Dưới góc độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hóa và dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác, còn với góc độ phi kinh doanh thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hà
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HCM
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ MÔN HỌC
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2012 – 12/2014 CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH – D340101
TP Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015
Trang 2Trong quá trình thực hiện chuyên đề môn học “Quản Trị Xuất Nhập Khẩu” tôi đã
chọn đề tài “ Phân tích thực trạng hoạt động Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam giai đoạn
2012 – 12/2014 ” để nghiên cứu Với tinh thần ham học hỏi, nghiên cứu tôi đã hoàn thành
bài chuyên đề này Tuy nhiên để có được kết quả ấy ngoài tinh thần trên tôi xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới:
Trường ĐH CÔNG NGHIỆP TPHCM đã tạo diều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết như phòng học, trang thiết bị hiện đại, tài liệu sách vở… phục vụ cho nhu cầu tra cứu thông tin
Cảm ơn khoa Quản trị kinh doanh đã trang bị những kiến thức cơ bản làm nền trong quá trình học tập
Và tôi đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới THS NGUYỄN THÀNH LONG đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, giải đáp những thắc mắc và những khó khăn trong quá trình thực hiện chuyên đề này
Tuy đã cố gắng hết sức song không tránh khỏi còn có những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN !Xin cảm ơn quý Thầy cô
Trang 3
TP Hồ Chí Minh, ngày…tháng…năm 2014
Ths Nguyễn Thành Long MỤC LỤC
Trang 4Nhập khẩu” và cụ thể hóa là tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích thực trạng hoạt động Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam giai đoạn 2012 – 12/2014” để thực hiện cho chuyên đề môn
học của mình
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm
2012 đến 12/2014 Để từ đó đạt được mục đích mong muốn đặt ra là:
o Khái quát hóa kiến thức về quản trị xuất nhập khẩu
o Biết về thực trạng xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam hiện nay
o Một số giải pháp nhằm giúp các nhà xuất khẩu Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả hoạt
động trên thị trường xuất nhập khẩu thế giới
o Xem xét việc giảng dạy môn Quản trị xuất nhập khẩu hiện nay và giải pháp giúp hoàn thiện
môn học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu trên phương diện là hoạt động xuất khẩu thủy sản Việt Nam bao gồm: Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam; những thành tựu cũng như hạn chế và đưa ra những giải pháp mang tính thiết thực nhằm đẩy mạnh, phát triển hoạt động xuất khẩu thủy sản tại Việt Nam
Trang 51.4 Phạm vi nghiên cứu
Chuyên đề nghiên cứu trong phạm vi khai thác và xuất khẩu ngành thủy sản Việt Nam giai đoạn 2012 – 12/2014 Đồng thời, đưa ra nhận xét và đánh giá việc dạy và học tập bộ môn Quản trị Xuất Nhập khẩu tại trường Đại học Công Nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (cơ
sở 1)
Thời gian nghiên cứu chuyên đề: gần 2 tháng, kể từ ngày 1-2-2015 đến ngày 2015
25-3-1.5 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên một số phương pháp: thống kê, phân tích, so sánh, quy nạp và diễn dịch, chủ nghĩa duy vật biện chứng Sử dụng những cơ sở lý thuyết căn bản từ môn học quản trị xuất nhập khẩu Đồng thời kết hợp với các phương pháp như: tổng hợp, tư duy logic
Phương pháp thu thập thông tin được sử dụng ở đây là phương pháp nghiên cứu lý thuyết được thu thập từ internet, sách báo, tạp chí khoa học…
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về môn học quản trị Xuất Nhập khẩu
Chương 2: Phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam giai đoạn 2012 – 12/2014
Chương 3: Nhận xét, đánh giá môn học quản trị Xuất Nhập khẩu
Trang 6CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔN HỌC
QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU:
1.1.1 Khái niệm xuất khẩu, nhập khẩu:
Xuất khẩu được hiểu là hoạt động đưa hàng hóa và dịch vụ từ quốc gia này sang quốc
