Ví dụ, những đứa trẻ suy dinh dưỡng sống ở các nước đứng thứ ba trên thế giới có thể không đạt được chỉ số IQ như họ vốn có bởi vì những tác động của môi trường lên sự phát triển trí n
Trang 1UNIT 1:
PRIMARY EDUCATION IN DIFFERENT
COUNTRIES
1 Primary education is the first stage
of compulsory education It is preceded
by pre-school or nursery education and
is followed by secondary education In
North American, this stage of education
is usually known as elementary
education and is generally followed by
middle school
1 Giáo dục tiểu học là một giai đoạn đầu tiên của giáo dục bắt buộc Trước
đó là giáo dục mầm non hay là nhà trẻ
và được theo sau bởi giáo dục trung học
Ở Bắc Mĩ, bậc học này thường được biết đến như là giáo dục tiểu học và thông thường tiếp sau là các trường trung học
2 In most countries, it is compulsory
for children to receive primary
education, though in many jurisdictions
it is permissible for parents to provide it
The transition to secondary school or
high school is somewhat arbitrary, but it
generally occurs at about eleven or
twelve years of age Some education
systems have separate middle schools
with the transition to the final stage of
education taking place at around the age
of fourteen
Ở hầu hết các nước, việc học tiểu học là bắt buộc với trẻ em, mặc dù trong luật pháp của một số nước cha mẹ có quyền được giáo dục cho con họ Việc chuyển tiếp lên trường THCS hay THPT là một điều không bắt buộc, nhưng thông thường nó diễn ra trong khoảng từ 11 đến 12 tuổi Ở một số hệ thống giáo dục
có trường THCS riêng biệt với sự chuyển tiếp đến bước cuối cùng của giáo dục ở lứa tuổi 14
3 The major goals of primary education
are achieving basic literacy and
numeracy amongst all pupils, as well as
establishing foundations in science,
mathematics, geography, history and
other social sciences The relative
priority of various areas, and the
methods used to teach them, are an area
of considerable political debate
Mục tiêu chính của giáo dục tiểu học là thiết lập cho các em khả năng cơ bản đọc viết và tính toán, cũng như thiết lập cho các em nền tảng khoa học, toán học,địa lý, lịch sử và bộ môn khoa học xã học khác Tùy theo sự ưu tiên của từng
bộ môn khác nhau, và quyết định phương pháp nào được dùng để dạy chúng cho phù hợp, là một vấn đề chính trị gây nhiều tranh luận
4 Typically, primary education is
provided in schools, where the child will
stay steadily advancing classes until
they complete it and move on to high
Thông thường, giáo dục tiểu học được dạy tại trường học, nơi mà học sinh sẽ được phân mỗi năm một lớp và ở lại chođến khi chúng hoàn thành chương trình
Trang 2school/ secondary school Children are
usually place in classes with one teacher
who will be primarily responsible for
their education and welfare for that year
This teacher may be assisted to varying
degrees by specialist teachers in certain
subject areas, often music or physical
education The continuity with the class
is notable feature of the primary
education system
này và được chuyển lên trường THCS hoặc THPT Học sinh thường được phânlớp cùng với một giáo viên người mà người sẽ chịu trách nhiệm chính trong dạy học và phúc lợi của chúng trong năm học đó Giáo viên này có thể được
hỗ trợ với mức độ khác nhau bởi những giáo viên bộ môn nhất định, thường là
âm nhạc hoặc thể dục Tính liên tục với một giáo viên duy nhất và cơ hội đề xây dựng một mối quan hệ chặt chẽ với lớp
là một tính năng đáng chú ý của hệ thống giáo dục tiểu học
5 Traditionally, various form of
corporal punishment have been an
integral part of early education
Recently this practice has come under
attack, and in many cases been
outlawed, especially in Western
countries
Theo truyền thống, những dạng khác nhau của hình phạt thân thể đã từng là một phần không thể thiếu của sự giáo dục những năm đầu đời Nhưng gần đâycách giáo dục bằng phương pháp này đã
bị cấm, đặc biệt ở những quốc gia phường Tây
Sweden
In Sweden kids go to the primary
school through the ages of 7 and 15
After that they can choose to (although
it is pretty uncommon not to) study at a
gymnasium for three years where they
pick a program devoted to a particular
direction (i.e Science, Aesthetics,
Civics) During the gymnasium all
students have some subjects they have
to study, but not during all three years
Almost all children attend a preparatory
year at the age of 6 this initial year is
not mandatory
Thụy Điển
Ở Thụy Điển trẻ em đi học trong độ tuổi từ 7 đến 15.Sau đó chúng có thể chọn (mặc dù không phổ biến) để học tập tại một trường trung học trong ba năm nơi chúng chọn một chương trình theo hướng đặc biệt (tức là Khoa học,
Mỹ học, thể chất).Trong trường trung học đó tất cả học sinh đều có vài môn học mà chúng phải học, nhưng không phải trong cả ba năm Gần như tất cả trẻ
em đều tham gia vào một năm học chuẩn bị khi lên 6.Năm đầu tiên này là không bắt buộc
6 The children don’t start receiving
grades until their eighth year This is,
Trẻ em không bắt đầu đượ phân lớp theo học lực cho dến khi chúng lên 8
Trang 3however, about to change according to a
new proposal from the Swedish
government, where grades will be given
from the sixth year
Nowadays, it’s also possible to begin
one year earlier, and the child who does
will have to ability to go to and finish
gymnasium one year earlier as well
Tuy nhiên dựa vào sự thay đổi từ một đềsuất mới của chính phủ Thụy Điển, mà học sinh sẽ được phân lớp từ khi lên 6
Hiện nay, nó cũng có thể thích hợp để bắt đầu một năm trước đó, những đứa trẻ đó cũng có khả năng để học và ra trường THCS sớm hơn một năm
7 Netherlands
Children in the Netherlands must be at
least four years old to enter primary
education Almost all 4-year-olds (99.3
%), in the Netherlands indeed attend
primary school, although this is not
compulsory until children reach the age
of 5 primary school is free of charge
In most schools, children are grouped
by age in mixed ability classes, with one
teacher for all subjects Primary school
consists of 8 groups (thus 8 years of
schooling)
7 Hà Lan
Học sinh ở Hà lan phải ít nhất 4 được
để bước vào chương trình giáo dục tiểu học Gần như tất cả trẻ em 4 tuổi
(99.3%) ở Hà Lan đã bắt đầu học tiểu học, mặc dù nó không bắt buộc cho đến khi trẻ đủ 5 tuổi Giáo dục tiểu học là miễn phí
Ở hầu hết các trường, học sinh được chia lớp theo độ tuổi và trong lớp học cónhiều trình độ khác nhau cùng một giáo viên cho tất cả các môn học Trường tiểu học phân ra làm 8 lớp (do đó có 8 năm học)
8 During the first two years
(kindergarten), children receive an
average of 22 hours of education, during
the last 6 years children receive an
average of 25 hours per week Schools
are open 5 days a week, but children are
also free on Wednesday afternoon The
first two years children are also free on
Friday afternoon
At the end of primary school, in group
8, school advice should be given on
children’s secondary school choice
Trong 2 năm đầu tiên (mẫu giáo), trẻ được học trung bình 22 giờ mỗi tuần, qua 6 năm trẻ được học trung bình 25 giờ mỗi tuần Các trường học phải mở cửa 5 ngày một tuần, nhưng trẻ em thì được nghỉ vào chiều thứ tư Hai năm đầu thì trẻ cũng được nghỉ cả vào chiều thứ sáu nữa
Khi kết thúc giáo dục ở trường tiểu học, vào năm thứ 8, các trường nên đưa ra cho trẻ một số sự lựa chọn cho trường THCS Hầu hết các trường đều sử dụng
Trang 4Most schools use a national test to
support this advice, for instance the
‘Citotoets’, a test developed by the
Central Institute for Test development
1 bài kiểm tra quốc gia để hỗ trợ tư vấn này, ví dụ như ‘Citotoets’, 1 bài kiểm tra được phát triển bởi viện Nghiên cứu phát triển thử nghiệm Quốc gia
9 United Kingdom
In the UK schools providing primary
education in the state sector are known
as primary schools They generally cater
for children aged from four to eleven
Primary schools are often subdivided
into infant schools for children from age
4-7 and junior schools for ages 7-11
In the private sector, fee-paying
schools which provide primary
education are known as preparatory
schools, and they often cater for
children up to the age of thirteen As
their name suggests, preparatory schools
are designed to prepare for entrance
examinations for fee-paying
independent schools
Trong các trường công (kv nhà nước) giảng dạy chương trình tiểu học ở Anh thì được gọi là các trường tiểu học Các trường này nhìn chung dành cho học sinh từ 4 đến 11 tuổi Các trường tiểu học này lại thường chia nhỏ ra thành cáctrường mẫu giáo bé dành cho học sinh
từ 4-7 tuổi và trường tiểu học cho học sinh từ 7-11 tuổi
Ở các trường tư, các trường này phải trả học phí thì được biết đến như là các trường “dự bị", trường này sẽ dành cho học sinh đến khi 13 tuổi Như tên gọi, các trường này được thiết kế để chuẩn bịcho các kì thi đầu vào các trường tư nhân phải trả học phí khác (ở cấp cao hơn)
Trang 5UNIT 2:
STAGES OF DEVELOPMENT IN CHILDREN
AND TEENAGERS.
