Đây là lần thứ hai liên tiếp ACB được ba tạp chí trên bình chọn cho các giải thưởng cao quý này, trước đây là vào năm 2009,các giải thưởng này được xét theo các tiêu chí: lợi nhuận thuần
Trang 1Phân tích ACB
• Giới thiệu ACB
Tên đầy đủ:Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu
Tên giao dịch:Asia Commercial Bank
Trụ sở chính:442 Nguyễn Thị Minh Khai,quận 3,TP HCM
Thành lập:Ngày 04/06/1993,ACB chính thức đi vào hoạt động
Vốn điều lệ: Kể từ ngày 31/12/2010 vốn điều lệ của ACB là
9.376.965.060.000 đồng (Chín nghìn ba trăm bảy mươi sáu tỷ chín trăm sáu mươi lăm triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng)
• 1 số đánh giá và thành tích về ACB
Ngân hàng Á Châu (ACB) vừa chính thức được ba tạp chí quốc tế Global Finance, FinanceAsia và AsiaMoney công nhận là “Ngân Hàng Tốt Nhất Việt Nam năm 2010” và “Ngân Hàng Nội Địa Tốt Nhất Việt Nam 2010” Đây là lần thứ hai liên tiếp ACB được ba tạp chí trên bình chọn cho các giải thưởng cao quý này, trước đây là vào năm 2009,các giải thưởng này được xét theo các tiêu chí: lợi nhuận thuần, tỉ lệ nợ xấu, ROE, CAR, tổng tài sản, tổng tiền gửi và dư nợ, số lượng chi nhánh và chiến lược của ngân hàng cùng với đánh giá của các chuyên gia tài chính cũng như lãnh đạo của các doanh nghiệp lớn trong khu vực
Tiếp nối vinh dự của năm 2009 – ACB là ngân hàng đầu tiên & duy nhất tại Việt Nam được 6 tổ chức tài chính quốc tế cùng lúc bình chọn là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam 2009”, ngày 18/4/2010 tại Singapore, tạp chí The Asian Banker đã chính thức công bố ACB được bình chọn cho giải thưởng “Ngân hàng vững mạnh nhất Việt Nam năm 2010 - The Strongest Bank in Vietnam 2010” và Tổng giám đốc ACB - Ông Lý Xuân Hải được bình chọn là “Lãnh đạo Ngân hàng Xuất Sắc nhất Việt Nam năm 2010 - Leadership Achievement Award in Vietnam 2010”
Đây là lần đầu tiên The Asian Banker trao giải thưởng “Ngân hàng vững mạnh nhất” này cho 1 ngân hàng Việt Nam và đó là ACB Còn đối với giải thưởng
“Lãnh đạo Ngân hàng xuất sắc nhất” thì đây là lần thứ 2 liên tiếp, Ông Lý Xuân Hải được bình chọn cho giải thưởng này, trước đây là vào năm 2007
• Phân tích theo mô hình Porter
* Tồn tại các rào cả n gia nhậ p ng ành
- Yêu cầu về vốn đối với các ngân hàng tương đối lớn Theo quy định của ngân hàng Nhà Nước vốn điều lẹ tối thieeur của các ngân hàng thương mại tính đến 31/12/2008 là 1000
tỷ VNĐ và từ 01/01/2009 là 3000 tỷ VNĐ Đây là con số không nhỏ và là rào cản gia nhập ngành lớn
- Mức độ cạnh tranh trong ngành cao Các ngân hàng đều có thâm niên và tiềm lực vốn tương đối lớn, lượng khách hàng truyền thống và thị phần nhất định nên không dễ cho các ngân hàng mới trong cuộc chiến dành thị phần
- Ngân hàng là một ngành khá nhạy cảm Một ngân hàng lớn sụp đổ có thể kéo theo sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống và nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng Do vậy ngân hàng Nhà Nước thường cân nhắc kỹ trước những yêu cầu xin thành lập ngân hàng
*
Nguy cơ từ các ngân hàng mới
- Nếu các ngân hàng mới dễ dàng gia nhập thị trường thì mức độ cạnh tranh sẽ càng lúc càng gia tăng Nguy cơ từ các ngân hàng mới sẽ phụ thuộc vào “độ cao” của rào cản gia nhập Theo các cam kết khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo
Trang 2lộ trình bảy năm Ngành ngân hàng đã có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam và sự xuất hiện của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài
