Những nguyên tắc của một xã hội bền vững - Nguyên tắc 1: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng - Nguyên tắc 2: Cải thiện chất lượng cuộc sống - Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự sống v
Trang 1KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
- Luật bảo vệ môi trường thông qua ngày 27-02-1993 của Việt nam: Môi trường bao gồm các yếu tố
tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ánh hưởng tới đờisống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên
- Môi trường trong phạm vi nghiên cứu của kinh tế môi trường chính là môi trường địa lý hoặc môi
trường sống của con người theo định nghĩa của UNEP Đó chính là hệ thống các hoàn cảnh chứa đựng và
thể hiện các quan hệ phức tạp giữa những thành phần tự nhiên, kinh tế và con người, tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định.
* Phân loại môi trường
- Tài nguyên (resource) là tất cả các dạng vật chất, phi vật chất và tri thức được sử dụng để tạo ra của
cải vật chất hoặc tạo ra giá trị sử dụng mới cho con người
- Các nguồn lực được khai thác từ môi trường thiên nhiên được gọi là tài nguyên thiên nhiên (hay vốn
tự nhiên), từ môi trường KT-XH được gọi là tài nguyên nhân tạo hay vốn nhân tạo
* Phân loại tài nguyên thiên nhiên:
Hiện nay quan điểm của các nhà kinh tế môi trường đều thống nhất phân loại tài nguyên thiên nhiêntheo khả năng tái sinh, trong đó TNTN được chia làm 2 loại:
Trang 2Tài nguyên TN
Hình 1.1 Sơ đồ thể hiện phân loại nguồn TNTN
1.3 Vai trò của MT đối với con người
Đối với một cá thể con người cũng như đối với một cộng đồng con người và cả xã hội loài người, MTsống có 3 chức năng:
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên:
- Môi trường là nơi chứa chất thải:
- Môi trường là không gian sống và cung cấp các dịch vụ cảnh quan: 2 Phát triển bền vững
2.1 Khái niệm về phát triển bền vững
- Theo nhà kinh tế học Herman Daly (làm việc ở WB) thì một thế giới bền vững là một thế giới không
sử dụng các nguồn tài nguyên tái sinh và tạo tiền đề tái sinh nhanh hơn quá trình tìm ra những loại thay thếchúng và không thải ra môi trường các chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và vô hiệu hoáchúng
- Năm 1987 Uỷ ban thế giới về MT &PT đã công bố báo cáo “Tương lai của chúng ta” Thuật ngữ
phát triển bền vững cũng đã lần đầu tiên được đưa ra trong báo cáo này Theo đó PTBV (Sustainable
Development) là sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thế hệ tương lai.
2.2 Nội dung phát triển bền vững
Phát triển bền vững thực chất là sự phát triển có tính tổng hợp cao và có hệ thống Tiếp cận quanđiểm hệ thống và tổng hợp cho phép hai nhà môi trường học Canada là Jacobs và Sadler trình bày mối quan
hệ biện chứng giữa phát triển và môi trường theo hình dưới đây:
Trang 3Kinh tế
Xã hội
Môi trường
PTBV
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế-xã hội và môi trường
Mô hình trên đã được Mohan Munasingle, chuyên gia của WB phát triển vào năm 1993 như sau:
- Công bằng giữa các thế hệ - Đánh giá tác động môi trường
- Mục tiêu trợ giúp việc làm - Tiền tệ hoá tác động môi trường
- Sự tham gia của quần chúng
Chỉ số này rất khó lượng hoá vì tuỳ thuộc rất nhiều vào hoàn cảnh tự nhiên trên từng lãnh thổ
2.3.2 Chỉ số phát triển con người
Trang 4Chỉ số phát triển con người (Human Development Index- HDI) là thước đo tổng hợp về về sự pháttriển của con người trên phương diện sức khoẻ, tri thức và thu nhập, trong đó bao gồm 3 chỉ tiêu trình độ giáodục, tuổi thọ và thu nhập đầu người.
- Chỉ số phát triển giáo dục: là tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục
- Chỉ số tuổi thọ bình quân:
- Chỉ số thu nhập đầu người:
2.4 Những nguyên tắc của một xã hội bền vững
- Nguyên tắc 1: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống của cộng đồng
- Nguyên tắc 2: Cải thiện chất lượng cuộc sống
- Nguyên tắc 3: Bảo vệ sự sống và tính đa dạng của trái đất
- Nguyên tắc 4: Bảo đảm chắc chắn việc sử dụng các nguồn tài nguyên
- Nguyên tắc 5: Giữ vững trong khả năng chịu đựng của trái đất
- Nguyên tắc 6: Thay đổi thái độ và thói quen sống của mọi người
- Nguyên tắc 7: Cho phép các cộng đồng tự quản lý lấy môi trường của mình
- Nguyên tắc 8: Tạo ra một cơ cấu quốc gia thống nhất cho việc phát triển và bảo vệ
- Nguyên tắc 9: Kiến tạo một cơ cấu liên minh toàn cầu
3 Liên kết giữa kinh tế và môi trường (3 tiết)
3.1 Kinh tế môi trường và kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Mô hình dưới đây mô tả mối liên kết giữa kinh tế và môi trường
Hình 1.5: Liên kết kinh tế và môi trường
- Mối liên kết (a) mô tả các nguyên liệu thô chuyển vào quá trình sản xuất và tiêu dùng Lĩnh vực
nghiên cứu vai trò cung cấp nguyên liệu thô của thiên nhiên được gọi là Kinh tế tài nguyên thiên nhiên.