This lesson presents an overview of the
development of intellectual abilities
Children are not little adult
Until they reach the age of 15 or so they are
not capable of reasoning as an adult
The following information is based on the
work of Jean Piaget
He was not a psychologist.
He was a developmental biologist who
devoted his life to closely observing and
recording the intellectual abilities of infants,
children and adolescents
The stages of intellectual development
formulated by Piaget appear to be related to
major developments in brain is not fully
development until late adolescence or in the
case of males sometimes early adulthood
We often expect children to think like adults
when they are not yet capable of doing so
It is important that parents know what to
expect from their child as they develop and to
Bài học này là tổng quát về khả năng phát triển của trí tuệ.
Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại.
Cho tới 15 tuổi hoặc hơn, trẻ em không có khả năng suy luận như người lớn.
Các thông tin sau đây dựa trên sự nghiên cứu cơ bản của Jean Piaget.
Ông ấy không phải là một nhà tâm lí học
Ông là một nhà sinh vật học, người đã cống
hiến cuộc đời mình cho những quan sát và
ghi chép lại các khả năng tư duy của trẻ sơ
sinh, trẻ em và thanh thiếu niên.
Các giai đoạn phát triển trí tuệ được xây
dựng bởi Piaget có liên quan tới sự phát
triển của bộ não, bộ não của con người chưa phát triển đầy đủ cho tới cuối tuổi vị thành
niên hoặc trong trường hợp của nam giới đôi
khi đến tuổi trưởng thành.
Chúng ta thường mong đợi trẻ suy nghĩ như người lớn trong khi chúng chưa có khả năng làm như vậy.
Điều quan trọng là cha mẹ biết nên mong
Trang 6be sure that the expectations they may have for
their child at a given age are realistic
Physical Development of 7- to 12- year- olds
Overview
From age 7 to 12, children grow in both height
and weight, though not as quickly as they did
as preschoolers
These years are a time of growth spurts and
milestones on the path to sexual maturation
Illnesses come less frequently in middle
childhood, and normal growth signals good
health
Features
The onset of puberty and the physical
changes that accompany it are the most
significant features of middle childhood
For girls, development of the breasts is
usually the first harbinger of puberty
It may begin as early as age 8 or as late as 13
Menstruation begins, on the average, at age
12.5
Boys may display signs of puberty as early as
10 or as late as 16
These include voice change, the appearance of
đợi gì từ con cái của họ trong quá trình phát
triển và đảm bảo rằng những mong đợi của
họ đối với con cái căn cứ vào độ tuổi đó là thực tế.
Sự phát triển thể chất tử 7 đến 12 tuổi Tổng Quan
Từ 7 đến 12 tuổi, trẻ phát triển cả về chiều cao và cân nặng, mặc dù không được nhanh như thời mẫu giáo.
Đây là thời kỳ tăng trưởng và có những dấu
mốc quan trọng về sự phát triển giới tính
Ở thời kì này trẻ ít bị ốm hơn và nếu trẻ phát triển bình thường là trẻ có sức khỏe tốt.
Tính năng
Đây là thời kì đầu của tuổi dậy thì và những thay đổi về thể chất mà đi kèm theo đó là những tính năng quan trọng nhất của trẻ giữa thời kì mới lớn
Đối với con gái, sự phát triển của ngực thường là dấu hiệu đầu tiên của tuổi dậy thì.
Nó có thể sớm nhất là khi bắt đầu lên 8 tuổi hoặc muộn hơn là 13 tuổi.
Kinh nguyệt bắt đầu trung bình ở độ tuổi
Trang 7underarm and facial hair, and enlargement of
the Adam’s apple
Size
Boy and girls get 2 to 3 inches taller and
about 7 lb Heavier each year during middle
childhood
Girls, on average, begin displaying signs of
puberty, and have the corresponding growth
spurt, about two years before boys
They may temporarily be bigger than their
male age mates, but the boys catch up and then
exceed the girls as their hormones surge
Boys begin their most prolific period of
growth around age 12
Effects
As their muscles and bones grow, kid's
athletic abilities also develop quickly
Coordination improves, along with speed and
strength
Gross motor skills, such as leaping, running,
throwing, catching, climbing and balancing
become easier
Fine- motor skills, using small movements to
perform tasks such as tying shoes, writing and
playing a musical instrument, also progress
Trung bình con gái bắt đầu biểu hiện các
dấu hiệu của tuổi dậy thì và có giai đoạn dậy thì tương ứng trước con trai 2 năm
Chúng có thể tạm thời lớn hơn các bạn nam cùng độ tuổi của mình nhưng các bạn nam bắt kịp và vượt qua các bạn nữ khi hoocmon của chúng tăng lên
Các bạn nam bắt đầu thời kỳ tăng trưởng của mình nhiều nhất vào khoảng 12 tuổi
Kết Quả
Cơ bắp và xương của chúng phát triển, khả năng hoạt động của trẻ phát triển nhanh chóng.
Khả năng phối hợp được cải thiện mau lẹ và mạnh mẽ.
Các kĩ năng vận động, như nhảy, chạy, ném, bắt, leo trèo và sự cân bằng trở nên rõ ràng hơn.
Các kĩ năng vận động, động tác nhỏ để thực hiện nhiệm vụ như buộc giày, viết, và chơi một nhạc cụ, cũng tiến bộ.
Trang 8A chid’s growth parameters are largerly
hereditary.
