Xem xét những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồntại để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cũng như nâng cao hiệuquả xuất khẩu cà phê Việt Nam trong giai đoạn
Trang 1KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1.1 Kiến thức cơ bản về xuất nhập khẩu 1
1.1.1 Các khái niệm 1
1.1.2 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu 1
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu 3
1.2 Giới thiệu sơ lược về Incoterms 2010 4
1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu 5
1.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu 7
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 – 2012 VÀ GIẢI PHÁP 8
2.1 Giới thiệu về ngành xuất khẩu cà phê Việt Nam 8
2.2 Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012 9
2.2.1 Tình hình sản xuất cà phê của Việt Nam 9
2.2.2 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012 14
2.3 Nhận xét 24
2.3.1 Thuận lợi 24
2.3.2 Khó khăn 26
2.4 Đề xuất giải pháp 29
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC 31
3.1 Nhận xét 31
3.1.1 Cơ sở vật chất 31
3.1.2 Giáo trình, tài liệu học tập, giảng dạy 31
3.1.3 Giảng viên 31
3.1.4 Tính hữu ích của môn học trong thực tiễn 31
3.2 Đề xuất biện pháp 32
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 34
PHỤ LỤC 35
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ như vũ bão trênphạm vi toàn thế giới, lôi cuốn rất nhiều nước trên thế giới tham gia Việt Nam cũngkhông thể nằm ngoài vòng xoáy này và đang nỗ lực hết sức để có thể hoà mình vào tiếntrình này một cách nhanh nhất Hoạt động xuất nhập khẩu sẽ là cầu nối hết sức quantrọng để đẩy nhanh tiến trình này Chính vì vậy mà hoạt động xuất khẩu ngày càng trởnên quan trọng trong chính sách và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam
Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, là mặthàng nông sản xuất khẩu đứng thứ hai về kim ngạch sau gạo Chính vì thế ngành cà phê
đã có một vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân Nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi
để phát triển sản xuất cây cà phê nhưng vẫn chưa phải là một nước sản xuất và xuất khẩu
cà phê lớn nhất thế giới, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được giải quyết Để đẩy mạnhngành xuất khẩu cà phê và để có những bước phát triển bền vững thì cần có những nhận
định đúng đắn và những biện pháp hợp lý Đó là lý do vì sao em chọn đề tài “Thực trạng
xuất khẩu cà phê Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012 và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu
và phát triển thành chuyên đề môn học
1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường các nướctrong những năm gần đây Xem xét những thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồntại để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cũng như nâng cao hiệuquả xuất khẩu cà phê Việt Nam trong giai đoạn tới
2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu
Thực trạng hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012
Nghiên cứu những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu cà phê Việt Nam
Trang 63 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến trình độ
và khả năng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Về thời gian: số liệu thu thập và nghiên cứu chủ yếu từ năm 2009 đến nay
Về không gian: tại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đưa ra những nhận xét, đánh giá, phân tích cũng như những giải pháp phù hợpvới thực tế thì Chuyên đề đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
để nghiên cứu các vấn đề vừa toàn diện, vừa cụ thể, có hệ thống để đảm bảo tính logiccủa đề tài nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp quy nạp,diễn giải, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích so sánh… để phântích, đánh giá vấn đề và rút ra kết luận
5 Kết cấu đề tài
Đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012 và giải pháp
Chương 3: Nhận xét và đánh giá môn học Quản trị Xuất nhập khẩu
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Kiến thức cơ bản về xuất nhập khẩu
1.1.1 Các khái niệm
Xuất khẩu hàng hóa, là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc
đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quanriêng theo quy định của pháp luật
Nhập khẩu hàng hóa, là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước
ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quanriêng theo quy định của pháp luật
Quản trị xuất nhập khẩu, là tổng hợp các hoạt động hoạch định chiến lược và kế
hoạch kinh doanh, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh xuấtkhẩu, nhập khẩu, từ khâu đầu đến khâu cuối của chu kỳ kinh doanh (giao dịch, đàm phánhợp đồng; soạn thảo, ký kết hợp đồng và tổ chức thực hiện hợp đồng) nhằm đạt được mụctiêu đề ra một cách hiệu quả nhất
1.1.2 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, không một quốc gia nào có thể tựsản xuất tất cả các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu trong nước Vì vậy thamgia vào hoạt động thương mại quốc tế là điều kiện cần thiết cho mỗi quốc gia Mỗi quốcgia phải thông qua trao đổi, mua bán với các quốc gia nhằm thoả mản nhu cầu của mình.Như vậy, hoạt động xuất khẩu góp phần quan trọng vào sự phát triển hay suy thoái, lạchậu của quốc gia so với thế giới
Đối với nền kinh tế thế giới: Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia tham
gia vào phân công lao động quốc tế Các quốc gia sẽ tập trung vào sản xuất và sản xuấtnhững hàng hoá và dịch vụ mà mình không có lợi thế Xét trên tổng thể nền kinh tế thếgiới thì chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sẽ làm cho việc sử dụng các nguồn lực có
Trang 8hiệu quả hơn và tổng sản phẩm xã hội toàn thế giới tăng lên Bên cạnh đó xuất khẩu gópphần thắt chặt thêm quan hệ quốc tế giữa các quốc gia.