- Ngay từ năm 2006, Việt Nam đã gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần trong ngành ngân hàng của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ
- Còn theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định chung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN, Việt Nam phải gỡ bỏ hoàn toàn các quy định về khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài
từ năm 2008
- Đã có năm ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép thành lập tại Việt Nam Tuy nhiên khi nhìn vào con số các ngân hàng nước ngoài có văn phòng đại diện tại Việt Nam
và các ngân hàng nước ngoài có vốn cổ phần trong các ngân hàng thương mại nội địa, số ngân hàng 100% vốn nước ngoài nhất định sẽ còn tăng lên trong tương lai
- Các ngân hàng nước ngoài là vậy, rào cản cho sự xuất hiện của các ngân hàng có nguồn gốc nội địa đang được nâng cao lên sau khi Chính phủ tạm ngưng cấp phép thành lập ngân hàng mới từ tháng 8-2008 Ngoài các quy định về vốn điều lệ, quãng thời gian phải liên tục có lãi, các ngân hàng mới thành lập còn bị giám sát chặt bởi Ngân hàng Nhà nước Tuy nhiên điều đó sẽ không thể ngăn cản những doanh nghiệp, đủ điều kiện, tham gia vào ngành ngân hàng một khi Chính phủ cho phép thành lập ngân hàng trở lại
- Rào cản gia nhập còn được thể hiện qua các phân khúc thị trường, thị trường mục tiêu
mà các ngân hàng hiện tại đang nhắm đến, giá trị thương hiệu cũng như cơ sở khách hàng, lòng trung thành của khách hàng mà các ngân hàng đã xây dựng được Những điều này đặc biệt quan trọng bởi vì nó sẽ quyếtđịnh khả năng tồn tại của một ngân hàng đang muốn gia nhập vào thị trường Việt Nam
- Một khi các ngân hàng hiện tại đã xây dựng được cho mình một thương hiệu bền vững, với những sản phẩm, dịch vụ tài chính hiệu quả và khác biệt cộng với một cơ sở khách hàng đông đảo và trung thành, chi phí chuyển đổi (switching cost) để lôi kéo khách hàng của ngân hàng mới thành lập sẽ cực kỳ cao và do đó họ bắt buộc phải cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định gia nhập thị trường hay không Thực tế trên thị trường ngành ngân hàng Việt Nam cho thấy chi phí chuyển đổi nhìn chung không cao do các ngân hàng chưa thật sự tạo được điểm khác biệt về chiến lược sản phẩm, dịch vụ
- Một yếu tố có thể làm tăng chi phí chuyển đổi lên một chút và tạo một lợi thế cạnh tranh cho các ngân hàng đang hoạt động là hệ thống phân phối Các ngân hàng thành lập sau này sẽ gặp khá nhiều rắc rối trong việc tìm một địa điểm ưng ý để đặt văn phòng chính cũng như các chi nhánh văn phòng giao dịch bởi vì các vị trí đẹp và tiện lợi đều đã bị các ngân hàng đang hoạt động dành mất Tuy vậy, các ngân hàng thành lập sau này vẫn có thể dựa vào lợi thế công nghệ để phát triển hệ thống kinh doanh của mình thông qua Internet banking hoặc hệ thống ATM
- Nhìn vào ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại trong bối cảnh Việt Nam cũng như thế giới đang bị bao trùm bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, rào cản gia nhập khá cao khiến cho nguy cơ xuất hiện ngân hàng mới trong tương lai gần là khá thấp Nhưng một khi kinh tế
Trang 3thế giới hồi phục cộng với sự mở cửa của ngành ngân hàng theo các cam kết với WTO và các tổ chức khác, sự xuất hiện của các ngân hàng mới là một điều gần như chắc chắn
*
Nguy cơ bị thay thế
Cơ bản mà nói, các sản phẩm và dịch vụ của ngành ngân hàng Việt Nam có thể xếp vào 5 loại:
• Là nơi nhận các khoản tiền (lương, trợ cấp, cấp dưỡng…)
• Là nơi giữ tiền (tiết kiệm…)
• Là nơi thực hiện các chức năng thanh toán
• Là nơi cho vay tiền
• Là nơi hoạt động kiều hối
- Đối với khách hàng doanh nghiệp, nguy cơ ngân hàng bị thay thế không cao lắm do đối tượng khách hàng này cần sự rõ ràng cũng như các chứng từ, hóa đơn trong các gói sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng Nếu có phiền hà xảy ra trong quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ thì đối tượng khách hàng này thường chuyển sang sử dụng một ngân hàng khác vì những lý do trên thay vì tìm tới các dịch vụ ngoài ngân hàng
- Đối với khách hàng tiêu dùng thì lại khác, thói quen sử dụng tiền mặt khiến cho người tiêu dùng Việt Nam thường giữ tiền mặt tại nhà hoặc nếu có tài khoản thì khi có tiền lại rút hết ra để sử dụng Các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp trả lương qua tài khoản ngân hàng nhằm thúc đẩy các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần làm minh bạch tài chính cho mỗi người dân Nhưng các địa điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ lại đa số là các nhà hàng, khu mua sắm sang trọng, những nơi không phải người dân nào cũng tới mua sắm
- Ngay ở các siêu thị, người tiêu dùng cũng phải chờ đợi nhân viên đi lấy máy đọc thẻ hoặc đi tới một quầy khác khi muốn sử dụng thẻ để thanh toán Chính sự bất tiện này cộng với tâm lý chuộng tiền mặt đã khiến người tiêu dùng muốn giữ và sử dụng tiền mặt hơn là thông qua ngân hàng
- Ngoài hình thức gửi tiết kiệm ở ngân hàng, người tiêu dùng Việt Nam còn có khá nhiều lựa chọn khác như giữ ngoại tệ, đầu tư vào chứng khoán, các hình thức bảo hiểm, đầu tư vào kim loại quý (vàng, kim cương…) hoặc đầu tư vào nhà đất Đó là chưa kể các hình thức không hợp pháp như “chơi hụi” Không phải lúc nào lãi suất ngân hàng cũng hấp dẫn người tiêu dùng Chẳng hạn như thời điểm này, giá vàng đang sốt, tăng giảm đột biến trong ngày, trong khi đô la Mỹ ở thị trường tự do cũng biến động thì lãi suất tiết kiệm của
đa số các ngân hàng chỉ ở mức 7-8% một năm
* Quyền lực của khách hàng
- Sự kiện nổi bật gần đây nhất liên quan đến quyền lực của khách hàng có lẽ là việc các ngân hàng quyết định thu phí sử dụng ATM trong khi người tiêu dùng không đồng thuận Trong vụ việc này, ngân hàng và khách hàng ai cũng có lý lẽ của mình nhưng rõ ràng nó
đã ảnh hưởng không ít đến mức độ hài lòng và lòng tin của khách hàng Nhưng không vì thế mà ta có thể đánh giá thấp quyền lực của khách hàng trong ngành ngân hàng tại Việt
Trang 4- Điều quan trọng nhất vẫn là: việc sống còn của ngân hàng dựa trên đồng vốn huy động được của khách hàng Nếu không còn thu hút được dòng vốn của khách hàng thì ngân hàng tất nhiên sẽ bị đào thải Trong khi đó, như đã nói ở phần trên, nguy cơ thay thế của ngân hàng ở Việt Nam, đối với khách hàng tiêu dùng, là khá cao Với chi phí chuyển đổi thấp, khách hàng gần như không mất mát gì nếu muốn chuyển nguồn vốn của mình ra khỏi ngân hàng và đầu tư vào một nơi khác
* Quyền lực của các nhà cung cấp
- Khái niệm nhà cung cấp trong ngành ngân hàng khá đa dạng Họ có thể là những cổ đông cung cấp vốn cho ngân hàng hoạt động, hoặc là những công ty chịu trách nhiệm về