gia khác nhằm thu lợi nhuận Dưới góc độ kinh doanh, xuất khẩu là việc bán các hàng hóa
và dịch vụ giữa quốc gia này với quốc gia khác, còn với góc độ phi kinh doanh thì hoạt động xuất khẩu chỉ là việc lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ qua biên giới của quốc gia khác
Nhập khẩu được hiểu là sự mua hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ cho nhu
cầu trong nước hoặc tái sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận
Quản trị xuất nhập khẩu là tổng hợp các hoạt động hoạch định chiến lược và kế hoạch
kinh doanh , tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu nhằm đạt được hiệu quả tối đa
1.1.2 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu:
1.1.2.1 Vai trò hoạt động xuất khẩu:
• Đối với kinh tế thế giới:
Hoạt động xuất khẩu ngày nay rất được chú trọng và đã trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế mỗi quốc gia Một quốc gia muốn phát triển cần tham gia vào xuất khẩu Bởi vì xuất khẩu sẽ giải quyết được khó khăn về hàng hóa tồn đọng do trong nước đã bão hòa, nhưng ở nươc khác lại thiếu điều này đã kích thích hoạt động xuất khẩu phát triển mạnh trong thời gian gần đây Thông qua xuất khẩu quốc gia có thể cải thiện đồng ngoại tệ, cải thiện chính sách sản xuất, đưa hàng hóa có chi phí sản xuất thấp đến các nước khác Nói như vậy thì không phải nước nào cũng có lợi thế thì mới được tham gia xuất khẩu, mà dù có bất lợi thì doanh nghiệp vẫn chọn sản xuất mặt hàng nào bất lợi nhỏ hơn
Qua đó xuất khẩu, có thể giúp quốc gia hạn chế được những khó khăn của mình thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển Cũng nhờ xuất khẩu nên các nước có thể rút ngắn trình
độ kỹ thuật công nghệ tiên tiến giữa các quốc gia, giải quyết các mâu thuẫn trong nước tăng nguồn thu nhập góp phần vào quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới
• Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia:
Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho việc nhập khẩu các mặt hàng khác để phục vụ Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa đất nước Công nghệ và vốn là hai yếu tố mà hầu hết các nước kém phát triển và nước đang phát triển thiếu thốn nhất; xuất khẩu đẩy mạnh việc kiếm thêm nguồn ngoại tệ Nguồn vốn nhập khẩu hình thành từ các nguồn sau: dựa vào đầu tư nước ngoài, nguồn viện trợ, dịch vụ du lịch, ….Thông qua các nguồn này cũng thu được một
Trang 7lượng ngoại tệ lớn, nhưng huy động nó rất khó khăn và bị lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, do vậy hoạt động xuất khẩu vẫn là nguồn vốn lớn nhất và quan trọng nhất.
Xuất khẩu đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch ấy là điều tất yếu đối với mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn thì tốc độ và hình thái chuyển dịch khác nhau, sự chuyển dịch này phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế và kế hoạch phát triển của từng quốc gia
• Xuất khẩu những sản phẩm thừa so với tiêu dùng nội địa
• Thúc đẩy quá trình tổ chức sản xuất phát triển, kéo theo sự phát triển của các ngành khác có liên quan
• Tạo điều kiện mở rộng khả năng mở rộng sản xuất cung cấp đầu vào mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi quốc gia vì thường cho phép một quốc gia có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn
• Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy mối quan hệ kinh tế đối ngoại phát triển làm cho các nước phụ thuộc vào nhau hơn
• Đối với các doanh nghiệpQuá trình mở cửa hội nhập hóa kinh tế các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu phụ thuộc vào nhau rất nhiều hình thành nên hiện tượng toàn cầu hóa Các cơ hội và thách thức đặt ra rất nhiều cho các doanh nghiệp, nó là sự sống còn của nhiều doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp tạo ra nhiều đối tác sẽ tạo ra được nguồn xuất và nhập nhiều hơn, tạo ra thêm nguồn ngoại tệ cho quốc gia cũng như cho doanh nghiệp để phát triển Thông qua xuất khẩu, doanh nghiệp nhanh chóng tiếp thu được khoa học kĩ thuật, từ đó có khả năng củng cố tổ chức sản xuất, nâng cao mẫu mã, chất lượng, uy thế và địa vị của doanh nghiệp trên thị trường quốc