Đối với nền kinh tế quốc dân: Xuất khẩu tạo nguồn vốn quan trọng, chủ yếu để
quốc gia thoả mãn nhu cầu nhập khẩu và tĩch luỹ để phát triển sản xuất Ở các nước kém
phát triển vật ngăn cản chính đối với nền kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn trong quá trìnhphát triển Nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là cở sở chính nhưng mọi cơ hộiđầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài thấy được khả năng xuất khẩu của đất nước đó, vì đây
là nguồn chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ Đẩy mạnh xuất khẩu được xem nhưmột yếu tố quan trọng kích thích sự tăng trưởng kinh tế Việc đẩy mạnh xuất khẩu sẽ tạođiều kiện mở rộng qui mô sản xuất, nhiều ngành nghề mới ra đời phục vụ cho xuất khẩu,gây phản ứng dây chuyền giúp cho các ngành kinh tế khác phát triển theo, dẫn đến kếtquả tăng tổng sản phẩm xã hội và nền kinh tế phát triển nhanh Xuất khẩu có ích lợi kíchthích đổi mới trang thiết bị và công nghiệp sản xuất Để có thể đáp ứng được nhu cầu caocủa thế giới về qui cách phẩm chất sản phẩm thì một sản phẩm sản xuất phải đổi mớitrang thiết bị công nghệ, mặt khác người lao động phải nâng cao tay nghề, học hỏi nhữngkinh nghiệm sản xuất tiên tiến Thông qua xuất khẩu, hàng hoá trong nước sẽ tham giavào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả và chất lượng Cuộc cạnh tranh nàyđòi hỏi các nhà sản xuất trong nước phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuấtphù hợp với nhu cầu thị trường Ngoài ra, xuất khẩu còn đòi hỏi các nhà doanh nghiệpphải luồng đổi mới công hoàn thiện công tác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chấtlượng sản phẩm và hạ giá thành
Đối với doanh nghiệp: Thông qua xuất khẩu các doanh nghiệp trong nước có cơ
hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Những yếu
tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường.Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới và hoàn thiện tác quản lý sản xuất,kinh doanh nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành Xuất khẩu tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ kinh doanh với các bạn hàng cả trong
và ngoài nước, trên cơ sở hai bên cùng có lợi, tăng doanh số và lợi nhuận, đồng thời phântán và chia sẻ rủi ro, mất mát trong hoạt động kinh doanh, tăng cường uy tín kinh doanhcủa doanh nghiệp Xuất khẩu khuyến khích việc phát triển các mạng lưới kinh doanh của
Trang 9doanh nghiệp, chẳng hạn như hoạt động đầu tư, nghiên cứu và phát triển các hoạt độngsản xuất, marketing…, cũng như sự phân phối và mở rộng trong việc cấp giấy phép.