hệ thống hoặc bảo trì máy ATM Hiện tại ở Việt Nam các ngân hàng thường tự đầu tư trang thiết bị và chọn cho mình những nhà cung cấp riêng tùy theo điều kiện Điều này góp phần giảm quyền lực của nhà cung cấp thiết bị khi họ không thể cung cấp cho cả một thị trường lớn mà phải cạnh tranh với các nhà cung cấp khác Tuy nhiên khi đã tốn một khoản chi phí khá lớn vào đầu tư hệ thống, ngân hàng sẽ không muốn thay đổi nhà cung cấp vì quá tốn kém, điều này lại làm tăng quyền lực của nhà cung cấp thiết bị đã thắng thầu
- Quyền lực của các cổ đông trong ngành ngân hàng thì như thế nào? Không nhắc đến những cổ đông đầu tư nhỏ lẻ thông qua thị trường chứng khoán mà chỉ nói đến những đại
cổ đông có thể có tác động trực tiếp đến chiến lược kinh doanh của một ngân hàng Nhìn chung hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều nhận đầu tư của một ngân hàng khác Quyền lực của nhà đầu tư sẽ tăng lên rất nhiều nếu như họ có đủ cổ phần và việc sáp nhập với ngân hàng được đầu tư có thể xảy ra Ở một khía cạnh khác, ngân hàng đầu tư sẽ có một tác động nhất định đến ngân hàng được đầu tư
* Cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành
- Trong năm 2008, McKinsey dự báo doanh số của lĩnh vực ngân hàng bán lẻ ở Việt Nam
có thể tăng trưởng đến 25% trong vòng 5-10 năm tới, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường ngân hàng bán lẻ có tốc độ cao nhất châu Á (*) Tuy khủng hoảng kinh
tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn Ảnh hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên Nhưng khi khủng hoảng kinh tế qua đi, với một thị trường tiềm năng còn lớn như Việt Nam, các ngân hàng sẽ tập trung khai phá thị trường, tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến cường độ cạnh tranh có thể giảm đi
- Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện của nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có một phân khúc khách hàng riêng, đa số là doanh nghiệp từ nước họ Họ đã phục vụ những khách hàng này từ rất lâu ở những thị trường khác và khi khách hàng mở rộng thị trường sang Việt Nam thì ngân hàng cũng mở văn phòng đại diện theo
- Ngân hàng ngoại cũng không vướng phải những rào cản mà hiện nay nhiều ngân hàng trong nước đang mắc phải, điển hình là hạn mức cho vay chứng khoán, nợ xấu trong cho vay bất động sản Họ có lợi thế làm từ đầu và có nhiều chọn lựa trong khi với không ít
Trang 5ngân hàng trong nước thì điều này là không thể Ngoài ra, ngân hàng ngoại còn có không
ít lợi thế như hạ tầng dịch vụ hơn hẳn, dịch vụ khách hàng chuyên nghiệp, công nghệ tốt hơn (điển hình là hệ thống Internet banking)
- Quan trọng hơn nữa, đó là khả năng kết nối với mạng lưới rộng khắp trên nhiều nước của ngân hàng ngoại Để cạnh tranh với nhóm ngân hàng này, các ngân hàng trong nước
đã trang bị hệ thống hạ tầng công nghệ, sản phẩm dịch vụ, nhân sự khá quy mô Lợi thế của ngân hàng trong nước là mối quan hệ mật thiết với khách hàng có sẵn
• Phân tích theo mô hình SWOT
Điểm mạnh(Strengths)
• Quy mô vốn: Quy mô vốn điều lệ của ACB đạt 9.377 tỉ đồng với hơn 20.000
cổ đông tăng 450 lần so với ngày đầu thành lập ACB hiện là ngân hàng có tổng tài sản đứng thứ 5 trong toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam, chiếm 10% thị phần huy động tiết kiệm của cả nước, trên 57% thị phần chủ thẻ tín dụng quốc tế, và chiếm phần lớn thị phần chuyển tiền nhanh Western Union tại Việt Nam
• Dịch vụ cung cấp,mạng lưới,chất lượng dịch vụ:các dịch vụ cung cấp của ACB khá đa dạng,đặc biệt là ACB luôn coi trọng vấn đề về chất lượng về dịch vụ cung cấp nên luôn được coi là một trong những NH tốt nhất VN về mức độ làm hài long khách hàng.
