao gồm : ( i) Phỏng vấn thông tin ; và (ii) Sự quan sát thường xuyên của sự quan hê ̣ giữa hai bô ̣ phâ ̣n nghiên cứu - quản lý và nông dân tiến
bô ̣
- Đánh giá đất đai theo Machin v à Navas (1995): Ông đã khẳng đi ̣nh ở vùng nghiên cứu Zaragoza ở Tây Ban Nha có hê ̣ thống nông nghiê ̣p rất yếu Nước là mô ̣t nhân tố chính ảnh hưởng đến canh tác (trồng tro ̣t) Mưa hàng năm không vượt quá 350 mm ( tần suất xuất hiê ̣n) Sự kiê ̣n truyền bão thì ngắn và cường đô ̣ ma ̣nh ở thời điểm mưa nắng làm gia tăng sự nguy hiểm và xói mòn do nước Vì vậy đất đai và lượng mưa cấu thành nguồn tài nguyên không tái tạo và do vậy là một chủ đề quan trọ ng ảnh hưởng đến việc quản trị đất và chiến lược bảo vệ tự nhiên với yêu cầu cần có nhiều thông tin
Trang 3liên quan và bản đồ chức năng khác nhau Hê ̣ thống đánh giá đất đai hữu du ̣ng với hê ̣ thống thông tin đi ̣a lý được sử du ̣n g để phát triển sự lưu trữ dữ liê ̣u không gian cho đánh giá và đề nghi ̣ chiến lược quản tri ̣ đất đối với viê ̣c bảo vê ̣ môi trường hiê ̣u quả Đồng bằng sông Cửu Long do quá trình tác động của con người tới điều kiện tự nhiên cho thấy hiệu quả sử dụng đất đai qua nhiều năm có xu hướng giảm với nhiều hình thức khác nhau chứng tỏ rằng trong đất có khả năng bị suy thoái Đánh giá đất đai là
cơ sở và nền tảng cho quy hoạch sử dụng đất đai, đánh giá đất đai bên cạnh việc liên quan đến các yếu tố thuận lợi và bất lợi của môi trường, kết quả này còn cung cấp rất nhiều thông tin liên quan đến tính chất của đất đai và những tác động của con người trong việc sử dụng đất đai Nhằm để khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đáp ứng được nhu cầu thực tế trong sử dụng đất đai kèm theo sự phát triển của xã hội, hạn chế sự suy thoái về đất đai ở ĐBSCL thì việc đánh giá đất đai, xây dựng các chất lượng đất đai, đồng thời đánh giá được khả năng thích nghi của một số cơ cấu cây trồng là rất cần thiết cho sự phát triển nền nông nghiệp
Hiện nay vấn đề nghiên cứu về đánh giá đất đai không chỉ chú ý phần điều kiện môi trường tự nhiên và hệ thống canh tác nữa mà người ta quan tâm nhiền hơn về lĩnh vực kinh tế để đáp ứng yêu cầu về xã hội của người sử dụng đất Đặc biệt trong phần đánh giá đất đai của FAO (1976) có đề cập đến vấn đề đánh giá định lượng đất đai về mặt kinh tế để hỗ trợ cho việc chọn lựa kiểu sử dụng đất đai trong từng thời kỳ trên cơ sở thích nghi đất đai về mặt tự nhiên Đánh giá thích nghi định lượng kinh tế là loại đánh giá mà toàn thể hay ít nhất có một phần kết quả được diễn tả dưới dạng kinh tế hay tài chính Những tính chất cần thiết là sử dụng giá trị tiền tệ cho phần chi phí đầu tư và giá cả trong phần thu hồi và lợi nhuận Giới hạn giữa các lớp thích nghi được xác định với ít nhất có một phần dưới dạng kinh tế (Lê Quang Trí, 2010)
Tuy nhiên, vấn đề khó khăn gặp phải là khi đánh giáphân hạng thích nghi định lượng kinh tế phải điều tra tất cả các số liệu kinh tế của các đơn vị đất đai của các kiểu sử dụng đất đai, một vấn đề cần quan tâm là giữa đánh giá định tính và định lượng có mối liên hệ như thế nào có thể dùng phương pháp chuyển đổi trực tiếp từ kết quả định tính được hay không Ngoài ra trong phân cấp yếu tố hiện nay chưa có cơ sở nào chứng minh việc phân cấp yếu tố là đúng với thực tế với sự chấp nhận của người dân hay không, các vấn đề trên chưa có nghiên cứu nào chứng minh nó giống hay khác nhau Đây là vấn đề cần phải nghiên cứu cụ thể để tìm ra quy trình hướng dẫn các nhà đánh giá đất đai đánh giá định lượng trong điều kiện cụ thể để làm cơ sở phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai bền vững
Từ những nhận định trên, cần thiết phải xây dựng mối quan hệ giữa đánh giá đất đai định lượng kinh tế trên cơ sở chuyển đổi từ kết quả thích nghi định tính và kiểm
Trang 4chứng thực tế để phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai, cũng như nghiên cứu đánh giá độ phì nhiêu trên các cơ cấu sử dụng đất, từ đó có thể quản lý và sử dụng một cách hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai tổng hợp Với kết quả tìm được sẽ là công cụ được
sử dụng để đánh giá đất đai định lượng kinh tế được chính xác và giúp giải quyết cho việc quyết định các kiểu sử dụng đất đai nào cần được phát triển trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng mối quan hệ giữa kết quả đánh giá thích nghi định
tính theo điều kiện tự nhiên với phân hạng thích nghi định lượng môi trường thông qua phân loại độ phì của đất và phân hạng thích nghi đất đai lượng kinh tế bằng phương pháp chuyển đổi và kiểm chứng thực tế
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án:
Ý nghĩa khoa học:
- Tìm ra mối quan hệ giữa kết quả phân hạng thích nghi định tính và phân loại độ phì của đất lúa theo hệ thống phân lọai FCC cho công tác phân hạng thích nghi đất đai định lượng môi trường
- Trên cơ sở quy trình đánh giá đất đai của FAO (1976), xây dựng phương pháp chuyển đổi kết quả phân hạng thích nghi đất đai định tính sang phân hạng thích nghi định lượng kinh tế trên cơ sở sử dụng phần trăm năng suất tối hảo để xác định các đặc tính kinh tế của các kiểu sử dụng đất đai cho các đơn vị bản đồ đất đai Đây là nền tảng cho đánh giá phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế
- Các kết quả phân tích và mô tả trong phần đánh giá thích nghi đất đai tự nhiên của từng kiểu sử dụng đất đai về mặt tài chính như: tổng chi phí đầu tư, tổng thu, lợi nhuận, hiệu quả đồng vốn (B/C) Trên cơ sở các kết quả điều tra thực tế sự chấp nhận của người sử dụng đất đai được sử dụng để làm nền tảng quan trọng cho việc xây dựng
Trang 5bảng phân cấp yếu tố kinh tế Sử dụng ba cách tính trung bình; dùng phân mềm PRIMER và bằng sự chấp nhận của người dân thực tế để xây dựng bảng phân cấp yếu
tố về mặt kinh tế chung cho các kiểu sử dụng đất đai Đây là chìa khóa cơ bản để đối chiếu phân hạng thích nghi đất đai định lượng về mặt kinh tế
- Xác định độ phì nhiêu đất lúa thông qua quan hệ giữa thích nghi tự nhiên và phân loại độ phì theo FCC để đề xuất ra các giải pháp nâng cao độ phì cho đất lúa
- Xây dựng các bước chuyển đổi từ kết quả phân hạng thích nghi định tính sang các đặc tính kinh tế của các đơn vị bản đồ đất đai làm giảm chi phí và thời gian điều tra thực tế, nhưng vẫn cho kết quả tương tự Trong đó, quan trọng nhất là đã xác định được mức độ % năng suất thực tế giữa các cấp thích nghi trong điều kiện của Đồng bằng sông Cửu Long Từ đó, chọn lựa phương pháp tối ưu phục vụ cho đề xuất sử dụng đất để đưa ra định hướng quy hoạch sử dụng đất đai chính xác và phù hợp thực
Trang 6- Sử dụng phương pháp tính tổng hệ số trung bình để xác định % năng suất tối hảo khác biệt giữa các mức độ thích nghi, từ đó làm cơ sở cho việc chuyển đổi các đặc tính kinh tế cho các đơn vị đất đai và xây dựng bảng phân cấp yếu tố kinh tế cho các kiểu
sử dụng đất đai để đánh giá phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế
* Phạm vi nghiên cứu: Huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh được chọn làm điểm nghiên
cứu để thực hiện các phương pháp vì đây là Huyện nằm trong vùng ngọt hoá của tỉnh,
có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, có cơ cấu canh tác đa dạng Theo trung tâm Xúc tiến-thương mại-du lịch, tỉnh Trà Vinh (2004) Huyện Càng Long
có những đặc điểm là Trung tâm của huyện nằm ven Quốc lộ 53, nối liền hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long, cách thành phố Trà Vinh 21km và cách thành phố Vĩnh Long 43km Huyện Càng Long được xem là cửa ngõ giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh Trà Vinh với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL Toàn huyện có 14/14 xã, thị trấn, với 135 ấp khóm Càng Long nằm ở phía Bắc tỉnh Trà Vinh là huyện cửa ngõ của tỉnh
- Phía Đông giáp huyện Châu Thành và thành phố Trà Vinh
- Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Long
- Phía Nam giáp huyện Tiểu Cần và huyện Cầu Kè
- Phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Bến Tre
Diện tích tự nhiên toàn huyện 30.009,88 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 24.835,51
ha, chiếm 82,75% trên tổng diện tích, số còn lại là các loại đất khác
Khí hậu địa hình đất đai thích hợp cho việc bố trí cơ cấu sản xuất đa dạng, thích hợp cho việc canh tác lúa, hoa màu và cây lâu năm
5 Những đóng góp của nghiên cứu:
- Trong quản lý sử dụng đất nông nghiệp bền vững cần thiết phải xây dựng quy hoạch
và định hướng sử dụng đất một cách hợp lý thì điều cần quan tâm là công tác đánh giá đất đai Đánh giá thích nghi đất đai định tính (theo điều kiện tự nhiên) bằng hai phương pháp là đối chiếu và dùng phần mềm tự động ALES đã giúp cho địa phương
và các nhà quy hoạch sử dụng đất đai xác định được các mức độ thích nghi của các kiểu sử dụng đất, chọn ra được kiểu sử dụng đất phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương đem lại hiệu quả kinh tế cao trong canh tác đất nông nghiệp tại huyện
- Đánh giá đất đai định lượng về môi trường trên cơ sở phân loại độ phì tiềm năng FCC trên đất canh tác lúa có ứng dụng phần mềm ALES trong đánh giá phân loại, so sánh được kết quả đánh giá thích nghi tự nhiên và kết quả phân loại độ phì tiềm năng với các mức độ thích nghi trên một số ĐVBĐ đất đai Đây cũng là điểm mới của luận