tế cũng thông qua xuất khẩu Các doanh nghiệp nhanh chóng cải thiện mọi mặt của sản phẩm cũng như là bộ máy quản lý để tạo ra lợi thế cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường thế giới
1.1.2.2 Vai trò hoạt động nhập khẩu:
Nhập khẩu bổ sung sự thiếu hụt trong thị trường nội địa, tạo sự cân đối cung cầu trong tiêu dùng cũng như trong sản xuất
Nhập khẩu góp phần cải thiện và nâng cao cuộc sống của người dân, vậy nhập khẩu thỏa mãn trực tiếp tới nhu cầu của người dân, cung cấp nguyên vật liệu cho doanh nghiệp, đảm bảo công ăn việc làm ổn định
Nhập khẩu thúc đẩy xuất khẩu vì cung ứng vật tư, máy móc thiết bị cần cho sản xuất
Nhập khẩu góp phần làm quá trình chuyển dịch kinh tế diễn ra nhanh hơn như có chất xúc tác, hoạt động thương mại phát triển có cơ hội hướng ra ngoài, mở rộng qui mô, tăng cường tiềm lực
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu:
• Công cụ, chính sách vĩ mô của Nhà Nước
Trang 8Công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước là nhân tố quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu phải nắm rõ và tuân theo vô điều kiện bởi nó thể hiện ý chí của đảng và nhà nước công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước bảo vệ lợi ích chung của mọi tầng lớp trong xã hội Hoạt động xuất khẩu tiến hành giữa các chủ thể giữa các quốc gia khác nhau Bởi vậy nó chịu sự tác động của các chính sách chế độ luật pháp ở quốc gia mình và đồng thời cũng phải tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế chung.
Đối với nước ta chính sách ngoại thường có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho các
tổ chức kinh doanh tham gia sâu vào sự phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động xuất khẩu và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu về kinh tế, chính trị xã hội hoạt động kinh tế đối ngoại
• Thuế quan
Thuế quan xuất khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu Thuế quan là một công cụ lâu đời nhất của chính sách thương mại quốc tế và là một phương tiện truyền thống để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước
Thuế quan xuất khẩu làm cho giá cả hàng hoá quốc tế cao hơn giá cả trong nước Tuy nhiên tác động của xuất khẩu nhiều khi lại đưa đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu, Do quy
mô xuất khẩu của một nước thường là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới cho nên thuế quan xuất khẩu sẽ làm hạ thấp giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá quốc tế, điều đó sẽ làm cho dung lượng hàng xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này Trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi nhiều và vẫn có lợi cho nước xuất khẩu, nếu như họ có thể tác động đáng kể đến mức giá quốc tế Một mức thuế suất cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các địch thủ cạnh tranh
• Các công cụ phi thuế quan
Công cụ quota (Hạn ngạch xuất khẩu) : Hình thức này áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu hàng hoá, hạn ngạch xuất khẩu hàng hoá được quyết định theo mặt hàng, theo từng quốc gia, theo từng thời gian nhất định
Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Nó bao gồm quy định vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đăc biệt là quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với thực vật tươi sống, tiêu chuẩn và bảo vệ môi trường sinh thái và các máy móc, dây chuyền thiết bị cộng nghệ
Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tự cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước, bên cạnh đó chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi với các bạn hàng nước ngoài để có thể có các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài
Trang 9Điều 9 chương 4 nghị định 36 CP ngày 19/4/1994 về quản lý Nhà Nước đối với hoạt động xuất khẩu, chính sách ngoại thương của chính phủ trong từng giai đoạn khác nhau thường có sự khác biệt, vì vậy khi thực hiện hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp phải theo sát chính sách của chính phủ.
• Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu … cũng tác động đến hoạt động xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ: Xuất khẩu đồ gốm chịu ảnh hưởng của thời tiết, mưa ảnh hưởng đến nung gốm và vận chuyển gốm v v …
• Tác động của tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái, thông qua việc phản ánh tương quan giá trị của đồng tiền các nước khác nhau mà tỷ giá hối đoái có được vai trò nhất định đối với quá trình ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác nó tác động tới tương quan giá cả xuất khẩu với nhập khẩu, tới khả năng nhập khẩu của các công ty
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị thấp hơn so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các yếu tố khác ảnh hưởng thì nó sẽ tác động tới xuất khẩu
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái tăng lên có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị tăng lên
so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các nhân tố ảnh hưởng thì sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với giá cả chung trong nước Nhưng đồng thời tỷ giá tăng lên sẽ gây nhiều bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu trở nên đắt, khó bán ra nước ngoài
• Ảnh hưởng của hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Việc thực hiện xuất khẩu gắn liền với công việc vận chuyển hệ thống thông tin liên lạc, nhờ có thông tin liên lạc mà các thoả thuận có thể tiến hành nhanh chóng, kịp thời Thực tế cho thấy rằng ảnh hưởng của hệ thông thông tin cho Fax, telex đã đơn giản hoá công việc của hoạt động xuất khẩu rất nhiều, giảm đi hàng loạt các chi phí, nâng cao kịp thời nhanh gọn và việc hiện đại hoá các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản góp phần đem quá trình thực hiện xuất khẩu được nhanh chóng và an toàn
Nước ta có vị trí thuận lợi về giao thông là trung tâm vận hành đường biển trong khu vực Đông Nam Á, rất thuận tiện cho hoạt động ngoại thương, tuy nhiên phương tiện đường
sá, cơ sở vật chất còn rất lạc hậu Khắc phục, đổi mới hệ thống giao thông vận tải đang là vấn đề cấp bách được đặt ra
• Ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng
Trang 10Hệ thống tài chính ngân hàng giúp cho việc quản lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và an toàn cho doanh nghiệp điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệp đến tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho hoạt động xuất khẩu hết sức thuận lợi.
• Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập lợp những điều kiện, những yếu tố bên trong hoặc bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được Nghiên cứu các yếu tố này không nhằm để điều khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một môi trường kinh doanh nhất định Môi trường kinh doanh tác động liên tục đến hoạt động của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau vừa tạo ra cơ hội, vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh có thể ở các tầng (thứ bậc) khác nhau vĩ mô/vi mô, mạnh/yếu, trực tiếp/gián tiếp… Nhưng về mặt nguyên tắc cần phản ánh được sự tác động của nó trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Sự ổn định hay bất ổn về chính trị xã hội … là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, hệ thống chính trị và các quan điểm chính trị xã hội suy cho cùng tác động trực tiếp tới phạm vi lĩnh vực, mặt hàng … của đối tác kinh doanh Trong những năm của thập kỷ 90 tình hình chính trị xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới đã có nhiều biến động lớn theo chiều hướng bất lợi đối với quan hệ song phương và đa phương với các quốc gia và công ty trên thế giới, chỉ trên cơ sở nắm vững các nhân tố của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp mới đề ra mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn Trong chiến lược và kế hoạch kinh doanh đều phải xác định đối tác và những lực lượng nào ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ INCOTERMS
Incoterms (International Commercial Terms) là bộ qui tắc do Phòng Thương mại Quốc
tế (ICC) phát hành để giải thích các điều kiện thương mại quốc tế Phạm vi áp dụng của Incoterms chỉ giới hạn trong những vấn đề liên quan tới quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đối với việc giao nhận hàng hoá được bán, với nghĩa
“hàng hoá hữu hình” chứ không bao gồm “hàng hóa vô hình”, như phần mềm vi tính chẳng hạn) Tuy nhiên, Incoterms không đề cập tới: việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa và
Trang 11các quyền về tài sản khác Sự vi phạm hợp đồng và các hậu quả của sự vi phạm hợp đồng cũng như những miễn trừ về nghĩa vụ trong những hoàn cảnh nhất định.
