1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập quy hoạch sử dụng đất

18 509 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 258 KB
File đính kèm BT QUY HOACH.rar (102 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặt vấn đềTổ chức Quy hoạch sử dụng đất đai cho 1 Xã nông nghiệp (A) với diện tích lúa chiếm gần 80% tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn Xã (tổng diện tích đất tự nhiên của Xã là 1.435,32ha).Định hướng phát triển của địa phươngĐối với từng cơ cấu sử dụng đất đai riêng biệtPhát triển vườn chuyên canh cây ăn trái với chất lượng cao, song song đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi gia súc, gia cầm.Đối với cây lúa: Trước hết là ổn định diện tích hiện có, chủ yếu là nâng cao chất lượng sản phẩm, thâm canh, tăng năng suất và giá trị kinh tế trên cùng một diện tích, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn sản xuất cây lúa với nuôi trồng thủy sản, áp dụng rộng rãi các mô hình kết hợp (VACR, VAC…) ở những khu vực có đủ điều kiện.

Trang 1

THÔNG TIN VÙNG NGHIÊN CỨU Đặt vấn đề

Tổ chức Quy hoạch sử dụng đất đai cho 1 Xã nông nghiệp (A) với diện tích lúa chiếm gần 80% tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn Xã (tổng diện tích đất tự nhiên của Xã

là 1.435,32ha)

Định hướng phát triển của địa phương

Đối với từng cơ cấu sử dụng đất đai riêng biệt

Phát triển vườn chuyên canh cây ăn trái với chất lượng cao, song song đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi gia súc, gia cầm

Đối với cây lúa: Trước hết là ổn định diện tích hiện có, chủ yếu là nâng cao chất lượng sản phẩm, thâm canh, tăng năng suất và giá trị kinh tế trên cùng một diện tích, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn sản xuất cây lúa với nuôi trồng thủy sản, áp dụng rộng rãi các mô hình kết hợp (VACR, VAC…)

ở những khu vực có đủ điều kiện

Đối với cây màu: Từng bước hình thành tập quán trồng màu, vừa giải quyết thời gian nông nhàn, vừa tận dụng diện tích đất vườn để trồng xen cây màu ngắn ngày

Đối với các hệ thống sử dụng đất đai

Đối với những vùng đất sâu trong nội đồng, không có điều kiện phát triển các mô hình kết hợp và khó khăn trong việc vận chuyển vật tư và sản phẩm nông nghiệp thì mô hình canh tác được ưu tiên là cơ cấu 3 vụ lúa

Đối với những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có điều kiện vận chuyển dễ dàng, cần xây dựng các mô hình đa canh, kết hợp nhiều thành phần sản xuất, phá thế độc canh cây lúa

Đối với những vùng cao, thoát thủy tốt: Cần phát triển mô hình lúa – màu

Đối với những vùng thấp, ngập vào mùa lũ: Cần phát triển mô hình lúa – thủy sản

Tham khảo tài liệu

Đặc điểm vùng nghiên cứu

Hiện trạng sản xuất nông nghiệp

Về cây lúa: Diện tích đất gieo trồng cả năm là 2.870ha, năng suất 4,42tấn/ha, sản lượng đạt 12.713tấn, đạt 120% so với kế hoạch So với cùng kỳ năm 2001, tăng 19,2% Nguyên nhân tăng là do chỉ đạo của chính quyền địa phương tăng cường sản xuất lúa vụ 3 Bên cạnh đó, do thời tiết thuận lợi, hệ thống thủy lợi được cải thiện, sử dụng giống mới và áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nên việc canh tác 3 vụ lúa gặp nhiều thuận lợi

Về cây màu: Diện tích trồng màu là 16ha đạt 80% kế hoạch và tăng 5.1ha so với cùng kỳ (2001), năng suất đạt 11 tấn/ha, sản lượng đạt 176 tấn Hiệu quả trồng màu cao hơn trồng lúa từ 2 – 5 lần trên một đơn vị diện tích Vì điều kiện Xã ở vùng lũ nên việc đưa màu xuống ruộng gặp khó khăn, chủ yếu là trồng xen vào vườn cây ăn trái và đất trống xung quanh nhà