Trang 7án để xác định việc có thể sử dụng một số đặc tính đất đai của đánh giá định tính để thay thế cho đánh giá định lượng môi trường trong điều kiện độ phì của đất lúa
- Trong kết quả nghiên cứu có phần đánh giá đất đai định lượng kinh tế đã xác định các đặc tính kinh tế là đầu tư, thu nhập, lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn (B/C), trong phạm vi nghiên cứu chỉ xác định hai đặc tính kinh tế là lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn (B/C) để tiến hành đánh giá định lượng cho 8 kiểu sử dụng đất đai trong vùng nghiên cứu, đánh giá được từng mức độ thích nghi cho các kiểu sử dụng trên từng ĐVBĐ đất đai giúp cho việc đánh giá hiệu quả kinh tế của các kiểu sử dụng và xác định được kiểu sử dụng đất mang lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời đảm bảo phù hợp với điều kiện tự nhiên vì trên cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững Trong phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế được dựa trên sự chuyển đổi từ định tính sang định lượng thông qua phần trăm năng suất tối hảo theo tỷ lệ đánh giá FAO (1976) S1 lớn hơn 80% năng suất tối hảo, S2 từ 40% đến 80% năng suất tối hảo, S3 từ 20% đến 40% năng suất tối hảo, và N nhỏ hơn 20% , đây là điểm mới của luận án trong việc kết nối giữa phân hạng thích nghi đất đai định tính và phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế
- Thông qua kiểm chứng thực tế luận án đã nghiên cứu đánh giá sự chấp nhận của người dân về các mức độ thích nghi từ đó xây dựng bảng phân cấp yếu tố và phân hạng lại khả năng thích nghi đất đai So sánh được kết quả đánh giá đất đai định lượng kinh tế trước và sau khi kiểm chứng thực tế, trên cơ sở đó mà đề xuất thang đánh giá giữa các cấp thích nghi phù hợp với thực tế nhất trong điều kiện của Đồng bằng sông Cửu Long, giúp cho việc đề xuất đánh giá đất đai hiệu quả phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai bền vững theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ đó giảm chi phí và thời gian khảo sát thực tế về các chỉ số kinh tế Đây là điểm mới của luận án
- Từ kết quả kiểm định thực tế với sự chấp nhận của người dân trong điều kiện đồng bằng sông Cửu Long, bảng phân cấp yếu tố kinh tế cho các kiểu sử dụng đất đai được xây dựng bằng phương pháp tính % năng suất tối hảo đã tìm ra được thông qua nghiên cứu cho các cấp thích nghi của S1, S2, S3, N Kết quả đã xây dựng được công thức tính để làm cơ sở xây dựng bảng phân cấp yếu tố kinh tế phù hợp cho các kiểu sử dụng đất đai đang được thực hiện So sánh cho thấy mức độ chênh lệch giữa phân cấp yếu tố thực tế của người dân so với quy trình FAO (1976), theo công thức được tìm ra từ thực
tế trong nghiên cứu này đã phân cấp S1, S2, S3, N đối với đặc tính kinh tế lợi nhuận
và có thể tính cho các đặc tính kinh tế khác Công thức tính cho lợi nhuận (LN) như sau: theo công thức sau:
S1≥ ( ∑ 80%LN (LUT1 + LUT2 + + LUTn))/n
Trang 8S2 từ ≥ ( ∑ 60%LN (LUT1 + LUT2 + LUTn))/n đến < ( ∑ 80%LN (LUT1 + LUT2 + + LUTn))/n S3 từ ≥ ( ∑ 35%LN (LUT1 + LUT2 + LUTn))/n đến < ( ∑ 60%LN (LUT1 + LUT2 + + LUTn))/n
N < ( ∑ 35%LN (LUT1 + LUT2 + + LUTn))/n
Từ đó xây dựng bảng phân cấp yếu tố kinh tế theo từng cấp thích nghi cho tất cả các kiểu sử dụng đất Sử dụng phần mềm PRIMER để phân nhóm cho các kiểu sử dụng trên cơ sở số hộ điều tra, tính ra bảng phân cấp yếu tố kinh tế cho các kiểu sử dụng đất Kết quả trên cho thấy % thang giá trị của các cấp thích nghi khác hơn so với thang giá trị của FAO (1976 và 2007) Đây cũng là điểm mới của luận án đã tìm được phương pháp xây dựng và xác định giá trị phân cấp yếu tố kinh tế trong điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long
6 Cấu trúc của luận án:
Luận án gồm các phần: Phần mở đầu và 7 chương Chương I (Tổng quan về tài liệu), chương II (Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực hiện), chương III (Kết quả phân hạng thích nghi đất đai định tính), chương IV (Phân hạng thích nghi đất đai định lượng về
độ phì đất lúa), chương V (Phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế), chương
VI (So sánh kết quả và thảo luận mối quan hệ giữa phân hạng thích nghi đất đai định tính và định lượng ), chương VII (Kết luận và kiến nghị):
- Phần mở đầu: Tính cấp thiết của luận án, mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, những đóng góp và cấu trúc của luận án
- Chương I: Tổng quan về tài liệu Tìm hiểu về các nghiên cứu có liên quan như: Một
số khái niệm cơ bản, quy trình và nguyên lý đánh giá đất đai của FAO (1976), FAO (2007) về đánh giá định tính và định lượng kinh tế Một số công nghệ thông tin được
sử sụng để đánh giá đất đai như phần mềm đánh giá đất đai tự động ALES, phần mềm Idrisiw, phần mềm Mapinfo, phần mềm Primer, hệ thống thông tin địa lý GIS, hệ thống phân loại độ phì tiềm năng FCC
- Chương II (Cơ sở lý thuyết và phương pháp thực hiện): Nêu lên cơ sở lý thuyết liên quan đến việc đánh giá đất đai định tính và định lượng kinh tế phục vụ cho quy hoạch
sử dụng đất trong nông nghiệp gồm các phần
Cơ sở lý thuyết nghiên cứu về đánh giá đất đai cho quy hoạch sử dụng đất đai và cơ sở
và nền tảng phát triển nông nghiệp là quy hoạch sử dụng đất đai Về nguồn số liệu thu thập và phương tiện nghiên cứu và thu thập tài liệu có liên quan đến vùng nghiên cứu đồng thời khảo sát kinh tế xã hội có liên quan
Về phương pháp thực hiện nghiên cứu các phương pháp đánh giá đất đai định tính (theo điều kiện tự nhiên) theo FAO (1976) gồm: (i) Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, phương pháp khảo sát thực tế điều kiện của vùng, (ii) Chọn lọc kiểu sử dụng đất đai,
Trang 9(iii) Phương pháp mô tả các chất lượng đất đai và đặc tính đất đai có ở vùng nghiên cứu theo hệ thống đánh giá, (iv) Xây dựng phân hạng thích nghi đất đai về tự nhiên
Về phân hạng thích nghi đất đai định lượng môi trường trên cơ sở phân loại độ phì tiềm năng FCC cho cơ cấu sử dụng đất lúa 2 vụ kết hợp với phần mềm ALES tiến hành đánh giá thích nghi trên cơ sở kết quả phân hạng thích nghi tự nhiên Về phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế theo FAO (1976) nghiên cứu theo phương pháp đối chiếu và xây dựng bảng phân cấp yếu tố bằng các phương pháp phân cấp theo phương trình trung bình, theo phần mềm PRIMER và theo kiểm chứng thực tế
- Chương III: Phân hạng thích nghi đất đai định tính Phân hạng thích nghi đất đai theo phương pháp đối chiếu FAO (1976), trong đó có xây dựng bản đồ đơn vị đất đai, chọn lọc và mô tả kiểu sử dụng đất đai, chất lượng đất đai và yêu cầu sử dụng đất đai, xây dựng bản phân cấp yếu tố cho từng kiểu sử dụng đất đai, kết quả phân hạng thích nghi đất đai hiện tại và nâng cấp thích nghi đất đai từ thích nghi hiện tại Trong đánh giá có ứng dụng phần mềm ALES trong phân hạng thích nghi đất đai, sau cùng là phân vùng thích nghi tự nhiên sau khi nâng cấp thích nghi hiện tại cho huyện Càng Long, Trà Vinh
- Chương IV: Phân hạng thích nghi đất đai định lượng - Phân hạng thích nghi đất đai định lượng về phì nhiêu đất lúa Trên cơ sở kết quả đánh giá thích nghi định tính bằng ALES tiến hành phân loại độ phì tiềm năng theo hệ thống FCC, xác định các yêu cầu cần thiết cho việc xác định đặc tính độ phì FCC của cơ cấu sử dụng đất trồng lúa, tất
cả được đưa vào phần mềm ALES để đánh giá thích nghi trên cơ sở độ phì, cuối cùng
so sánh kết quả đánh giá thích nghi tự nhiên và đánh giá thích nghi về mặt độ phì Từ
đó xác định mối quan hệ giữa đánh giá thích nghi định tính và định lượng về môi trường của độ phì trên đất lúa
- Chương V: Phân hạng thích nghi định lượng về kinh tế Từ số liệu điều tra về sự chấp nhận của người dân và số liệu phân tích của các cơ cấu sử dụng đất ban đầu trên
cơ sở chuyển đổi từ kết quả phân hạng thích nghi tự nhiên sang kinh tế thông qua phần trăm năng suất tối hảo trong vùng về hai mức đầu tư và tổng thu trên từng cơ cấu sử dụng đất thiết lập chi tiết xây dựng bảng đặc tính kinh tế lợi nhuận và hiệu quả đồng vốn (B/C); xây dựng bảng phân cấp yếu tố kinh tế của lợi nhuận (LN) và hiệu quả đồng vốn (B/C), trong đó quan trọng nhất là xác định được % giá trị giữa các mức độ thích nghi S1, S2, S3 để giúp cho việc chuyển đổi và xây dựng bảng phân cấp đặc tính kinh tế cho các kiểu sử dụng đất đai Sau đó, phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế theo điều kiện thực tế so với quy trình của FAO (1976 và 2007), trong các kết quả từng phần đều có so sánh để thấy sự khác biệt giữa các phương pháp phân cấp yếu
tố, phân hạng thích nghi đất đai
Trang 10- Chương VI: Đánh giá mối liên kết giữa phân hạng thích nghi đất đai định tính với định lượng môi trường và với định lượng kinh tế Tìm ra mối liên hệ giữa phân hạng thích nghi đất đai định tính với định lượng môi trường và với định lượng kinh tế, đề xuất các vấn đề còn tồn tại và các bước tiến hành đánh giá thích nghi chung cho vùng phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai
- Chương VII (Kết luận và kiến nghị): Tóm tắt kết quả, những đóng góp của luận án,
đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 1.1 ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI:
1.1.1 Đánh giá đất đai định tính:
1.1.1.1 Khái niệm:
Theo Lê Quang Trí (2000; trong Nguyễn Thị Diệu Huyền, 2003) thì đánh giá đất đai là
