Nhân tố sau cùng trong số nhân tố vừa nêu – mức ñộ ñảm bảo về tài liệu tác ñộng ñến ñề cương trên phương diện là khi có nhiều tài liệu có chất lượng cao thì ta ñủ khả năng ñể xây dựng mộ
Trang 1Các bản ñồ ñịa lý ñược thành lập bằng hai phương pháp: trực tiếp ño vẽ ở thực ñịa và xử lý các tài liệu ở trong phòng nghĩa là trong ñiều kiện làm việc ở trong phòng nhờ các kết quả xử lý các tài liệu khác nhau, chúng có thể bao gồm các tài liệu trắc ñịa thiên văn, ño vẽ ở thực ñịa, các loại bản ñồ, các tư liệu ñịa lý, các số liệu thống kê kinh tế và những tài liệu chuyên môn khác Phương pháp ño vẽ ở thực ñịa và xử lý chúng ñể thành lập bản ñồ ñịa hình ñược xem xét và nghiên cứu ở môn ño vẽ ñịa hình và ño vẽ ảnh hàng không Các ño vẽ chuyên môn - ñịa mạo, ñịa chất, thổ nhưỡng thuộc về nhiệm vụ của ngành bản ñồ ñịa mạo, ñịa chất, thổ nhưỡng
Thực chất của thành lập bản ñồ ở trong phòng là tổng kết, khái quát và tổng hợp các tài liệu thích hợp nhằm mục ñích thành lập bản ñồ mới (thử một biểu hiện mới bằng bản ñồ, một mô hình mới về một bộ phận nào ñó của hiện thực) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
Sơ ñồ quá trình hoàn thành bản gốc (tức là bản ñầu tiên) của bản ñồ như sau, trước hết, xuất
phát từ mục ñích của bản ñồ mà phác ra ñề cương dự thảo: tỷ lệ, phép chiếu bản ñồ, nội dung (liệt
kê các yếu tố nội dung, cách phân loại chúng, yêu cầu của ñộ tỷ mỉ ñối với việc thể hiện từng yếu tố) và các phương pháp thể hiện Tiếp theo, tiến hành lựa chọn các tài liệu cần thiết (trắc ñịa, ño
vẽ bản ñồ, thống kê kinh tế ) và nghiên cứu các hiện tượng ñưa lên bản ñồ dựa theo các tài liệu
ñể xác ñịnh các nét ñiển hình của chúng và các ñặc ñiểm ñặc trưng cần ñưa lên bản ñồ Sau khi ñã hoàn thành những công việc ñó và căn cứ vào các kết quả ñó ta chuẩn bị phương án ñề cương cuối cùng, ñầy ñủ và chi tiết với các phụ lục ñồ hoạ cần thiết Bản ñề cương sau khi ñược bổ sung thêm các tính toán kinh tế kĩ thuật sẽ là dự án thành lập bản ñồ
Công tác vẽ bản gốc bản ñồ (biên vẽ bản ñồ hiểu theo nghĩa hẹp của từ này) bắt ñầu từ việc
dựng các lưới bản ñồ dựa trên kết quả tính toán phép chiếu bản ñồ, sau ñó bội dung của các tài
Trang 2liệu gốc ñược chuyển vẽ toàn bộ hay có lựa chọn theo lưới bản ñồ và khái quát hoá chúng Việc chuẩn bị bản gốc ñược hoàn thành bằng việc vẽ chúng theo các ký hiệu ñã quy ñịnh
Nhưng trong nhiều trường hợp thành lập một bản gốc bản ñồ là quá ít ðể bản ñồ ñến ñược với nhiều người sử dụng cần phải nhân bản nó lên hàng chục và thậm chí hàng trăm ngàn bản Nếu bản ñồ cần in, thì khi chuẩn bị các bản gốc của nó cần tính ñến ñiều kiện và yêu cầu của các quá trình in
Bản gốc ñầu tiên (hay là những bản gốc) của bản ñồ không phảI bao giờ cũng bảo ñể có bản