Kinh tế vườn: Tổng diện tích vườn toàn xã là 231,34ha, trong đó vườn có hiệu quả là 207,24ha, đã cải tạo trong năm 12,6ha vườn kém hiệu quả và 11,5ha vườn tạp, đang chuyển mục đích từ ruộng lên vườn chuyên canh khoảng 3,1 ha

Trang 2

Chăn nuôi gia súc, gia cầm: Toàn Xã có 5.460 con heo, 120 con bò, 40.965 gia cầm Đàn gia cầm trong thời gian gần đây giảm về số lượng là do người dân canh tác lúa vụ 3 nên không có điều kiện để nuôi vịt thả đồng

Thủy sản: Kết hợp với trường Đại Học Cần Thơ trình diễn 4 điểm nuôi cá với diện tích là 2,7ha Ngoài ra, Xã còn phát động nhân dân tự phát triển nuôi thủy sản 50,65ha; trong đó

có 14 hộ ươn cá giống với 6,45ha

Nhận xét tổng quát vùng nghiên cứu:

Điều kiện tự nhiên của xã nghiên cứu khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp do:

Việc cung cấp nước tưới tương đối thuận lợi do nước ngọt quanh năm;

Độ sâu xuất hiện tầng sinh phèn khá sâu;

Nguy hại do ngập lũ không cao (do đê bao khép kín)

Giới hạn chủ yếu của vùng là:

Một phần diện tích bị ngập lũ sâu; Độ dày tầng canh tác cạn Tuy nhiên, những giới hạn

về điều kiện tự nhiên không quá nghiêm trọng và có thể khắc phục được

Về mặt kinh tế - xã hội, đây là một xã với diện tích lúa chiếm gần 80% diện tích đất nông nghiệp Mặc dù điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho việc phát triển nhiều dạng hình sử dụng đất nhưng người dân gần như độc canh cây lúa, vườn cây lâu năm đa số là vườn tạp với hiệu quả kinh tế thấp Trong xã còn có mô hình ươn cá bột, mô hình này đang được nhân rộng vì thích nghi với điều kiện tự nhiên địa phương và mang lại lợi nhuận kinh tế cao Ngoài ra, mật độ dân số cao, quá trình giải quyết việc làm cho người lao động ở địa phương còn nhiều hạn chế, mức sống và thu nhập của người nhìn chung dân còn thấp Những vấn đề trên cho thấy cần phải tiến hành đánh giá tổng hợp lại nguồn tài nguyên đất đai và các mô hình sản xuất nông nghiệp trên toàn xã Từ đó, xác định định hướng sử dụng và quy hoạch sử dụng đất đai sao cho hợp lý hơn, khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, mang tính khả thi và gần gủi với người dân, đảm bảo tính hiệu quả và bền vững

Chọn lọc và mô tả kiểu sử dụng đất đai

Hiện trạng sử dụng đất đai

Đây là một xã có thế mạnh về phát triển cây lúa; do đó, cơ cấu 03 vụ lúa là cơ cấu chính trong xã Bên cạnh đó, vườn cây ăn trái cũng đã được phát triển khá lâu đời ở địa phương Tuy nhiên, do giá cả của các loại trái cây trong những năm gần đây không được

ổn định nên người dân đã không tập trung vào việc canh tác và phát triển vườn cây ăn trái Do vậy, đa số vườn cây ăn trái trong vùng là vườn tạp với năng suất và chất lượng nông sản thấp Ngoài ra, màu cũng là một loại cây trồng cho thu nhập thêm Màu được trồng chủ yếu là trên các bờ ruộng hoặc trồng xen trong vườn cây ăn trái

Trong thời gian gần đây, do phong trào nuôi trồng thủy sản phát triển khá mạnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung nên trên địa bàn vùng nghiên cứu đã xuất hiện mô hình nuôi cá thịt và nuôi cá bột (đảm bảo nguồn cá giống phục vụ cho mô hình nuôi cá thịt) Bước đầu cho thấy đây là mô hình khá ổn định, mang lại lợi nhuận cao cho người dân Tuy nhiên, về lâu dài, nếu mô hình nuôi cá bột phát triển quá nhiều, nguồn cung cá bột sẽ vượt cầu và sẽ gây ra nhiều khó khăn cho đời sống kinh tế của người dân Do vậy, nhà nước cần phải quy hoạch vùng nuôi cá bột cụ thể để vừa không bỏ lỡ cơ hội phát triển kinh tế, vừa không gây ra tình trạng phát triển không cân đối dẫn đến thua lỗ