sự so sánh dữ liệu về nguồn tài nguyên thiên nhiên và những yêu cầu về quản trị và bảo vệ môi trường sử dụng đất đai Do đó khi thực hiện cần có sự phối hợp đa ngành bao gồm các nhà khoa học về đất, cây trồng, hệ thống canh tác, cũng như các chuyên gia về lâm nghiệp, kinh tế - xã hội Tùy theo từng vùng và từng mục đích đánh giá quy hoạch sử dụng đất đai khác nhau mà thành phần các nhà khoa học khác nhau
Ngoài ra theo Huizing (1992; trong Nguyễn Thị Diệu Huyền, 2003), đánh giá đất đai
là một cơ sở then chốt quan trọng trong việc sử dụng đất cho cây trồng Kết quả của đánh giá đất đai cho ta những thông tin về những loại đất và các điều kiện tự nhiên khác (đơn vị bản đồ đất) cho việc lựa chọn kiểu sử dụng đất đai
1.1.1.2 Phân hạng thích nghi đất đai theo FAO (1976):
a Quy trình của đánh giá đất đai:
Theo FAO (2004) và Lê Quang Trí (1998) thì quy trình của đánh giá đất đai bao gồm các bước sau :
i Xây dựng các khoanh đơn vị bản đồ đất đai dựa trên cơ sở kết quả
điều tra khảo sát các nguồn tài nguyên đất đai như: Khí hậu, địa hình, đất, nước, thực vật, nước ngầm Mỗi đơn vị bản đồ đất đai sẽ có những đặc tính đất riêng và khác so với những đơn vị bản đồ đất đai lân cận
ii Chọn lọc và mô tả kiểu sử dụng đất đai mà nó phải phù hợp và liên
quan đến các mục tiêu chính sách và phát triển đã được xây dựng bởi các nhà quy hoạch cũng như phải phù hợp với những điều kiện về kinh tế xã hội và tự nhiên môi trường trong khu vực đang thực hiện iii Chuyển đổi đặc tính đất đai của mỗi đơn vị bản đồ đất đai thành các
chất lượng đất đai mà những chất lượng đất đai này ảnh hưởng trực tiếp đến các kiểu sử dụng đất đai đã được chọn lọc
iv Xác định các yêu cầu về đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai đã được
chọn lọc, hay gọi là yêu cầu sử dụng đất đai trên cơ sở các chất lượng đất đai
Trang 12v Đối chiếu giữa yêu cầu sử dụng đất đai của các kiểu sử dụng đất đai
được diễn tả dưới dạng phân cấp yếu tố với các chất lượng đất đai của mỗi đơn vị bản đồ đất đai được diễn tả dưới dạng yếu tố chẩn đoán Kết quả cho được sự phân hạng khả năng thích nghi đất đai của mỗi đơn vị bản đồ đất đai với từng kiểu sử dụng đất đai
Đánh giá đất đai là sự so sánh giữa các dữ liệu về nguồn tài nguyên thiên nhiên và những yêu cầu về quản trị và bảo vệ môi trường của sử dụng đất đai Do đó trong việc thực hiện cần phối hợp đa ngành bao gồm các nhà khoa học về đất đai, cây trồng, hệ thống canh tác, cũng như các chuyên gia lâm nghiệp, kinh tế và xã hội Tùy theo những vùng và mục đích đánh giá quy hoạch sử dụng đất đai cho từng vùng khác nhau
mà thành phần các nhà khoa học tham gia cũng thay đổi
b Nguyên lý đánh giá đất đai:
FAO (1976) đã xây dựng nên hệ thống khả năng phân hạng thích nghi đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai khác nhau Đây là hệ thống bao gồm các nguyên tắc và quan điểm trên cơ sở đánh giá thích nghi cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa phương (Lê Quang Trí, 2004)
Nguyên tắc đánh giá thích nghi đất đai là cho loại sử dụng đất riêng biệt trên cơ sở đánh giá đất đai của FAO (1976) và phát triển hình thành các phương pháp đánh giá đất đai cho: Nông nghiệp sử dụng nước trời (1983); lâm nghiệp (1984); nông nghiệp
sử dụng tưới (1985); cho đồng cỏ thì đang phát hành
Các nguyên lý đánh giá đất đai:
- Nguyên lý 1: Khả năng thích nghi đất đai phải được đánh giá và phân hạng cho một
loại sử dụng đất đai chuyên biệt
- Nguyên lý 2: Đánh giá đòi hỏi phải có sự so sánh về lợi nhuận và mức đầu tư cần
thiết cho từng kiểu sử dụng đất đai khác nhau
- Nguyên lý 3: Đánh giá đất đai đòi hỏi phải đa ngành
- Nguyên lý 4: Đánh giá cần phải đứng trên quan điểm sự ảnh hưởng và liên quan các
yếu tố về môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội đến vùng đang nghiên cứu
- Nguyên lý 5: Đánh giá phải xây dựng trên cơ sở nền tảng tính bền vững
- Nguyên lý 6: Đánh giá thích nghi thường phải so sánh nhiều kiểu sử dụng
1.1.1.3 Thiết lập các giá trị giới hạn cho các yêu cầu sử dụng đất đai:
Theo Lê Quang Trí (2005), giá trị giới hạn là giá trị của một chất lượng đất đai hay đặc tính đất đai được xác định bởi những giới hạn phân hạng của khả năng thích nghi đất
Trang 13đai cho một kiểu sử dụng cụ thể Tiêu chuẩn phân hạng khả năng thích nghi đất đai
của FAO được trình bày cụ thể trong Bảng 1.1
Bảng 1.1: Cấu trúc phân hạng thích nghi theo FAO (1976)
S Thích nghi Đất đai có thể hỗ trợ xác định sử dụng đất đai và
những lợi nhuận kèm theo đầu tư
S
S 1 Thích nghi cao
Đất đai không có giới hạn đáng kể Bao gồm khoảng
20 - 30% tốt nhất của đất đai thích nghi S1 Đất đai không hoàn hảo nhưng có nhiều triển vọng phát triển
S 2 Thích nghi trung
bình
Đất đai có khả năng thích nghi nhưng có một số giới hạn làm giảm năng suất hay vẫn giữ năng suất nhưng làm tăng đầu tư so với thích nghi S1
S 3 Thích nghi kém
Đất đai có những giới hạn khá trầm trọng, lợi nhuận
bị giảm do phải tăng đầu tư để ổn định năng suất cho nên chi phí không có tính khả thi cao
N Không thích nghi Đất có nhiều giới hạn trầm trọng và khi sử dụng thì
không mang tính kinh tế
Thí dụ những giới hạn trong cấp chia thứ 3
S2e: Đất đai thích nghi trung bình S2, có giới hạn nguy hại do xói mòn
S2w: Đất đai thích nghi trung bình S2, có giới hạn do thiếu nước hữu dụng
N2e: Đất đai không thích nghi N, có giới hạn nguy hại do xói mòn
1.1.1.4 Phân hạng đất đai USDA:
- Phương pháp này dựa trên cơ sở kết hợp ảnh hưởng khí hậu và đặc tính cố định của đất lên khả năng sản xuất, thiệt hại do xói mòn và yêu cầu quản lý đất
- Tùy điều kiện từng địa phương hệ thống này được cải biên sửa đổi cho thích hợp
- Nhược điểm của hệ thống này là phân hạng tương đối tổng quát và không áp dụng được khả năng sử dụng đất đai đa dạng trên cùng một điều kiện đất đai
Trang 14a Định nghĩa những lớp khả năng:
Theo Klingebiel và Montgomery (1961; trong Lê Quang Trí, 2004) thì hệ thống được chia thành 8 lớp với các loại đất được phân thuộc vào 8 lớp này:
- Đất thuộc lớp 1: Có một ít giới hạn trong sử dụng
- Đất thuộc lớp 2: Có một vài giới hạn làm giảm sự chọn lựa của cây trồng hoặc đòi hỏi tính thực hành trung bình trong bảo vệ
- Đất thuộc lớp 3: Có giới hạn khả năng trầm trọng làm giảm sự lựa chọn của cây trồng, đòi hỏi thực hành đặc biệt trong bảo vệ hay cả hai
- Đất thuộc lớp 4: Có giới hạn trầm trọng làm giảm sự lựa chọn của cây trồng, đòi hỏi
sự quản lý phải thật cẩn thận hay cả hai
- Đất thuộc lớp 5: Có ít hoặc không có sự nguy hại do xói mòn nhưng có những giới hạn khác, mà thực tế khó khắc phục làm giảm sự sử dụng rộng rãi cho thâm canh chăn nuôi đồng cỏ, trồng cây rừng hay dinh dưỡng loài hoang dã hay sự che phủ (thông thường là đất ngập)
- Đất thuộc lớp 6: Có giới hạn trầm trọng thông thường không thích nghi cho canh tác
và giới hạn sử dụng rộng rãi cho chăn nuôi đồng cỏ, trồng cây rừng, dinh dưỡng loài hoang dã hay sự che phủ
- Đất thuộc lớp thứ 7: Có những giới hạn rất trầm trọng làm không thích hợp cho canh tác và giới hạn sử dụng rộng rãi cho chăn nuôi đồng cỏ, trồng cây rừng hay loài hoang
dã
- Đất và hình dạng đất thuộc lớp thứ 8: Có những giới hạn mà không thể sử dụng sản xuất mang tính thương mại và hạn chế trong việc sử dụng cho khu nghĩ ngơi, hoang
dã, cung cấp nước, hay những mục đích thẩm mỹ
Đây là hệ thống phân loại của thế giới và nhà đánh giá đất đai sẽ rất thường sử dụng hệ thống này Phân loại đơn vị bản đồ đất (ở mức độ chi tiết biểu loại) theo khả năng của đất trong việc hổ trợ cho những loại tổng quát của sử dụng đất đai mà không có sự suy thoái hay những ảnh hưởng ngoại tại có ý nghĩa cho quy hoạch nông trang Những người sử dụng ban đầu của hệ thống này là các nhà bảo vệ đất ở cấp huyện của Mỹ đã
cố vấn cho nông dân những cách sử dụng thích hợp nhất trên cánh đồng của họ Với hệ thống này không thể sử dụng để quy hoạch quản lý chi tiết mà chỉ là một phần trong
kế hoạch bảo vệ đất đai
b Tính chất phân hạng khả năng đất đai USDA:
Hệ thống này khởi đầu áp dụng và phát triển tại Mỹ, hiện nay vẫn còn đang được sử dụng bao gồm các tính chất sau:
Trang 15- Quan hệ đến đặc tính đất đai tương đối thường xuyên Với lý do này, những đặc tính lý học của đất đai như sa cấu cho giá trị trọng lượng cao hơn các đặc tính đất đai hoá học như pH
- Trong một lớp có thể có những loại khác nhau nhưng có cùng cấp độ giới hạn giống nhau (trong một lớp phụ cũng vậy)
- Không có phân cấp sản xuất Lớp 4, đất đai có thể cho sản xuất cao hơn lớp 1 nhưng cũng dễ bị phá vỡ
- Không tính đến lợi nhuận
- Tính đơn, thừa nhận quản lý mức trung bình – cao
- Nếu có sự cải thiện chính yếu trong đất đai thì đất đai sẽ được phân hạng lại Chi phí cải thiện thì không được tính đến
- Những yếu tố như: Khoảng cách đến chợ, loại đường, kích thước hay vị trí thửa đất,
vị trí của nông trang hay thửa đất, …thì cũng không được tính đến
Kết luận: Phân hạng đất với tầm nhìn rất hẹp
1.1.2 Đánh giá đất đai định lƣợng kinh tế:
1.1.2.1 Khái niệm:
Theo Lê Quang Trí (2004) thì phân hạng khả năng thích nghi đất đai định lượng là loại đánh giá đất đai liên quan đến số lượng và đặc tính của các số liệu thu thập khi khảo sát Sự chọn lựa sau đây được thực hiện:
- Kết quả của đánh giá đất đai có thể được diễn tả ở dạng số lượng hay chất lượng?
- Những yếu tố kinh tế được phân tích ở mức độ nào? Phân tích kinh tế trước hay sau hay cùng một lúc với phân tích điều kiện tự nhiên?