- Mối liên kết (b) thể hiện sự tác động của hoạt động kinh tế đến chất lượng môi trường tự nhiên Lĩnhvực nghiên cứu về sự vận chuyển của các chất thải từ hoạt động kinh tế và các tác động tổng hợp của nó đối
với thế giới tự nhiên gọi là Kinh tế môi trường
3.2 Cân bằng vật chất và chất lượng môi trường
Hình 1.6 là một phiên bản phức tạp hơn của những mối liên hệ đã được thể hiện ở hình 1.5 Các yếu
tố trong vòng tròn là những thành phần của hệ thống kinh tế và toàn bộ chúng được bao bọc trong môi trường
tự nhiên
KINH TẾ
Thiên nhiên
Trang 5Hình 1.6 Cân bằng vật chất và quan hệ giữa kinh tế và môi trường
(Nguồn: Phiên bản từ Barry Field và Nancy Olewiler, Environmental Economics 2005)
Trong hình 1.6 nguyên vật liệu và năng lượng (M) được lấy ra từ môi trường tự nhiên và các chấtthải từ sản xuất và tiêu dùng (Rpd và Rcd) được thải trở lại vào môi trường Theo quy luật nhiệt động học thứ
nhất (một quy luật nổi tiếng về bảo toàn vật chất) khẳng định rằng trong dài hạn hai dòng vật chất này phải
Có 3 cách để giảm M và do đó giảm các chất thải vào môi trường tự nhiên:
- Giảm G: Nghĩa là giảm chất thải bằng cách giảm số lượng hàng hoá và dịch vụ sản xuất Có nhiều
quan niệm khác nhau:
(1) Giảm lượng sản phẩm sản xuất ra hay ít nhất ngưng tốc độ tăng trưởng của nó lại sẽ thực hiệnđược sự thay đổi tương ứng về lượng chất thải
(2) Một số người đã tìm kiếm giải pháp để đạt được điều này thông qua chủ trương “dân số khôngtăng trưởng” (ZPG- Zero Polulation Growth)
Môi trường thiên nhiên
Nguyên
liệu thô (M)
Người SXNgười tiêu thụ
Đã tái tuần hoàn (Rpr)
Trang 6- Giảm Rp: Nghĩa là giảm chất thải trên mỗi đơn vị thành phẩm được sản xuất Có 2 cách cơ bản để
thực hiện điều này:
(1) Giảm cường độ chất thải của sản xuất
(2) Thay đổi kết cấu sản phẩm từ những vật liệu có tỷ lệ chất thải cao sang loại vật liệu có tỷ lệ chấtthải thấp hơn trong khi không làm thay đổi tổng thể
- Tăng (Rp r + Rc r ): Tăng tái chế nhằm thay thế một phần dòng nguyên liệu đầu vào trong khi vẫn
duy trì được đầu ra của các loại hàng hoá và dịch vụ
4.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế môi trường
Kinh tế môi trường là môn khoa học nghiên cứu các vấn đề môi trường với cách nhìn và phương phápphân tích của kinh tế học
Các nhà kinh tế môi trường đang phải rất vất vả chỉ ra cho mọi người thấy rằng đối với họ cũng nhưđối với phần lớn các nhà kinh tế, thì “kinh tế” không phải chỉ có nghĩa là những gì xảy ra cho sự lưu thôngtiền tệ trên thị trường Những thay đổi về mặt phúc lợi của con người là hậu quả kinh tế
Nghiên cứu kinh tế môi trường cũng giống như các chuyên ngành khác của kinh tế học quan tâm đếnvấn đề cơ bản là phân phối các nguồn tài nguyên khan hiếm cho các mục đích sử dụng có tính cạnh tranh
4.2 Vai trò của khuyến khích trong việc giải thích các vấn đề môi trường
- Tại sao con người lại hành xử theo các cách thức gây huỷ hoại môi trường? Có nhiều cách trả lờicâu hỏi này Một cách trả lời đó là hành vi vô đạo đức của con người Nếu điều này là đúng thì cách để conngười ngừng gây ô nhiễm là phải nâng cao nhận thức về đạo đức môi trường trong xã hội Không phải sựkém ý thức đạo đức sẽ dẫn đến phá hoại môi trường mà chính là cách thức chúng ta tạo nên hệ thống kinh tế
để trong đó mọi người cần phải tìm công việc để sinh sống
- Vì vậy cách thức thứ hai để nghiên cứu vấn đề tại sao con người gây ô nhiễm là quan sát cách thứcxây dựng nền kinh tế và thể chế và bằng cách nào chúng hướng mọi người đưa ra các quyết định gây hậu quả
phá hoại môi trường Các nhà kinh tế học tin rằng: “Con người gây ô nhiễm bởi vì đó là phương cách rẻ nhất để giải quyết một vấn đề rất thực tế là làm thế nào để thải bỏ các chất thải sau quá trình sản xuất và tiêu dung hàng hóa”
- Con người đã tạo ra những quyết định như thế trong một khung cảnh thể chế kinh tế và xã hội nhất
định Những thể chế này tạo ra các khuyến khích (incentives) để hướng mọi người đưa ra các quyết định chỉ
theo cách này mà không theo cách khác Khuyến khích là điều làm cho ta bị cuốn hút hay từ chối điều chỉnh
hành vi của mình bằng cách nào đó Thông thường chúng ta nghĩ “khuyến khích kinh tế ” là những phần
thưởng về của cải vật chất, nhưng cũng có những khuyến khích phi vật chất hướng mọi người điều chỉnhhành vi kinh tế của họ như lòng tự trọng, mong muốn bảo tồn một môi trường sạch đẹp…
4.3 Vai trò của quyền tài sản (Property rights)
“Thiếu quyền sở hữu đối với các nguồn tài nguyên môi trường có nghĩa là có rất ít khuyến khích
để con người tính đến hậu quả môi trường do hành động của họ gây ra”
4.4 Sự bền vững của môi trường và của nền kinh tế.
Một ngành khoa học được gọi là Kinh tế sinh thái (Ecological Economics) đã xác định các tương tácnày một cách đầy đủ hơn Mục tiêu quan trọng của chuyên ngành này là nghiên cứu các lộ trình bền vữngtrong phát triển kinh tế-nghĩa là các hoạt động này không phá huỷ các hệ sinh thái nhưng cho phép gia tăngthu nhập thực
- Ý tưởng cơ bản của nền kinh tế bền vững phải là nền kinh tế có khả năng cho phép phúc lợi của conngười tăng lên hoặc chí ít cũng phải được giữ nguyên
Trang 7Chất lượng môi trường
Hàng hoá
C2
C1
E1E2
E
A
CIC2ACIC1A
CICB
EmaxPPF
được gọi là đường bàng quan cộng đồng (Community Indifference Curve- CIC)
Hình 1.8 Đường PPF giữa sản lượng và chất lượng môi trường
5 Tổng quan về các vấn đề môi trường ở Việt nam và thế giới
5.1 Ô nhiễm nước và không khí
5.2 Thoái hóa đất
5.3 Cạn kiệt tài nguyên: Rừng, Thủy sản, và Khoáng sản
5.4 Những quan tâm toàn cầu: Thay đổi khí hậu và đa dạng sinh học
Trang 85.5 Phát triển bền vững.
Chương 2: Kinh tế học chất lượng môi trường
1 Mô hình thị trường và hiệu quả kinh tế.
1.1 Cung, cầu và cân bằng thị trường
- Thị trường là bất kỳ khung cảnh nào trong đó tập hợp những người mua và người bán, họ tác độngqua lại lẫn nhau dẫn đến khả năng trao đổi, mua bán các loại hàng hoá và dịch vụ Giá cả là tín hiệu cơ bảnphối hợp các hoạt động của người tiêu dùng, người sản xuất
- Cầu (Demand-D) là lượng hàng hoá/dịch vụ mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua tại
mức giá đã cho trong một thời gian nhất định
+ Chúng ta có thể biểu thị mối quan hệ này bằng đồ thị, đó là đường cầu (dốc xuống dưới từ trái sangphải) Tại mức giá P1 thì lượng cầu là Q1, tại mức giá P2 thì lượng cầu là Q2
Hình 2.1 Đường cầu thị trường
+ Cầu thị trường là tổng cộng theo chiều ngang của các đường cầu cá nhân
+ Các yếu tố cơ bản xác định cầu về hàng hoá/dịch vụ bao gồm : giá của bản thân hàng hoá/dịch vụ,thu nhập của người tiêu dùng, giá cả của loại hàng hoá có liên quan, số lượng người tiêu dùng, thị hiếu củangười tiêu dùng…
- Cung (Supply- S) lượng hàng hoá và dịch vụ mà người bán sẵn lòng và có khả năng cung tại mức
giá xác định trong một thời gian xác định
Hình 2.2 Đường cung thị trường
P
S
P 2
Trang 9+ Cung thị trường là tổng các mức cung của từng cá nhân lại với nhau
+ Các yếu tố cơ bản xác định cung về hàng hoá/dịch vụ bao gồm : giá của bản thân hàng hoá/dịch vụ,công nghệ, giá của các yếu tố đầu vào, chính sách thuế…
- Cân bằng thị trường: Khi cầu đối với một hàng hoá/dịch vụ nào đó xuất hiện trên thị trường, người
sản xuất sẽ tìm cách đáp ứng mức cầu đó Thị trường ở trạng thái cân bằng khi việc cung cấp hàng hoá/dịch
vụ đủ thoả mãn cầu đối với hàng hoá/dịch vụ đó trong một thời kỳ nhất định Tại trạng thái cân bằng nàychúng ta có mức giá cân bằng (P*) và sản lượng cân bằng (Q*)
Hình 2.3 Cân bằng cung cầu thị trường
1.2 Thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất
1.2.1 Lợi ích và thặng dư tiêu dùng
* Lợi ích :
- Thuật ngữ lợi ích được hiểu như là sự vừa ý, sự hài lòng, sự thoả mãn do việc tiêu dùng hànghoá/dịch vụ đem lại
Lợi ích toàn bộ (Total Benefit- TB) là tổng thể sự hài lòng do toàn bộ sự tiêu dùng hàng hoá/dịch vụ
đem lại (Hay chính là toàn bộ diện tích nằm dưới đường cầu)
Trang 10Lợi ích cận biên (Marginal Benefit- MB) phản ánh mức độ hài lòng do tiêu dùng một đơn vị sảnphẩm đem lại
đó mà lợi ích cận biên vẫn còn lớn hơn 0, tổng lợi ích sẽ tăng lên nhưng với tốc độ chậm dần đi
- Lợi ích là một khái niệm trừu tượng, tuy nhiên chúng ta có thể dùng giá để đo lợi ích cận biên củaviệc tiêu dùng : Lợi ích cận biên của việc tiêu dùng hàng hoá/dịch vụ càng lớn thì người tiêu dùng sẵn sàng
trả giá cao hơn cho nó, khi lợi ích cận biên giảm thì sự sẵn lòng chi trả cũng giảm đi Nếu vây, đường cầu cũng chính là đường thể hiện lợi ích cận biên của việc tiêu dùng.