Genes will play the largest role in how tall he
will be and what shape she will have
Others factors, however, can come into play,
including diet, sleep patterns and exercise
In countries with widespread poor nutrition,
children tend to be shorter
Ethnic group, environment, disease and access
to medical care can affect growth rates and
other aspects of physical development
Prevention
During middle childhood, boys and girls
will become more interested in they're growing
and may worry about their appearance
For girls, the biggest concern is often weight,
and for boys it's height
Parents can help their children develop positive
attitudes about themselves by putting the
emphasis on being healthy
They can't change their genetic makeup, but
they can try to make the most of it
Ở các nước kém phát triển, trẻ em có xu hướng thấp hơn
Yếu tố dân tộc, môi trường, dịch bệnh và chăm sóc y tế có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và các khía cạnh khác của sự phát triển thể chất.
Phòng chống
Trong suốt thời thơ ấu, các bạn trai và các bạn gái sẽ trở nên quan tâm hơn về sự phát triển của mình và có thể lo lắng về bề ngoài của họ
Đối với con gái, mối quan tâm lớn nhất về
cơ thể là cân nặng và đối với con trai là chiều cao
Cha mẹ có thể giúp cho con mình phát triển thái độ tích cực về bản thân mình bằng cách đặt sức khỏe lên trên hết
Họ không thể thay đổi cấu trúc gen, nhưng
họ có thể cố gắng làm biến đổi hầu hết nó.
Trang 9
As parent, we all want our children to succeed
and be the best they can be
We know from research that two factors
influence how your child succeeds and grows:
gences and environment
One of the factors that influence our child’s
development is their genetic makeup or
These genes act like a blueprint for what
characteristics a child may have
For example, genes determine if a child will
have blue eyes or brown eyes; they also
determine if he will be left – or right – handed
The other factor that influences child
development is the environment
This includes experiences children have in
their home, school and community
environments
Some people refer to this as “nurture”
The environment can either improve or harm
a child’s genetic blueprint
For example, malnourished children who
Là cha mẹ, tất cả chúng ta đều mong muốn con em mình thành công và đạt được những điều tốt nhất có thể.
Những nghiên cứu đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng hai yếu tố ảnh hưởng tới sự thành công và phát triển của trẻ là: gen và môi trường.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ là yếu tố “gen”.
Một số người cho rằng nó là “tự nhiên”
Gen là các vật chất di truyền mà chúng ta
đã truyền lại cho con cái của mình.
Trẻ được sinh ra với những “gen” đó.
Những gen này hoạt động như một bản kế
hoạch cho những đặc tính mà đứa trẻ có thể
có.
Ví dụ gen xác định xem đứa trẻ có mắt xanh hay mắt nâu; nó cũng xác định đứa trẻ đó thuận tay trái hay tay phải.
Yếu tố khác ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ là môi trường.
Nó bao gồm những kinh nghiệm trẻ có được trong gia đình, trường học và môi trường cộng đồng.
Nhiều người cho rằng yếu tố này là “tự nhiên”.
Môi trường có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm các yếu tố di truyền của trẻ.
Trang 10live in third world countries may not reach
their IQ potential because of the impact of their
environment on their brain development
We often think we need to run out and buy
special toys, music and games to stimulate our
child’s development, but we have to remind
ourselves that it is more important to provide
the following, every-day activities you can do
with your child to encourage brain
development
Ví dụ, những đứa trẻ suy dinh dưỡng sống
ở các nước đứng thứ ba trên thế giới có thể không đạt được chỉ số IQ như họ vốn có bởi
vì những tác động của môi trường lên sự phát triển trí não của chúng.
Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta phải mua ở ngoài những thứ đồ chơi có giá trị, âm nhạc và trò chơi để kích thích trẻ em phát triển, nhưng chúng ta nên nhớ rằng điều quan trọng hơn cả là mỗi ngày chúng ta có thể theo sát con để khuyến khích não phát triển.
UNIT 3
Trang 11FACTORS CONTRIBUTE TO THE VARIOUS
AREAS OF DEVELOPMENT
OF A CHILD
READING
Physical development (Sự phát triển thể chất)
The physical development of a child depends
on many factors, however, the most
component clearly seems to be the
environmental influences during both the pre
and post natal stages of growth
Sự phát triển thể chất của 1 đứa trẻ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên, ảnh hưởng quan trọng nhất dường như là các ảnh hưởng của môi trường trong suốt giai đoạn trước và sau khi sinh
From the moment of conception, a growing
fetus needs the proper nutrients and
conditions to grow into a healthy baby
Từ lúc thụ thai, một bào thai đang phát triểncần các chất dinh dưỡng thích hợp và điều kiện tốt để phát triển thành 1 em bé khỏe mạnh
During this stage brain development occurs
and can be greatly influenced by its mother’s
actions and practices
Trong suốt giai đoạn này bộ não của trẻ phát triển và có thể bị ảnh hưởng rất lớn bởinhững hoạt động của người mẹ
A malnourished mother will not only cause
irreversible damage to the fetus, but can
cause a termination of the pregnancy as well
Một bà mẹ suy dinh dưỡng không những làm cho thai nhi không thể đảo ngôi khi sinh, mà còn có thể gây sẩy thai
A mother addicted to drugs or alcohol can
cause even greater damage, causing the child
to not only be underdeveloped with
premature birth and low birth weight, but
also have lifelong disorders as well
Người mẹ nghiện ma túy hay rượu thậm chí gây ra những mối nguy hiểm lớn hơn, làm cho trẻ không những kém phát triển, sinh non, thiếu cân khi sinh mà còn gây ra nhữngrối loạn trong suốt cuộc đời chúng
America has more newborn deaths than any
other country in the world, as stated in our
text, due to the inadequate prenatal care we
give expectant mothers
Ở mỹ trẻ tử vong khi sinh là cao nhất thế giới, như đã nêu trong văn bản, do sự thiếu quan tâm trước khi sinh của các bà mẹ đang mang thai
Although there are genetic factors that can
cause problems with development to arise at
this stage, clearly the health of the mother is
the key factor in developing a healthy fetus
and newborn child
Mặc dù các yếu tố di truyền có thể phát sinhnhiều vấn đề quan trọng trong giai đoạn này, nhưng rõ ràng sức khỏe của người mẹ
là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển một bào thai khỏe mạnh và một đứa trẻ
Trang 12mới sinh.