- Đánh giá thích nghi kinh tế cần thiết trong tất cả các khảo sát ở dạng đề án khả thi hay giai đoạn thực hiện đề án Đánh giá kinh tế có giá trị tương đối ngắn và sẽ thay đổi nhanh khi có sự thay đổi trong giá cả, đầu tư và thị trường
- Kinh tế có vai trò rất quan trọng và luôn luôn được chú ý trong đánh giá đất đai Mức
độ chi tiết của phân tích kinh tế biến động lớn theo mục tiêu nghiên cứu và mức độ tỷ
lệ khảo sát
- Ở mức độ đánh giá chi tiết hơn, phân tích kinh tế thì được dùng nhiều hơn, với sự so sánh giữa chi phí và lợi nhuận của một hay nhiều điều kiện sử dụng đất đai được chọn lọc với nhau Phân tích này được diễn tả dưới dạng phân tích tài chính hay kinh tế, hay
cả hai Những kết quả cuối cùng sẽ bao gồm những thông tin cho ra như: Lợi nhuận của nông trang liên quan đến liên quan đến những lớp thích nghi
Trang 16Do đó, phân tích kinh tế giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp đầy đủ các thông tin cho giai đoạn quy hoạch để có thể quyết định vấn đề được rõ ràng hơn
1.1.2.2 Đánh giá đất đai định lượng theo FAO (1976):
Theo FAO (1976) thì phân hạng khả năng thích nghi đất đai định lượng là đánh giá thích nghi mà kết quả được diễn tả dưới dạng số lượng cho phép ta có thể so sánh giữa những kiểu sử dụng khác nhau Có hai loại đánh giá thích nghi định lượng là tự nhiên
và kinh tế
♦ Đánh giá thích nghi định lượng môi trường tự nhiên:
Là phương pháp đánh giá thích nghi có thể cung cấp sự ước đoán số lượng của lợi nhuận năng suất cây trồng và sản lượng mà không cho được số liệu chính xác Để thực hiện cũng như tính toán luôn phần đầu tư riêng biệt bằng định tính, thí dụ như số lượng phân bón, số lần làm cỏ, xử lý thuốc trừ sâu Định nghĩa về phần giới hạn giữa các lớp thích nghi bao gồm luôn cả sự ước đoán năng suất cho một loại đầu tư và quản lý chuyên biệt (Lê Quang Trí, 2004)
♦ Đánh giá thích nghi định lượng kinh tế:
Là loại đánh giá mà toàn thể hay ít nhất có một phần kết quả được diễn tả dưới dạng kinh tế hay tài chính Những tính chất cần thiết là sử dụng giá trị tiền tệ cho phần chi phí đầu tư và giá cả trong phần thu hồi và lợi nhuận Giới hạn giữa các lớp thích nghi được xác định với ít nhất có một phần dưới dạng kinh tế (Lê Quang Trí, 2004)
Đánh giá định lượng kinh tế cần thiết trong tất cả các khảo sát ở dạng đề án khả thi hay trong giai đoạn thực hiện đề án Đánh giá kinh tế có giá trị tương đối ngắn và sẽ thay đổi nhanh khi có sự thay đổi trong giá cả, đầu tư và thị trường
- Thứ hai là phân tích kinh tế không cung cấp một tính duy nhất của thích nghi đất đai: Lợi nhuận có thể được diễn tả dưới dạng lợi nhuận/ngày công/tháng hay trên đơn vị diện tích đất đai, mà nó sẽ cho thấy nổi bật lợi nhuận của các kiểu sử dụng đất đai Trong đầu tư cố định cũng phải được bao gồm trong tính toán mà trong đó giá trị của
Trang 17nó thay đổi rất rộng và tuỳ thuộc vào rất nhiều vào thời gian bao lâu của dự án, mức độ chiết khấu và những yếu tố khác
- Thứ ba là đánh giá kinh tế không phải là vấn đề đơn giản trong tính toán từ những số liệu cố định mà còn mang tính giả định: Những yếu tố hay số liệu giả định ít nhất cũng phải được sử dụng trong tính toán lợi nhuận; cho phân tích kinh tế trên cơ sở thương mại và với lao động phải trả; đặc biệt là các nước đang phát triển bao gồm luôn cả lao động thuê và lao động gia đình trong việc đầu tư cố định Đặc biệt trong tính toán này cũng tuỳ thuộc vào sự giả định thời gian của dự án và mức độ chiết khấu trong thời gian tới
Phương pháp phân tích kinh tế:
Theo Lê Quang Trí (2004) thì trong phương pháp đánh giá đất đai hai giai đoạn, đầu tiên là sự kết hợp các kiểu sử dụng đất đai có triển vọng với các đơn vị đất đai bằng tiến trình đối chiếu và được dựa trên cơ sở các phân cấp về yếu tố môi trường của chất lượng đất đai để có sự tương ứng với những yêu cầu sử dụng đất đai của kiểu sử dụng đất đai Kế đến là phần phân tích dưới dạng các yếu tố kinh tế xã hội để xác định và cải tiến tính thích nghi dưới dạng kinh tế, tài chính và xã hội
Kinh tế trong đánh giá đất đai không được nhầm lẫn với phân tích kinh tế về chi phí/lợi nhuận của các đề án Trong đánh giá đất đai phân tích kinh tế được áp dụng cho từng kiểu sử dụng đất đai riêng biệt, đó là sự kết hợp của các kiểu sử dụng đất đai và những đơn vị đất đai Trong phân tích chi phí/lợi nhuận của các đề án thì do từ những kết quả những đánh giá thích nghi đất đai theo kinh tế Những kết quả này được tập hợp lại và rồi được đưa ra phân tích trong nhiều hình thức và kết hợp với các yếu tố kinh tế khác để xác định tính kinh tế trong đề án
Theo Lê Quang Trí (2004) phân tích kinh tế tổng quát thường được giới hạn trong phạm vi phân tích lợi nhuận Trong hệ thống sử dụng đất đai thì các phần chi phí đầu
tư thường được dự trù trước như đầu tư cho hệ thống tưới, khai hoang và trồng cây hay trồng rừng,… Phân tích chi phí/lợi nhuận được dựa trên cơ sở chiết khấu vốn lưu động thì thích hợp nhất Kết quả phân tích sẽ được mô tả dưới dạng giá trị vốn hiện tại thuần, tỷ số lợi nhuận/chi phí hay độ hoàn vốn
Phân tích kinh tế có thể định nghĩa dưới dạng các lớp thích nghi về mặt kinh tế Từ sự tính toán ra các lợi nhuận, ta có thể xây dựng phân cấp yếu tố theo các lớp thích nghi khác nhau như một thí dụ được trình bày trong Bảng 1.2
Trang 18Bảng 1.2: Phân cấp yếu tố cho phân hạng thích nghi đất đai theo đánh giá thích nghi kinh tế (FAO, 1976)
1.2 CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI:
1.2.1 Hệ thống thông tin địa lý GIS:
1.2.1.1 Giới thiệu:
Theo Võ Quang Minh (1996), trên thế giới hiện nay, Hoa kỳ, Canada, Anh, Hà lan và Australia là những nước có nền công nghệ GIS phát triển mạnh nhất, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển các phần mềm máy tính và các trang thiết bị của nó Việc ứng dụng công nghệ GIS và Viễn Thám (RS: Remote Sensing) ở các nước này hiện nay phần lớn tập trung vào việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, quản lý đô thị, đánh giá các tác động của môi trường Điểm đặc biệt hiện nay là việc sử dụng ảnh vệ tinh (LANDSAT, SPOT) kết hợp với GIS đang được sử dụng rộng rải và phổ biến ở các nước
Đối với vùng Châu Á Thái Bình Dương, hiện nay Singapore, Thái Lan, Hồng Kông Malaysia, Ấn Độ Philippines, Nhật,…Là những nước đã ứng dụng công nghệ GIS và Viễn Thám từ nhiều năm qua và trong rất nhiều lĩnh vực như quản lý tài nguyên môi trường, quy hoạch đô thị, phân vùng sản xuất
Ở nước ta kỹ thuật GIS thực tế được biết đến khoảng 7- 8 năm trở lại đây Đặc biệt là ĐBSCL, công nghệ GIS đã được đưa vào sử dụng từ chương trình cấp nhà nước trong đánh giá tài nguyên thiên nhiên vào những năm 1986 (ct 60- 02) Tuy nhiên từ sau năm 1991, sau khi các tỉnh đã thành lập các Sở Địa Chính ở các Tỉnh, hiện nay được
sử dụng thành công ở một số tỉnh trong lưu trữ hồ sơ địa chính ( Võ Quang Minh 1996)
Đặc biệt trong nông nghiệp, sử dụng kỹ thuật GIS có 3 đặc điểm thuận lợi chính khi được so sánh với cách quản lý bản đồ bằng tay trước đây:
Trang 19- Là một công cụ khá mạnh trong việc lưu trữ và diễn đạt các số liệu đặc biệt là các bản đồ
- Có thể xử lý và cho ra những kết quả dưới những dạng khác nhau như các bản đồ, biểu bảng và các biểu đồ thống kê…
- Là một công cụ đắc lực cho các nhà khoa học, đặc biệt về lĩnh vực nghiên cứu hệ thống canh tác, đánh giá đất đai, khả năng thích nghi của các kiểu sử dụng đất , quản lý và xử lý các bản đồ giải thửa trong quản lý đất đai, quản lý và giám sát môi trường…Nó giúp cho các nhà làm khoa học có khả năng phân tích những nguyên nhân, những ảnh hưởng và kiểm chứng những biến đổi trong hệ thống sinh thái cũng như khả năng thích ứng của việc thay đổi một số chính sách đối với người dân
- Hiện nay, nhiều cơ quan khoa học và đào tạo đã ứng dụng công nghệ GIS vào các lĩnh vực quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, phân vùng, quy hoạch đánh giá và đặc biệt là trong việc ngoại suy các mô hình, kiểu sử dụng đất đai có triển vọng trên các vùng đất có vấn đề của vùng ĐBSCL Với tốc độ phát triển và bùng nổ GIS được bắt đầu vào những năm 1996 trở lại đây, đến nay kỹ thuật GIS đã được ứng dụng ở nước ta trên nhiều lĩnh vực
nó có khả năng nhập, lưu trữ, mô tả và khôi phục hay biểu thị những số liệu không gian
- Theo Võ Quang Minh (1999), một hệ thống thông tin địa lý có thể bao gồm thành phần cơ bản và khả năng chính:
+ Khả năng chồng lấp các bản đồ (Map Overlaying)
+ Khả năng phân loại các thuộc tính (Reclassification)
+ Khả năng phân tích (Spatial Anlysis)
Trang 20Hình 1.1: Các thành phần cơ cấu của GIS (Võ Quang Minh, 2005)
1.2.1.3 Ứng dụng kỹ thuật GIS trong đánh giá đất đai:
Ở nước ta kỹ thuật GIS thực tế được biết đến khoảng 7-8 năm trở lại đây Đặc biệt là ĐBSCL, công nghệ GIS đã được đưa vào sử dụng từ chương trình cấp nhà nước trong đánh giá tài nguyên thiên nhiên vào những năm 1968 Tuy nhiên từ sau 1991 sau khi các tỉnh đã thành lập các Sở địa chính đã sử dụng GIS thành công ở một số tỉnh trong lưu trữ hồ sơ địa chính (Võ Quang Minh, 1996)
Trong sản xuất nông nghiệp, GIS có thể được sử dụng để dự đoán vụ mùa cho từng cây trồng Nó có thể dự đoán bằng cách không chỉ xem xét khí hậu của vùng mà còn bằng cách theo dõi sự sinh trưởng và phát triển cây trồng, và bởi vậy sẽ dự đoán được
sự thành công của mùa vụ GIS có thể giúp tìm và thể hiện những thay đổi của cây trồng trong từng giai đoạn Ví dụ, nếu năm trước số liệu cho thấy cây trồng A phát triển rộng và cây trồng đã thành công trong nhiều năm trước đó, những số liệu này có thể được lưu trữ Nếu trong một vài mùa vụ cây trồng không phát triển tốt như trước, bằng cách sử dụng GIS có thể phân tích số liệu và tìm ra nguyên nhân của hiện tượng
đó
- Xây dựng mô hình quản lý rủi ro và đánh giá tổn thất ban đầu do rủi ro, xây dựng mô hình về quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng, bảo toàn nguồn tài nguyên đất cho sản xuất bền vững;
- Quy hoạch rừng, thủy sản, đất cho mục đích sản xuất hàng hoá và thương mại;
- Tập trung vào các kịch bản thay đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp như sự nóng lên của trái đất, hiệu ứng nhà kính, mực nước biển nâng cao…
- Phát triển hoạt động khí tượng nông nghiệp, chương trình quản lý sản xuất nông nghiệp và quản lý nước;