* Thặng dư tiêu dùng (CS - comsumer surplus)
- Thặng dư tiêu dùng là khái niệm phản ánh sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêudùng một lượng hàng hoá/dịch vụ so với chi phí thực tế để thu được lợi ích đó
+ Chi phí cố định (Fixed Cost- FC)
+ Chi phí biến đổi (Variabe Cost- VC)
- Tổng chi phí là tổng của chi phí cố định và chi phí biến đổi Vì chi phí cố định không thay đổi nên
sự tăng giảm của tổng chi phí phụ thuộc vào các chi phí biến đổi
Sự thay đổi tổng lợi ích
Sự thay đổi lượng tiêu dùng
ΔTBTBΔTBQ
P
Q CS
Trang 11Q QS
O A P*
cuối cùng bằng đúng với chi phí cận biên để sản xuất ra đơn vị sản phẩm ấy (P= MC) Vì thế đường chi phí cận biên cũng chính là đường cung của doanh nghiệp.
Hình 2.6 Lợi ích ròng xã hội
Sự thay đổi tổng chi phí
Sự thay đổi tổng sản lượng
Trang 12- Tổng chi phí xã hội (Total Social Cost- TSC) của việc sản xuất một hàng hoá/dịch vụ được xác định
là tổng chi phí của tất cả các nguồn lực cần thiết (kể cả chi phí cơ hội) để sản xuất ra hàng hoá/dịch vụ đó
- Chúng ta có thể xác định lợi ích ròng xã hội (Net Social Benefit- NSB) của việc sản xuất và tiêudùng một hàng hoá/dịch vụ nào đó bằng hiệu số giữa tổng lợi ích xã hội và tổng chi phí xã hội
NSB = TSB – TSC (1)
- Như vậy rõ ràng, lợi ích ròng xã hội là tổng số của thặng dư tiêu dùng (CS) và thặng dư sản xuất(PS)
NSB = CS + PS (2)
NSB chính bằng diện tích hình ABE trên đồ thị
- Dưới những điều kiện chặt chẽ, điểm cân bằng của thị trường cạnh tranh là điểm có tính hiệu quảPareto
1.3 Hiệu quả Pareto
- Một sự phân bổ nguồn lực là có hiệu quả Pareto (hoặc đạt tối đa Pareto) nếu không có khả năng dịchchuyển tới một sự phân bố khác có thể làm cho bất cứ người nào khá lên mà cũng không làm cho ít nhất làbất cứ một người nào khác kém đi Nói cách khác, Pareto là một phúc lợi tối đa được xác định như một vị trí
mà từ đó không thể cải thiện được phúc lợi của bất cứ ai bằng cách thay đổi sản xuất hoặc trao đổi mà lạikhông gây hại đến phúc lợi của một người nào khác
2 Những biểu hiện và nguyên nhân của các vấn đề môi trường từ giác độ kinh tế
2.1 Các biểu hiện kinh tế của suy thoái môi trường
Bước đầu tiên để hiểu được những nguyên nhân gốc rễ của sự suy thoái môi trường là tìm kiếm cácbiểu hiện về kinh tế Nghiên cứu các biểu hiện kinh tế của sự suy thoái môi trường giúp chúng ta xác địnhđược mặt thật của vấn đề và đề ra những phương pháp tốt nhất để can thiệp có hiệu quả về mặt chi phí
(1) Việc sử dụng tài nguyên quá mức, lãng phí và không hiệu quả cùng tồn tại với sự khan hiếm vàthiếu hụt ngày càng gia tăng
Trang 13(2) Một nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm bị đưa vào sử dụng một cách không bền vững, hiệuquả thấp trong khi vẫn có những cách sử dụng bền vững và hiệu quả cao mà không được sử dụng
(3) Một nguồn tài nguyên có thể được tái sinh và có thể được quản lý một cách bền vững lại bị khaithác như một tài nguyên để vơ vét
(4) Một tài nguyên bị sử dụng cho một mục đích chuyên biệt trong khi sự sử dụng đa dạng có thể tạo
ra lợi ích lớn hơn
(5) Các cộng đồng địa phương, các bộ tộc và những nhóm người nghèo như phụ nữ bị tước đoạtquyền sử dụng tài nguyên theo tập tục của họ cho dù sự có mặt của họ, những kiến thức bản địa và lợi íchriêng của họ khiến họ là những người quản lý có hiệu quả nhất các tài nguyên này
(6) Các dự án công cộng được thực hiện không tạo ra hay cung cấp đủ lợi ích để bồi thường đầy đủcho những phần tử bị ảnh hưởng (bao gồm cả môi trường)
(7) Tài nguyên và sản phẩm phụ không được tái chế kể cả khi việc tái chế tạo ra các lợi ích cả về kinh
tế và môi trường
(8) Các khu vực và môi trường cư trú độc đáo bị mất, nhiều loài động vật và thực vật đang bị diệtchủng mà không có lý do kinh tế cưỡng chế nào để đáp lại giá trị của tính độc đáo, sự đa dạng và tổn thất củanhững mất mát không thể phục hổi được 2.2 Thất bại thị trường và suy thoái môi trường
2.2.2 Các nguyên nhân dẫn đến thất bại thị trường :
2.2.2.1 Quyền sở hứu tài sản (Quyền tài sản) (property right) không được xác định rõ hoặc không hiện hữu (Thất bại về quyền tài sản)
- KN: Quyền tài sản là: đề cập một nhóm các điều khoản xác định quyền hạn, đặc quyền và giới hạn
của người sử dụng đối với việc sử dụng tài nguyên
- Quyền tài sản gồm: quyền sở hữu (ownership rights) và quyền sử dụng (use rights)
Phân loại quyền tài sản:
Bảng : Phân loại quyền tài sản
Quyền
tài sản
Đặc điểm
Nhà nước Các cá nhân có nghĩa vụ tuân thủ về sử dụng do cơ quan hữu quan ban
hành Cơ quan này có quyền ban hành các quy định kể trên
Tư nhân Các cá nhân có quyền tiến hành các phương thức sử dụng được xã hội chấp
thuận và có nghĩa vụ chấm dứt các phương thức không được chấp thuận
Các đối tượng khác có nghĩa vụ tôn trọng các quyền cá nhân này
Cộng
đồng
Nhóm quản lý có quyền quy định các biện pháp đảm bảo các quyền củathành viên cộng đồng loại trừ những ai không phải là thành viên cộngđồng Những thành viên ngoài cộng đồng có nghĩa vụ tuân thủ quy địnhloại trừ trên Các đối tượng đồng sỡ hữu bao gồm cả nhóm quản lý và có
Trang 14các quyền và nghĩa vụ liên quan tới việc sử dụng tài nguyên.