Once the child is born, environmental factors
continue to influence the outcome of the
physical development of the child
Một khi đứa trẻ được sinh ra, các yếu tố môitrường tiếp tục ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ
A child who does not receive proper
nourishment will surely fall behind in
development, as will a child born under the
influence of alcohol or some other drug
Một đứa trẻ không nhận được sự nuôi dưỡng phù hợp sẽ phát triển tụt lại phía sau, điều này cũng như vậy đối với những đứa trẻ được sinh ra dưới sự ảnh hưởng của rượuhoặc ma túy
As the child grows it is important to not only
give the child the proper nutrition but the
proper exercise and exposure to its
environment as well
Khi trẻ lớn lên điều quan trọng là không chỉ cung cấp cho trẻ các chất dinh dưỡng phù hợp mà còn phải có những vân động thích hợp và tiếp xúc với môi trường
A child who sits in a playpen in front a
television all day will develop less quickly
than an active child will
Một đứa trẻ chỉ ngồi trong xe đẩy trước mànhình ti vi cả ngày sẽ phát triển chậm hơn so với những đứa trẻ năng động
A child who is left in the dark for most of its
early life will have poor brain development
that will affect its life forever
Một đứa trẻ sống trong bóng tối lúc còn nhỏ
sẽ có bộ não phát triển chậm và sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của nó
Although genetics can also play a part in
development it is ultimately up to the mother
and father to ensure that their child develops
properly and healthily
Mặc dù di truyền có thể góp phần vào sự phát triển nhưng phần nhiều là do cha mẹ đểđảm bảo rằng con cái của họ phát triển thíchhợp và khoẻ mạnh
Speech/ language development (Sự phát triển lời nói/ngôn ngữ)
Speech and language development relies on
a variety of factors as well, including
environmental, cultural, and genetic factors
Sự phát triển lời nói và ngôn ngữ phụ thuộc vào một loạt các yếu tố bao gồm môi
trường, văn hóa và các yếu tố di truyền.Even though a child may develop sounds and
words at an early age from pre-wired
tendencies, it is likely that the
responsiveness or un responsiveness of the
mother and father will affect the child’s
development
Mặc dù một đứa trẻ có thể phát triển âm và
từ khi chúng còn nhỏ từ những cái đã có, việc giao tiếp hoặc không đáp lại của cha
mẹ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ
A child who has an attentive caregiver will
be more likely to develop its speech and
Một đứa trẻ có người chăm sóc chu đáo sẽ
có khả năng phát triển lời nói và ngôn ngữ
Trang 13language practices quicker than a child
whose parents don’t respond to him or her at
all
nhanh hơn một đứa trẻ mà bố mẹ không đápứng đầy đủ cho chúng
Moreover, if the household itself is quiet
and the parents do not even speak to each
other, the child will have no examples to
learn by
Hơn nữa, nếu gia đình chúng trầm lặng và cha mẹ không nói chuyện với nhau, đứa trẻ
sẽ không có ví dụ để học theo
This is where cultural factors can affect the
speech and language portion of a child’s
development
Điều này giải thích tại sao các yếu tố văn hóa có thể ảnh hưởng đến sự phát triển lời nói và ngôn ngữ của trẻ
Once a child begins to speak, it is important
that the language portion of words and
sounds are taught to him or her from the
environment
Khi một đứa trẻ bắt đầu học nói, sự phân chia ngôn ngữ của các từ và âm thanh mà đứa trẻ được học từ môi trường là yếu tố quan trọng
A child may not develop past making sounds
or simple words if access to learning these
tools is not provided
Một đứa trẻ sẽ không phát triển về lời nói và
từ ngữ đơn giản nếu công cụ học không có sẵn
Intellectual development (Sự phát triển trí tuệ)
Environment can affect a child’s intelligence
in a variety of ways that may not seem
obvious
Môi trường có thể ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ theo các cách khác nhau mà ta không nhìn thấy rõ
Treating a child like a “little adult” and
giving the child not only access to learning
materials but a clear sense of culture and
responsibility can affect the child’s own
motivation and desire, which I believe are
ultimately the deciding factors for
intelligence levels
Coi một đứa trẻ giống như một “người lớn thu nhỏ” và cho trẻ không những tiếp cân với các tài liệu học tập mà còn xây dựng cho chúng có ý thức rõ ràng về nền văn hóa
và trách nhiệm có thể ảnh hưởng đến động lực riêng cũng như mong muốn của trẻ, tôi tin rằng đây là yếu tố cuối cùng ảnh hưởng quyết định đến sự thông minh của trẻ
A lazy child who is permitted to self-indulge
all day will lack the necessary drive to obtain
knowledge when compared to an active,
responsible child who has learned tolerance
and diversity through the wide array of
Một đứa trẻ lười biếng được nuông chiều sẽ không có đủ động cơ cần thiết để tiếp thu trithức so với những đứa trẻ năng động, trẻ có trách nhiệm sẽ học được sự khoan dung và
sự phong phú của văn hóa thông qua hàng
Trang 14stimuli of our rich culture called Earth
provides
loạt các kích thích từ thế giới xung quanh
Limitations, which may be genetically
predisposed, should never be a factor when
determining intelligence development True
intelligence relies not solely on test scores
but in a wide range of ideals and beliefs that
cannot be measured through standard testing
Những hạn chế, có thể do di truyền định sẵnkhông được coi là yếu tố khi đo sự phát triển trí tuệ của đứa trẻ Sự phát triển trí tuệ thật sự không chỉ phụ thuộc vào điểm thi nhưng một loạt các ý tưởng và niềm tin không thể đánh giá thông qua kiểm tra tiêu chuẩn
Social/ Emotional development ( Sự phát triển xã hội/ tình cảm)
A child’s social and emotional development
can be affected by predisposed traits,
however, environmental factors certainly
play a significant part
Sự phát tiển xã hội và tình cảm của 1 đứa trẻ có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố di truyền, tuy nhiên yếu tố môi trường chắc chắn có ảnh hưởng đáng kể
One can argue that a child may be shy
because he or she inherited the characteristic
from a parent, for example, but it can also be
said that the child may have picked up the
reserved nature by learning from example
Người ta có thể nói rằng một đứa trẻ nhút nhát bởi vì nó thừa hưởng những đặc điểm của cha mẹ, nhưng cũng có thể cho rằng chúng học được tính nhút nhát một cách tự nhiên thông qua các ví dụ
Opportunity for social interaction with peers
as well as adults can affect the development
as well
Cơ hội được giao tiếp xã hội với bạn cùng trang lứa cũng như với người lớn cũng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ
If a child is home all day interacting mainly
with adults, it may be more difficult for him
or her to be socially appropriate with peers
when finally sent off to shool
Nếu 1 đứa trẻ ở nhà cả ngày chỉ tiếp xúc vớingười lớn thì sẽ khó khăn hơn cho nó trong việc tiếp xúc với bạn cùng trang lứa khi đến trường học
However, after the initial resistance the child
is young enough to learn appropriate social
exchange through modeling and
reinforcement
Tuy nhiên, sau những bỡ ngỡ ban đầu trẻ cóthể học được cách trao đổi thông qua sự tăng cường và những mô hình
A child may also be superior to his or her
peers having learned adult level social
characteristics, and this can affect
1 đứa trẻ có thể giỏi hơn các bạn cùng trang lứa, vì học được từ người lớn những đặc thùcủa xã hội và điều này cũng ảnh hưởng đến
Trang 15development as well sự phát triển của trẻ.