- Hệ thống hỗ trợ quyết định cho quy hoạch nông nghiệp và chuyển giao công nghệ;
Chuyên viên
Chính sách vàquản lý
GIS Thiết bị
Trang 21Với tính ưu việt của công nghệ GIS, ngành lâm nghiệp đã ứng dụng trong công tác quy hoạch và phát triển rừng, phục vụ công tác thiết kế, khai thác và trồng mới rừng Ngoài
ra người ta còn sử dụng GIS trong việc theo dõi, đánh giá diễn biến tài nguyên rừng, xác định vùng thích nghi cho cây lâm nghiệp
Xây dựng và sử dụng CSDL phục vụ phát triển nông nghiệp và Phát triển nông thôn của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp là một trong các ứng dụng GIS vào công tác quy hoạch nông nghiệp hiện nay Mục tiêu của đề tài là xây dựng CSDL nông nghiệp và nông thôn thống nhất tập trung trên nền GIS (thống nhất về khuôn dạng, hệ toạ độ và cấu trúc dữ liệu gồm cả dữ liệu địa lý và phi địa lý), gắn với các mô hình phân tích thông tin nhằm trợ giúp quá trình lập kế hoạch và quy hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững
Các loại dữ liệu phi không gian bao gồm: Tài nguyên đất, khí hậu nông nghiệp, tình hình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế sử dụng đất, thủy lợi, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, số liệu thống kê nông nghiệp (năng suất, sản lượng, diện tích một số cây trồng chính ), thông tin về sâu bệnh và đặc biệt là số liệu về dân số, lao động nông thôn, kinh tế hộ…
Trong quy hoạch đánh giá phân loại đất, GIS là công cụ trợ giúp nhằm thu thập dữ liệu chuyên đề, xử lý dữ liệu địa lý, tích hợp dữ liệu để xây dựng các bản đồ đơn vị đất, mô phỏng kết quả đánh giá đất thông qua các bản đồ thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất Mỗi đơn vị đất là một khu vực địa lý khác biệt với các tính chất về thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn khí hậu
Nghiên cứu khả năng thích ứng của cây trồng cần thu thập các số liệu sinh học và phi sinh học liên quan đến cây trồng được lựa chọn quy hoạch tại vùng đất đó Các yếu tố phi sinh học gồm: Số liệu đất được phân thành các mức thích nghi khác nhau, số liệu khí hậu (lượng mưa, sự phân bố mưa; nhiệt độ và tổng tích ôn theo thời gian sinh trưởng…) và các yếu tố sinh học như sâu bệnh, thời gian sinh trưởng và các yêu cầu sinh học của cây được xác định theo các mức thích ứng khác nhau
Yếu tố kinh tế xã hội của địa phương được xem xét và đưa vào phân tích để có kết luận tổng thể về tính thích ứng của cây theo quan điểm nền nông nghiệp hàng hoá hiện nay
1.2.2 Phần mềm đánh giá đất đai tự động ALES:
1.2.2.1 Giới thiệu:
Một số hệ thống khác như ứng dụng phần mềm ALES trong đánh giá đất đai định lượng kinh tế Theo Nguyễn Hữu Trí (1998) thì:
Trang 22Ngày nay, với sự tiến bộ không ngừng của công nghệ tin học đã cho ra đời hàng loạt các loại phần mềm máy tính có khả năng tính toán, xử lý số liệu rất cao có khả năng thay thế phần lớn hoạt động của con người Trước kia đánh giá đất đai làm bằng thủ công do đó tốn thời gian và độ chính xác không cao, nhưng ngày nay các công việc thủ công đã được máy tính hóa cho ra kết quả rất nhanh và có độ chính xác khá cao Hệ thống đánh giá đất tự động ALES là một trong các phần mềm nhằm phục vụ cho việc đánh giá thích nghi đất đai dễ dàng và tiết kiệm thời gian (David G Rossister và ctv, 1995)
Phần mềm đánh giá đất đai tự động ALES được nâng cấp từ version 1.0 năm 1989; version 3.0 năm 1990 và version năm 1995 Được xây dựng bởi David G Rossiter và ctv Trường Đại Học Cornell-USA, nhằm phục vụ cho việc đánh giá thích nghi đất đai Với chương trình này, người sử dụng hoàn toàn chủ động đưa số liệu vào máy tính theo yêu cầu của chương trình và sẽ cho ra kết quả rất nhanh bao gồm thông số sau: Thích nghi tự nhiên, ước đoán năng suất, phân tích các thông số kinh tế Mức độ chính xác tùy vào nguồn số liệu đưa vào Chương trình ALES chỉ là công cụ cho đánh giá thích nghi đất đai và qui trình thực hiện được chia làm hai bước chính sau (trình tự được áp dụng theo ALES version 4.5, 1995)
+ Đầu tư (Inputs): Gồm các vật tư, thuê lao động, sức kéo, phí cơ hội của vốn…Mỗi loại đầu vào cho biết đơn vị đo lường, mỗi kiểu sử dụng đất đai cần bao nhiêu, giá của mỗi dầu vào vào thời điểm hiện tại
+ Thu hồi (Outputs): Năng suất thu được tương ứng với thích S1, S2, S3 của từng kiểu
sử dụng đất đai nhân với giá của từng loại năng suất ở thời điểm hiện tại
+ Các thông số kinh tế (Economic parameters): Tỷ lệ chiết khấu đồng vốn (Discount Rate); phân cấp mức độ lợi nhuận (Gross Margin); phân cấp mức độ chiết khấu vốn lưu động (Discount Cash Flows)
b Đất đai:
Trang 23+ Các đặc tính đất đai: Là thuộc tính của đất nó có thể đo lường hoặc ước lượng để có thể phân biệt giữa các đơn vị bản đồ đất đai với nhau và được dùng để mô tả các chất lượng đất đai Mỗi đặc tính đất đai được ký hiệu (Code) riêng và chia ra nhiều cấp, mỗi cấp có yếu tố chẩn đoán và đơn vị đo lường (nếu có)
+ Các đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Units): Là vùng đất với những đặc tính riêng biệt được dùng như cơ sở cho đánh giá đất đai tại bản đồ đơn vị đất đai có được bằng cách sử dụng kỹ thuật GIS thông qua phần mềm IDRISIW để chồng lấp tạo bản
đồ đơn vị đất đai Bản đồ được xây dựng dưới dạng raster (pixel) Mỗi đơn vị bản đồ đất đai cần phải nhập vào: Tên, ký hiệu, yếu tố chẩn đoán của từng đặc tính đất đai
Bước 2: Xử lý số liệu
Kết quả sử dụng ALES trình bày dưới dạng bảng tổng hợp bao gồm thông số sau: + Thích nghi tự nhiên (Physical Suitability) được chia 4 cấp: S1, S2, S3 và không thích nghi N cho từng loại kiểu sử dụng đất đai cho từng đơn vị bản đồ đất đai
+ Chất lượng đất đai (land qualities) bao gồm thích nghi S1, S2, S3 và không thích nghi N cho từng chất lượng đất đai
+ Ước lượng năng suất (Predicted Yield) cho từng kiểu sử dụng đất đai
+ Lợi nhuận thuần (Gross Margin) của từng kiểu sử dụng đất đai
+ Tỉ số lợi nhuận/vốn lưu đầu tư (Benefit/Cost Ratio)
+ Giá trị hiện tại thuần (Net Present value)
+ Điểm hòa vốn (Internal Rate Of Return)
Đặc biệt với phần mềm ALES 4.0 trở lên kết quả tính toán được có thể nối kết với bản
đồ đơn vị đất đai được xây dựng từ phần mềm IDRISIW để tạo thành bản đồ phân bổ
khả năng thích nghi thông qua module ALISDRIS của phần mềm ALES
1.2.3 Một số phần mềm hổ trợ khác:
1.2.3.1 Phần mềm PRIMER:
♦ Các chức năng của PRIMER v5:
Theo Nguyễn Hữu Kiệt (2008) thì:
Phần mềm PRIMER có nhiều phiên bản, trong đề tài này sử dụng phiên bản 5 của PRIMER để phục vụ ứng dụng nghiên cứu Với phiên bản 5 phần mềm PRIMER có nhiều tính năng mới hơn so với các phiên bản cũ trước đây
♦ Loại tập tin đƣợc sử dụng trong PRIMER v5:
Trang 24Theo Nguyễn Hữu Kiệt (2008) thì: Dữ liệu PRIMER có thể đọc được và lưu trong những định dạng khác nhau Dữ liệu tốt hơn nên được lưu trên định dạng PRIMER thông thường để tiếp tục sử dụng các tập tinh như những thừa số Các định dạng khác thì có ích cho việc trao đổi dữ liệu với những chương trình khác
Các đuôi mở rộng của các tập tin tư liệu được sử dụng trong PRIMER v5:
.pri – Sample variable data
.sid –Similarity matices
.agg – Aggregation data
.ppl – Plot files
Theo K R Clarke & R N Gorley, 2001 PRIMER v5: User Manual/Tutorial
Để thực hiện phân tích nhóm dữ liệu các loài trước tiên đòi hỏi một ma trận đồng dạng Để thiết lập một ma trận đồng dạng phải tạo ra cửa sổ chủ động bằng cách click trên thanh nhỏ của nó (nếu cần) và chọn analysis > cluster, chú ý rằng Plot dendrogram kiểm tra cái hộp được rà soát Click Ok để xuất đồ thị dendrogram Nếu bấm vào những phân đoạn của thanh ngang, thao tác này sẽ xoay dedrgram chuyển động, có thể chọn nhiều tùy chọn của đồ thị bằng việc chọn Graph > properties từ danh mục chủ đề hoặc là shortcut, mang theo danh mục này bằng cách click chuột phải khi con chạy đi qua biểu đồ
♦ Tính năng phân nhóm trong PRIMER (Cluster):
Sự phân nhóm có thứ bậc
Phân tích tổng hợp (hay phân loại) nhằm mục đích tìm thấy những nhóm tự nhiên của các mẫu, như những mẫu trong một nhóm thì giống nhau nhiều hơn so với khác nhóm Theo sự phân loại của Cormack (1971), 5 phương pháp tổng hợp được phân biệt như sau:
- Phương pháp có thứ bậc: Những mẫu được nhóm lại và những nhóm này sẽ định dạng tổng hợp ở cấp độ thấp của sự đồng dạng
- Kỹ thuật lạc quan
- Phương pháp tìm kiếm hiện tại
- Kỹ thuật nhóm
- Kỹ thuật pha tạp
Phân nhóm tổng hợp có thứ bậc
Trang 25Kỹ thuật phân nhóm thường dùng nhất là phương pháp tổng hợp có thứ bậc Những phương pháp này xem ma trận đồng dạng như là điểm khởi đầu, bắt đầu với những đồng dạng mang tính hỗ tương cao nhất, sau đó dần dần hạ thấp xuống ở cấp độ tương đồng mà tại đó các nhóm đã được định dạng Tiến trình kết thúc với một nhóm đơn mà chứa tất cả các mẫu Những phương pháp phân chia có thứ bậc sẽ trình bày sự tiếp nối trái ngược, bắt đầu với một nhóm đơn và chia tách nó ra thành những nhóm nhỏ hơn
Nguồn: Nguyễn Hữu Kiệt (2008)
♦ Phân tích trên sự giống nhau:
Theo Nguyễn Hữu Kiệt (2008) thì: Kiểm tra ANOSIM dựa trên ma trận đồng dạng (similarity matrix), tương tự như kiểm tra ANOVA đơn biến 1 chiều và 2 chiều
- Thống kê 1 chiều (statistical test 1- way layout): Từ giả thiết vô hiệu hóa (H0) là không có sự khác biệt giữa các nhóm của mẫu
- Thống kê 2 chiều (statistical test 2- way crossed layout): Giả thiết vô hiệu hóa (H0) là không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức
1.2.3.2 Phần mềm IDIRISIW:
- IDIRISIW được xây dựng bởi Clark University USD (1987-1997) được sử dụng để
xử lý các ảnh viễn thám Đây là một hệ thống raster của GIS, thuận lợi của nó là để kiểm tra môi trường, quản lý tài nguyên thiên nhiên, thay đổi, phân tích các tiêu chuẩn
và các mục đích Trong quy hoạch đánh giá đất đai, IDIRISIW có khả năng thực hiện các công việc như: Số hóa bản đồ, phân cấp, gán giá trị, chồng lấp, tính diện tích, được thực hiện bằng các Module Reclass, Overlay, Rank, Mola, rất dễ dàng sử dụng trong Windows (Eastman, 1992)
- IDIRISIW for Window là phần mềm rất dễ sử dụng cho việc xử lý GIS, nó thể hiện code màu rất đa dạng (0-255màu)
Hình 1.2: Hình ảnh của một Dengrogram
Trang 26- Ngoài ra, IDIRISIW có khả năng tách từ một bản đồ tổ hợp thành các bản đồ đơn tính khác nhau và ngược lại từ các bản đồ đơn tính chồng lấp thành bản đồ tổ hợp IDIRISIW còn có khả năng phân loại bản đồ (Module Reclass) Đặc biệt IDIRISIW còn có khả năng xây dựng bản đồ đa mục tiêu theo nhu cầu quy hoạch và phát triển của địa phương nhờ vào các Module Rank, Mola