in chất lượng tốt Vì vậy, khi cần thiết, từ bản gốc ñầu tiên phải chuẩn bị bằng cách vẽ sạch như
bản sao là bản thứ hai, bản thanh vẽ (hay nhiều bản thanh vẽ) ñạt yêu cầu của công tác in bản ñồ Giai ñoạn này gọi là chuẩn bị bản ñồ ñể in, bao gồm một số công việc phụ phục vụ cho các quá
học kỹ thuật ở tất cả các giai ñoạn chuẩn bị bản ñồ (kể cả in), sự lãnh ñao ñó ñược gọi là biên tập
bản ñồ
Một nguyên nhân khác làm phức tạp các quá trình là sự tham gia của các nhà ñịa lý và các chuyên gia của từng ngành bản ñồ (thổ nhưỡng, thực vật, kinh tế ) vào việc thành lập các bản ñồ ñịa lý Những người này hiểu biết tốt nhiệm vụ, thực chất và khả năng của các bản ñồ ñịa lý, nhưng lại không có những hiểu biết bản ñồ và kỹ năng về chúng Trong trường hợp ñó cần phải
có sự hợp tác giữa các chuyên gia này với cán bộ bản ñồ chuyên nghiệp
Trong chương này sẽ trình bày làn lượt ðầu tiên hãy dựa vào các bản ñồ ñịa lý chung, các quá trình cơ bản thành lập bản ñồ ở trong phòng và chuẩn bị chúng ñể in, cũng như việc tổ chức công việc trong sản xuất bản ñồ, sau ñó xét ñến ñặc ñiểm biên vẽ và biên tập các bản ñồ chuyên
ñề, các bản ñồ nhiều tờ và atlat, và sự tham gia của các nhà ñịa lý vào công tác ñó; tiếp theo nêu các kiến thức bước ñầu về các quá trình in bản ñồ và cuối cùng sẽ cho những khái niệm về tự ñộng hoá các quá trình chuẩn bị bản ñồ ở trong phòng
§ 50 SO Ạ N TH Ả O ðỀ C ƯƠ NG B Ả N ðỒ
Không thể có một bản ñồ ñịa lý nào mà khi thành lập lại không có mục ñích nhất ñịnh Bât
kỳ một bản ñồ nào cũng có mục ñích sử dụng nhất ñịnh, thoả mãn nhu cầu ñề ra, và nhằm giải quyết những nhiệm vụ cụ thể Các yêu cầu ñối với bản ñồ có xuất xứ từ mục ñích của nó Chính mục ñích sử dụng bản ñồ là nhân tố quyết ñịnh, và tuỳ thuộc vào nó ñể xác ñịnh tỷ lệ, phép chiếu,
bố cục, nội dung, các phương pháp biểu hiện và nhiều ñặc ñiểm khác nhau của một bản ñồ ñịa lý
Vì vậy, ñể thành lập ñề cương của bất kỳ một bản ñồ nào cũng cần biết không những tên gọi,
ñề tài, tỷ lệ bản ñồ mà còn phải xác ñịnh ñược mục ñích sử dụng và những yêu cầu ñối với bản
ñồ
Trang 33
Các nhân tố khác có thể kém quan trọng hơn, ảnh hưởng ñến ñề cương bản ñồ là ñặc ñiểm cảnh quan của vùng ño vẽ bản ñồ (hay ñặc ñiểm ñịa phương của các hiện tương ñược ño vẽ và mức ñộ ñảm bảo về tài liệu cho bản ñồ ñang ñược dự kiến)
Nhân tố sau cùng trong số nhân tố vừa nêu – mức ñộ ñảm bảo về tài liệu tác ñộng ñến ñề cương trên phương diện là khi có nhiều tài liệu có chất lượng cao thì ta ñủ khả năng ñể xây dựng một bản ñồ thoả mãn tốt nhất mục ñích ñặt ra và ngược lại, khi không ñủ tài liệu và chất lượng kém thì buộc phải gò ép nội dung, phương pháp biểu hiện và ñôi khi cả tỷ lệ của bản ñồ theo các tài liệu mà ta có ñược