Although caregivers can affect the social
actions of a child, it is imperative that the
child be exposed to peers as soon as
possible, as peer interaction is surely the
most pertinent influential factor in a child’s
social development
Mặc dù những người chăm sóc có thể gây ảnh hưởng tới các hoạt động xã hội của 1 đứa trẻ, nhưng bắt buộc đứa trẻ phải được tiếp xúc với bạn bè cùng trag lứa càng sớm càng tốt, bới vì tiếp xúc với người cùng trang lứa chắc chắn là yếu tố thích hơp nhất ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội của trẻ.Emotions can also be affected by a variety of
conditions A negative home environment in
which the child is subjected to harsh words
or pessimistic attitudes can cause a severe
reaction in the child’s emotional
development
Tình cảm cũng có thể bị tác động bởi 1 loạt các điều kiện một gia đình tiêu cực trong
đó trẻ là đối tượng của các từ ngữ thô lỗ hoặc thái độ bi quan có thể gây ra phản ứng nghiêm trọng trong việc phát triển tình cảm của trẻ
As a child develops into a teenager, it is
important for the caregiver to foster
appropriate emotional support as the child
goes through the difficult and emotional
stages of puberty
Khi một đứa trẻ phát triển thành một thiếu niên người chăm sóc cần phải có những hoạt động thích hợp để hõ trợ tình cảm khi trẻ trải qua những giai đoạn khó khăn và những cảm xúc trong giai đoạn dậy thì.Although the child will eventually turn to
peers for emotional support, many emotions
ripen at this stage and it is important that the
child’s adult caregivers help the child deal
with them fittingly
Mặc dù trẻ có xu hướng tìm đến các bạn cùng trang lứa để chia sẻ cảm xúc và hỗ trợ tinh thần nhưng điều quan trọng là người chăm sóc phải giúp trẻ xử lý các vấn đề khó khăn của trẻ
Moral development (Sự phát triển đạo đức)
Culture is unquestionably the underlying
influence of moral development, although
parental regard for these standards is
necessary for proper expansion of morality
Văn hóa chắc chắn có ảnh hưởng tiềm ẩn đến sự phát triển đạo đức của trẻ, mặc dù sựquan tâm của bố mẹ đến vấn đề này là cần thiết cho việc bồi dưỡng đạo đức
Morals can be learned though a multitude of
ways within any given culture, but the most
infulentianl way to ensure the child clearly
internalizes a sense of ethics is to teach
them
Đạo đức có thể được học thông qua nhiều phương thức khác nhau trong 1 nền văn hóanhất định, nhưng cách có ảnh hưởng nhất đảm bảo cho trẻ tiếp thu rõ ràng ý thức đạo đức là dạy cho trẻ biết
Trang 16This role can belong to the parents, and also
older siblings, teachers, and in some cultures
entire tribes or towns
Vai trò này có thể thuộc về cha mẹ, cũng có thể là anh chị, giáo viên, và trong nhiều nền văn hóa nhiều bộ tộc
For a child o have a clear understanding of
the rules, that is, what is wrong and what is
right, is one thing For a child to understand
why something is wrong or right is another
Teaching children at a young age to behave a
certain way “because I said so” or for fear of
punishment is not only hindering moral
development but also possibly causing just
the opposite
Dạy trẻ nhỏ cư xử theo cách “bởi vì tôi bảo thế” hoặc sợ các hình phạt không chỉ cản trở sự phát triển đạo đức mà còn gây những phản ứng ngược lại
If a child is helped to pass through the stages
of moral development rather than just
acquiring them on his/ her own, a highly
moral and tolerant contributing member of
society can be developed much faster
Nếu 1 đứa trẻ được giúp đỡ để vượt qua các giai đoạn phát triển đạo đức sẽ phát triển tốthơn là để chúng tự vượt qua, những giá trị đạo đức hoặc những hành vi ứng xử của cácthành viên trong xã hội có thể làm cho sự phát triển đạo đức của trẻ nhanh hơn
For example, take a young child who is not
exposed to societal rules outside of the home
environment or cultural differences He or
she may develop a need to understand them
at a later age, but if a parent or caregiver
helps to teach them before an interest is
sparked they will be further along in their
moral development
Ví dụ, một đứa trẻ không được tiếp xúc với các điều kiện các quy tắc xã hội bên ngoài môi trường gia đình hay nền văn hóa khác Trẻ có thể phát triển để hiểu chúng ở độ tuổisau này, nhưng nếu cha mẹ và người chăm sóc giúp đỡ để dạy chúng trước khi chũng
tự phát hiện ra điều đó thì chúng dẽ phát triển đạo đức nhanh hơn
Conclusion (kết luận)
To conclude, although the development of a
human being can be viewed as a simple
computation that includes genetics,
environment and culture, it is much more
complex than that
Tóm lại, mặc dù sự phát triền của con người
có thể được xem xét như một tính toán đơn giản bao gồm di truyền, môi trường và văn hóa, nhưng nó còn phức tạp hơn thế
There is no true answer as to what makes us
one way or the other, although I truly believe
Không có câu trả lời chính xác rằng cái gì làm cho chúng ta trở nên thế này hay thế
Trang 17that the environmental influences outweigh
and challenge any argument that states clear
guidelines for development as fact
khác, mặc dù tôi thực sự tin rằng ảnh hưởngcủa môi trường là lớn hơn cả và thách thức tất cả các yếu tố khác đối với sự phát triển
We are all individual, and that is mainly
because we all develop under a variety of
differing environmental factors
Chúng ta là là những cá nhân khác nhau đó
là bởi vì chúng ta phát triển theo một loạt các yếu tố môi trường khác nhau
The role of heredity versus environmental
influences on a child’s development is a
controversial issue, and there is much
research to support one side or the other
playing a larger role
Vai trò của di truyền so với những ảnh hưởng của môi trường tới sự phát triển của trẻ là một vấn đề gây nhiều tranh cãi, và có nhiều nghiên cứu để hỗ trợ 1 mặt hoặc mặt khác cho rằng vai trò của yếu tố khác là lớn hơn
Although a child may inherit a certain
proposed level of intelligence, the
environment during the early stages of
development can alter this
Mặc dù 1 đứa trẻ có thể thừa hưởng 1 mức
độ thông minh nhất định hơn những đứa trẻ khác nhưng môi trường trong giai đoạn đầu của sự phát triển có thể thay đổi điều này
For example, a child who is simply a fast
developer may appear to be more intelligent
than his or her peers, and be given more
opportunities to foster the growth of their
intelligence
Ví dụ, 1 đứa trẻ nếu thể hiện ra bên ngoài là phát triển nhanh chưa chắc đã thông minh hơn bạn bè của mình, và có được nhiều cơ hội để thúc đẩy chí thông minh của mình
This is why I believe every child should be
equally given exposure and opportunity to
develop their intelligence across many
subjects, including foreign language
acquisition and the arts
Đây là lí do tại sao tôi tin rằng mọi trẻ em đều cần được tiếp xúc và có được cơ hội như nhau để phát triển trí thông minh của họthông qua nhiều môn học bao gồm ngoại ngữ và nghệ thuật
On the other hand, a child who develops at a
slower rate may have the inherited factors
that help him or her to develop a higher
intelligence at some point later on
Mặt khác, một đứa trẻ phát triển với tốc độ chậm biết đâu chúng cũng có các yếu tố di truyền để giúp chúng phát triển trí thông minh cao hơn tại 1 số giai đoạn
EXTRA READING
The basic personality inherited by the child Cá tính cơ bản được di truyền của 1 đứa trẻ
Trang 18is greatly influenced by the environment in
which he or she lives A child’s genetic
inheritance interacts with and is shaped by
the environmental factors operative in the
child’s word This interaction results in the
emergence of a self-image or the personality
of the child Self-image is responsible for
directing further development and behavior
of the child
chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường nơi
mà chúng sinh sống yếu tố di truyền mà một đứa trẻ được hưởng sẽ tương tác và được dịnh hình bởi các yếu tố môi trường trong thế giới của đứa trẻ Kết quả của sự tương tác này thể hiện trong cá tính của trẻ
Sự tự nhận thức là tự chịu trách nhiệm trực tiếp về hành vi và cách cư xử của đứa trẻ
A child is exposed to various interactions
with other persons, typically beginning with
family members and going on to include the
peer group members
Một đứa trẻ được tiếp xúc với các tương tác khác nhau và với nhiều người khác nhau, thường bắt đầu với các thành viên trong gia đình và tiếp đó là các thành vien cùng lứa tuổi
Other important people who are in constant
close contact with the child also influence
the process of personality development
Much of a child’s personality reflects
experiences with these key persons The
child who is rejected and mistreated is likely
to develop quite differently from one who is
encouraged and loved
Nhưng người quan trọng khác, những người
mà thường xuyên tiếp xúc gần gũi với trẻ cũng ảnh hưởng đến quá trình hình thành nhân cách của trẻ Phần lớn tình cách của trẻ phản ánh những kinh nghiệm học được
từ những người đó Đứa trẻ bị xa lánh và ngược đãi thì khả năng phát triển rất khác với những đứa trẻ được chăm sóc và yêu thương
Why are some children reserved and shy,
and others open and loving? Why some
runaway from their homes, while others are
adjusted to their home situation? Answers to
these and several such questions can be
found in the child’s environment The
behavior patterns children learn depend
heavily on models to which they are
exposed The socio-cultural environment is
the source of differences as well as
similarities in personality development
Tại sao 1 số đứa trẻ lại lãnh đạm và nhút nhát trong khi những đứa trẻ khác lại cởi
mở và yêu thương? Tại sao một số đứa trẻ lại chạy trốn khỏi nhà của chúng trong khi những đứa trẻ khác lại hòa hợp được với gia đình họ câu trả lời cho những câu hỏi
ấy chỉ tìm thấy trong môi trường sống của trẻ Các cách cư xử khuôn mẫu mà trẻ học phụ thuộc rất nhiều vào các mô hình mà chúng được tiếp xúc Môi trường văn hóa xãhội là nguồn gốc của sự phát triển khác nhau, cũng như nhân cách tương đồng
A child who is a part o scout group will
develop as a positive person Qualities like
leadership, discipline and camaraderie are
Một đứa trẻ, người mà là 1 phần của nhóm hướng đạo sẽ phát triển như là 1 người tích cực các phẩm chất như là kỉ luật, sự luyện
Trang 19inculcated in the child as a result of
participation in such group activities On the
other hand, a child who gets involved with a
delinquent gang, develops negative traits like
stealing, lying and smoking It is not difficult
to imagine – especially if no corrective
measures are taken – what kind of human
being that child is going to be?