Vô chủ Không có chủ sở hữu nào được xác định Các cá nhân có quyền lợi mà
không phải là quyền sử dụng tài nguyên
2.2.2.2 Tài nguyên không được định giá và thị trường rất yếu ớt hoặc vắng bóng
Không có thị trường và do đó không có giá cho các loại tài nguyên tự do khai thác sử dụng
Không có người mua lẫn kẻ bán, thị trường cho các loại tài nguyên tự do khai thác không phát triểnđược và giá của chúng vẫn được duy trì ở số không ngay cả khi chúng càng trở nên khan hiếm
Thực ra, có thị trường cho các loại hàng hoá tài nguyên thiên nhiên như cá, nước tưới, củi…nhưng cáigiá mà những hàng hoá này có chỉ là sự phản ánh chi phí cơ hội của lao động và tư bản dùng trong sản xuấtchứ không phải là chi phí cơ hội của nguồn tài nguyên thiên nhiên khan hiếm được sử dụng trong sản xuất
2.2.2.3 Ngoại ứng (externality)
Yếu tố ngoại ứng xuất hiện khi một quyết định hoặc tiêu dùng của một hay một số cá nhân tác độngtrực tiếp đến việc sản xuất hay tiêu dùng của những người khác mà không thông qua giá cả thị trường vàkhông được tính đến trong các quyết định sản xuất hay tiêu dùng Vấn đề chính yếu của ngoại ứng là nó tạo
ra các lợi ích và chi phí không được bồi hoàn và không có sự tham gia của bất cứ luồng tài chính nào
Có hai loại ngoại ứng:
- Ngoại ứng tiêu cực: nảy sinh khi các doanh nghiệp/cá nhân gây ra tổn thất hay thiệt hại cho ngườikhác mà không phải thanh toán hay bồi hoàn cho những tổn thất và thiệt hại đó Nói cách khác, ngoại ứng làtiêu cực khi hoạt động của một bên áp đặt/tạo ra những chi phí cho các bên khác
- Ngoại ứng tích cực nảy sinh khi các DN/cá nhân tạo ra lợi ích cho những người khác mà khôngđược nhận những khoản thù lao thoả đáng cho việc đó
2.2.2.4 Chi phí giao dịch (transaction cost)
Chi phí giao dịch- là các chi phí thông tin, đàm phán, giám sát và cưỡng chế thực hiện hợp đồng-gắnvới thị trường
Khi những chi phí này qúa cao sẽ ngăn cản những trao đổi mà lẽ ra có ích cho việc bảo tồn tài nguyên
và cải thiện phúc lợi xã hội
2.2.2.5 Hàng hoá công cộng (public good)
- Hàng hoá công cộng là những hàng hoá mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hànghoá đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ nó Điều này giúp phân biệt vớihàng hoá tư nhân là những loại hàng hoá khi một người đã tiêu dùng rồi thì người khác không thể tiêu dùngđược nữa
- HHCC có hai đặc tính cơ bản:
+ HHCC không có tính cạnh tranh (non-revalness) trong tiêu dung
+ HHCC không có tính loại trừ hay tính không độc chiếm (non-exclusion)
- Môi trường bao gồm nhiều loại HHCC, từ chất lượng môi trường và bảo vệ dòng chảy tới cân bằngsinh thái và đa dạng sinh học Ngoài ra các hoạt động nội hoá ngoại ứng cũng có thể được xem là HHCC Dorất tốn kém và thường có hại cho phúc lợi xã hội nếu loại trừ bất kỳ ai không chịu trả tiền ra khỏi việc tiêuthụ hàng hoá công cộng, các hàng hoá ấy không thể do thị trường cung cấp
2.2.2.6 Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Market)
- Ngay cả khi thị trường tồn tại và tích cực thì sự thất bại vẫn có thể xảy ra dưới dạng cạnh không đầy
đủ
Trang 15- Một thị trường là cạnh tranh không hoàn hảo nếu hoạt động của một hay một số ít người bán hoặcngười mua có ảnh hưởng rõ trên giá Lý do của một số tổ chức thiểu số độc quyền ở một số ngành liên hệ đếntài nguyên như cung cấp nước và năng lượng là đặc tính chi phí giảm dần, nghĩa là do đầu tư cơ bản là chiphí chung nên chi phí trung bình của dịch vụ liên tục giảm khi ngày càng nhiều khách hàng được phục vụcho đến khi toàn bộ thị trường bị thống trị bởi một nhà cung cấp (độc quyền tự nhiên).
2.2.2.7 Những kế hoạch thiển cận và suất chiết khấu cao
- Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển bền vững đòi hỏi phải hy sinh sự tiêu thụ hiện tại chomột hứa hẹn về lợi ích trong tương lai Do người ta có xu hướng ưa thích lợi ích trước mắt hơn là tương lai,
sự hoán chuyển này tỏ ra không hấp dẫn trừ khi một đồng đô la hy sinh ngày hôm nay tạo ra nhiều hơn một
đô la trong ngày mai Lợi ích trong tương lai do đó được chiết khấu và càng bị chiết khấu chúng càng trở nênkém hấp dẫn
Một suất chiết khấu cao có thể cản trở toàn bộ sự bảo tồn Colin Clark đã chứng minh rằng lãi suất thịtrường cao kết hợp với tốc độ tăng trưởng tự nhiên thấp của một loài sẽ dẫn đến sự diệt chủng của loài ấy
- Sự không chắc chắn về môi trường và thị trường cộng với thời gian sống ngắn ngủi của đời ngườidẫn người ta đến việc chấp nhận suất chiết khấu cao và khung thời gian ngắn, kết quả là người ta đưa ranhững quyết định thiển cận để theo đuổi mục đích sống còn của mình hoặc để tìm kiếm lợi ích trước mắt và
để lại thiệt hại cho sự bền vững dài hạn
2.2.2.8 Bất định (uncertainty) và rủi ro (risk)
Bất định (tính không chắc chắn): một tình huống được coi là bất định khi người ta không biết đượcxác suất khách quan cho sự xuất hiện của mỗi một kết quả;
Rủi ro: là một tình huống mà mức độ chung của xác suất để một kết quả xuất hiện có thể suy ra được,
dù xác suất đó không thực chính xác
- Có thể phân biệt hai loại bất định (không chắc chắn): (1) Bất định về môi trường; (2) Bất định về thịtrường
- Dù sự bất định chi phối mọi ngành kinh tế nhưng tài nguyên thiên nhiên bị ảnh hưởng nặng nề hơn
vì nhiều lý do (1) Có nhiều sự không chắc chắn về quyền sở hữu và khả năng tiếp cận với các nguồn tàinguyên thiên nhiên; (2) Các ngoại ứng do các ngành khác gây ra nhiều hơn; (3) Chu kỳ sản xuất trong lâmnghiệp (trồng rừng) dài; (4) giá của hàng hoá tài nguyên thiên nhiên khó tiên đoán; (5) Phần lớn các hàng hoátài nguyên thiên nhiên thường xuyên chịu sự đe doạ sẽ bị thay thế bởi những sản phẩm rẻ tiền hơn do nhữngtiến bộ kỹ thuật cũng rất khó đoán trước