Giá trị của bản ñồ – tính hiện ñại của nó, sự ñầy ñủ, chính xác, sự phù hợp ñịa lý – phụ thuộc trực tiếp ñến chất lượng tài liệu ñược sử dụng Chúng là vật liệu ñể xây dựng bản ñồ Thật ra, khi không thành thạo công việc thì dù có tài liệu tốt vẫn có thể tạo ra bản ñồ xấu, nhưng không thể có tình trạng ngược lại, là với tài liệu xấu lại có thể xây dựng ñược một bản ñồ có giá trị cao vì vậy cần phải thu thập các tài liệu phản ánh tình hình mới nhất của các ñối tượng ñưa lên bản ñồ và về
ñộ chính xác, mức ñộ ñầy ñủ ñáp ứng ñược các yêu cầu cho bản ñồ ñang ñược biên vẽ
ðương nhiên, khái niệm về trạng thái hiện ñại của các ñối tượng ñược ñưa lên bản ñồ là rất rộng Ta phải hiểu là sự phù hợp với thời ñại mà bản ñồ cần biểu hiện, còn ñối với những hiện tượng luôn biến ñộng – thì là sự phù hợp với các giá trị trung bình, cực trị hay ñặc trưng cho thời
kỳ ñược chọn một cách hợp lý Nếu như các bản ñồ ñịa hình, những tư liệu mới nhất là quan trọng, thì ñối với bản ñồ lịch sử cần thu thập những tài liệu phản ánh bức tranh của quá khứ ðối với nhiều loại bản ñồ khí hậu thì các tài liệu “hiện thời” là những kết quả tính toán từ các quan trắc khí tượng suốt thời kỳ 30 năm (hay hơn nữa), ñối với các bản ñồ năng suất cây trồng - là giá trị trung bình của sản lượng sau một số năm gần nhất ñược chọn một cách hợp lý
Việc nghiên cứu ñịa lý của lãnh thổ ño vẽ bản ñồ là nhằm làm sáng tỏ những nét ñiển hình
và ñặc ñiểm cảnh quan, những quy luật phân bố và các mối quan hệ giữa các hiện tượng,ñối tượng ñưa lên bản ñồ mà ta cần phản ánh phù hợp với ñề tài, mục ñích và tỷ lệ của nó Nói một cách khác, ñề tài bản ñồ, mục ñích, tỷ lệ và ñặc ñiểm cảnh quan ( của các hiện tượng ñưa lên bản ñồ) ảnh hưởng ñến phương pháp, xu hướng và mức ñộ chi tiết của việc nghiên cứu
Khi xây dựng bản ñồ hành chính – chính trị của một quốc gia thì không cần nghiên cứu sâu
về ñịa mạo, nhưng lại cần có kiến thức sâu rộng về các dạng ñịa hình và sự phát triển của nó khi làm việc với bản ñồ ñẳng cao ðặc biệt chú ý ñến sự phù hợp giữa mức ñộ tỷ mỉ của các yếu tố nội dung với tỷ lệ bản ñồ khi thiết kế Chẳng hạn, ñối với bản ñồ ñịa hình tỷ lệ lớn cần ñưa lên các bậc thềm của sông, thì việc nghiên cứu các bậc thềm của sông là cần thiết, nhưng sẽ là vô ích nếu nghiên cứu chúng khi xây dựng bản ñồ khái quát tỷ lệ 1:2500,000, vì với tỷ lệ như vậy không thể biểu thị các loại bậc thềm
Ta hãy xét nội dung của ñề cương bản ñồ Chính thuật ngữ “ñề cương” ñã nói lên rằng trong
ñó cần phải xác ñịnh mục ñích và nhiệm vụ (mục ñích sử dụng) của bản ñồ, quy ñịnh các yếu tố toán học của bản ñồ (tỷ lệ, lưới chiếu, bố cục), nội dung và phương pháp biểu thị
ðối với nội dung bản ñồ thì trong ñè cương cần xác ñịnh:
- Liệt kê các yếu tố sẽ là nọi dung của bản ñồ (ví dụ, với bản ñồ chính trị là thuỷ văn, các ñiểm dân cư, giao thông, ranh giới hành chính – chính trị, các trung tâm, các ống dẫn dầu)