tập và tình bạn thân thiết được khắc sâu trong đứa trẻ, cũng có thể là kết quả của sự tham gia trong 1 nhóm hạt động Mặt khác, một đứa trẻ có liên quan đến 1 băng nhóm tội phạm sẽ phát triển những đặc điểm tiêu cực như trộm cắp, nói dối, hút thuốc Điều
đó không phải là khó tưởng tượng đặc biệt nếu không có biện pháp khắc phục
Unit 4
Multiple Intelligences : Gardner’s Theory
Arguing that "reason, intelligence,
logic, knowledge are not synomous .
.", Howard Gardner (1983) proposed
a new view of intelligence that is
rapidly being incorporated in school
curricula
Một tranh luận cho rằng: " lí do, trí thông minh, kiến thức, logic, là không đồng nghĩa” Howard Gardner
(1983) đề xuất một quan điểm mới
về trí thông minh, quan điểm này nhanh chóng được đưa vào chương trình giảng dạy trong trường học
In
hisTheory of MultipleIntelligences,
Gardner expanded the concept of
intelligence to also include such
areas as music, spacial relations, and
interpersonal knowledge in addition
to mathematical and linguistic
ability
Trong thuyết đa trí tuệ của mình, Gardner mở rộng khái niệm trí thôngminh bao gồm cả lĩnh vực như: âm nhạc, mối quan hệ không gian và kiến thức xã hội, bên cạnh khả năng toán học và ngôn ngữ
• This digest discusses the
origins of Gardner's
Theory of Multiple Intelligenc
• Bài tóm tắt này thảo luận: một nguồn gốc thuyết đa trí tuệ củaGardner, định nghĩa về trí tuệ
Trang 20es, his definition of
intelligence, the incorporation
of the
Theory of Multiple Intelligenc
es into the classroom, and its
role in alternative assessment
practices
của ông, đưa thuyết đa trí tuệ vào lớp học và vai trò của nó trong các phương pháp đánh giá khác nhau
• Seven Intelligences
• Gardner defines intelligence
as "the capacity to solve
problems or to fashion
products that are valued in
one or more cultural
setting" (Gardner & Hatch,
1989)
• 7 sự thông minh
• Gardner định nghĩa sự thông
minh là “ khả năng giải quyết vấn đề hoặc tạo ra các sản phẩm được đánh giá cao trong việc thiết lập văn hóa”
(Gardner & Hatch,1989)
• Using biological as well as
cultural research, he
formulated a list of seven
intelligences This new
outlook on intelligence differs
greatly from the traditional
view which usually recognizes
only two intelligences, verbal
and computational The seven
intelligences Gardner defines
are:
• Sử dụng nghiên cứu sinh cũng như tìm hiểu nền văn hóa ông
đã hình thành nên 7 trí thông minh Quan điểm mới này khác rất nhiều với cách nhìn truyền thống,cái mà thường chỉ công nhận 2 sự thông minh
đó là lời nói và tính toán Gardner định nghĩa 7 sự thôngminh như sau:
• 1 Logical-Mathematical
Intelligence consists of the
ability to detect patterns,
reason deductively and think
logically This intelligence is
most often associated with
scientific and mathematical
thinking
• 1 Trí thông minh về logic –
toán học : bao gồm khả năng
phát hiện ra những qui luật, suy đoán những nguyên nhân
và tư duy hợp lí Sự thông minh này thường được liên quan tới giữa suy nghĩ khoa học và suy nghĩ toán học
• 2.Linguistic
Intelligence involves having
• 2 Trí thông minh về ngôn
ngữ học: bao gồm việc thông
Trang 21a mastery of language This
intelligence includes the
ability to effectively
manipulate language to
express oneself rhetorically or
poetically It also allows one
to use language as a means to
• 3.Spatial Intelligence gives
one the ability to manipulate
and create mental images in
order to solve problems This
intelligence is not limited to
visual domains - Gardner
notes that spatial intelligence
is also formed in blind
children
• 3 Trí thông minh về không
gian : cho người ta khả năng
vận dụng và tạo nên những hình ảnh tinh thần Trí thông minh này không bị giới hạn bởi những hình ảnh nhìn thấy- Gardner lưu ý rằng sự thông minh về khả năng cũng được hình thành ở trẻ khiếm thị
• 4.Musical
Intelligence encompasses
the capability to recognize and
compose musical pitches,
tones and rhythms (Auditory
functions are required for a
person to develop this
intelligence in relation to pitch
and tone, but it is not needed
for the knowledge of rhythm.)