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu
Sự cạnh tranh: Các điều kiện về chi phí tạo ra giá sàn, các điều kiện về nhu cầu tạo
ra giá trần, thì những điều kiện cạnh tranh để quyết định giá xuất khẩu thực sự nằm ở đâugiữa hai giới hạn đó Trong một thị trường cạnh tranh hoàn toàn thì nhà xuất khẩu có rất ítquyền định đoạt đối với giá cả Khi đó, vấn đề định giá chỉ còn là quyết định bán haykhông bán sản phẩm vào thị trường đó Trong một thị trường cạnh tranh không hoàn toànhoặc độc quyền thì nhà xuất khẩu có một số quyền hạn để định giá của một số sản phẩmphù hợp với những phân khúc thị trường đã được chọn lựa trước, và thông thường họ cóquyền định giá sản phẩm xuất khẩu ở mức cao hơn so với giá thị trường trong nước
Sự ảnh hưởng bởi chính trị và luật pháp: Nhà xuất khẩu phải chấp nhận luật pháp
nước ngoài sở tại về các chính sách của họ như: biểu thuế nhập khẩu, hạn chế trong nhậpkhẩu, luật chống bán phá giá, kể cả chính sách tiền tệ
Thuế quan: Trong hoạt động xuất khẩu thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn
vị hàng xuất khẩu Việc đánh thuế xuất khẩu được chính phủ ban hành nhằm quản lý xuấtkhẩu theo chiều hướng có lợi nhất cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệkinh tế đối ngoại Tuy nhiên, thuế quan cũng gây ra một khoản chi phí xã hội do sản xuấttrong nước tăng lên không có hiệu quả và mức tiêu dùng trong nước lại giảm xuống Nhìnchung công cụ này thường chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chế số lượngxuất khẩu và bổ sung cho nguồn thu ngân sách
Hạn ngạch: Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó
được hiểu như qui định của Nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay của mộtnhóm hàng được phép xuất khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việc cấp giấyphép Sở dĩ có công cụ này vì không phải lúc nào Nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu
mà đôi khi về quyền lợi quốc gia phải kiểm soát một vài mặt hàng hay nhóm hàng nhưsản phẩm đặc biệt, nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu…
Trang 10Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu: Tỷ giá hối đoái là giá cả
của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ của nước kia Tỷ giá hốiđoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyếtđịnh liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩunói riêng Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn so vớinước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá nguyên vật liệu đầu vàothấp hơn, chi phí nhân công rẻ hơn làm cho gia thành sản phẩm ở nước xuất khẩu rẻ hơn
so với nước nhập khẩu Còn đối với nước nhập khẩu thì cầu về hàng nhập khẩu sẽ tănglên do phải mất chi phí lớn hơn để sản xuất hàng hoá ở trong nước Điều này đã tạo điềukiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu tăng nhanh được các mặt hàng xuất khẩu của mình,
do đó có thể tăng được lượng dự trữ ngoại hối
1.2 Giới thiệu sơ lược về Incoterms 2010
Trong quá trình phát triển thương mại quốc tế đã dần dần hình thành những tậpquán thương mại Nhưng ở mỗi khu vực, mỗi nước lại có những tập quán thương mạikhác nhau Vì vậy Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đã phát hành bộ quy tắc Incoterms(International Commercial Terms – Các điều kiện thương mại quốc tế)