Trang 4- Các nguyên tắc phân loại và mức ñộ chi tiết của nó ñối với từng yếu tố nội dung (ví dụ, quy ñịnh phân loại các ñiểm dân cư trên bản ñồ của Liên Xô theo ý nghĩa hành chính – chính trị gồm các trung tâm của vùng)
- Ý nghĩa tương ñối của mỗi yếu tố trong phức hợp chung các yếu tố bản ñồ (ví dụ, trong ñề cương của bản ñồ ñẳng cao cần nêu các ñiểm dân cư và giao thông có ý nghĩa hỗ trợ, nên chúng ñược ñưa lên rất ít với mục ñích duy nhất là ñể ñịnh hướng khi ñọc bản ñồ)
- Cần ñưa ñặc ñiểm gì của mỗi yếu tố và với mức ñộ ñầy ñủ ñến ñâu lên bản ñồ (toàn bộ, một phân, những trường hợp ngoại lệ) Ví dụ, quy ñịnh trên bản ñồ tỷ lệ 1:500.000 biểu thị tất cả các sông dài hơn 1cm tính theo tỷ lệ bản ñồ, các sông suối ngắn hơn 0,5cm bỏ hoàn toàn, các sông từ 0,5 – 1cm ñược biểu thị ở vùng núi ñể ñọc ñịa hình, ở các vùng nhiều hồ – làm rõ các dòng nước bắt nguồn từ hồ
- Sự chi tiết cần thiết khi biểu thị các yếu tố cơ bản của nội dung (ví dụ, quy ñịnh trên bản ñồ
tỷ lệ 1:500000 các ñiểm dân cư có diện tích bằng 2 mm2 và lớn hơn biểu thị theo tỷ lệ của bản ñồ
và có chia thành các khu phố, còn nhỏ hơn 2 mm2 thì biểu thị bằng các ký hiệu vòng tròn
Những chỉ tiêu nêu trên không giống nhau ñối với những khu vực có sự khác nhau về ñiều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội Chúng sẽ ñược phân biệt tương ứng với sự phân vùng lãnh thổ sau khi nghiên cứu lãnh thổ ñó, nhằm làm sáng tỏ trên bản ñồ những nét ñiển hình của các hiện tượng ñược ñưa lên bản ñồ, ñặc biệt là những ñặc ñiểm quan trọng do mục ñích sử dụng bản ñồ Với quan ñIểm trên cần xác ñịnh: a) Những ñặc ñiểm khái quát hoá theo từng khu vực riêng biệt, nhằm mục ñích phản ánh trên bản ñồ mật ñộ tương ñối và ñặc ñiểm phân bố, ví dụ, mật ñộ của mạng lưới sông ngòi có thể thay ñổi rõ rệt ngay cả trong một vùng có cùng khí hậu, giảm xuống ñột ngột ở những vùng castơ phát triển b) Các quan hệ ñặc trưng của các hiện tượng ño vẽ, ví dụ, ñịa hình và thực vật
ðề tiến hành khái quát hoá một cách có căn cứ khoa học việc quy ñịnh các chỉ tiêu ñịnh
lượng cho nó, như chỉ tiêu và ñịnh mức lấy bỏ sẽ có ý nghĩa lớn (xem §31)
Khi biên soạn ñề cương bản ñồ, quan trọng là thiết kế hệ thống ký hiệu bản ñồ, tức là thiết kế
ký hiệu nét, chữ và hình vẽ của chúng, kích thước, màu nét và màu nền và nội dung bản ñồ, việc trình bày hệ thống ký hiệu, do sự tác ñộng ngược lại, sẽ ảnh hưởng và quy ñịnh ở mức ñộ ñáng kể nội dung chung của bản ñồ, mức ñộ khái quát hoá và khối lượng nét vẽ (tính bằng tỷ lệ % diện tích do ký hiệu nét và chữ ghi chú chiếm trong tổng diện tích ñược biểu hiện) Ví dụ, dung lượng ñồ hoạ của một bản ñồ có thể khác nhau khi có cùng một nội dung do hình vẽ và kích thứơc các ký hiệu, ngược lại giới hạn cho trước của dung lượng sẽ quy ñịnh khối lượng nội dung nhiều hay ít và làm thay ñôỉ thiết kế hệ thống ký hiệu