• Mô hình quản lý:văn hóa công ty,mô hình tổ chức cty,thái độ làm việc,hành vi…
Văn hóa công ty: ACB luôn xem sự sòng phẳng là phẩm chất cơ bản làm nền tảng cho mọi hoạt động liên quan đến lợi ích của ngân hàng.sự sòng phẳng này nhằm đáo ứng yêu cầu về tính minh bạch trong hoạt động tài chính,ngân hàng.Sự sòng phẳng luôn đi liền với sự rõ ràng , ngay thẳng, nhờ dó mà tránh được tình trạng lợi dụng làm điều mờ ám,tổn hại đến lợi ích của người khác và lợi ích chung Điều đó được chứng minh qua việc ACB là ngân hàng thương mại đầu tiên sử dụng kiểm toán độc lập chỉ sau 2 năm hoạt động.
Khởi nghiệp cần có sự tham vọng ,dù lớn hay nhỏ.bởi tham vọng là nguồn cảm hứng ,là sự khích lệ ,là động lực thúc đẩy con người ta vươn về phía trước.Với ACB ,tham vọng là trở thành người đi đầu Do vậy ACB đã không ngừng nỗ lực phấn đấu phát triển kinh doanh, đổi mới công nghệ ,tạo lập uy tín thương hiệu .Với sự tham vọng đó đã giúp cho ACB trở thành ngân hàng thương mại đi đầu trong nhiều lĩnh vực :tái cấu trúc tin học hóa hoạt động ngân hàng,thẻ ,siêu thị dịa
ốc, bán hàng chủ động, sàn giao dịch vàng Sài Gòn
ACB luôn đòi hỏi cao, từ chuyên nhỏ như giữ sạch sẽ nơi làm việc của mỗi người cho đến việc cho vay ,định mức nợ quá hạn.trong vấn đề nợ quá hạn ,ACB chỉ chaaos nhận ở mức 1%,trong khi ở các ngân hàng khác có thể chấp nhận tới 5% Ở ACB,không có hiện tượng tôn sùng cá nhân ,dù cá nhân đó giữu cương vị cao.những việc quan trọng đều đưa ra bàn bạc một cách bình đẳng và tập thể quyết định.điều này tạo nên tinh thần dân chủ,đoàn kết bền vững trong nội bộ.ACB
là ngân hàng thương mại đầu tiên thành lập hội đồng tín dụng để xem xét và quyết định cho vay.Hội đồng này hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận Dề cao tinh thần tập thể ,nhưng không có nghĩa là xem nhẹ yếu tố cá nhân.Cá nhân được tôn trọng
và được tạo cơ hội để phát triển năng lực của mình.
Trang 6ACB luôn coi trọng tình nghĩa,thể hiện tính nhân văn.Đối với khách hàng,ACB luôn giữ mối quan hệ tốt đẹp và sẵn sàng chia sẻ khó khăn với họ khi gặp rủi ro trong quan hệ kinh doanh.