Mục đích của Incoterms là cung cấp bộ quy tắc quốc tế để giải thích những điềukiện thương mại thông dụng nhất trong ngoại thương Incoterms làm rõ sự phân chia tráchnhiệm, chi phí và rủi ro trong quá trình chuyển hàng từ người bán đến người mua
Incoterms được sửa đổi, bổ sung nhiều lần Gần đây nhất, tháng 9 năm 2010 ICCcho phát hành Incoterms 2010, có hiệu lực từ 01/01/2011 Incoterm 2010 có 11 quy tắc/điều kiện, được chia làm 2 nhóm chính, nội dung của từng quy tắc được trình bày mộtcách đơn giản và rõ ràng hơn
Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải:
EXW: Giao tại xưởng
FCA: Giao cho người chuyên chở
CPT: Cước phí trả lời
CIP: Cước phí và bảo hiểm trả lời
Trang 11 DAT: Giao tại bến
DAP: Giao tại nơi đến
DDP: Giao hàng đã nộp thuế
Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và thủy nội địa
FAS: Giao dọc mạn tàu
FOB: Giao lên tàu
CFR: Tiền hàng và cước phí
CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí
Nhóm thứ nhất gồm bảy điều kiện có thể sử dụng cho bất kỳ phương thức vận tảinào kể cả vận tải đa phương thức Nhóm này gồm các điều kiện EXW, FCA, CPT, CIP,DAT, DAP, DDP Trong nhóm thứ hai, địa điểm giao hàng và nơi hàng hóa được chở tớingười mua đều là cảng biển, vì thế chúng được xếp vào nhóm các điều kiện “đường biển
và đường thủy nội địa” Nhóm này gồm các điều kiện FAS, FOB, CFR và CIF Ở ba điềukiện sau cùng, mọi cách đề cập tới lan can tàu như một điểm giao hàng đã bị loại bỏ Thayvào đó, hàng hóa xem như đã được giao khi chúng đã được “xếp lên tàu” Điều này phảnánh sát hơn thực tiễn thương mại hiện đại và xóa đi hình ảnh đã khá lỗi thời về việc rủi ro
di chuyển qua một ranh giới tưởng tượng – lan can tàu
1.3 Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Thanh toán quốc tế là công việc rất quan trọng mà mọi nhà quản trị xuất nhập khẩutrên thế giới đều rất quan tâm Có thể nói cách giải quyết vấn đề thanh toán là đại bộ phậncủa công việc thanh toán Chất lượng của công tác này sẽ có ảnh hưởng quyết định đếnhiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu
Trong thanh toán quốc tế có nhiều phương thức như:
Trả tiền mặt (in cash):
Người mua thanh toán bằng tiền mặt cho người bán khi người bán giao hàng hoặcchấp nhận đơn đặt hàng của người mua
Ghi sổ:
Trang 12Người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua, sau khingười bán đã hoàn thành việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ, theo đó đến thời hạn quyđịnh người mua sẽ trả tiền cho người bán.
Mua bán đối lưu (đổi hàng):
Mua bán đối lưu là các hoạt động trao đổi hàng hóa trong thương mại quốc tế,trong đó hai (nhiều) bên tiến hành trao đổi hàng hóa nọ lấy hàng hóa kia Có các hìnhthức mua bán đối lưu: Nghiệp vụ Barter, nghiệp vụ song phương xuất nhập, nghiệp vụBuy – Back
để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền
Đổi chứng từ lấy tiền (CAD):
Nhà nhập khẩu yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác để thanh toán tiền cho nhàxuất khẩu, khi nhà xuất khẩu xuất trình đầy đủ những chứng từ theo yêu cầu Nhà xuấtkhẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ xuất trình bộ chứng từ cho ngân hàng đểnhận tiền thanh toán
Tín dụng chứng từ:
Là một sự thỏa thuận mà trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng)theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhấtđịnh cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hốiphiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình
Trang 13cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thưtín dụng.