Trang 3

Về mặt phân bố không gian:

+ Vườn cây ăn trái nằm tập trung dọc theo các đường giao thông Nằm xen trong vườn cây ăn trái là những lô đất trồng màu với qui mô nhỏ

+ Cơ cấu 03 vụ lúa được phân bố ở các vùng sâu trong nội đồng

+ Việc nuôi cá thịt và cá bột cũng được phát triển ở những vùng ven đường giao thông do việc vận chuyển sản phẩm cần được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi

Chọn lọc kiểu sử dụng đất đai và mô tả các kiểu sử dụng được chọn

Dựa vào định hướng phát triển và điều kiện về tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa phương, 06 kiểu sử dụng đất đai có triển vọng được chọn lọc để đánh giá đất đai

LUT1: 3 vụ lúa (Đông Xuân – Hè Thu – Thu Đông)

Đây là cơ cấu canh tác truyền thống và chiếm diện tích lớn nhất trên địa bàn xã

Năng suất:

+ Vụ Đông Xuân: Bình quân 6,38 tấn/ha

+ Vụ Hè Thu: Bình quân 4,8 tấn/ha

+ Vụ Thu Đông: Bình quân 2,92 tấn/ha

Giống: Là một trong những yếu tố quan trọng nhằm tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, một số giống lúa cho năng suất cao, chất lượng gạo tốt, thích nghi rộng, thị trường ưa chuộng và có khả năng xuất khẩu thì giá lại cao Đa số nông dân trong Xã sử dụng giống lúa do vụ trước để lại Hiệu quả kinh tế của cơ cấu 03 vụ lúa được thể hiện chi tiết ở Bảng 1

Bảng 1: Hiệu quả kinh tế cơ cấu canh tác 03 vụ lúa

(đ/công) Tổng Chi (đ/công) Lợi nhuận (đ/công) Hiệu quả đồng vốn (B/C)

Khả năng và thời gian thu hồi vốn: Thông thường, giá lúa ngay sau khi thu hoạch thường thấp, nhưng phần lớn người nông dân phải bán lúa ngay để thanh toán chi phí đầu tư hoặc trang trải chi phí cho vụ tiếp theo Chỉ có một số nông hộ có khả năng về vốn và có điều kiện về tồn trữ sản phẩm thì mới có thể để lúa lại đợi giá lúa tăng lên

Rủi ro về năng suất và khả năng nâng cao năng suất: Năng suất đối với cơ cấu 03 vụ lúa tương đối ổn định và khá cao, ít biến đổi do thời tiết khá thuận lợi và có sự tập trung cải tạo hệ thống thủy lợi của chính quyền địa phương

LUT2: 02 vụ lúa + 01 vụ cá (Lúa Đông Xuân – Lúa Hè Thu – Cá)

Tập trung chủ yếu ở những vùng không bị ngập Đây là cơ cấu không thể canh tac được ở một số nơi gặp khó khăn về vấn đề nước (ví dụ: đê bao tập thể), ruộng xa nhà không quản

lý được

Trang 4

Năng suất lúa:

+ Năng suất vụ Đông Xuân: Bình quân 6,38 tấn/ha

+ Năng suất vụ Hè Thu: Bình quân 4,8 tấn/ha

Giống:

+ Giống lúa: Do người dân sử dụng giống từ vụ trước để lại nên hạt giống có chất lượng kém, lẫn tạp nhiều

+ Cá: Cá giống được mua từ các trại cá giống ở địa phương, một số hộ lấy nguồn cá giống từ tự nhiên

Thu hoạch và tồn trữ: Phần lớn hộ nông dân sau khi thu hoạch chỉ tồn trữ lại một phần để dùng trong gia đình, phần lớn còn lại được bán cho các tư thương