• 4 Trí thông minh về âm
nhạc : bao gồm khả năng nhận
ra và soạn ra cao độ âm nhạc, giọng điệu và nhịp điệu.( chức năng thính giác là cần thiết để phát triển trí thông minh này trong mối quan hệ lên giọng
và xuống giọng, nhưng nó không cần thiết cho sự hiểu biết về nhịp điệu)
5 Bodily-Kinesthetic
Intelligence - is the ability to
use one's mental abilities to
coordinate one's own bodily
movements This intelligence
challenges the popular belief
that mental and physical
5 Trí thông minh về vận động
cơ thể: là khả năng sử dụng
tinh thần để phối hợp với các
cử động cơ thể của chính bản thân mình Sự thông minh này phản đối lại quan điểm phổ biến cái mà tinh thần và hoạt
Trang 22activity are unrelated động thể chất là không liên
quan
The Personal Intelligences
-includes (6) interpersonal
intelligence - the ability to
understand and discern the feelings
and intentions of others
-(6) Trí thông minh xã hôi –bao gồm mối quan hệ giữa con người với nhau : là khả năng hiểu và nhận
thức được một tình cảm và ý định của người khác
• and (7) intrapersonal
intelligence - the ability to
understand one's own feelings
and motivations These two
intelligences are separate from
each other Nevertheless,
because of their close
association in most cultures,
they are often linked together
• (7) Sự thông minh về thế giới
nội tâm- là khả năng hiểu
chính cảm giác riêng và động
cơ thúc đẩy Hai sự thông minh này có mối quan hệ tách rời nhau.Tuy nhiên,vì chúng
có sự kết hợp mật thiết với nhau ở hầu hết nền văn hóa,chúng thường kết hợp với nhau
Although the intelligences are
anatomically separated from each
other, Gardner claims that the seven
intelligences very rarely operate
independently Rather, the
intelligences are used concurrently
and typically complement each other
as individuals develop skills or solve
problems For example, a dancer can
excel in his art only if he has
• Mặc dù trí tuệ được giải phẫu tách rời nhau, Gardner cho rằng 7 trí tuệ hiếm khi hoạt động độc lập Thay vào đó là,sự thông minh được sử dụngđồng thời và bổ sung cho nhaukhi các cá nhân phát triển kĩ năng hoặc giải quyết các vấn
đề Ví dụ một người vũ công chỉ có thể vượt trội hơn về nghệ thuật nếu anh ta có:
• 1) strong musical intelligence
to understand the rhythm and
variations of the music
• 2) interpersonal intelligence
to understand how he can
inspire or emotionally move
his audience through his
movements, as well as
• 1 Có trí thông minh về âm nhạc để hiểu về nhịp điệu và biến tấu của âm nhạc
• 2 Trí thông minh liên nhân để hiểu thế nào anh ta có thể truyền cảm hứng hoặc gây cảm động cho khán giả thông qua cử động của mình, cũng
Trang 23• 3) bodily-kinesthetic
intelligence to provide him
with the agility and
coordination to complete the
movements successfully
như
• 3 Sự thông minh về vận động thân thể giúp anh ta nhanh nhẹn và phối hợp để hoàn thành sự chuyển động một cách thành công
• Basis for Intelligence
• Gardner argues that there is
both a biological and cultural
basis for the multiple
intelligences Neurobiological
research indicates that learning
is an outcome of the
modifications in the synaptic
connections between cells
Primary elements of different
types of learning are found in
particular areas of the brain
where corresponding
transformations have occurred
• Cơ sở phân biệt các loại trí thông minh
• Gardner cho rằng cả nền tảngcủa sinh học và nền tảng văn hóa đều là nền tảng của tư duy
đa dạng Nghiên cứu sinh học thần kinh cho biết học tập là kết quả của sự biến đổi trong mối liên hệ giữa các tế bào synap: Các yếu tố cơ bản của những kiểu học khác nhau là việc tìm thấy ở những vùng đặc biệt của não nơi mà sự thay đổi tương ứng xảy ra
• Thus, various types of learning
results in synaptic connections
in different areas of the brain
For example, injury to the
Broca's area of the brain will
result in the loss of one's
ability to verbally
communicate using proper
syntax Nevertheless, this
injury will not remove the
sử dụng cú pháp đúng.Tuy nhiên,sự tổn hại sẽ không bị mất đi đối với sự hiểu biết của người bệnh về ngữ pháp và việc sử dụng từ ngữ
In addition to biology, Gardner
(1983) argues that culture also plays
a large role in the development of the
intelligences All societies value
Bên cạnh sinh học,Gardner (1983) đãcho rằng văn hóa còn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển trí thông minh Mỗi xã hội thì đánh giá
Trang 24different types of intelligences cao các loại trí thông minh khác nhau
• The cultural value placed upon
the ability to perform certain
tasks provides the motivation
to become skilled in those
areas Thus, while particular
intelligences might be highly
evolved in many people of one
culture, those same
intelligences might not be as
developed in the individuals of
another
• Using Multiple Intelligences
in the Classroom
• Accepting Gardner's
Theory of Multiple Intelligenc
es has several implications for
teachers in terms of classroom
instruction The theory states
that all seven intelligences are
needed to productively
function in society
• Văn hóa coi trọng địa vị (xã hội) ở trên khả năng thực hiện chắc chắn các công việc được giao để động cơ trở nên khéo léo ở các lĩnh vực.Vì vậy khi
sử dụng trí tuệ đặc biệt có thể
ở mức độ cao ở nhiều người của một nền văn hóa,chúng giống như sự thông minh không thể phát triển ở cá nhân khác
• Sử dụng tư duy đa dạng trong lớp học
• Chấp nhận học thuyết đa trí
tuệ của Gardner có một vài ý nghĩa đến việc hướng dẫn giảng dạy của giáo viên trong lớp học Học thuyết cho rằng tất cả 7 trí thông minh đều cần thiết để có thể hoạt động thànhcông trong xã hội
• Teachers, therefore, should
think of all intelligences as
equally important This is in
great contrast to traditional
education systems which
typically place a strong
emphasis on the development
and use of verbal and
mathematical intelligences
Giáo viên, vì vậy nên suy nghĩ về tầm quan trọng như nhau của tất cả trí thông minh Điều này đối lập rất lớn với hệ thống giáo dục truyền thống, cái mà nhấn mạnh sự phát triển và sử dụng ngôn ngữ và toán học
• Thus, the
Theory of Multiple Intelligenc
es implies that educators
should recognize and teach to
a broader range of talents and
skills
• Vì vậy, lí thuyết tư duy đa dạng ngụ ý rằng giáo dục phải công nhận và dạy cho nhiều kĩnăng và tài năng hơn
Trang 25Another implication is that teachers
should structure the presentation of
material in a style which engages
most or all of the intelligences
Ngụ ý khác là giáo viên nên trình bày cấu trúc bài giảng theo một cách
mà kết hợp hầu hết tất cả các loại trí thông minh
For example, when teaching about
the revolutionary war, a teacher can
show students battle maps, play
revolutionary war songs, organize a
role play of the signing of the
Declaration of Independence, and
have the students read a novel about
life during that period
Ví dụ,khi giảng dạy về cuộc chiến tranh cách mạng giành độc lập, giáo viên có thể cho học sinh thấy bản đồ trận chiến, nghe ca khúc về cuộc chiến giành độc lập, tổ chức đóng vaicủa ký kết Tuyên ngôn Độc lập, và yêu cầu học sinh đọc tiểu thuyết về cuộc sống trong thời kỳ đó
• This kind of presentation not
only excites students about
learning, but it also allows a
teacher to reinforce the same
material in a variety of ways
Everyone is born possessing the
seven intelligences Nevertheless, all
students will come into the
classroom with different sets of
developed intelligences This means
that each child will have his own
unique set of intellectual strengths
and weaknesses
Mọi người sinh ra đều sở hữu bảy trí thông minh Tuy nhiên, tất cả các học sinh đến lớp sẽ có bộ trí thông minh phát triển khác nhau Có nghĩa
là mỗi đứa trẻ có nét riêng của mình
về trí thông minh phát triển điểm mạnh và điểm yếu khác nhau
This means that each child will have