1.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Các bước thực hiện hợp đồng xuất khẩu:
Làm thủ tục xuất khẩu theo quy định của Nhà nước
Thực hiện những công việc ở giai đoạn đầu của khâu thanh toán
Chuẩn bị hàng hóa để xuất khẩu
Kiểm tra hàng xuất khẩu
Làm thủ tục hải quan
Thuê phương tiện vận tải
Giao hàng cho người vận tải
Mua bảo hiểm cho hàng hóa xuất khẩu
Lập bộ chứng từ thanh toán
Khiếu nại
Thanh lý hợp đồng
Các chứng từ chủ yếu:
Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice)
Vận đơn đường biển
Chứng từ bảo hiểm
Giấy chứng nhận chất lượng (Certificate Of Quality)
Giấy chứng nhận số lượng/ trọng lượng (Certificate Of Quantity/ Weight)
Giấy chứng nhận xuất xứ (Certificate Of Origin)
Giấy chứng nhận kiểm dịch và giấy chứng nhận vệ sinh
Phiếu đóng gói (Packing List)
Trang 14CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CÀ PHÊ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2009 – 2012 VÀ GIẢI PHÁP
2.1 Giới thiệu về ngành xuất khẩu cà phê Việt Nam
Là một nước nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có lưu lượng mưa lớn chonên Việt Nam có điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp Thêm vào đó, vùngTây Nguyên và Đông Nam Bộ có không khí mát mẻ cộng với nền đất bazan màu mỡ rấtthích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp trong đó cà phê là một loại cây điển hình.Xuất khẩu nông sản nói chung và xuất khẩu cà phê nói riêng là một trong những ngànhđem lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế trong nước Đây là một ngành kinh tế mũinhọn của Việt Nam, giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế, giải quyết vấn đề việc làm, giảmgánh nặng cho xã hội… Những năm gần đây Việt Nam đã trở thành nước đứng thứ haitrên thế giới trong việc xuất khẩu cà phê (đứng sau Brazin)
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO (World Trade Organization) tổ chức thương mạithế giới năm 2007, nền kinh tế bước vào một giai đoạn phát triển mới Trong đó lĩnh vựcxuất khẩu cà phê cũng chuyển sang một bước ngoặc lớn Đến năm 2011, kim ngạch xuấtkhẩu cà phê đạt hơn 2,7 tỷ USD, tăng hơn so với năm 2010 khoảng 45,4% Xuất khẩu càphê đem lại nguồn thu ngoại hối đứng thứ hai cho quốc gia (trong lĩnh vực xuất khẩunông nghiệp), chỉ đứng sau gạo Sản phẩm cà phê Việt Nam đã bán được trên nhiều quốcgia trên thế giới Bên cạnh các thị trường tiêu thụ lớn như châu Âu, châu Mỹ,… cà phêcòn được xuất khẩu sang các nước Nam Mỹ, Trung Đông
Cà phê Việt Nam cũng là nguồn nguyên liệu chủ yếu của nhiều hãng sản xuất càphê lớn trên thế giới, đáng chú ý có tập đoàn Nestle’, Nestle’ là một trong những kháchhàng lớn nhất của cà phê Việt Nam, mỗi năm hãng này tiêu thụ khoảng 20 – 25% trongtổng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam
Trang 152.2 Thực trạng xuất khẩu cà phê Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012
2.2.1 Tình hình sản xuất cà phê của Việt Nam
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1870 và được trồng ở Việt Nam
từ năm 1888 Pháp đã mang cây cà phê Arabica từ đảo Bourbon sang trồng ở phía BắcViệt Nam sau đó mở rộng sang các vùng khác Khi đó, hầu hết cà phê được xuất khẩu
sang pháp dưới thương hiệu Arabica du Tonkin
Đầu thế kỷ 20, cây cà phê được trồng ở một số đồn điền người Pháp tại Phủ Quỳ(Nghệ An) và một số nơi ở Tây Nguyên với diện tích không quá vài nghìn ha Năm 1930,Việt Nam có khoảng 7000 ha cà phê Trong thời kỳ những năm 1960 – 1970, cây cà phêđược phát triển ở một số nông trường quốc doanh ở các tỉnh phía Bắc, khi cao nhất (1964– 1966) đã đạt tới hơn 20000 ha Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, tổng diện tích càphê Việt Nam chỉ còn khoảng 19.000 ha