Trình độ thâm canh: Đây là cơ cấu khá mới trong vùng nghiên cứu và chỉ có một số tiểu vùng có thể thực hiện được cơ cấu này Do vậy, người dân trong vùng chưa thật sự hiểu

rõ được qui trình sản xuất

Một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của cơ cấu được thể hiện trong Bảng 2

Bảng 2: Hiệu quả kinh tế cơ cấu canh tác 02 vụ lúa + 01 vụ cá

Thời vụ Tổng thu

(đ/công)

Tổng chi (đ/công)

Lợi nhuận(đ/công)

Hiệu quả đồng vốn (B/C)

Lúa Đông

Khả năng và thời gian thu hồi vốn: Tương tự cơ cấu 03 vụ lúa, thời gian thu hồi vốn tương đối chậm hơn so với cơ cấu chuyên màu và cá bột

Rủi ro năng suất và khả năng nâng cao năng suất: Năng suất của 02 vụ lúa tương đối cao

và ổn định Riêng đối với vụ cá, năng suất có thể được nâng lên nếu được đầu tư đúng mức

Về mặt xã hội, đây là cơ cấu được chính quyền địa phương chú trọng phát triển đối với những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi

LUT3: Chuyên màu

Do vùng nghiên cứu nằm trong vùng lũ nên việc đưa màu xuống ruộng gặp nhiều khó khăn Chủ yếu là màu được trồng xen vào vườn nhằm tăng thêm thu nhập cho người dân

và giải quyết vấn đề lao động nông nhàn

Trình độ thâm canh: Diện tích trồng màu nhỏ, mô hình trồng màu chỉ mới phát triển, chưa thật sự phổ biến

Một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của cơ cấu được thể hiện trong Bảng 3

Trang 5

Bảng 3: Hiệu quả kinh tế cơ cấu chuyên màu

Thời vụ Tổng thu

(đ/công)

Tổng chi (đ/công)

Lợi nhuận (đ/công)

Hiệu quả đồng vốn (B/C)

Khả năng và thời gian thu hồi vốn: Thời gian thu hồi vốn khá nhanh do thời gian thu hoạch ngắn

Rủi ro về năng suất: Có rủi ro về năng suất khá lớn do bị sâu bệnh tấn công nhiều Hơn nữa, đây là cơ cấu khá nhạy cảm đối với những biến động của thời tiết

Về mặt xã hội, chính quyền địa phương đưa vào mục tiêu phát triển nông nghiệp của địa

là từng bước hình thành tập quán trồng màu trong người dân, vừa giải quyết lao động nông nhàn, vừa tận dụng đất vườn để trồng xen canh cây ngắn ngày

Người dân trong vùng chưa có tập quán canh tác màu do đó việc phổ biến cơ cấu này là vấn đề khó khăn Tuy nhiên, khi đã có đê bao khép kín thì diện tích trồng màu của xã sẽ tăng lên đáng kể và góp phần làm đa dạng sản phẩm nông sản và tạo nguồn thu nhập thêm cho nông hộ

LUT4: Nuôi cá thịt

Chỉ tập trung ở một vài vùng (phía Bắc) trong xã với điều kiện tự nhiên thuận lợi

Một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của cơ cấu được thể hiện trong bảng 4

Bảng 4: Hiệu quả kinh tế cơ cấu nuôi cá thịt

Thời vụ Tổng thu

(đ/công) Tổng chi (đ/công) Lợi nhuận (đ/công) Hiệu quả đồng vốn (B/C)

Khả năng và thời gian thu hồi vốn: Nuôi cá thịt 06 tháng thu hoạch một lần nhưng lợi thế hơn cá bột là sau khi thu hoạch không cần cải tạo ao nuôi và có thể bắt đầu vụ mới

Rủi ro về năng suất: So với ương cá bột thì mô hình nuôi cá thịt có rủi ro thấp hơn nhiều

Về mặt xã hội: Căn cứ vào nghị quyết đảng bộ Xã, vùng nghiên cứu có điều kiện thuận lợi cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế về nuôi trồng thủy sản và phát động người dân phát triển diện tích nuôi cá

Tập quán canh tác: Người dân đã có tập quán nuôi cá thịt làm nguồn thức ăn quanh năm cho gia đình