- Phần mềm IDRISIW xử lý bản đồ ở dạng raster các đối tượng trên bản đồ được phân biệt qua các cấp độ màu sắc Các code màu màu thể hiện rất phong phú và đa dạng từ (0-255 màu) Với các chức năng của GIS – IDRISIW ta có thể xây dựng bản đồ tổng hợp từ việc tổ hợp các bản đồ đơn tính, hoặc tách bản đồ tổng hợp thành các bản đồ thích nghi cho từng cơ cấu sử dụng đất
- Phần mềm IDRISIW có khả năng tạo ra các bản đồ thích nghi đất đai cho nhiều cơ cấu sử dụng đất đai khác nhau Từ bản đồ thích nghi theo cấp của các cơ cấu sử dụng đất đai theo từng bản đồ đơn vị đất đai bằng phương pháp EDIT và ASSIGN sẽ gán các giá trị thích nghi này cho bản đồ đơn vị đất đai để tạo bản đồ thích nghi theo từng cấp thể hiện dưới dạng code màu, bằng phương pháp gán giá trị IDRISIW có khả năng tạo ra hàng loạt các bản đồ thích nghi khác nhau, cho từng cơ cấu sử dụng đất một cách nhanh chóng Ngoài ra IDRISIW còn có khả năng phân cấp lại bản đồ bằng Module Analysis/ RECLASS để tạo các bản đồ thích nghi cho từng cơ cấu sử dụng đất đai khác nhau
- Với chức năng tính toán diện tích tự động cho phép ta tính được diện tích của các lớp thích nghi cho từng kiểu sử dụng đất đai một cách chính xác Ngoài ra, với chức năng phân loại thuộc tính người sử dụng có thể tạo ra các bản đồ chuyên đề theo từng mục đích và từng yêu cầu đặt ra Qua đó họ có thể hình thành nên các định hướng trước khi đưa ra các quyết định cụ thể So với phương pháp truyền thống trước đây, công việc này đòi hỏi nhiều thời gian, chi phí và công sức đôi khi kết quả đem lại không chính xác
- Phần mềm IDRISIW còn có khả năng kết nối với các phần mềm khác như: Mapinfo, ALES, EXCEL,… đặc biệt IDRISIW còn có chức năng mã hóa các thông tin dữ liệu ở dạng biểu bảng (phi hình học) sang dạng không gian (phi hình học) Phần mềm IDRISIW cũng đáp ứng được yêu cầu quản lý và lưu trữ bản đồ Bản đồ sau cũng có thể in ấn và trình bày
Trang 271.3 Phân loại độ phì nhiêu đất:
1.3.1 Khái niệm về độ phì nhiêu đất:
Theo Vilams (2000), độ phì nhiêu của đất là khả năng cung cấp cho cây về nước, thức
ăn khoáng và các yếu tố cần thiết khác (không khí, nhiệt độ …) để cho cây sinh trưởng
và phát triển bình thường
Theo Đỗ Ánh (2000), thuật ngữ độ phì nhiêu chỉ ra khả năng vốn có của đất cung cấp cho cây trồng đầy đủ có tỷ lệ thích hợp Độ phì nhiêu đất là cơ sở của tiềm năng sản xuất và là chủ đề được quan tâm nghiên cứu vì độ phì nhiêu đất là yếu tố quyết định năng suất cây trồng
Độ phì nhiêu của đất là khả năng của đất đảm bảo được những điều kiện thuận lợi thích hợp cho cây trồng đạt năng suất cao, ổn định và những quần xã sống trên đất, trong đất phát triển hài hòa, bền vững (Vũ Hữu Yêm và ctv, 1998)
Theo Trần Thành Lập (1999), đất phì nhiêu là đất có khả năng cho nhiều sản lượng cây trồng trong điều kiện canh tác tương đối thích hợp với mức đầu tư không quá lớn
và ngược lại Như vậy “Độ phì nhiêu đất đai” trên thực tế đã có từ lâu trước khi việc nghiên cứu đất trở thành khoa học thực thụ
Đất nào có khả năng thỏa mãn nhu cầu của cây trồng cao, cho năng suất cao thì được coi là phì nhiêu và ngược lại Độ phì nhiêu đất là chỉ tiêu định tính và định lượng của đất, nó là kết quả của sự phát triển đất trong thời gian dài Vì vậy, mỗi loại đất điều có
độ phì tự nhiên hay độ phì tiềm tàng khác nhau
1.3.2 Khái niệm phân loại đất:
Phân loại đất là sự sắp xếp đất có hệ thống vào từng nhóm theo những đặc tính quan trọng nhất, nguồn gốc và đặc điểm độ phì
Theo Tôn Thất Chiểu và Lê Thái Bạt (2000), nghiên cứu phân loại đất là nghiên cứu đánh giá từng loại hình riêng lẻ, xác lập mối quan hệ giữa cá thể với quần thể trong một phạm vi chung với những kiến thức tổng quát nhất về đất hay phân loại đất là phân loại lớp thổ nhưỡng khác với phân hạng định giá đất đai
Theo Võ Tòng Anh và Lê Quang Trí (2003), phân loại đất là để sắp xếp lại các kiến thức,
sự hiểu biết về đất, mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể được phân loại để nhớ các đặc tính của chúng, tìm mối quan hệ mới, và cuối cùng là sắp chúng theo mục đích sử dụng
1.3.3 Định nghĩa hệ thống FCC:
FCC là một hệ thống kỹ thuật cho việc phân nhóm đất dựa vào các trở ngại mà chúng hiện có ảnh hưởng đến việc quản lý nông nghiệp Nó dựa vào các thông số mang tính định lượng tầng đất mặt và tầng dưới trực tiếp có ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cây
Trang 28trồng, việc phân loại hầu hết được hình thành từ các cấp hạng của Soil Taxonomy hoặc
của chú dẫn bản đồ đất thế giới của FAO–UNESCO (Sanchez and Buol, 2003)
Ngoài ra FCC cũng là một hệ thống kỹ thuật phân loại cho các nhóm đất theo đặc tính lý hoá mà chúng có liên quan trong quản lý nông nghiệp trên cơ sở kết quả phân tích
29 biến thu nhập được thông qua phân tích đất, các biến này một phần là các biến độc lập được gồm lại thành 3 nhóm với các đặc tính liên quan nhau, như dựa trên trạng thái
đặc tính hữu cơ và đạm lân
1.3.4 Khái niệm WRB:
Khái niệm: “Hệ thống phân loại WRB” bao gồm sự kết hợp của một bộ các tiếp đầu ngữ như các hạn định (hoặc các bổ nghĩa) đồng nghĩa thêm vào cho các nhóm đất tham khảo, cho phép các đặc tính lý hóa và phân loại rất chính xác của các phẫu diện
đất chuyên biệt (FAO-UNESCO, 1998)
1.3.5 Hệ thống phân loại độ phì nhiêu đất lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
Theo Võ Quang Minh (2006), đây là hệ thống phân loại độ phì nhiêu đất được xây trên nền tảng nghiên cứu thực tế của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và cơ sở của hệ thống phân loại độ phì nhiêu đất FCC hiện tại
Bảng 1.3: Mối quan hệ giữa sa cấu các tầng đất và các yếu tố giới hạn với các tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán và vật liệu chẩn đoán của hệ thống phân loại WRB (1998) trên đất canh tác lúa
Hệ thống phân loại độ phì đất FCC được bổ sung bởi Võ Quang
Minh (2005) Tầng, đặc tính, vật liệu
chẩn đoán (WRB, 1998)
Ký
hiệu Đặc tính lý hóa học, hình thái học
Loại sa cấu tầng đất mặt 0-20 cm (Type)
C C : Sét (clayey) lớp đất mặt >35% sét
S S : Cát (sands) lớp đất mặt : cát pha thịt (loamy sands) và cát
Loại sa cấu tầng đất dưới tầng đất mặt 20-50 cm (Substrata Type)
C Sét lớp đất dưới lớp đất mặt : sa cấu giống như Type Tầng : Vertic
S Cát lớp đất dưới lớp đất mặt : sa cấu giống như Type
Loại sa cấu tầng đất dưới 50-100 cm (Subsoil)
C Sét lớp đất dưới: sa cấu giống như Type Tầng : Vertic
Trang 29S Không có trong hệ thống của Sanchez (2003)
Các điều kiện giới hạn (Modifiers)
a pH<4 ngoại trừ đất hữu cơ (O) Tầng :Sulfuric
Đặc tính : EpiOrthionic
Đặc : tính EndoOrthionic
c,c - Đất phèn hoạt động pH<3,5 sau khi để khô, có đốm Jarosite có
hue là 2.5Y hoặc vàng hơn
Tầng :Sulfuric Đặc tính : EndoOrthionic
f Có vật liệu sinh phèn và không có đốm Jarosite, pH H2O2 <1,5 Vật liệu : Sulfudic
Đặc tính : EpiProtothionic
f - Có vật liệu sinh phèn và không có đốm Jarosite, pH H2O2 <1,5 Vật liệu : Sulfudic
Đặc tính : EndoProtothionic
k Kali có thể trao đổi <0.2 cmolc kh-1 đất, hoặc Kali có thể trao
đổi <2% của tổng bazo, nếu tổng bazo la <10 cmolc kg
đất
Sa cấu là cát
p <0.2 mg P 2 O 5 /100g (Olsen) ; <1 mg P 2 O 5 /100g (Bray) Tầng Sulfuric
Đặc tính: Orthithionic
Trang 30i >4%Fe có thể trích bằng dithionite citrate trong lớp đất mặt,
hoặc có hue đỏ hơn 5 YR
Tầng: Plinthic Đặc tính: Rhodic
1.4 Tiến trình xác định các đặc tính, phân loại độ phì đất:
Theo Võ Quang Minh (2008) để có thể thực hiện được việc phân loại độ phì đất cho một phẫu diện đất tại một điểm khảo sát, tiến trình được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xác định độ sâu mỗi tầng đất theo trình tự từ 0-20cm, là tầng ảnh hưởng trực
tiếp đến sự phát triển của vùng rễ, 20-50cm là tầng có các đặc tính lý hóa học ảnh hưởng đến sự phát triển tối đa của vùng rễ, và từ 50-100cm là tầng có các quá trình lý hóa học ảnh hưởng đến sự phát triển gián tiếp của vùng rễ
Bước 2: Xác định loại thành phần cơ giới cho từng độ sâu tầng đất theo phân nhóm:
Cát (S), Thịt (L), Sét (C) Thành phần cơ giới được xác định qua kết quả phân tích
trong phòng thí nghiệm, hoặc qua nhận dạng ngoài đồng như hướng dẫn của FAO (1974) Việc xác định thành phần cơ giới nhằm đánh giá được khả năng giữ và thoát nước, cũng như giữ và cung cấp chất dinh dưỡng trong đất
Bước 3: Xác định các chỉ thị/yếu tố bổ sung, theo trật tự các đặc tính được yêu cầu đầu
tiên, khi không có dữ liệu cho yêu cầu đó thì sẽ xét đến cho yêu cầu tiếp theo, tuy nhiên sẽ giảm tính chính xác của đặc tính đó
- Xác định các đặc tính lý hóa học: Tương ứng với các yếu tố có được cho mỗi loại thành phần cơ giới ở các độ sâu khác nhau, bao gồm pHH2O, Ece, Al3+ bão hòa, CEC,
% Fe tự do, hàm lượng p dễ tiêu, chất hữu cơ, ESP, cation trao đổi, sự hiện diện của vật liệu sulfidic, fluvic Việc xác định các đặc tính lý hóa học nhằm đánh giá được các yếu tố độ phì ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, để có thể đề xuất các biện pháp sử dụng có hiệu quả
- Xác định các đặc tính hình thái, tầng chẩn đoán và đặc tính chẩn đoán
Bước 4: Xác định loại độ phì đất trên cơ sở tổng hợp độ sâu tầng đất, chỉ thị/yếu tố bổ
sung và thành phần cơ giới ở mỗi tầng đất Theo thứ tự của các tầng đất từ trên xuống dưới
Bước 5: Xác định các đặc tính và các trở ngại cho việc phát huy tiềm lực đất đai cho
mỗi chỉ thị/yếu tố bổ sung của mỗi loại độ phì đất Tương ứng với mỗi yếu tố độ phì, các trở ngại sẽ được xác định
Bước 6: Đề xuất các khuyến cáo sử dụng đất Từ việc xác định các trở ngại cho việc
phát huy tiềm lực đất đai, các khuyến cáo tương ứng được đề nghị, từ nhiều kết quả nghiên cứu trước đây trên đất lúa
Trang 311.5 Nhận định chung và định hướng nghiên cứu của luận án:
- Nhận định chung:
Đánh giá đất đai được thực hiện rất nhiều qua các kết quả nghiên cứu đánh giá thích nghi đất đai trên nhiều lĩnh vực, từng tiểu vùng sinh thái, từng loại đất ở cả nước và trên thế giới, đặc biệt phương pháp đánh giá đất đai của FAO (1976) được nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng thực hiện cho việc đánh giá nhằm phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai một cách hợp lý để đảm bảo sản xuất nông nghiệp bền vững Các nghiên cứu chỉ đánh giá đơn thuần ứng dụng của FAO vào đánh giá rồi cho ra kết quả trên thông số điều tra tự nhiên và kinh tế xã hội