Trong giai đoạn 2000 – 2005, diện tích trồng cà phê có xu hướng giảm dần do giá
cà phê trên thị trường thế giới giảm, ở một số vùng, nông dân chặt cà phê do nợ nhiều,không có khả năng đầu tư nhiều cho sản xuất Mặt khác, chính phủ cũng khuyến khíchgiảm diện tích trồng cà phê ở những khu vực có điều kiện không thuận lợi Theo số liệucủa tổng cục thống kê, trong vòng 5 năm (2000 đến 2005), diện tích trồng cà phê của ViệtNam đã giảm khoảng 70 nghìn ha và dự kiến sẽ còn tiếp tục giảm ở những khu vực cóđiều kiện không thuận lợi Song song với xu hướng giảm diện tích, sản lượng cà phê trong
5 năm này cũng giảm khoảng 35 nghìn tấn
Trang 16Biểu đồ 2.2.1: Tình hình sản xuất cà phê Việt Nam (1986 – 2005)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Sau khi gia nhập vào WTO (11/01/2007) các nhà kinh doanh kỳ vọng sản lượngsản xuất cà phê trong nước sẽ tăng để đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu nhưng nhìn chungthì sản lượng cà phê sản xuất ra chưa cao cùng với đó là chất lượng giảm Do giá cà phêViệt Nam còn phụ thuộc vào giá thế giới cùng với đó là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giớinăm 2008 làm cho giá cà phê trên thị trường thế giới biến động liên tục, kéo theo giá phânbón cùng với các chi phí khác tăng cao dẫn đến chi phí sản xuất tăng lên nhưng giá bánthì lên xuống thất thường Đặc biệt là do biến đổi khí hậu thời tiết thất thường cũng lànhân tố làm giảm sản lượng sản xuất Nhà nước vẫn chưa có chính sách hướng dẫn giúpngười trồng cà phê đối phó với các rủi ro như khủng hoảng thừa, giá cả lên xuống thấtthường, áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, tạo ra được mối liên kết giữa bên mua
và bên bán Do lâu nay có tới trên 90% diện tích và sản lượng cà phê thuộc về các chủtrang trại, chủ vườn, các hộ nông dân làm ăn riêng lẻ Với trên 500 ngàn hộ nông dântrồng cà phê, việc chuyển giao kỹ thuật, cập nhật thông tin cho họ đều vô cùng khó khăn.Nhìn chung có thể thấy tình hình sản xuất cà phê của Việt Nam năm 2009 gặp nhiều khókhăn
Trang 17Biểu đồ 2.2.2: Tình hình sản suất cà phê Việt Nam (2005 – 2011)
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)
Sản lượng cà phê nước ta niên vụ 2008/2009 đạt khoảng 18 triệu bao (tương đương1,08 nghìn tấn) Sản lượng trung bình khoảng 2,16 tấn/ha Chính phủ đã cố gắng hạn chếviệc mở rộng diện tích canh tác từ 500.000 đến
525.000 ha Thay vào đó là việc tập trung đầu tư
nhằm cải thiện năng suất diện tích gieo trồng hiện
có Trong một vài năm gần đây, nhiều nông dân đã
mở rộng diện tích trồng cà phê trung bình khoảng
2.000 ha/năm Diện tích trồng cà phê Arabica hiện
nay khoảng 35.000 ha chiếm khoảng 6% tổng diện
tích cà phê của cả nước Đến hết năm 2010 sản
lượng cà phê nước ta chiếm 14%, đứng thứ 2 trên
thế giới, và đặc biệt là năng suất đứng đầu thế giới
Biểu đồ 2.2.3 :Tỷ trọng sản lượng
cà phê thế giới (2010), Nguồn: ICO
Trang 18Chính phủ vẫn tiếp tục khuyến khích nông dân áp dụng GAP – một công cụ nhằmnâng cao sản lượng và duy trì tính bền vững trong sản xuất Viện Khoa học Kỹ thuậtNông lâm nghiệp Tây Nguyên cũng đã tiến hành nghiên cứu, lựa chọn và cho lai nhiềugiống cà phê mới đồng thời hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân trong việc thay thế các cây càphê lâu năm cho phù hợp với điều kiện của khu vực canh tác và thu được lợi nhuận cao.