Văn hóa ACB- linh hồn ACB,là nguồn nội lực to lớn giúp cho ACB phát triển trong nhiều năm tới
• Nhân lực và năng lực nhân sự: Tính đến ngày 28/02/2010 tổng số nhân viên của Ngân hàng Á Châu là 6.749 người.Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 93%, thường xuyên được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ tại trung tâm đào tạo riêng của ACB.Chất lượng nhân sự của ACB được đánh giá là ở một mặt bằng chung cao hơn so với các NH lớn khác, với ví dụ điển hình là Tổng giám đốc ACB - Ông Lý Xuân Hải được bình chọn là “Lãnh đạo Ngân hàng Xuất Sắc nhất Việt Nam năm 2010 - Leadership Achievement Award in Vietnam 2010”
Đây là lần đầu tiên The Asian Banker trao giải thưởng “Ngân hàng vững mạnh nhất” này cho 1 ngân hàng Việt Nam và đó là ACB Còn đối với giải thưởng “Lãnh đạo Ngân hàng xuất sắc nhất” thì đây là lần thứ 2 liên tiếp, Ông Lý Xuân Hải được bình chọn cho giải thưởng này, trước đây là vào năm 2007.
• Thương hiệu:ý nghĩa tên,giải thưởng vinh danh….
ACB luôn đứng trong top đầu trong các giải thưởng vinh danh các NH.
Theo Vietnam Credit bảng xếp hạng dựa trên sự tổng hợp 18 chỉ tiêu trọng yếu về như tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh khoản, hiệu quả kinh doanh, năng lực và kinh nghiệm quản lý, thương hiệu, chất lượng và sự đa dạng hóa tài sản và dịch vụ… của các ngân hàng.
ACB là: Attitude (Thái độ), Capability (Năng lực) và Behaviour (Hành vi)
• Thái độ: Nhân viên ACB luôn có thái độ tôn trọng khách hàng, lắng nghe khách hàng, xem khách hàng là đối tác trong quan hệ, quan hệ lợi ích hỗ tương
• Năng lực: ACB cung ứng đầy đủ nguồn lực vật chất, tài chính và nhân sự để đảm bảo quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụ và các tiện nghi giao dịch được thuận lợi
và an toàn
• Hành vi: Nhân viên ACB luôn ứng xử lịch sự, thân thiện với khách hàng
Trang 7• Công nghệ:ACB là ngân hàng đi đầu trong ứng dụng CNTT hiện đại và trực tuyến trong quản lý ngân hàng
Điểm yếu(Weaknesses)
• Mạng lưới:còn mỏng so với các NH trong khối và chưa được phủ khắp cả nước Chất lượng 1 số dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu khách hàng,lãng phí
về khai thác thị trường tiềm năng:sử dụng ATM,thẻ thanh toán trong nước….
• Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là cho thuê tài chính, nợ quá hạn nhiều rủi ro
• Các ctrinh marketing quảng cáo còn ít,hiệu quả chưa cao Chua đánh được vào tâm lý ít chịu khó tìm hiểu của người Việt,đặc biệt là bộ phận nông thôn và trình
độ dân trí thấp
• Chưa có sự khác biệt rõ ràng trong việc cung cấp sản phẩm,dịch vụ
Cơ hội(Opportunities)
• Thị trường còn tiềm năng lớn để khai thác khi mới có 10% trong số 85 triệu người dân VN sử dụng dịch vụ của NH,trong khi đó,thanh thiếu niên,những người đóng góp chính cho nguồn thu nhập của gia đình ngày càng có hiểu biết nhiều hơn đối với lĩnh vực kinh tế,tài chính và lợi ích của việc sử dụng các sản phẩm dịch vụ của NH Họ ngày càng sử dụng nhiều hơn các sản phẩm dịch vụ hiện đại mà NH
cung cấp.