+ Về quan điểm phương thức đánh giá đất đai , ngoài những quy trình độc lập riêng cho từng nhà nghiên cứu , còn có nhiều công trình nghi ên cứu đánh giá đất đai tổng
hơ ̣p từ các quy trình đánh giá đơn tính hoă ̣c tổng hợp các quy trình đánh giá đất đai khác nhau để đánh giá đất đai theo một mục tiêu nhất định
+ Một vài nghiên cứu có ứng dụng công nghệ thông tin như: Hệ thống thông tin địa lý GIS có phần mềm đánh giá đất đai tự động ALES, phần mềm IDRISW, phần mềm MAPINFO, phần mềm PRIMER, để cho việc đánh giá được rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí Tuy nhiên, trong các nghiên cứu chỉ mang tính độc lập từng phần không
có sự đánh giá trong cùng nghiên cứu hết tất cả các phương pháp để so sánh xem kết quả đánh giá nào tối ưu nhất với thực tế
+ Trong đánh giá đất đai định lượng kinh tế các nghiên cứu chỉ đánh giá trên thông số kinh tế được điều tra từ các mô hình sản xuất của người dân, với thang đánh giá theo FAO (1976) chưa tính được mức độ hợp lý từ một số phương pháp phân cấp yếu tố bởi
vì đây là phần quan trọng quyết định việc phân hạng thích nghi đất đai được chính xác hay không chính xác
+ Bên cạnh đó trong đánh giá đất đai định lượng kinh tế đa số các nghiên cứu khi đánh giá ra dựa vào các chỉ số điều tra ban đầu về tự nhiên, kinh tế - xã hội phục vụ trực tiếp cho quy hoạch sử dụng đất đai, kết quả đó chưa có kiểm chứng thực tế lại sau khi đánh giá với sự chấp nhận của người dân về mức độ thích nghi từ S1, S2, S3 và N, vì khi các nhà khoa học đánh giá chỉ dựa trên cơ sở lý thuyết những hiệu quả kinh tế trên từng mô hình sử dụng đất có được chấp nhận để học tiếp tục sản xuất và canh tác thuộc về người dân
+ Ngoài ra trong đánh giá phân loại độ phì các nghiên cứu trước đây chỉ đánh giá về đặc tính độ phì trên từng loại đất của từng vùng qua một số phương pháp như phân loại độ phì theo đặc tính lý hoá học được phân tích, phân loại độ phì theo phần mềm FCC
Trang 32- Định hướng nghiên cứu của luận án:
Từ các nhận định nêu trên định hướng nghiên cứu của luận án được đặc ra định hướng nghiên cứu của luận án như sau:
+ Chọn ra một vùng sinh thái để đánh giá thích nghi đất đai định tính (điều kiện tự nhiên) để làm cơ sở cho đánh giá đất đai định lượng kinh tế, trong đó có kết hợp nhiều phương pháp đánh giá như theo phương pháp đối chiếu và phương pháp dùng phần mềm đánh giá đất đai tự động ALES
+ Cần nghiên cứu đánh giá đất đai định lượng kinh tế trên cơ sở chuyển đổi từ định tính sang định lượng dựa vào phần trăm năng suất tối hảo theo thang đánh giá FAO (1976) Trong đó có phân cấp yếu tố theo phương pháp tính trung bình quy về công thức toán học và vẽ biểu đồ để tính mức độ và dùng thêm phần mềm phân nhóm PRIMER để làm cơ sở so sánh
+ Cần nghiên cứu thêm về điều tra kiểm chứng thực tế về sự chấp nhận của người dân
về mức phân cấp yếu tố từ S1, S2, S3 và N để phân hạng lại khả năng thích nghi từ đó
có thể so sánh các kết quả nghiên cứu định lượng trước và sau khi kiểm chứng trên từng phân cấp yếu tố để tính được phương pháp nào, thang đánh giá nào phù hợp với thực tế nhất
+ Ngoài ra cần thiết nghiên cứu kết quả đánh giá thích nghi tự nhiên với đánh giá tiềm năng độ phì có sự khác biệt như thế nào, so sánh và tìm ra sự khác biệt đó trên cơ sở đánh phân loại độ phì tiềm năng FCC của Võ Quang Minh (2006) phân loại độ phì ở ĐBSCL và Lê Thị Linh (2006) cho phân loại độ phì tiềm năng của tỉnh Trà Vinh xây dựng đánh giá đất đai định lượng về môi trường nhằm đánh giá thích nghi đất đai trên
cơ sở phân loại độ phì tiềm năng FCC
+ Trên cơ sở tất cả các vấn đề cần nghiên cứu trước ở trên xây dựng hoàn chỉnh các bước thực hiện đánh giá đất đai để hoàn thiện hơn kết quả đánh giá đất đai nhằm phục
vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai bền vững đáp ứng yêu cầu thực tế
Trang 33CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 2.1 Cơ sở lý thuyết:
2.1.1 Đánh giá đất đai phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất đai theo FAO (1976):
Đánh giá đất đai là cơ sở và nền tảng cho quy hoạch sử dụng đất đai, đánh giá đất đai bên cạnh việc liên quan đến các yếu tố thuận lợi và bất lợi của môi trường, kết quả này còn cung cấp rất nhiều thông tin liên quan đến tính chất của đất đai và những tác động của con người trong việc sử dụng đất đai Nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, đáp ứng được nhu cầu thực tế trong sử dụng đất đai kèm theo sự phát triển của xã hội, hạn chế sự suy thoái về đất đai trong tỉnh Trà Vinh thì việc đánh giá đất đai, xây dựng các chất lượng đất đai, đồng thời đánh giá được khả năng thích nghi của một số cơ cấu cây trồng trong tỉnh là rất cần thiết cho sự phát triển nền nông nghiệp của tỉnh
Trên cơ sở các nghiên cứu hiện có và các kết quả đánh giá thích nghi đất đai theo điều kiện tự nhiên hiện tại chưa đáp ứng cho nhu cầu sản xuất thực tế, không đạt mục đích cao Do thiếu thông tin, các nghiên cứu về chất lượng đất đai nhằm xác định các đặc tính đất đai phù hợp để tìm ra các đánh giá thích nghi đất đai chính xác nhưng với chất lượng đất đai hiện có để đáp ứng được nhu cầu đánh giá của vùng tìm ra các kiểu thích nghi thích hợp, đáp ứng được nhu cầu thực tế trong sản xuất nông nghiệp
Để đánh giá thích nghi hiện tại nhằm đảm bảo đủ cơ sở để đáp ứng cho quy hoạch sử dụng đất đai thì cần thiết phải nghiên cứu, đánh giá ở mức cao hơn nghiên cứu những vấn đề cụ thể như sau:
Cần xác định lại các chất lượng đất đai đưa ra yêu cầu sử dụng đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai thích hợp chính trong vùng nghiên cứu Trên cơ sở các kết quả đánh giá thích nghi tiến hành bố trí một số thí nghiệm về kiểu sử dụng đất đai để kiểm chứng mức độ thích nghi xem có phù hợp chưa Đồng thời điều tra kiểu sử dụng đất đai trên các đơn vị đánh giá đất đai đã được phân hạng thích nghi để so sách sự khác biệt, tìm
ra nguyên nhân, từ đó đưa ra hướng khắc phục cho phù hợp với tình hình thực tế trong vùng nghiên cứu
Tiến hành đánh giá đất đai định lượng với yếu tố về kinh tế xã hội (hay còn gọi là đánh giá thích nghi định lượng về kinh tế) dưới dạng kinh tế hay tài chính cho vùng nghiên cứu Từ đó so sánh các kết quả đánh giá thích nghi xác định các khoảng khác biệt giữa hai kết quả từ đó đưa ra kết luận và giải pháp khắc phục hợp lý đem lại hiệu quả kinh
tế cao
Trang 342.1.2 Đánh giá đất đai trên cơ sở phân loại độ phì tiềm năng FCC:
- Hệ thống phân loại và đánh giá độ phì nhiêu đất FCC là hệ thống phân loại độ phì đất đầu tiên được xây dựng bởi Buol và ctv (1975), Sanchez và ctv (1975),…Hệ thống này
đã được sử dụng rộng rãi, đặc biệt FAO đã sử dụng để phân loại, đánh giá độ phì nhiêu đất và khuyến cáo sử dụng đất dựa trên kết quả phân tích lý hóa học Sanchez và ctv (2003) đã đề xuất hệ thống phân loại khả năng độ phì FCC hoàn chỉnh đây là hệ thống
sử dụng rất có hiệu quả dựa vào các đặc tính lý hóa học, hình thái phẫu diện đất, xác định các trở ngại độ phì mà chúng hiện có ảnh hưởng đến quản lý nông nghiệp Hệ thống được Võ Quang Minh (2006) đã ứng dụng, cập nhật và bổ sung cho đánh giá tiềm năng độ phì đất thâm canh lúa Đồng bằng sông Cửu Long
- Trong nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng ứng dụng hệ thống phân loại tiềm năng độ phì FCC trong đánh giá độ phì nhiêu đất canh tác lúa tỉnh Trà Vinh tỷ lệ 1/100.000”:
Hệ thống đã ứng dụng đánh giá cho 25 điểm khảo sát được các loại độ phì khác nhau
với các trở ngại chính như đất hơi chua đến chua (a, a - ), bị nhiễm mặn từ ít đến nhiều (s, s - ), đất phèn hoạt động và có độc chất Fe/Al (c - ), sa cấu cát (S), đất bị cố định lân cao (i), thiếu chất hữu cơ (o) ở các độ sâu khác nhau đã cơ bản đánh giá được trong
thực tế khả năng bị mặn, bị phèn, thiếu lân Tuy nhiên vẫn còn một số trở ngại mà các
điểm khảo sát chưa được hệ thống đánh giá như thiếu kali (k), phèn tiềm tàng (f), kềm giữ chất dinh dưỡng kém (e) Đã tìm ra được sự tương quan giữa các yếu tố chẩn đoán
với các tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán của các loại đất Bản đồ đất và điểm khảo sát phân tích phẫu diện đất trên cơ sở hệ thống phân loại WRB là điểm cơ bản để tiến hành phân loại độ phì đất Xây dựng được bản chuyển đổi trên cơ
sở mối quan hệ giữa các tầng chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán với các đặc tính độ phì FCC cho đất canh tác lúa tỉnh Trà Vinh đã tìm ra được 12 loại độ phì khác nhau với
các trở ngại chính là đất chua ít đến chua (a, a - ), bị nhiễm mặn từ ít đến nhiều (s, s - ), kềm giữ chất dinh dưỡng kém (e), đất phèn hoạt động và có độc chất Fe/Al (c, c - ), thiếu lân (p), thiếu kali (k), đất phèn tiềm tàng có khả năng phóng thích độc chất Fe/Al khi khô (f, f - ), thiếu chất hữu cơ (o) từ đó đưa ra khuyến cáo sử dụng đất dựa trên các
trở ngại đã nêu, đã giúp ích cho các nhà làm công tác quy hoạch nắm được ưu, nhược điểm của độ phì nhiêu đất từ đó đưa ra kế hoạch thích hợp cho các cơ cấu cây trồng trong tương lai đặc biệt là cây lúa
Từ kết quả trên làm cơ sở tiến hành đánh giá đất đai định lượng môi trường cho huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh trên đất canh tác 2 vụ lúa
Qua các cơ sở lý thuyết nêu trên, đặc biệt tỉnh Trà Vinh quá trình tác động của con người tới điều kiện tự nhiên cho thấy hiệu quả sử dụng đất đai qua nhiều năm có xu hướng giảm với nhiều hình thức khác nhau chứng tỏ rằng trong đất có khả năng bị suy
Trang 35thoái, tài nguyên ngày càng khan hiếm Đó là lý do dẫn đến việc thực hiện đề tài:
“Đánh giá đất đai định tính, định lượng kinh tế phục vụ cho quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cấp huyện”
2.2 Nguồn số liệu thu thập và phương tiện:
2.2.1 Nguồn số liệu:
Nguồn số liệu thu thập từ các kết quả điều tra khảo sát thực tế từ các phiếu điều tra, các chương trình, các đề tài nghiên cứu của Khoa nông nghiệp và sinh học ứng dụng, các thí nghiệm tại vùng nghiên cứu Cụ thể như sau:
- Bản đồ đất tỉnh Trà Vinh phân loại theo FAO-UNESCO tỷ lệ 1/100.000
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Trà Vinh tỷ lệ 1/100.000