Cà phê nước ta vẫn được trồng chủ yếu ở 5 tỉnh Tây Nguyên, chiếm trên 80% diện tích càphê của cả nước
Bảng 2.2.1: Tình hình sản suất cà phê Việt Nam (2009 – 2011)
Tổng diện tích (1000 ha) 538.5 548.2 570.9Diện tích cho sản phẩm (1000 ha) 507.2 514.4 533.8Sản lượng (tấn) 1057.5 1105.7 1167.9Năng suất (tạ/ha) 20.8 21.5 21.9
(Nguồn: số liệu của Bộ NN&PTNT)
Biểu đồ 2.2.4: Sản lượng cà phê Việt Nam theo tỉnh thành (2011)
(Nguồn: Bộ NN&PTNT Việt Nam)
Trang 19Hiện nay, theo đánh giá sơ bộ sản lượng cà phê năm 2012 tiếp tục tăng do diện tíchbắt đầu cho sản phẩm tăng, sản lượng ước đạt 1291 nghìn tấn, tăng 1.1% so với năm 2011(Bộ NN&PTNT) Tuy vậy, diện tích cà phê có độ tuổi trên 20 năm của cả nước đạt trên100.000 ha, dự kiến trong 5 năm tới diện tích này sẽ tăng lên 150.000 ha Cà phê già cỗi
có năng suất thấp, dưới 1,5 tấn/ha nên cần được tái canh trong thời gian tới để giữ cho sảnlượng cà phê Việt Nam không bị sụt giảm mạnh Việc tái canh cây cà phê thời gian quagặp nhiều khó khăn do chi phí tái canh cà phê cũng rất cao trong khi cây trồng lại gặpnhiều rủi ro vì sâu bệnh Ngoài ra, do giá cà phê trong nước ở mức tương đối cao khiếncho người dân không muốn phá bỏ trồng mới Theo Viện Khoa học kỹ thuật nông lâmnghiệp Tây Nguyên, việc trồng xen kẽ sẽ giúp giữ vững được lợi nhuận trong thời giancác cây non đang trưởng thành Việc trồng xen cây mắc ca và cây bơ trên đất trồng cà phêkhoảng 3 năm trước khi việc thay thế cây cà phê kém chất lượng là một giải pháp hợp lý
Vì trong vòng 4 năm cây mắc ca và cây bơ sẽ ra quả và người nông dân sẽ có thêm mộtkhoản thu nhập trong khi đợi cây cà phê non trưởng thành Chiến lược này sẽ trở nên vôcùng quan trọng đối với người nông dân trong trường hợp chính phủ Việt Nam không hỗtrợ tài chính cho việc thay thế cây cà phê kém chất lượng
Bảng 2.2.5: Sản lượng cà phê Việt Nam từ mùa vụ 2001/2002 đến mùa vụ 2011/2012
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp Mỹ)
Các chuyên gia quốc tế (Ngân hàng quốc tế Rabobank) dự báo sản lượng cà phêcủa Việt Nam trong niên vụ 2011/12 có thể đạt 22,5 triệu bao (tương đương 1,35 triệutấn), và có thể tăng lên mức 23,5 triệu bao (tương đương 1,41 triệu tấn) trong niên vụ2012/13 tới Trong đó, sản lượng cà phê Arabica ước tính đạt 750.000 bao, tăng 25% so
Trang 20với năm ngoái Việc sản xuất sẽ được tập trung ở hai tỉnh là Sơn La và Lâm Đồng Sảnlượng cà phê Arabica chỉ chiếm 3% trong tổng sản lượng cà phê của Việt Nam Mặc dùdiện tích đất trồng và sản lượng của cà phê Arabica đang tăng nhưng dự đoán sản lượngcủa loại cà phê này rất khó có thể vượt qua con số 5% tổng sản lượng trong 5 năm tới.