2.2.3 Thất bại chính sách
Khái niệm:
Điều kiện cần để chính phủ can thiệp là thất bại thị trường
Điều kiện đủ là: Để sự can thiệp của chính phủ thực sự có hiệu quả, phải đảm bảo 2 điều kiện nữa:(1) việc can thiệp phải có tác dụng tốt hơn thị trường hoặc cải tiến được vai trò của thị trường; (2) các lợi ích
từ sự can thiệp đó phải lớn hơn chi phí hoạch định, thực hiện và cưỡng chế thực hiện cũng như toàn bộ cácchi phí gián tiếp và ngẫu sinh do sự biến dạng trong các khu vực kinh tế khác mà sự can thiệp này gây ra
- Một cách lý tưởng, sự can thiệp của chính phủ là nhằm mục đích sửa chữa hoặc ít ra là giảm bớtnhững thất bại của thị trường thông qua thuế, quy định, luật lệ, khuyến khích lợi ích tư nhân, các dự án côngcộng, quản lý vĩ mô và cải cách định chế
- Tuy nhiên trong thực tế, các chính sách của chính phủ lại có khuynh hướng tạo thêm các biến dạngtrong thị trường tài nguyên thiên nhiên hơn là sửa chữa chúng Do:
Trang 16(1) Việc sửa chữa các thất bại của thị trường hiếm khi là mục tiêu duy nhất hoặc thậm chí không làmục tiêu chủ yếu của sự can thiệp của chính phủ vì còn có các mục tiêu khác như an ninh quốc gia, côngbằng xã hội, quản lý vĩ mô…;
(2) Sự can thiệp của chính phủ cũng thường có những hậu quả ngẫu sinh, không lường được hoặcđánh giá không đầy đủ về những tác động phụ;
(3) Các chính sách như trợ giá và bảo hộ nhằm chống lại nhập khẩu hoặc cạnh tranh thường vượt qua
sự hữu dụng và việc dẹp bỏ chúng rất khó khăn;
(4) Sự can thiệp về mặt chính sách có xu hướng tích luỹ và tương tác lẫn nhau làm biến dạng nhữngkhuyến khích tư nhân và tách chúng ra khỏi những hoạt động có lợi cho xã hội;
(5) Một số chính sách dường như không liên quan gì đến môi trường và tài nguyên nhưng lại có nhiềutác động vào môi trường hơn là những chính sách về môi trường và tài nguyên
Như vậy suy thoái môi trường không những do sự lệ thuộc vào một thị trường tự do không hoạt độngmột cách có hiệu quả (thất bại thị trường) mà còn do các chính sách của chính phủ cố ý hoặc vô tình làm biếndạng các khuyến khích lợi ích nghiêng về việc khai thác quá mức và chống lại việc bảo vệ các tài nguyênkhan hiếm (thất bại chính sách)
Phân loại:
+ Loại thứ nhất: can thiệp khi không cần thiết Đây là trường hợp chính sách của chính phủ đi sửachữa những gì không đổ vỡ
+ Loại thứ hai: Chính sách thất bại trong việc khắc phục ảnh hưởng mong muốn
+ Loại thất bại chính sách thứ ba: Can thiệp không đúng: là sự can thiệp của chính phủ nhằm sửachữa hoặc giảm bớt một thất bại của thị trường nhưng kết cục lại gây ra một kết quả tồi tệ hơn là những gì
mà một thị trường tự do tạo ra
+ Loại thất bại chính sách thứ tư là thiếu sự can thiệp ở các thị trường đang thất bại khi mà sự canthiệp như vậy rõ ràng là cần thiết để cải thiện hoạt động của thị trường
2.2.3.1 Những thất bại chính sách liên quan đến các dự án
- Dự án công cộng là một công cụ can thiệp có hiệu quả của chính quyền nhằm giảm bớt những thấtbại của thị trường bằng cách cung cấp những hàng hoá công cộng như đường xá, tiện ích và công viên Tuynhiên nếu sử dụng không hợp lý, chúng có thể trở thành nguyên nhân chính của sự biến dạng thị trường
- Các dự án công cộng thường được biện minh về mặt kinh tế bằng cách phân tích lợi ích-chi phí, mà
về mặt nguyên tắc phải được xem xét đầy đủ mọi lợi ích và chi phí xã hội: (1) Dự án được lựa chọn căn cứvào bản đánh giá tài chính hoặc phân tích kinh tế hạn hẹp; (2) Lợi ích và chi phí xã hội được xác định quáhẹp theo thời gian và không gian (loại trừ yếu tố ngoại ứng và ảnh hưởng dài hạn); (3) Ảnh hưởng đến môitrường không được tiên liệu vào giai đoạn thiết kế dự án; (4) Chi phí môi trường dù có được tiên liệu và coitrọng nhưng khó đo lường và định giá chúng; (5) Sử dụng suất chiết khấu xã hội qúa cao; (6) Tình trạng bồihoàn những thay đổi do dự án đối với môi trường không được xử lý thích đáng hoặc bị bỏ qua
2.2.3.2 Các thất bại chính sách ngành
* Các chính sách về rừng: Chính sách về rừng là một ví dụ tuyệt vời về một chính sách tài nguyên
cụ thể cần phải được xem xét lại toàn bộ nếu mối quan hệ giữa sự khan hiếm và giá cả muốn được tái xáclập Hiện nay không những đa số các dịch vụ và sản phẩm rừng không có giá mà ngay cả gỗ tròn, một loạihàng hoá được mua bán trên thị trường cũng được định giá dưới mức giá trị khan hiếm thực sự của nó dođược tài trợ công khai hoặc ngấm ngầm và những thất bại về định chế
Trang 17* Chính sách về đất đai: Sự thiếu đảm bảo về quyền sở hữu đất đai là một thất bại về chính sách
nghiêm trọng nhất ở các nước đang phát triển, nó ngăn cản việc sử dụng đất có hiệu quả và thường dẫn đếntình trạng suy thoái đất, nước và các nguồn tài nguyên
* Chính sách về nước: Gần như tất cả các quốc gia bất kể mức khan hiếm về nước, đều trợ giá nước
cho công tác thuỷ lợi và các sử dụng khác Trong nhiều trường hợp nước còn được cung cấp miễn phí Kếtquả là công tác thủy lợi thực hiện quá mức với hậu quả là mặn hoá và ngập úng ở vài khu vực và tình trạngthiếu nước ở những khu vực khác Sự lãng phí lớn này về nước, làm hạn chế hiệu suất của hệ thống thuỷ lợicòn khoảng 15% so với mức tiềm năng là 60% đến 70%, trong khi đó việc không thu hồi được chi phí đã làmcho hệ thống mất đi một nguồn kinh phí để hoạt động và bảo trì
* Đô thị hoá và công nghiệp hóa: Sự phát triển công nghiệp và đô thị hoá tương quan với nhau rất
mật thiết Công nghiệp ở nhiều quốc gia đang phát triển và một số quốc gia phát triển, thường nằm ở gầntrung tâm thành thị bởi vì sự phân bố lệch lạc cơ sở hạ tầng công cộng