Incoterms 2010 là phiên bản mới nhất của Incoterm và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng
1 năm 2011, bao gồm 11 điều kiện, là kết quả của việc thay thế bốn điều kiện cũ trong Incoterms 2000 (DAF, DES, DEQ, DDU) bằng hai điều kiện mới là DAT và DAP Phiên bản cũ - Incoterms 2000 bao gồm có 13 điều kiện giao hàng mẫu, chia thành 4 nhóm: C, D,
E, F
11 điều kiện Incoterms® 2010 được chia thành hai nhóm riêng biệt:Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:
• EXW: Giao tại xưởng
• FCA: Giao cho người chuyên chở
• CPT: Cước phí trả tới
• CIP: Cước phí và bảo hiểm trả tới
• DAT: Giao tại bến
• DAP: Giao tại nơi đến
• DDP: Giao hàng đã nộp thuế
Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa:
• FAS: Giao dọc mạn tàu
• FOB: Giao lên tàu
• CFR: Tiền hàng và cước phí
• CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Nhóm thứ nhất gồm bảy điều kiện có thể sử dụng mà không phụ thuộc vào phương thức vận tải lựa chọn và cũng không phụ thuộc vào việc sử dụng một hay nhiều phương thức vận tải Nhóm này gồm các điều kiện EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP Chúng
có thể được dùng khi hoàn toàn không có vận tải biển Tuy vậy, các điều kiện này cũng có thể được sử dụng khi một phần chặng đường được tiến hành bằng tàu biển
Trong nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng hóa được chở tới người mua đều
là cảng biển, vì thế chúng được xếp vào nhóm các điều kiện “đường biển và đường thủy nội địa” Nhóm này gồm các điều kiện FAS, FOB, CFR và CIF Ở ba điều kiện sau cùng, mọi cách đề cập tới lan can tàu như một điểm giao hàng đã bị loại bỏ Thay vào đó, hàng hóa xem như đã được giao khi chúng đã được “xếp lên tàu” Điều này phản ánh sát hơn thực tiễn thương mại hiện đại và xóa đi hình ảnh đã khá lỗi thời về việc rủi ro di chuyển qua một ranh giới tưởng tượng
1.3 CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN CHỦ YẾU
Trang 12• Trả tiền mặt (In Cash)
Người mua thanh toán tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặc chấp nhận đơn hàng của người mua
• Phương thức ghi sổ (Open Account)
Là phương thức thanh toán, trong đó người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua, sau khi người bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ, theo đó đến thời hạn quy định (thánh, quí, năm…) người mua sẽ chuyển tiền cho người bán
• Thanh toán trong buôn bán đối lưu (Counter Trade)
Buôn bán đối lưu là các hoạt động trao đổi hàng hoá trong thương mại quốc tế, trong đó hai (nhiều) bên tiến hành trao đổi hàng hoá nọ lấy hàng hoá kia
• Phương thức nhờ thu (Collection)
Phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ sẽ ký phát Hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu đó
• Phương thức chuyển tiền (Remittance)
Phương thức chuyển tiền là một phương thức thanh toán trong đó một khách hàng (người trả tiền, người mua, người nhập khẩu…) yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu…) ở một địa điểm nhất định Ngân hàng chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình ở nước người hưởng lợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền
• Phương thức giao chứng từ trả tiền (Cash Against Documents – CAD)
CAD là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác (Trust Account) để thanh toán cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ những chứng từ theo yêu cầu Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ trình
bộ chứng từ cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán
• Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credits)
Là một sự thoả thuận mà trong đó: một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng
1.4 TỔ CHỨC VÀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG NGOẠI THƯƠNG:
1.4.1 Khái niệm hợp đồng ngoại thương:
Hợp đồng mua bán quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu
Trang 13của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng
Sự khác nhau cơ bản giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế với các hợp đồng mua bán khác là ở chỗ hợp đồng mua bán ngoại thương có yếu tố quốc tế, được thể hiện qua các dấu hiệu:
Thứ nhất: Chủ thể của hợp đồng - Hợp đồng mua bán có tính quốc tế nếu trụ sở kinh
doanh của bên mua và bên bán được đăng ký tại hai quốc gia khác nhau
Thứ hai: Hàng hóa - đối tượng mua bán của hợp đồng chuyển ra khỏi đất nước người
bán trong quá trình thực hiện hợp đồng
Thứ ba: Đồng tiền thanh toán phải là ngoại tệ hay có gốc ngoại tệ.