LUT5: Ương cá bột

Tương tự như mô hình cá thịt, mô hình này chỉ tập trung ở một vài vùng (phía Bắc) trong

xã với điều kiện tự nhiên thuận lợi

Tuy nhiên khác với mô hình nuôi cá thịt, sau khi thu hoạch một đợt nuôi cá bột, cần phải tiến hành cải tạo ao nuôi

Trang 6

Trình độ thâm canh: Tuy không có kinh nghiệm lâu năm nhưng người dân đã đút kết được khá nhiều kinh nghiệm thông qua các vụ nuôi trước và đã có những cải thiện đáng

kể về kỹ thuật nuôi

Một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của cơ cấu được thể hiện trong Bảng 5

Bảng 5: Hiệu quả kinh tế cơ cấu ương cá bột

Thời vụ Tổng thu

(đ/công) Tổng chi (đ/công) Lợi nhuận (đ/công) Hiệu quả đồng vốn (B/C)

Khả năng và thời gian thu hồi vốn: Thông qua mô hình nuôi cá bột, người dân có thể thu hồi vốn nhanh

Rủi ro về năng suất: Do khá nhạy cảm với những biến động của thời tiết và chất lượng nguồn nước đầu vào nên ương cá bột là mô hình có khá nhiều rủi ro

Đây là cơ cấu đòi hỏi đồng vốn khá cao, do đó, việc hỗ trợ về vốn từ phía nhà nước là điều rất cần thiết Bên cạnh đó, do đây là mô hình canh tác mới, mặc dù người dân đã có thể đúc kết được kinh nghiệm qua thời gian sản xuất nhưng vẫn cần rất nhiều sự hỗ trợ từ phía nhà nước để người dân có thể nuôi cá đạt hiệu quả cao và ổn định

Về mặt xã hội: Theo định hướng của chính quyền địa phương thì đây là một cơ cấu mang lại lợi nhuận cao cần được nhân rộng

LUT6: Cây ăn trái

Vườn cây ăn trái được xen lẫn vào các khu dân cư và phân bố rộng khắp trong Xã

Do hiện tại đa số các vườn cây ăn trái đều là vườn tạp nên người dân ít đầu tư thuốc bảo

vệ thực vật cũng như phân bón cho vườn cây ăn trái Riêng đối với phân bón, đa phần người dân dùng phân vô cơ

Mặc dù vườn cây ăn trái đã được phát triển khá lâu đời trong vùng nghiên cứu nhưng đa phần người dân thiếu kiến thức về việc phát triển vườn chuyên canh, đa số diện tích đất vườn hiện tại là vườn tạp

Một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của cơ cấu được thể hiện trong bảng 6

Bảng 6: Hiệu quả kinh tế cơ cấu chuyên canh cây ăn trái

Thời vụ Tổng thu

(đ/công)

Tổng chi (đ/công)

Lợi nhuận (đ/công)

Hiệu quả đồng vốn (B/C)

Khả năng và thời gian thu hồi vốn: Đây là cơ cấu có thời gian thu hồi vốn chậm và chi phí đầu tư ban đầu khá cao

Về mặt xã hội: Chính quyền xã đẩy mạnh công tác cải tạo vườn tạp, vườn kém hiệu quả

để nâng cao chất lượng vườn cây ăn trái và nâng dần diện tích vườn chuyên canh có giá trị kinh tế cao

Trang 7

Hỗ trợ kỹ thuật từ phía nhà nước: Với định hướng phát triển vườn chuyên canh đặc sản nên sắp tới chính quyền xã sẽ tổ chức các lớp tập huấn giúp người dân nâng cao chất lượng vườn chuyên canh

Giá cả và thị trường tiêu thụ: Chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, giá cả còn bấp bênh

Kết quả điều tra nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân PRA (Participatory Rural Appraisal)

Vùng nghiên cứu nằm trong vùng có nước ngọt quanh năm, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản (nước ngọt) Tuy nhiên, trong vùng nghiên cứu có một số vùng bị ngập sâu vào mùa lũ do đê bao chưa hoàn chỉnh Ngoài ra, do hệ thống kênh rạchg thủy lợi chưa hoàn chỉnh nên việc thoát nước, xổ phèn cũng gặp không ít khó khăn