Kỹ thuật trình bày quy ñịnh mức ñộ dễ ñọc của bản ñồ (xem §48) và tiết kiệm chi phí khi in,
cụ thể như sử dụng số lượng màu tối thiểu (xem §57) Trong ñề cương của mỗi bản ñồ nhất ñịnh
phải có bảng ký hiệu
Những quy ñịnh về nội dung và cách trình bày bản ñồ trong ñề cương, phải ñược nghiên cứu trong quá trình soạn thảo ñề cương bằng cách biên vẽ và trình bày một hay một số bản mẫu ở những khu vực ñiển hình của bản ñồ, các mẫu hoàn chỉnh sẽ ñược kèm theo ñề cương của bản ñồ Một bản ñồ ñược thành lập dưới sự tham gia của nhiều chuyên gia thì trong bản ñề cương cần có:
Trang 55
- Các kết luận tổng kết các thành quả về : a) nghiên cứu ñịa lý của khu vực thành lập bản
ñồ, b) thu thập phân tích và ñánh giá các tài liệu
- Các chỉ dẫn về phương pháp và thứ tự xây dựng bản ñồ Cụ thể, trong ñề cương ñề cập ñến vấn ñề tài liệu, như: tình hình chung về sự ñảm bảo tài liệu cho lãnh thổ biên vẽ, ñiều ñó rất quan trọng vì nó cho ta khả năng xây dựng bản ñồ với mức ñộ ñầy ñủ, chi tiết, chính xác cần thiét
và số liệu mới
- Bản thống kê tài liệu cần sử dụng và sự ñánh giá chúng
- Sơ ñồ sử dụng các tài liệu
- Bảng chỉ dẫn về thứ tự, phương pháp, mức ñộ sử dụng của từng tài liệu và chỉ dẫn về việc làm phù hợp và liên kết các tài liệu với nhau
Như vậy một ñề cương ñầy ñủ của bản ñồ có thể bao gồm những mục sau:
- Tên gọi của bản ñồ, mục ñích và yêu cầu của bản ñồ
- Cơ sở toán học
- Nội dung bản ñồ và phương pháp thể hiện
- Tài liệu bản ñồ và những chỉ dẫn về việc sử dụng chúng
- ðặc ñiểm ñịa lý và những chỉ dẫn về khái quát hoá
- Xử lý các tài liệu bản ñồ ñể ñưa chúng về dạng sử dụng dễ dàng hay có thẻ sử dụng ñược
- Xây dựng cơ sở toán học của bản ñồ – lưới toạ ñộ và trong trường hợp cần thiết ñưa các ñiểm khống chế lên bản ñồ
- Chuyển nội dung bản ñồ tài liệu lên bản biên vẽ
- Chỉnh lý (khái quát) hình vẽ ñưa lên bản ñồ gốc và vẽ chúng lại bằng mực ñen và màu Việc chuyển vẽ và khái quát hình vẽ có thể tiến hành trình tự hoặc ñồng thời
Tuỳ thuộc vào ñặc ñiểm tài liệu bản ñồ gốc và bản ñồ cần biên vẽ mà việc chuẩn bị các tài liệu có thể là khác nhau về nội dung, mức ñộ phức tạp và khối lượng công lao ñộng Có khi nó ñược tiến hành rất ñơn giản, ví dụ, vẽ lại cho rõ những ñường nét bị mờ trên tài liệu ñể chụp ảnh Trong nhiều trường hợp khác cần những thao tác phức tạp hơn, như:
- Thay thế phương pháp biểu thị này sang phương pháp biểu thị khác, ví dụ, chuyển từ các ñiểm ño sâu sang các ñường ñẳng sâu
- Chuyển từ hệ ño lường này sang hệ ño lường khác, ví dụ, chuyển khoảng cao ñều của ñịa hình tính bằng phút (30,5cm – ND) sang hệ mét, phải tính toán và nội suy lại một hệ thống ñường ñồng mức mới trên tài liệu