1.4.2 Chuẩn bị giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương:
Thu thập thông tin đối tác
Thu thập thông tin về đối thủ cạnh tranh
Phân tích SWOT
- Đề ra mục tiêu: doanh nghiệp đề ra mục tiêu càng cụ thể càng tốt, có thể là:
Mục tiêu cao nhất – kết quả có thể đạt được tốt nhất
Mục tiêu thấp nhất – kết quả thấp nhất, vẫn có thể chấp nhận
Mục tiêu trọng tâm – cái mà bạn thực sự mong muốn được giải quyết
- Chuẩn bị nhân sự: là những người đàm phán có những ưu điểm nhất định, có khả năng thương thuyết và đàm phán
- Lựa chọn chiến lược, chiến thuật
1.4.3 Các chứng từ thường sử dụng trong kinh doanh xuất nhập khẩu:
• Hóa đơn thương mại
Là chứng từ cơ bản của khâu thanh toán, là yêu cầu của người bán đòi người mua phải trả số tiền hàng ghi trên hóa đơn
• Giấy chứng nhận số lượng, trọng lượng
Trang 14Là chứng từ xác nhận số lượng/ trọng lượng của hàng hóa thực giao Giấy chứng nhận
số lượng/ trọng lượng của có thể do người bán cung cấp hàng cấp, hoặc tổ chức giám định hàng hóa cấp, tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng
• Giấy chứng nhận kiểm dịch và giấy chứng nhận vệ sinh
Là những chứng từ do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp cho chủ hàng để xác nhận hàng hóa đã được an toàn về mặt dịch bệnh, sâu hại, nấm độc
• Phiếu đóng gói
Kê khai tất cả những mặt hàng, hàng hóa được đóng trong từng kiện hàng (thùng hàng, container ) được lập ngay khi đóng gói hàng hóa
• Bảng kê chi tiết
Thống kê cụ thể các loại hàng và các mặt hàng của lô hàng
• Vận đơn đường biển
Là chứng từ chuyển chở hàng hóa đường biển do người chuyên chở hoặc đại diện của người chuyên chở phát hành cho người gửi hàng sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu hoặc sau khi nhận hàng để xếp
Trang 15CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012 – 12/2014 2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM:
2.1.1 Quá trình phát triển của ngành thủy sản Việt Nam
Ra đời từ rất sớm, đánh cá ở Việt Nam cho đến những năm giữa thế kỷ trước vẫn là tự cung tự cấp, trình độ lạc hậu Hoạt động đánh cá chỉ được xem là phụ Sau năm 1950, Đảng
và Nhà nước đã có cái nhìn mới về phát triển nghề cá Từ đó, ngành thủy sản đã dần hình thành và phát triển như một ngành kinh tế - kỹ thuật có vai trò và đóng góp ngày càng lớn
Về khai thác thủy sản: từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần
bờ, khai thác thủy sản đã chuyển dịch thành một ngành cơ giới, tăng cường khai thác ở vùng biển xa bờ, nhằm vào các đối tượng có giá trị cao và đối tượng xuất khẩu Song song với việc khai thác thủy sản xa bờ là ổn định khai thác ven bờ
Về nuôi trồng thủy sản: từ một nghề sản xuất phụ, mang tính tự cung tự cấp, nuôi trồng thủy sản trở thành một ngành hàng hóa tập trung, phát triển ở tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững
Về chế biến xuất khẩu: là lĩnh vực phát triển nhanh và đã tiếp cận với trình độ công nghệ và quản lý tiên tiến trong một số lĩnh vực chế biến thủy sản Sản phẩm thủy sản xuất khẩu đảm bảo chất lượng và tính cạnh tranh, tạo dựng được uy tín trên thị trường thế giới Năm 1995, Việt Nam gia nhập các nước ASEAN và ngành thủy sản Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC)
2.1.2 Vấn đề chung về xuất khẩu thủy sản:
Thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm
Trang 16thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường Nuôi trồng thủy sản đã trực tiếp và gián tiếp tác động lớn đến đời sống của hơn 500 triệu người ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản.
Nhóm cá (Fish): Là những động vật nuôi có đặc điểm cá rõ rệt, chúng có thể là cá nước ngọt hay cá nước lợ
Nhóm giáp xác (Crustaceans): Phổ biến nhất là nhóm giáp xác mười chân, trong đó tôm và cua là các đối tượng nuôi quan trọng
Nhóm động vật thân mềm (Molluscs): Gồm có loài có vỏ vôi, nhiều nhất là nhóm hai mảnh vỏ và đa số sống ở biển và một ít sống ở nước ngọt
Nhóm rong (Seaweeds): Là các loài thực vật bậc thấp, đơn bào, đa bào, có loài kích thước nhỏ, nhưng cũng có loài có kích thước lớn như Chlorella, Spirulina,…
Nhóm bò sát (Reptilies) và lưỡng cư (Amphibians): Bò sát là các động vật bốn chân có màng ối Lưỡng cư là những loài có thể sống cả trên cạn lẫn dưới nước được nuôi để lấy thịt lấy da dùng làm thực phẩm hoặc dùng trong mỹ nghệ