Giá cả nông sản thấp và bấp bênh là vấn đề nan giải của nhiều người dân địa phương Những hỗ trợ của nhà nước cho phát triển nông nghiệp ở địa phương không đồng đều cho các ấp trong xã và giữa người dân với nhau

Mặc dù biết rằng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới (sạ hàng, biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPM, giống cây trồng – vật nuôi mới, xây dựng các hệ thống canh tác mang tính tổng hợp – bền vững…) vào trong sản xuất nông nghiệp sẽ mang lại lợi nhuận cao và bền vững nhưng do người dân không có vốn đầu tư nên không thể chuyển đổi kỹ thuật canh tác; mặt khác, một bộ phận người dân chưa nắm rõ hiệu quả của các biện pháp

kỹ thuật mới nên để thuyết phục người dân áp dụng các biện pháp kỹ thuật này là rất khó Ngoài việc không có vốn đầu tư để áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào trong sản xuất, trình độ học vấn và trình độ khoa học - kỹ thuật của người dân còn thấp nên cũng là một rào cản lớn cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp Một trong những lợi thế của người nông dân địa phương là người dân khá cởi mở đối với các tiến bộ khoa học mới (nếu như các tiến bộ này mang lại hiệu quả trong sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân) Ngoài ra, người dân cũng rất sẵng sàng

để học hỏi các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới khi địa phương tổ chức các đợt tập huấn

Một vài nguyên nhân lý giải cho việc năng suất lúa thấp là:

+ Chất lượng lúa giống không cao

+ Vật tư nông nghiệp (phân bón, thuốc trừ sâu…) không được dùng đầy đủ trong điều kiện hạn chế về tài chính của người dân địa phương

+ Kỹ thuật canh tác cũng là một trong những yếu tố góp phần làm hạn chế năng suất trồng lúa tại địa phương

+ Mặc dù hệ thống thuỷ lợi đã được củng cố những vẫn chưa hoàn chỉnh và đây cũng là nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của các hoạt động sản xuất nông nghiệp nói chung + Thời tiết thay đổi thất thường trong những năm gần đây đã làm cho sâu bệnh phát triển nhiều, làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây lúa

Chất lượng môi trường mặc dù chưa là vấn đề cần phải thật sự quan tâm trong giai đoạn hiện nay nhưng người dân địa phương đã bắt đầu chú ý đến khi chất lượng môi trường có chiều hướng ngày càng suy giảm Ô nhiễm nguồn nước do các hoạt động chăn nuôi và canh tác lúa, giảm sự đa dạng sinh học đối với các loài thiên địch, nguy cơ suy thoái đất

do làm lúa vụ 03… là các vấn đề mà người dân địa phương đang thật sự quan tâm

Trang 8

Một vài vấn đề khác cần được quan tâm như sức khỏe cộng đồng, số khẩu trong nông hộ,

tỷ lệ thất nghiệp cao, nạn trộm cắp…

Mặc dù lũ là yếu tố gây trở ngại cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhưng do có đê bao khá tốt ở một số khu vực và do người dân đã tìm ra được biện pháp “sống chung với lũ” nên đây không còn là vấn đề thực sự quan trọng nữa Tuy nhiên, đối với những năm đỉnh

lũ thật sự cao thì các hoạt động sản xuất nông nghiệp tại địa phương có thể bị đe dọa

Đánh giá khả năng lựa chọn: Phân tích kinh tế - xã hội, môi trường

Đánh giá tác động môi trường

Kết quả đánh giá thích nghi đất đai sẽ được phân hạng là không thích nghi nếu kiểu sử dụng đất đai tiếp tục làm suy thoái hoặc hủy hoại tài nguyên đất đai Cần có sự so sánh giữa các khả năng sử dụng đất đai dưới những hệ thống quản lý khác nhau trên cơ sở chất lượng cuộc sống của toàn thể cộng đồng của vùng nghiên cứu và đồng thời cũng chú ý đến những tác động nội tại và ngoại tại trong vùng nghiên cứu và những vùng lân cận xung quanh

Thông thường, những tác động của một vài hoạt động chuyên biệt có thể xảy ra trong một khoảng thời gian dài hoặc xảy ra trong nhiều giai đoạn khác nhau từ một vài nguyên nhân ban đầu