Việt Nam đưa ra kế hoạch trồng cà phê tổng thể nhằm gia tăng sản lượng đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030 Theo đó, tổng diện tích trồng cà phê được duy trì ở mức500.000 ha vào năm 2020, với sản lượng tăng 2,4 tấn/ha và 479.000 ha với sản lượng đạt2,5 tấn/ha vào năm 2030
2.2.2 Tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam giai đoạn 2009 – 2012
o Thị trường xuất khẩu
Ngành xuất khẩu cà phê nước ta có trên 140 doanh nghiệp xuất khẩu, với 4 doanhnghiệp hàng đầu là TCT Cà phê Việt Nam, Cà phê 2/9, XNK Intimex, và Tập đoàn TháiHòa Các doanh nghiệp nhỏ lẻ tổ chức mua và xuất khẩu cà phê, đồng thời bán lại chokhoảng 20 doanh nghiệp nước ngoài có nhà máy hoặc cơ quan đại diện tại Việt Nam
Hiện nay, cà phê Việt Nam đã có mặt tại hơn 75 quốc gia trên thế giới, thị phần đạt12% sản lượng thế giới (số liệu năm 2010, nguồn ICO) Những thị trường nhập khẩu càphê chủ yếu của Việt Nam là Hoa Kỳ, Đức, Bỉ, Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Anh, HànQuốc, Hà Lan, Nga… 10 quốc gia trên chiếm tỷ trọng gần 60% tổng giá trị xuất khẩu mặthàng cà phê Cà phê Việt Nam cũng là nguồn nguyên liệu chủ yếu của nhiều hãng sảnxuất cà phê lớn trên thế giới, đáng chú ý có tập đoàn Nestle’, Nestle’ là một trong nhữngkhách hàng lớn nhất, mỗi năm hãng này tiêu thụ khoảng 20% - 25% trong tổng lượng càphê xuất khẩu của Việt Nam
Dẫn đầu về kim ngạch năm 2009 là thị trường Đức với 201,77 triệu USD, chiếm11,66% tổng kim ngạch; thứ 2 là thị trường Hoa Kỳ với 196,67 triệu USD, chiếm11,36%; tiếp theo là thị trường Bỉ 190,5 triệu USD, chiếm 11%
Trong năm 2009, xuất khẩu cà phê sang các thị trường hầu hết bị giảm kim ngạch
so với năm 2008 Dẫn đầu về mức sụt giảm kim ngạch là xuất khẩu sang Thái Lan năm
2009 đạt 4,45 triệu USD, giảm 85,12% so với năm 2008; tiếp theo là xuất khẩu sang
Trang 21Singapore đạt 19,77 triệu USD, giảm 57,58%; tiếp theo là thị trường Nga giảm 44,58%;sang Hàn Quốc giảm 44,03%
Chỉ có 5 thị trường đạt mức tăng kim ngạch so với năm 2008 Kim ngạch xuấtkhẩu sang Indonesia tuy chỉ đứng thứ 18 trong bảng xếp hạng kim ngạch, đạt 17,19 triệuUSD, nhưng đạt mức tăng cao nhất tới 376,57% so với năm 2008; đứng thứ 2 về mức độtăng trưởng kim ngạch là kim ngạch xuất sang Ấn Độ đạt 22,51triệu USD, tăng 112,2%;tiếp đến kim ngạch xuất sang Hà Lan đạt 46,8 triệu USD, tăng 45,41%; Kim ngạch xuấtsang Bỉ năm 2009 tuy đạt kim ngạch lớn trên 190,5 triệu USD, nhưng mức tăng kimngạch so với năm 2008 chỉ đạt 13,35%; kim ngạch xuất sang Philippin tăng 12,86%
Nhìn chung, khối lượng xuất khẩu cà phê tới hầu hết các thị trường chính trongquý 1/2011 đều tăng rất mạnh so với cùng kỳ năm 2010 Đứng đầu là Bỉ với lượng xuấtkhẩu lên tới 58 nghìn tấn, trị giá 119 triệu USD, tăng kỷ lục từ trước tới nay; đứng sau đó
là Mỹ đạt 57 nghìn tấn, trị giá 133,1 triệu USD, tăng 44% về lượng và 120% về trị giá;Đức đứng vị trí thứ 3, tuy nhiên mức tăng trưởng đạt không cao (2% về lượng, 55% về trịgiá) tương đương 49 nghìn tấn, trị giá 105,7 triệu USD Trái lại, lượng xuất khẩu tới một
số thị trường như Nhật Bản, Anh, Nga, ấn Độ… lại giảm so với cùng kỳ năm trước
Biểu đồ 2.2.6: Thị trường xuất khẩu cà phê Việt Nam đến tháng 11 năm 2011
Hoa Kỳ Đức Bỉ Italia Tây Ban Nha Nhật Bản Anh Hàn Quốc
Hà Lan Nga Khác
(Nguồn: Số liệu của Bộ NN&PTNT Việt Nam)