2.1.3 Vai trò của hoạt động xuất khẩu thủy sản:
Thủy sản là một trong những ngành sản xuất kinh doanh hoạt động trong tổng thể kinh
tế - xã hội của loài người Thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho nhân loại, không những thế nó còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho cộng đồng dân cư đặc biệt là ở vùng sông nước và ven biển Nhu cầu thủy sản cho con người luôn tăng không ngừng nhưng nguồn lợi tài nguyên lại có hạn và bị khai thác tới mức trần Vì vậy, ngành nuôi trồng thủy sản phát triển để bù đắp vào những thiếu hụt đó Bên cạnh đó, hoạt động xuất khẩu thủy sản cũng có vai trò to lớn, đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc dân
• Ngành xuất khẩu thủy sản với vấn đề phát triển kinh tế: việc xuất khẩu thủy sản góp phần mạnh mẽ vào kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của quốc gia, có vai trò quan trọng và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
• Ngành xuất khẩu thủy sản so với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế: ngành thủy sản từ
tự cung cấp, giờ đã trở thành ngành có khả năng phát triển kinh tế hàng hóa Phát triển nuôi trồng thủy sản sẽ góp phần chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập, cải thiện mức sống
• Ngành xuất khẩu thủy sản với vấn đề xã hội: tạo thêm nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo; Ổn định xã hội, an ninh quốc gia; Cải thiện tiêu chuẩn dinh dưỡng của nhân dân bằng cách cung cấp thủy sản cho tiêu thụ nội địa
2.1.4 Điều kiện phát triển ngành thủy sản Việt Nam:
• Điều kiện tự nhiên:
Trang 17Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa với bờ biển dài 3260km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2 với 4 nghìn hòn đảo lớn nhỏ tạo nên nhiều eo, vịnh, vũng, đầm, phá, và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn
là nơi cung cấp các dịch vụ hậu cần cơ bản, trung chuyển sản phẩm khai thác, đánh bắt, đồng thời là nơi neo đậu của nhiều tàu thuyền trong những chuyến ra khơi Thềm lục địa nước ta rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), diện tích mặt nước 1 triệu km2, trong đó diện tích khai thác đạt 553km2, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác được khoảng 65% nguồn lực hải sản cho phép
Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1.400.000ha mặt nước nội địa, 300 nghìn ha bãi triều, 400 nghìn ha hồ chứa, sông suối, 600 nghìn ha ao, hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi trồng thủy sản Năng suất nuôi trồng thủy sản mới chỉ bằng 10%-25% năng suất của các nước trong khu vực
Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa tạo điều kiện thuận lợi cho tài nguyên tài sản phát triển một cách thuận lợi
• Điều kiện kinh tế - xã hội
Người dân Việt Nam ta có truyền thống lâu đời cùng kinh nghiệm đánh bắt cá biển và nuôi trồng thủy sản chuyên nghiệp, từ lâu đã xem là ngành kinh tế mũi nhọn Đảng và Nha nước đặc biệt chú trọng, quan tâm với nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, phát triển mạnh mẽ đối với ngành thủy sản
o Các đội tàu được cơ giới hóa, với phương tiện đánh bắt hiện đại
2.2.1 Tình hình khai thác, nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam:
Với những điều kiện thuận lợi để phát triển, sản lượng thủy sản tăng trưởng mạnh mẽ
cả kể số lượng lẫn chất lượng
Trang 18Biểu đồ 2.1: Sản lượng thủy sản Việt Nam (2009-2014) Đơn vị: triệu tấn
(Nguồn: Tổng cục thủy sản)
Từ năm 2009 đến năm 2014, sản lượng thủy sản tăng liên tục Cụ thể tăng từ 4.847 triệu tấn năm 2009 lên đến 6.3 triệu tấn năm 2014, tương ứng tăng 4.4% so với năm 2013 và gần 29.97% trong vòng 6 năm Điều này cho thấy tiềm lực phát triển ngành thủy sản có rất nhiều triển vọng Theo lãnh đạo Tổng cục Thủy sản cho biết tình hình sản lượng năm 2014 được duy trì và đạt kết quả tương đối ổn định Các mô hình sản xuất trên biển theo tổ, đội bước đầu phát huy được hiệu quả Đồng thời, để đề phòng sự cạn kiệt về tài nguyên thủy sản, nhà nước đã khuyến khích và có những chính sách phát triển việc nuôi trồng thủy sản, tăng cường nuôi trồng và hạn chế khai thác thủy sản từ tự nhiên.[Phụ lục 1]
Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản Việt Nam (2009 – 2014)
(Nguồn: Tổng cục thủy sản)