Một vài ảnh hưởng về mặt môi trường cần được quan tâm:

+ Nguồn tài nguyên đất và nước

+ Nguồn tài nguyên rừng và đồng cỏ

+ Chất lượng cuộc sống của các sinh vật hoang dã

+ Giá trị cảnh quan, khu nghĩ ngơi du lịch và những hoạt động vui chơi, giải trí khác

Phân tích kinh tế

Bước 5 trong qui trình đánh giá đất đai theo FAO chỉ cho ra mức độ thích nghi định tính (S1, S2, S3, N) của từng kiểu sử dụng đất đai đối với các đơn vị bản đồ đất đai Mặc dù kết quả của bước 5 đã thể hiện phần nào hiệu quả kinh tế của từng kiểu sử dụng đất đai trên từng đơn vị bản đồ đất đai nhưng hiệu quả kinh tế vẫn chưa được phản ánh một cách chi tiết và rõ ràng Do đó, những số liệu kinh tế về đầu tư, lợi nhuận… cần được làm rõ trong bước này

Trong phân tích về khía cạnh kinh tế, 2 vấn đề cần được làm rõ:

+ Phân tích tài chính: Cho thấy được khả năng lợi nhuận theo quan điểm của người dân

địa phương và các chủ thể khác có liên quan Phương pháp này được thực hiện bằng cách

so sánh lợi nhuận đạt được thông qua từng kiểu sử dụng đất đai và mức độ đầu tư cho từng kiểu sử dụng đất đai đó

+ Phân tích kinh tế: Ước đoán giá trị của một hệ thống sử dụng đất đai trong cộng đồng.

Đồng thời cũng tính đến những hậu quả về mặt môi trường do các kiểu sử dụng đất đai

đó mang lại; ví dụ: sự giảm lắng đọng phù sa trên sông, mức độ mặn hóa trên một vùng nhất định…

Tuy vậy, phương pháp phân tích kinh tế cũng có nhiều hạn chế; do vậy, cần nhiều nghiên cứu để giảm thiểu những hạn chế này và cần kết hợp phương pháp phân tích kinh tế với phương pháp đánh giá tác động môi trường và phương pháp phân tích xã hội

Trang 9

Phân tích xã hội

Phân tích kinh tế không phản ánh tất cả mong ước của cộng đồng địa phương

Không có một qui trình cố định trong việc đánh giá tác động xã hội khi có sự thay đổi trong quyết định sử dụng đất đai Phân tích tác động xã hội là nghiên cứu những ảnh hưởng của sự thay đổi sử dụng đất đai đối với những nhóm dân cư khác nhau Đặc biệt chú ý đến phụ nữ, dân tộc ít người, và nhóm những người nghèo trong cộng đồng

Một vài yếu tố về mặt xã hội cần quan tâm như:

+ Dân số

+ Những nhu cầu cơ bản của cộng đồng dân cư: An ninh lương thực, giảm rủi ro…

+ Việc làm và cơ hội thu nhập

+ Quyền sử dụng đất đai và các quyền lợi theo tập quán

+ Cấu trúc hành chánh và pháp luật

+ Ổn định cộng đồng

Chọn lọc ra các khả năng tốt nhất

Để đưa ra quyết định cho một đề án qui hoạch sử dụng đất đai, cần có sự phối hợp giữa nhà quy hoạch và chính quyền địa phương Nhà quy hoạch thực hiện việc tổng hợp và tóm lược những vấn đề quan trọng, chủ yếu là kết quả của các bước thực hiện Chính quyền sẽ quyết định chọn lựa những khả năng sử dụng đất đai để phù hợp với mục tiêu ban đầu

Để có thể đưa ra sự lựa chọn tốt nhất, cần phải tổng hợp ý kiến đề nghị và giải quyết các mâu thuẫn (nếu có) Để làm được điều này, nhà quy hoạch có thể:

+ Gom nhóm tất cả các ý kiến theo sử dụng đất đai, người sử dụng đất đai, hay theo nhóm các sản phẩm nông nghiệp được sản xuất