• Cạnh tranh lớn Bắt buộc các NH phải làm việc 1 cách hiệu quả hơn,phải
công nghệ hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ hiện đại
• Ngành ngân hàng vẫn luôn giữ tốc độ tăng trưởng cao kể cả trong những giai đoạn khó khăn của nền kinh tế
Trang 8Đặc biệt là với NH ACB thì luôn giữ tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức cao hơn so với mức trung bình của toàn hệ thống NH,trong năm 2010 vừa qua,ACB tăng trưởng tín dụng lên tới 55%
• Pháp luật và môi trường chính trị:môi trường chính trị của VN tạo điều kiện cho các NH được hình thành và phát triển,tình hình chính trị ổn định.Đặc biệt là với các NH có uy tín và thương hiệu lớn như ACB.Ví dụ:trường hợp NHNN hỗ trợ thanh khoản cho ACB vào năm 2004 khi ACB bị đồn xấu
• NHNN xiết chặt hơn các quy định về chất lượng tín dụng,chất lươngj dịch vụ tài chính ngân hàng để đảm bảo hơn độ an toàn của hệ thống tài chính Các NH
nhỏ sẽ gặp khó khăn trong nhiều vấn đề:huy động vốn,cho vay với lĩnh vực phi sản xuất,thanh khoản… Tạo cơ hội cho các NH lớn phát huy được những ưu thế của
mình về mặt vốn,thương hiệu ví du:lãi suất thị trường LNH luôn ở mức cao trogn thời gian qua do thiếu hụt thanh khoản trầm trọng từ các NH nhỏ Phải vay trên
thị trường LNH từ các NH lớn với mức lãi suất rất cao để đáp ứng kịp thời các nghãi vụ tài chính ngắn hạn của mình.
Thách thức(Threats)
• Sức ép cạnh tranh:Từ các NH mới,từ các NH cũ
• Rủi ro từ hệ thống NH
Các NH đua tranh lãi suất và dung đủ mọi biện pháp để lách luật trogn việc huy động vốn,trong khi NHNN lại chưa có chế tài đủ mạnh(trước khi có quy định tước giấy phép hoạt động với các chi nhánh NH vượt rào) khiến cho ACB cũng ko thể không tham gia vào cuộc đua tranh này để giữ khách hàng của mình
Chính việc các NH trong nước liên tục đấu đá lẫn nhau,trong khi đó hệ thống NH lại là nền tảng chính,quan trọng nhất cho sự phát triển và bền vững của hệ thống tài chính do đó việc các NH không khai thác được tiềm năng trogn dân chúng mà liên tục giật “thị phần” của nhau khiến cho niềm tin của người dân vào hệ thống NH cũng suy giảm Do đó về ngắn hạn,việc thu hút được
nguồn tiền nhàn rỗi tiềm năng trong dân là 1 điều không dễ.
• Thị trường CK,thị trường BĐS rơi vào tình trạng khó khăn(thị trường BĐS mang tính quay vòng và nhu cầu thực tế nhỏ hơn nhiều so với cung thị trường
Trang 9Khó khăn về lâu dài) Rủi ro cho vay,đặc biệt là khi ACB là NH có cơ cấu vốn cho
vay với lĩnh vực phi sản xuất ở mức cao
• NHNN xiết chặt quy định về hạn mức tăng trưởng tín dụng ở con số 20%,và hạn mức cho vay với lĩnh vực phi sản xuất ở dứoi con số 18% trong tổng nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng trong khi ACB có cơ cấu vốn cho vay với lĩnh vực phi sản xuất rất cao,đặc biệt là lĩnh vực BĐS Rủi ro thu hồi nợ cao Bắt buộc
ACB phải dần chuyển đổi cơ cấu vốn cho vay sang những lĩnh vực có độ an toàn cao hơn.
• Tâm lý của người dân:niềm tin vào đồng VNĐ găm giữ USD và vàng,quan
niệm về tốc độ cung ứng dịch vụ và sự công bằng khi sử dụng dịch vụ NH…
• Lạm phát,thủ tục pháp lý,thủ tục cho vay,thủ tục cung cấp dịch vụ nói chung….
• Năm 2011,theo lộ trình cam kết khi gia nhập WTO,các ngân hàng ngoại không bị hạn chế trong việc huy động vốn.
• Mở cửa đối với 45% doanh nghiệp nước ngoài năm 2012:tạo sức ép lên các
NH nội trong 1 vài khía cạnh cung cấp sản phẩm dịch vụ
• Mở cửa hoàn toàn nền kinh tế(Ko bảo hộ) vào năm 2015:các NH nước ngoài nói riêng và các tổ chức cung cấp tài chính nói chung sẽ là một mối nguy tiềm tang rất lớn đối với các NH nội bởi quy mô vốn,và chất lượng dịch vụ tiên tiến hiện đại,nhanh chóng