his own unique set of intellectual
strengths and weaknesses These sets
determine how easy (or difficult) it is
Có nghĩa là mỗi đứa trẻ có nét riêng của mình về trí thông minh phát triểnđiểm mạnh và điểm yếu khác nhau Việc quyết định là dễ hay khó cho
Trang 26for a student to learn information
when it is presented in a particular
manner This is commonly referred
to as a learning style Many learning
styles can be found within one
classroom
một đứa trẻ học thông tin khi họ trình bày một cách cụ thể Điều này phổ biến với các phong cách học khác nhau Nhiều cách học được tìm thấy trong lớp học
Therefore, it is impossible, as well as
impractical, for a teacher to
accommodate every lesson to all of
the learning styles found within the
classroom Nevertheless the teacher
can show students how to use their
more developed intelligences to
assist in the understanding of a
subject which normally employs
their weaker intelligences (Lazear,
1992)
Vì thế, không thể và không thực tế cho giáo viên soạn bài giảng cho tất
cả các cách học trong lớp Tuy nhiên giáo viên có thể chỉ cho học sinh cách sử dụng trí thông minh phát triển hơn để hỗ trợ trong việc hiểu môn học mà họ học yếu (Lazear, 1992)
• For example, the teacher can
suggest that an especially
musically intelligent child
learn about the revolutionary
war by making up a song
about what happened
• Ví dụ ,giáo viên gợi ý rằng học sinh có khả năng đặc biệt
về âm nhạc học về đấu tranh giành độc lập bằng cách sáng tạo ra một bài hát về những gì
đã xảy ra
• Toward a More Authentic
Assessment
• As the education system has
stressed the importance of
developing mathematical and
linguistic intelligences, it often
bases student success only on
the measured skills in those
two intelligences Supporters
of Gardner's
Theory of Multiple Intelligenc
es believe that this emphasis is
unfair
• Hướng tới một phương pháp
đánh giá xác thực hơn
• Vì hệ thống giáo dục đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển khả năng toán học
và khả năng ngôn ngữ ,nó thường dựa vào sự thành công
kĩ năng đo đạc trong hai mặt thông minh này Những người ủng hộ học thuyết đa trí tuệ của Gardner tin rằng sự nhấn mạnh này là không công bằng:
Trang 27• Children whose musical
intelligences are highly
developed, for example, may
be overlooked for gifted
programs or may be placed in
a special education class
because they do not have the
required math or language
scores Teachers must seek to
assess their students' learning
in ways which will give an
accurate overview of the their
strengths and weaknesses
• Những trẻ em có khả năng âm nhạc được phát triển ở mức độcao, ví dụ, có thể đã bỏ lỡ chương trình năng khiếu vì chúng không có điểm toán hayđiểm văn theo yêu cầu Giáo viên cần tìm cách và đánh giá sức học của học sinh ở phươngdiện này, cái mà sẽ đưa ra bản tổng quan về điêm mạnh và điểm yếu
• As children do not learn in the
same way, they cannot be
assessed in a uniform fashion
Therefore, it is important that
a teacher create an
"intelligence profiles" for each
student Knowing how each
student learns will allow the
teacher to properly assess the
child's progress (Lazear,
1992) This individualized
evaluation practice will allow
a teacher to make more
informed decisions on what to
teach and how to present
information
• Vì khi trẻ em không được học cùng một cách, chúng không thể được đánh giá theo một cách giống nhau Vì vậy, giáo viên cần phải tạo ra một “ hồ
sơ trí tuệ” cho mỗi học sinh Biết cách học của mỗi học sinh sẽ cho phép giáo viênđánh giá chính xác sự tiến bộ của học sinh (Lazear, 1992) Việc đánh giá theo từng cá nhân sẽ giúp giáo viên quyết định đúng về việc dạy cái gì
và trình bày thông tin như thế nào
Traditional tests (e.g multiple
choice, short answer, essay .)
require students to show their
knowledge in a predetermined
manner Supporters of Gardner's
theory claim that a better approach to
assessment is to allow students to
explain the material in their own
ways using the different
intelligences
Những bài kiểm tra truyền thống ( ví
dụ : Trắc nghiệm đa dạng,trả lời ngắn, viết luận…) đòi hỏi học sinh phải trình bày sự hiểu biết theo một hướng định sẵn Những người ủng
hộ học thuyết đa trí tuệ của Gardner cho rằng tiếp cận một phương pháp đánh giá tốt hơn giải thích nội dung
ở việc sử dụng nào đó theo cách riêng của họ sử dụng trí thông minh
Trang 28khác
• Preferred assessment methods
include student portfolios,
independent projects, student
journals, and assigning
creative tasks An excellent
source for a more in-depth
discussion on these different
evaluation practices is Lazear
(1992)
• Những phương pháp đánh giá bao gồm hồ sơ học sinh ,dự ánđộc lập ,tập san sinh
viên ,hoặc giao một nhiệm vụ sáng tạo nào đó Một nguồn tàiliệu tuyệt vời để thảo luận chuyên sâu vào cách thực hiệnđánh giá khác này là Lazear (1992 )
• Conclusion
• Schools have often sought to
help students develop a sense
of accomplishment and
self-confidence Gardner's
Theory of
Multiple Intelligences
provides a theoretical
foundation for recognizing the
different abilities and talents
of students
• Kết luận
• Trường học thường tìm cáchgiúp học sinh phát triển ý thứcthành công và tự tin Học thuyết đa trí tuệ của Gardner cung cấp nền tảng lí thuyết để thừa nhận khả năng và tài năng khác nhau của học sinh
• This theory acknowledges that
while all students may not be
verbally or mathematically
gifted, children may have an
expertise in other areas, such
as music, spatial relations, or
interpersonal knowledge
Approaching and assessing
learning in this manner allows
a wider range of students to
successfully participate in
classroom learning
• Theo học thuyết này công nhận rằng không thể có tất cả các học sinh có tài năng ngôn ngữ và toán học, còn có nhữnghọc sinh khác giỏi về các lĩnh vực khác nhau như là : âm nhạc, mối quan hệ về không gian, hoặc sự hiểu biết giữa con người với con người Tiếpcận và đánh giá việc học theo cách này cho phép nhiều học sinh hơn thành công trong lớp học
TRANSLATION
Trang 29Dr.Garder says that our schools and
culture focus most of their attention
on linguistic and
logical-mathematical intelligence We
esteem the highly articulate or
logical people of our culture
Dr.Garder nói rằng trường học và văn hóa của chúng tôi tập trung hầu hết sự chú ý vào trí thông minh ngôn ngữ và logic toán học Chúng ta quý trọng người có cách ăn nói lưu loát hoặc những người có tư duy logic của nền văn hóa của chúng tôi
However, Dr Gardner says that we
should also place equal attention on
individuals who show gifts in the
other intelligences : the
artists ,architects ,musicians,
naturalists ,designers ,dancers,
therapists ,entrepreneurs,and others
who enrich the world in which we
live
Tuy nhiên, Gardner cho rằng chúng
ta nên chú ý tới những cá nhân chỉ cho chúng ta thấy những năng lực tư duy khác nhau : nghệ thuật, kiến trúc,âm nhạc,những nhà tự nhiên, thiết
kế, vũ công, y học, nhà doanh nghiệp
và những người làm giàu cho thế giới nơi chúng ta sống
• Unfortunately, many children
who have these gifts don’t
receive much reinforcement
for them in school
Thật không may, nhiều đứa trẻ không được bồi dưỡng ở trường học
Many of these kids ,in fact ,end up
being labeled “learning disabled”
“ADD” (attention deficit disorder
or simply underachievers ), when
their unique ways of thinking and
learning are’t addressed by a heavily
• The theory of multiple
intelligences proposes a major
transformation in the way our
schools are run It suggests
that teachers be trained to
present their lessons in a wide
variety of ways using music ,
• Học thuyết đa trí tuệ đề xuất là
sự chuyển biến chính trong cáctrường học mà chúng ta đang hướng tới Nó gợi ý rằng giáo viên được đào tạo để có nhữngbài học đa dạng rộng lớn hơn
sử dụng âm nhạc, phối hợp