+ Chỉ định các phần góp ý cho các bộ phận trong nhóm qui hoạch có liên quan

+ Liệt kê ra các thay đổi theo đề nghị trong kế hoạch sơ thảo

+ Đệ trình các ý kiến đóng góp, những giải pháp đáp ứng và những đề nghị thay đổi cho các nhà lãnh đạo Các nhà lãnh đạo phải quyết định: Những giải pháp theo các ý kiến đóng góp có đầy đủ chưa? Với những góp ý nào cần phải thay đổi, sửa chữa và đưa ra kế hoạch qui hoạch

Đánh giá khả năng lựa chọn: Phân tích kinh tế - xã hội, môi trường

Phân tích các đặc tính về kinh tế - xã hội và môi trường của các kiểu sử dụng đất đai dựa vào một số chỉ tiêu sau:

Các chỉ tiêu về kinh tế: Nhu cầu về vốn; Lợi nhuận đạt được; Hiệu quả đồng vốn (B/C);

Thị trường sản phẩm; Một số chỉ tiêu khác

Các chỉ tiêu về xã hội: Nhu cầu lao động; Hỗ trợ kỹ thuật của các ban ngành; Tập quán

canh tác; Một số chỉ tiêu khác

Các chỉ tiêu về môi trường: Chất lượng đất; Chất lượng nước; Đa dạng sinh học; Một số

chỉ tiêu khác

So sánh các chỉ tiêu này giữa các kiểu sử dụng đất đai với nhau

Trang 10

PHẦN THỰC HÀNH BÀI 1 THIẾT LẬP MỤC TIÊU VÀ CÁC TƯ LIỆU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

a Mục đích

- Giúp sinh viên xác định được mục tiêu của công việc sắp thực hiện thông qua các tài liệu tham khảo đã có và những tài liệu bổ sung khác

- Xác định được những dạng tài liệu có liên quan và nguồn cung cấp sốliệu

b Yêu cầu

- Sinh viên phải có khả năng tổng hợp những thông tin được cung cấp để xác định được mục tiêu của đề án quy hoạch

- Phải có khả năng xác định được loại thông tin cần được thu thập để phục vụ cho công tác quy hoạch và nguồn các cung cấp sốliệu đó

c Phương pháp

- Xác định khu vực quy hoạch: Xác định vị trí khu vực quy hoạch, ranh giới, sự phân bố không gian của các kiểu sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng…

- Tiếp xúc với người dân trong vùng quy hoạch để tìm hiểu được thực trạng cuộc sống, những vấn đề khó khăn đang gặp phải cũng như những định hướng phát triển trong tương lai của người dân địa phương

- Thu thập những thông tin cần thiết về khu vực quy hoạch: Đây là bước đầu tiên thu thập thông tin về khu vực quy hoạch, làm cơ sở để những nhà quy hoạch hiểu rõ hơn về vùng nghiên cứu cũng như làm cơ sở cho các bước tiếp theo

- Thiết lập mục tiêu: Mục tiêu của quy hoạch phải phù hợp với mục tiêu của phát triển vùng của quy hoạch cấp cao hơn và phải phù hợp với thực trạng của địa phương Cần phân biệt mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn

- Xác định những khó khăn và thuận lợi: xác định rõ những khó khăn và thuận lợi của hiện trạng sử dụng đất đai tại địa phương

- Xác định những khó khăn tồn tại liên quan đến việc thực hiện quy hoạch, bao gồm những tồn tại ảnh hưởng đến thực hiện quy hoạch về các mặt pháp luật, kinh tế, xã hội,

và môi trường

- Thiết lập nên các tiêu chuẩn cho quyết định sử dụng đất đai

- Xác định phạm vi quy hoạch

- Xác định giai đoạn quy hoạch

d Kết quả đạt được

- Mục tiêu tổng quát cho quy hoạch tại vùng nghiên cứu

- Xác định các tài liệu cần được thu thập và nguồn cung cấp các tài liệu có liên quan

e Thực hành

ƒ Dựa vào các tài liệu sẵn có, sinh viên hãy:

- Xác định mục tiêu quy hoạch theo quan điểm của chính quyền địa phương?

- Xác định mục tiêu quy hoạch theo quan điểm của người dân địa phương?

Ngày đăng: 16/11/2016, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w