* Chính sách công nghiệp và thương mại: Các chính sách công nghiệp và thương mại có vẻ như chỉ
dính líu rất ít đến việc quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên nhưng thực ra chúng rất quan trọng Cácchính sách này có ảnh hưởng đến các tỷ giá mậu dịch giữa nông nghiệp và công nghiệp, do đó ảnh hưởngđến khả năng sinh lợi tương đối của nông nghiệp và các khu vực tài nguyên khác
* Những thất bại của chính sách kinh tế vĩ mô: Các chính sách về tài chính, tiền tệ và ngoại hối
cũng có tác dụng mạnh mẽ vào cách phân bố và sử dụng tài nguyên hơn là các chính sách kinh tế vi mô vàkhu vực
2.2.4 Những hàm ý về kiểm soát suy thoái môi trường thông qua cải cách chính sách
Cải cách chính sách chỉ là việc cơ cấu lại những can thiệp của chính phủ và chuyển chúng từ thất bại
về chính sách sang thành công về chính sách
Thành công một sự cải cách chính sách toàn diện cần phải có 5 yếu tố:
(1) Phải loại bỏ hoặc ít nhất cũng giảm đi những biến dạng chính sách
(2) Phải sửa chữa hoặc ít nhất cũng làm giảm những thất bại của thị trường như ngoại ứng, thiếu sựđảm bảo về quyền sở hữu, thị trường không hoàn hảo hoặc vắng bóng thị trường…
(3) Phải đầu tư vào phát triển nhân lực và công nghiệp nông thôn để cung cấp đủ các loại công ănviệc làm cho những nhóm người thiệt thòi…
(4) Phải áp dụng phương pháp phân tích chi phí-lợi ích đối với các dự án công cộng
(5) Phải xây dựng khả năng phân tích và khả năng của các định chế để thiết lập và thực hiện các chínhsách và dự án môi trường
* Cải cách chính sách về rừng (Bài tập về nhà)
3 Kinh tế học ô nhiễm
3.1 Ô nhiễm môi trường là ngoại ứng
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường:
- Theo quan điểm của các nhà khoa học môi trường: Ô nhiễm môi trường là hiện tượng làm thay đổi
tính chất môi trường vượt quá giới hạn cho phép, ta gọi giới hạn cho phép là tiêu chuẩn môi trường
- Khái niệm ô nhiễm môi trường theo quan điểm kinh tế học phụ thuộc vào hai yếu tố: Tác động vật lý
của chất thải và phản ứng của con người đối với tác động ấy
* Ô nhiễm môi trường là một dạng ngoại ứng: mà ở đó tác động được tạo ra bên trong một hoạt
động hoặc quá trình sản xuất hay tiêu dùng nào đó nhưng lại gây ra những chi phí không được tính đến chonhững hoạt động hoặc quá trình khác bên ngoài
Trang 18MC MSC= MC + MEC
P*
PM
Tổn thất xã hội khi :
- QM > Q*
- PM < P*
3.2 Mức ô nhiễm tối ưu
3.2.1 Ô nhiếm tối ưu tại mức cân bằng xã hội
- Giả định giảm sản lượng là cách thức duy nhất để giảm mức ô nhiễm:
Hình 2.7 Ô nhiễm tối ưu, trường hợp một ngành công nghiệp (độc quyền)
Ghi chú: MC: Marginal Cost; MEC: Marginal Externality Cost; MSC: Marginal Social Cost; MB: Marginal
Benefit
- Các nhà máy thuộc ngành công nghiệp sản xuất giấy xả chất thải làm ô nhiễm dòng sông, ảnh
hưởng đến thu nhập của ngư dân Khi mức sản xuất tăng lên thì ô nhiễm cũng tăng lên theo Tại mức sảnlượng QM, doanh nghiệp đạt tối đa lợi nhuận, khi đó mức ô nhiễm tương ứng là WM
- Các nhà kinh tế thì lại cho rằng, ô nhiễm tạo ra một loại chi phí sinh thái cũng giống như bất cứ chiphí kinh tế nào khác Vì thế khi tính chi phí xã hội của sản xuất như là tổng của chi phí cá nhân và chi phíngoại ứng, chúng ta đạt được mức hoạt động kinh tế tối ưu đối với xã hội tại điểm cân bằng của chi phí cậnbiên xã hội với lợi ích cận biên xã hội Mức hoạt động hiệu quả này sẽ tạo ra mức ô nhiễm tối ưu W*
Với cách tiếp cận này chúng ta đã xem xét sự đánh đổi giữa hàng hoá kinh tế và hàng hoá chất lượngmôi trường, theo đó chúng ta cần giảm việc sản xuất và tiêu dùng hàng hoá kinh tế để có một chất lượng môitrường tốt hơn
Hình 2.8 Ô nhiễm tối ưu, trường hợp một doanh nghiệp
Trang 19Sản lượng QLượng thải
- Trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì MNPB = MR – MC = P – MC = MEC hay P =
MC + MEC = MSC Điều kiện P = MSC cho thấy giá cả đã phản ánh đầy đủ chi phí xã hội của sản xuất baogồm cả chi phí cá nhân và chi phí ngoại ứng Điều kiện MNPB = MEC nói lên rằng tại mức hoạt động và ônhiễm tối ưu, lợi nhuận do hoạt động sản xuất đem lại là tối đa theo quan điểm xã hội
Ghi chú: MR: Marginal Return (Doanh thu cận biên);
MNPB: Marginal Net Personal Benefit (Lợi ích cá nhân ròng cận biên): Là lợi ích tăng thêm
mà một doanh nghiệp đang gây ô nhiễm nhận được từ việc thay đổi mức độ hoạt động của nó bằng 1đơn vị
MEC là giá trị của một thiệt hại kinh tế tăng thêm gây ra bởi ô nhiễm do một đơn vị hoạt độngtăng thêm
- Khi chưa tính đến chi phí môi trường, người sản xuất tối đa hoá lợi nhuận sẽ sản xuất tối đa tại QP vì
ở đó MNPB = 0 (MR = MC), tổng lợi nhuận là toàn bộ diện tích nằm dưới đường MNPB (Diện tích hìnhOAQP) Nếu tính đủ cả chi phí môi trường, rõ ràng tổng lợi nhuận sẽ giảm xuống còn bằng diện tích OAB
3.2.2 Ô nhiễm tối ưu tại mức cực tiểu hoá chi phí ô nhiễm
- Theo quan điểm của các nhà kinh tế, hiệu quả kinh tế sẽ đạt được tại một mức ô nhiễm mà tại
đó :Tổng các chi phí môi trường = chi phí kiểm soát ô nhiễm + giá trị thịêt hại môi trường là thấp nhất.
Điều này có nghĩa là chúng ta cần xem xét sự đánh đổi tối ưu giữa chi phí và lợi ích của việc giảm ô nhiễm
Một số khái niệm cần đi sâu tìm hiểu:
* Chi phí thiệt hại môi trường:
Trang 20Thiệt hại Thiệt hại
o
W1 A MDC
+ Hàm thiệt hại theo lượng phát thải(Emission damage functions)
+ Hàm thiệt hại theo mức độ tích tụ (Ambient damage functions)
+ Hàm thiệt hại biên (Marginal damage functions)
+ Tổng thiệt hại (Total damage) là tổng thiệt hại tại mỗi mức phát thải.