- Các bản đồ: Hiện trạng sử dụng đất, ranh giới hành chính huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tỷ lệ 1/100.000
- Các kết quả nghiên cứu về đánh giá đất đai định tính và định lượng ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
- Các nghiên cứu về phân loại độ phì tiềm năng FCC tại ĐBSCL và tỉnh Trà Vinh Tham khảo các tài liệu nghiên cứu trước đây và các phương pháp hướng dẫn sử dụng các phần mềm PRIMER, ALES ứng dụng trong đề tài; tài liệu về quy trình đánh giá đất đai phần phân hạng thích nghi đất đai định lượng kinh tế (FAO, 1976 và 2007)
- Phần mềm PRIMER, Word, Excel
- Hệ thống thông tin địa lý GIS, hệ thống phân loại độ phì tiềm năng FCC
- Các bản đồ đã được số hóa: Bản đồ ranh giới hành chính huyện Càng Long, bản đồ đất, bản đồ khả năng cấp nước, bản đồ độ sâu xuất hiện tầng sinh phèn, bản đồ độ dày tầng mặt
Trang 36cơ cấu sản xuất đa dạng trong tỉnh Trà Vinh
Hình 2.1: Bản đồ ranh giới hành chính huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
(Nguồn: Nguyễn Thị Mộng Chung, 2006)
2 Khảo sát, điều tra thu thập số liệu:
Để thực hiện đề tài, ngoài việc thu thập các số liệu thứ cấp của vùng nghiên cứu, đã tiến hành khảo sát thực tế về lĩnh vực điều kiện tự nhiên, hiện trạng sử dụng đất và kinh tế xã hội
Trang 372.1 Phương pháp khảo sát bổ sung bản đồ đất, sơ đồ nước, bản đồ hiện trạng cho huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh
Dựa vào bản đồ đất được khảo sát trước đây của Bộ môn Khoa học đất
&QLĐĐ cung cấp được xây dựng năm 2000, hệ thống phân loại đất được dựa vào tầng chẩn đoán và các đặc tính chẩn đoán theo hệ thống phân loại FAO/Unesco Bộ môn Khoa học đất phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Thủy Sản huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tiến hành khảo sát, kiểm tra và đánh giá lại đặc tính đất đai Khảo sát sự biến động cập nhật hoá bản đồ được thực hiện như sau:
- Điều tra thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan về phân loại đất, bản đồ đất được phân loại trước đây, thông tin về nước, hiện trạng sử dụng đất
- Xây dựng kế hoạch khảo sát điều tra dã ngoại, nghiên cứu quy luật hình thành các đơn vị đất, xu thế chuyển biến các đơn vị đất, hiện trạng sử dụng, chế độ canh tác và điều kiện nước, trên cơ sở đó tiến hành phân tuyến để khảo sát
- Xây dựng 5 tuyến khảo sát bổ sung với khoảng 136 điểm khoan và mô tả phẩu diện đất trong đó 10 phẫu diện điển hình (trong đó phân tích 03 phẫu diện chính đại diện) Sau khi phân bố các tuyến cắt trên bản đồ tiến hành khoan khảo sát,
mô tả phẫu diện đất theo đúng vị trí chấm trên bản đồ dã ngoại, sử dụng hệ thống định vị GPS để lấy toạ độ điểm khảo sát, mô tả theo FAO, lấy mẫu tiêu bản đất, lấy mẫu đất ở các độ sâu khác nhau
- Nội nghiệp kết quả dã ngoại: Chia tách các đơn vị đất trùng khớp với nhau theo đặc tính chung của từng loại đất, kết hợp với việc rà soát, so sánh, đánh giá kết quả dã ngoại với tư liệu khác để xây dựng bản đồ đất chỉnh sửa sơ bộ, xây dựng
sơ đồ nước và hiện trạng sử dụng trong vùng nghiên cứu Tiến hành chọn điểm khảo sát để lấy phẫu diện điển hình, phân tích mẫu đất kết hợp với việc cập nhật
hệ thống phân loại đất FAO/ Unesco
- Số hoá các loại bản đồ đã thu thập cùng với các dữ liệu thuộc tính: Chuyển các thông tin dữ liệu thu thập được ở trên từ dạng thông tin chủ yếu trên giấy (các bản đồ, bảng biểu, ) sang dạng thông tin mà máy tính có thể quản lý được Đây
là nội dung của công việc số hoá các bản đồ trên giấy và nhập các dữ liệu thuộc tính gắn với các điểm địa lý trên bản đồ đã số hoá
- Số hoá các bản đồ bằng máy quét Ao, tiến hành thực hiện các công đoạn: Chuẩn bị bản đồ, xác định điểm khống chế, giới hạn khu vực làm việc, tạo các lớp thông tin trên bản đồ Tất cả các bản đồ sau khi số hoá cần phải có độ chính xác cao và lưu lại trên máy tính dưới dạng các tập tin dạng raster
- Nhập các dư liệu thuộc tính qua các phần mềm xử lý
Trang 38- Giữa các phần mềm GIS và các phần mềm công cụ nói trên có thể trao đổi, giao diện với nhau dễ dàng nhờ các module chuyển đổi và các chức năng khác
- Đánh giá và hoàn chỉnh bản đồ đất, sơ đồ nước và hiện trạng sử dụng đất
2.2 Phương pháp khảo sát và phân tích về kinh tế xã hội trong mối tương quan với hệ thống canh tác huyện Càng Long
- Niên giám thống kê huyện Càng Long năm 2004 đến 2010
- Các dữ liệu điều tra cấp huyện, xã về điều kiện kinh tế xã hội (dân cư-lao động,
sử dụng đất, sản xuất ngư nông nghiệp, sản xuất khác, cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
cơ sở hạ tầng phúc lợi, bản phỏng vấn tổng hợp);
- Điều tra thu thập các tài liệu thứ cấp có liên quan về hiện trạng tại các cơ quan, chính quyền địa phương
- Xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp nông dân và tiến hành điều tra, phỏng vấn nông dân dựa theo bảng câu hỏi có sẳn
- Chọn 80 hộ điều tra theo mô hình dựa vào bản đồ hiện trạng, bản đồ phân vùng sinh thái
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn PRA (phỏng vấn từ nông hộ): Điều tra hiện trạng sử dụng đất, mô hình canh tác, các hệ thống sử dụng đất đai và hệ thống canh tác Điều tra các yếu tố về xã hội có liên quan đến sử dụng đất đai như: Lao động, kiến thức chuyên môn trong sản xuất, trình độ giáo dục, tập quán canh tác, nguồn lực nông hộ về các thiết bị phục vụ sản xuất, nguồn vốn và vốn
tự có, … Các yếu tố về xã hội được điều tra chi tiết khác nhau ở các Xã thuộc huyện Càng Long Tổng cộng có 30 cuộc phỏng vấn theo phương pháp PRA ở các xã trong Huyện để đánh giá và thu thập số liệu trên
- Điều tra về các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến đánh giá định lượng đất đai như: Chi phí đầu tư, tổng thu của từng kiểu sử dụng đất, lợi nhuận của từng kiểu sử dụng đất đai, các chi phí đầu tư hay thu nhập khác có từ các hoạt động sản xuất như sản phẩm phụ, chi phí cải tạo điều kiện tự nhiên, chi phí vận chuyển vàquản lý trong các năm 2009 và 2011 Các yếu tố về chỉ tiêu kinh tế được điều tra chi tiết khác nhau ở Huyện Tổng số phiếu điều tra nông hộ là 171 phiếu theo các mô hình sử dụng đất đai khác nhau Dựa vào mức độ đầu tư và năng suất đạt được cho từng kiểu sử dụng đất đai ta tính được lợi nhuận và tỷ số lợi nhuận/chi phí (B/C) cho các LUTs với từng cấp thích nghi (tính cho 1 ha/năm) Các chỉ tiêu trên được tính theo các công thức:
+ Lợi nhuận (NPV) = Doanh thu - Chi phí
Trang 39+ Hiệu quả đồng vốn B/C = Lợi nhuận/Chi phí
+ Doanh thu = Năng suất * Đơn giá
Phần II: Phương pháp phân hạng thích nghi đất đai theo điều kiện tự nhiên
Nghiên cứu về đánh giá đất đai được thực hiện theo phương pháp phân hạng thích nghi đất đai định tính theo FAO (1976) bằng đối chiếu và ứng dụng phương pháp đánh giá đất đai tự động của phần mềm ALES gồm các bước sau:
Bước 1: Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Mục đích cơ bản của đơn vị bản đồ đất đai được xác định trước và làm sao để đạt mức tối đa trong việc liên quan đến những thay đổi các kiểu sử dụng đất đai mà ta chưa dự đoán trước được trong đánh giá Thực sự những đơn vị đất đai này phải được ước đoán về cách quản lý đất đai, thực hành cải tạo đất đai và cũng như là những yêu cầu quản lý Trong nghiên cứu này được thực hiện như sau:
+ Khảo sát thực tế xây dựng các bản đồ đơn tính bao gồm: Bản đồ khả năng cấp nước, bản đồ độ dầy tầng canh tác, bản đồ độ sâu xuất hiện tầng sinh phèn tỉ lệ 1/25.000
+ Chuyển các bản đồ đơn tính (bản đồ khả năng cấp nước, độ sâu tầng sinh phèn,…) đã xây dựng và hoàn chỉnh trong phần mềm Mapinfo từ dạng vector sang dạng raster trong phần mềm IDRISIW
+ Từ các bản đồ đơn tính, tiến hành xây dựng bản đồ đơn vị đất đai thông qua việc chồng lắp các bản đồ đơn tính dưới dạng raster Ta thực hiện qua các bước sau:
Tổ hợp các bản đồ đơn tính lại với nhau bằng chức năng tổ hợp (CROSSTAB)
Do bản đồ vừa mới tổ hợp từ các bản đồ đơn tính có nhiều cấp thích nghi “0” không có trong đơn vị hành chánh của bản đồ Vì vậy, cần phải phân cấp lại bản
đồ đơn vị đất đai vừa mới tổ hợp từ các bản đồ đơn tính bằng chức năng phân cấp lại (RECLASS) hoặc chức năng ấn định (EDIT/ASSIGN)
+ Bản đồ đơn vị đất đai được xây dựng, mỗi đơn vị đất đai có hay không có các đặc tính (độ sâu tầng canh tác, độ sâu tầng phèn,…) các đơn vị đất đai được phân biệt với nhau bởi những code màu trên bản đồ
Bước 2: Phương pháp khảo sát chọn lọc kiểu sử dụng đất đai cho đánh giá đất đai
- Điều tra hiện trạng sử dụng đất, mô hình canh tác, các hệ thống sử dụng đất đai
và hệ thống canh tác trên các vùng sinh thái khác nhau có liên quan đến sản xuất nông nghiệp
Trang 40- Điều tra các yếu tố về xã hội có liên quan đến sử dụng đất đai như: Lao động, kiến thức chuyên môn trong sản xuất, trình độ giáo dục, tập quán canh tác, nguồn lực nông hộ về các thiết bị phục vụ sản xuất, nguồn vốn và vốn tự có Các yếu tố
về xã hội được điều tra chi tiết khác nhau ở các Xã thuộc huyện Càng Long
- Điều tra về các chỉ tiêu kinh tế liên quan đến đánh giá định lượng đất đai như: chi phí đầu tư, tổng thu của từng kiểu sử dụng đất, lợi nhuận của từng kiểu sử dụng đất đai, các chi phí đầu tư hay thu nhập khác có từ các hoạt động xản xuất như sản phẩm phụ, chi phí cải tạo điều kiện tự nhiên, chi phí vận chuyển và quản lý, … Các yếu tố về chỉ tiêu kinh tế được điều tra chi tiết khác nhau ở Huyện
- Điều tra thu thập về các kênh thị trường có liên quan đến các sản phẩm của các kiểu sử dụng đất đai ở cấp Huyện Tính biến động của các sản phẩm của các kiểu
sử dụng và dự báo thị trường sản phẩm trong tương lai ở cấp Huyện
Các kết quả điều tra này được sử dụng đến chọn lọc và mô tả kiểu sử dụng đất đai theo hướng dẫn của FAO (1976) được trình bày trong Bảng 2.1
Bảng 2.1: Các tiêu đề cho mô tả kiểu sử dụng đất đai (FAO, 1976)
Đặc trưng về sinh học: Cây
trồng
1 Loại sản phẩm: Cây trồng
Đặc trưng về kinh tế, xã hội:
2 Cường độ lao động: Nhân công
3 Cường độ vốn: Đầu tư cố định và hàng năm
Cơ sở hạ tầng 8 Những yêu cầu về cơ sở hạ tầng
Bước 3: Chuyển đổi những đặc tính đất đai thành các chất lượng đất đai cho các kiểu sử dụng đất đai
Chất lượng đất đai thì rất có ý nghĩa cho đánh giá thích nghi của cây trồng hay kiểu sử dụng đất đai, do đó cần thỏa đầy đủ 3 điều kiện sau:
i Chất lượng đất đai phải đáp ứng hiệu quả đối với cây trồng hay kiểu sử dụng đất đai đã được chọn lọc