- Trong phân tích này chúng ta sử dụng hàm chi phí thiệt hại cận biên (Marginal Damage MDC): Đường chi phí thiệt hại cận biện biên có độ dốc đi lên từ trái sang phải thể hiện sự gia tăng nhanh củathiệt hại khi lượng chất thải ngày càng nhiều
Cost-Hình 2.9 Một số dạng đường thiệt hại cận biên tiêu biểu
Trang 21Chi phí Chi phí Chi phí
* Chi phí kiểm soát môi trường hay chi phí giảm ô nhiễm:
- Chi phí giảm ô nhiễm là những chi phí để làm giảm lượng chất gây ô nhiễm được thải vào môitrường hoặc làm giảm nồng độ các chất gây ô nhiễm môi trường xung quanh
- Người ta cũng sử dụng hàm chi phí giảm ô nhiễm cận biên để phân tích MAC (Marginal AbatementCost) thể hiện sự gia tăng trong tổng chi phí giảm thải để làm giảm một đơn vị chất thải gây ô nhiễm.Nhìnchung đường MAC có hướng tăng lên từ phải qua trái, cho thấy chi phí giảm thải cận biên tăng dần
- Tổng chi phí giảm ô nhiễm có thể được tính bằng diện tích nằm dưới đường MAC trong nhữngkhoảng xác định khác nhau Giả sử trong hình 2.10.a., nếu mức thải cuối cùng là W1 thì tổng chi phí giảmthải sẽ là diện tích W1AWm.
Hình 2.10 Một số đường chi phí giảm ô nhiễm cận biên
* Mô hình về sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí của việc làm giảm ô nhiễm bằng cách thể hiện cả hai
đường MAC và MDC trên cùng một đồ thị (Hình 2.11.)
Hình 2.11 Ô nhiễm tối ưu
Trang 220, khi đó lợi ích của việc giảm ô nhiễm là rất lớn, đồng thời chi phí giảm thải cũng rất lớn Các nhà kinh tếcho rằng tại mức này chúng ta phải bỏ ra một chi phí quá lớn để nhận được lợi ích nhỏ hơn rất nhiều so vớichi phí đó.
- Qua đồ thị ta có thể thấy: tại mức thải W* (khi đó MAC=MDC) thì tổng chi phí môi trường là nhỏnhất, bao gồm tổng chi phí giảm thải là diện tích tam giác WmEW* và tổng chi phí thiệt hại là diện tích tamgiác OEW*
- Chúng ta có thể chứng minh hiệu quả này về mặt toán học Tại mọi mức thải ta luôn có:
TEC = TAC + TDC
3.3 Định lý Coase và quyền tài sản
3.3.1 Phân định quyền tài sản và mặc cả
- Từ năm 1960, có một trường phái tư tưởng kinh tế gắn với Coase, trường phái này nhấn mạnh vào
sự quan trọng của quyền sở hữu tài sản và mặc cả giữa những người gây ô nhiễm và những người bị thiệt hại.Trường phái này bác bỏ sự can thiệp của chính quyền thông qua thuế, trợ cấp hoặc tiêu chuẩn môi trường (sẽđược nghiên cứu ở phần sau) và cổ vũ cho các biện pháp mặc cả trên thị trường được hỗ trợ bằng các quyền
sở hữu tài sản để đạt đến mức ô nhiễm tối ưu xã hội
- Quyền tài sản hay quyền sở hữu là quyền được quy định bởi pháp luật (luật định) cho một cá nhânhay một doanh nghiệp sử dụng, kiểm soát hoặc thu phí đối với một nguồn lực nào đó, họ được pháp luật bảo
vệ khi có sự cản trở họ thực hiện các quyền đó
* Quyền tài sản thuộc chủ thể bị ảnh hưởng ô nhiễm
- Giả thiết bao gồm :
+ Quyền tài sản được phân định rõ ràng
+ Thông tin hoàn hảo nghĩa là tất cả các thông tin liên quan đến các bên đều rõ ràng
Trang 23+ Chi phí giao dịch bằng 0
Hình 2.12.Mô hình thoả thuận ô nhiễm
- Khi chủ thể bị ảnh hưởng ô nhiễm có quyền tài sản thì chủ thể gây ô nhiễm (người sản xuất) sẽ làngười khởi xướng mặc cả
- Trong trường hợp này MNPB trở thành đường lợi ích cận biên trong mặc cả và đường MEC trởthành chi phí cận biên tối thiểu trong mặc cả của người sản xuất (hay người gây ô nhiễm) Lợi ích trong mặc
cả thuộc về người sản xuất (người gây ô nhiễm nhưng không có quyền tài sản) Chừng nào MNPB còn lớnhơn MEC thì người sản xuất (người gây ô nhiễm) vẫn tiếp tục mặc cả để tăng sản lượng sản xuất Mặc cả sẽkết thúc tại MNPB = MEC : Đây là điểm đạt mức ô nhiễm tối ưu (thoả mãn nguyên tắc cân bằng cận biên).Tại các điểm sản lượng > Q* : mức đền bù của người sản xuất gây ô nhiễm sẽ cao hơn lợi ích cận biên của họ
* Quyền tài sản thuộc chủ thể gây ô nhiễm :
- Khi quyền tài sản thuộc chủ thể gây ô nhiễm (người sản xuất) thì người sản xuất cứ sản xuất màkhông cần quan tâm đến tình trạng ô nhiễm, khi đó mức sản lượng sẽ ở mức tối đa là QP
- Trong trường hợp này người khởi xướng mặc cả chính là người bị ảnh hưởng (người không cóquyền tài sản) Quá trình mặc cả sẽ bắt đầu từ mức QP Đường MNPB là đường chi phí cận biên tối thiểutrong mặc cả và MEC là đường lợi ích cận biên trong mặc cả của người bị ảnh hưởng ô nhiễm (nhưng không
có quyền tài sản) Lợi ích mặc cả thuộc về người bị ảnh hưởng ô nhiễm
- Quá trình mặc cả sẽ kết thúc tại điểm MNPB = MEC Đây cũng là mức ô nhiễm tối ưu
→ Như vậy kết quả mặc cả không phụ thuộc vào quyền tài sản thuộc về ai vì dù có thuộc ai thì cuối cùng quá trình mặc cả cũng kết thúc ở điểm cân bằng.
3.3.2 Định lý Coase
- Định lý : « Nếu quyền tài sản là hoàn hảo và chi phí giao dịch bằng không thì luôn có xu hướng đạtđược mức ô nhiễm tối ưu thông qua quá trình mặc cả bất kể ai (người gây ô nhiễm hay người bị ảnh hưởng ônhiễm) là người sở hữu tài sản môi trường »
Trang 242 Tăng cường quản lý cộng đồng
1 Thuế
2 Phí xả thải
3 Trợ cấp
4 Giấy phép thải có thể chuyển nhượng
5 Hệ thống đặt cọc hoàn trả
- Tuy nhiên hạn chế của định lý này là : (1) không có mặc cả khi quyền tài sản không được phân định
rõ ràng ; (2) chi phí giao dịch trên thực tế thường rất lớn ; (3) khó khăn trong việc xác định người gây ônhiễm và người bị ảnh hưởng (đối tượng can dự nhiều và có thể qua nhiều thế hệ, xác định quan hệ nhân quảgiữa người gây ô nhiễm và người bị ảnh hưởng) ; (4) khó khăn trong việc xác định MNPB/MAC vàMEC/MDC
3.3.3 Ngụ ý áp dụng quyền tài sản đối với vấn đề môi trường
- Những hạn chế của định lý Coase biện minh cho sự cần thiết phải có can thiệp của chính phủ và vaitrò của quyền tài sản đối với việc giải quyết ô nhiễm
- Trong thực tế phương pháp quyền tài sản có thể dẫn đến mức ô nhiễm hiệu quả khi :
+ Quyền tài sản được phân định rõ ràng, có hiệu lực và có thể chuyển nhượng
+ Số người can dự tương đối ít
+ Quan hệ nhân quả rõ ràng
+ Thiệt hại dễ đo lường
3.4.1 Tiêu chuẩn môi trường
* Tiêu chuẩn môi trường.
- Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ đểquản lý môi trường (Luật Bảo vệ môi trường Việt nam)
* Các loại tiêu chuẩn môi trường :
- Tiêu chuẩn môi trường xung quanh :
Trang 25- Tiêu chuẩn thải :
- Tiêu chuẩn công nghệ
* Kinh tế tiêu chuẩn môi trường :
- Quy định tiêu chuẩn thải :
+ Lý thuyết : Muốn tiêu chuẩn đạt hiệu quả phải thoả mãn nguyên tắc MAD = MDC
Hình 2.13 Tiêu chuẩn phát thải cho hàm thiệt hại biên phi tuyến tính
+ Trên thực tế khó xác định MDC nên rất khó xác định điểm E*:
* Tiêu chuẩn không rủi ro: EL
* Tiêu chuẩn rủi ro thấp: EM
- Tiêu chuẩn đồng bộ và tiêu chuẩn cá nhân :
Một vấn đề trong thực tế là liệu tiêu chuẩn có nên áp dụng đồng bộ cho tất cả các trường hợp haythay đổi tuỳ theo hoàn cảnh ?
+ Tiêu chuẩn đồng bộ không đạt hiệu quả xã hội vì :
→ MDC là khác nhau giữa các vùng : Lợi ích mất đi do tiêu chuẩn đưa ra không phù hợp (Ví dụ hình2.14)
→ MAC là khác nhau giữa các nguồn
Hình 2.14 Tiêu chuẩn đồng bộ không hiệu quả khi MDC khác nhau giữa các vùng
Trang 26MDCR MAC
$
Mức thải cacbon monoxit (kg/tháng)
- Tiêu chuẩn công nghệ không khuyến khích tìm kiếm giải pháp rẻ hơn
- Tiêu chuẩn thải có khuyến khích hạn chế
3.4.2 Thuế
* Thuế Pigou:
- Theo cách tiếp cận ô nhiễm tối ưu thứ nhất là người gây ô nhiễm phải giảm sản lượng về mức tối ưu
xã hội Để tạo động cơ kinh tế cho người gây ô nhiễm thay đổi mức sản lượng của mình cần phải buộc họchịu đầy đủ chi phí xã hội của việc sản xuất bao gồm cả chi phí cá nhân và chi phí ngoại ứng môi trường
- Pigou (1877-1959 là GS kinh tế chính trị tại trường ĐH Cambridge từ 1908 đến 1944, ý tưởng vềthuế ô nhiễm được đề cập lần đầu tiên vào năm 1920 trong tác phẩm Kinh tế học phúc lợi) đã đưa ra ý tưởng
về việc đánh thuế đối với những người gây ô nhiễm
- Đánh thuế thế nào để người sản xuất thực hiện mức sản lượng Q* :
+ Mục đích của người sản xuất là tối đa hoá lợi nhuận : MC = MR hoặc MC = P Nói cách khácngười sản xuất sẽ sản xuất ở mức sản lượng mà tại đó MNPB = MR – MC = 0
+ Nếu đánh thuế t cho mỗi đơn vị sản phẩm, người sản xuất sẽ tối đa hoá lợi nhuận khi MNPBt = MR– MC – t = 0 hay MNPB – t = 0
+ Để MNPB – t = 0 tại Q* cần đánh thuế t = MEC tại Q*
Hình 2.15 Thuế Pigou đối với ngoại ứng môi trường
Trang 27* Thuế thải/phí thải :
- Thuế/phí thải là loại phí đánh vào lượng chất thải thực tế của người sản xuất
Hình 2.16 Xác định mức phí thải tối ưu
- Như vậy, theo cách tiếp cận ô nhiễm thứ hai, mức phí tối ưu (hay mức phí có hiệu quả) sẽ được xácđịnh tại mức thải W*, tại đó F = MAC = MDC Tuy nhiên do không có đủ thông tin về MAC và MDC nênmức quy định có thể cao hơn hoặc thấp hơn F*, vì thế kết quả là mức thải cuối cùng không trùng với mức tối
ưu W*
Trang 28Hình 2.18 Hành vi của chủ thể gây ô nhiễm
Hình 2.19 Thuế phát thải hiệu quả xã hội
- Thuế thải luôn đạt hiệu quả chi phí vì nguyên tắc cân bằng cận biên luôn thoả mãn đối với mỗi chủthể gây ô nhiễm (MAC = t)
- Thuế thải và động cơ khuyến khích đổi mới công nghệ :
Hình 2.21 Động cơ khuyến khích đầu tư công nghệ kiểm soát ô nhiễm mới dưới tác động của thuế thải
Trang 29b d
e
Mức thuế
3.4.3 Trợ cấp
- Trợ cấp thường được sử dụng trong những trường hợp và khu vực khó khăn về kinh tế Trợ cấp của
nhà nước có thể áp dụng cho các hoạt động tạo ra ngoại ứng tích cực như trồng rừng, xử lý ô nhiễm…Nguyên nhân dẫn đến trợ cấp là do trong các hoạt động này lợi ích cá nhân thường nhỏ hơn lợi ích xã hội, do
đó chi phí mà các cá nhân chấp nhận bỏ ra để tiến hành các hoạt động trên không đạt mức cần thiết đối với
xã hội
- Nhà nước có thể điều chỉnh mức độ hoạt động cá nhân về mức hiệu quả xã hội thông qua mức trợcấp được xác định đúng bằng chênh lệch giữa lợi ích cận biên xã hội và lợi ích cận biên cá nhân (tức bằng lợiích ngoại ứng cận biên)
- Một số vấn đề cần chú ý khi thực hiện trợ cấp giảm thải:
+ Cần có nguồn tài chính để thực hiện
+ Có thể làm tăng lượng thải vì nó khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất mới
+ Cần quan trắc nghiêm ngặt để biết được lượng giảm thải của mỗi nguồn
Hình 2.22 Mức trợ cấp và hành vi của chủ thể gây ô nhiễm
Trang 30Giảm thải đến điểm MAC = Mức trợ cấp
3.4.4 Giấy phép thải có thể chuyển nhượng (Tradable Discharge Permit- TDP)
- Năm 1968 nhà kinh tế học người Canada là Dales lần đầu tiên đưa ra đề nghị về một cơ chế trong đómột số lượng nhất định « quyền gây ô nhiễm » (bằng với mức ô nhiễm mà xã hội mong muốn) có thể đượcmua đi bán lại giữa những người gây ô nhiễm
- « Quyền gây ô nhiễm » của các doanh nghiệp được ghi nhận thông qua các « giấy phép xả thải » do
cơ quan quản lý môi trường cấp Giấy phép thải có thể chuyển nhượng được coi như một kiểu quyền sở hữutài sản môi trường, được thải chất ô nhiễm vào môi trường khi có giấy phép và có thể chuyển nhượng được
Hình 2.23 Cung giấy phép thải
Trang 31+ Đường MAC chính là đường cầu giấy phép của các chủ thể gây ô nhiễm :
Hình 2.24 Cầu giấy phép thải
+ Đường cầu thị trường là tổng theo chiều ngang đường cầu của các chủ thể gây ô nhiễm
Hình 2.25 Đường cầu thị trường giấy phép thải