Trang 6- Thay ñổi cách phân loại của từng hiện tượng nội dung ví dụ, chuyển từ phân loại ñường sắt theo số lượng ñường và ñộ rộng của ñường ñến ñặc ñiểm khái quát hơn, như chỉ lấy những tuyến ñường sắt chính
Nói chung, việc chuẩn bị như thế nhằm mục ñích chuyển các phương pháp biểu hiện, các chỉ
số, cách phân loại, các mốc thời gian vốn ñược sử dụng trên bản ñồ tài liệu theo ñúng với những quy ñịnh của bản ñồ ñang ñược biên vẽ
Lưới toạ ñộ ñược sử dụng như một bộ khung ñể ñưa nội dung bản ñồ từ tài liệu gốc lên bản biên vẽ, nhằm ñảm bảo ñộ chính xác hình học Các lưới toạ ñộ ñược xây dựng theo các ñiểm nút, nghĩa là theo các ñiểm cắt nhau của các kinh vĩ tuyến hay các ñường của lưới toạ ñộ vuông góc Việc dựng các ñiểm nút của lưới toạ ñộ ñược tiến hành sau khi tính toán phép chiếu bản ñồ Trong thực tiễn sản xuất bản ñồ hiện nay, ñể ñưa các ñiểm nút của toạ ñộ vuông góc người ta thực hiện trên thiết bị chuyên môn với ñộ chính xác cao, ñó là máy triển toạ ñộ (máy toạ tiêu) Máy ñược thiết kế rất ñơn giản, kim chích ñiểm của máy có thể chuyển ñộng theo hai hướng vuông góc với nhau – song song với trục tung và trục hoành Trị số di chuyển theo các hướng ñó ñược tính theo các chỉ số xác ñịnh
Hình 87 biểu thị máy triển toạ ñộ loại nhỏ “dã ngoại” Dọc theo thước là trục tung YY, con trượt A có thể chuyển ñộng nhờ bản lăn ren G Trục hoành XX ñược gắn chặt với con trượt A, nhờ bản lăn ren B, con trượt B có thể chuyển ñộng dọc theo thước trục hoành: trên con trượt B có gắn một kính lúp M và kim chích I dùng ñể chích các ñiểm theo toạ ñộ ñã tính trước Trên các thước có khắc vạch chia milimét, còn trên các con trượt có gắn các Necnê H1, H2 và H3, cho phép tính bước chuyển dịch của con trượt dọc theo thước với ñộ chính xác ñến 0,05 mm Tính vuông góc của hai trục ñược kiểm tra bằng cách dùng máy triển toạ ñộ dựng một hình vuông và
ño chính xác hai ñường chéo, khi máy làm việc chính xác thì các ñường chéo này phải bằng nhau Sau khi chích xong các ñiểm nút, dựa vào chúng ñể vẽ các kinh vĩ tuyến (hoặc lưới kilômét), khi các kinh vĩ tuyến là những ñường cong, thì sử dụng các thước cong ñể vẽ
Máy triển toạ ñộ cỡ lớn (hình 88) thường ñược thiết kế như những thiết bị tự ñộng theo chương trình ñiều khiển
Khi máy chỉ dùng cho việc triển ñiểm, thì người ta dùng chúng ñể dựng các ñiểm nút của hình chiếu Kết quả tính toán (toạ ñộ vuông góc của các ñiểm nút) ñược ghi lại trên phiếu ñục lỗ bằng tay hoặc bằng máy, hoặc ñược ghi thẳng từ máy tính ñiện tử Một số máy triển toạ ñộ cho phép tự ñộng vẽ các ñường của lưới bản ñồ một cách trực tiếp theo lệnh của máy tính ñiện tử
(xem §58)
Trang 77
Hình 87: Phần chính của máy triển toạ độ d ngoại
Việc chuyển hỡnh vẽ bản ủồ từ tài liệu gốc lờn bản ủồ ủang ủược biờn vẽ cú thể ủược thực hiện bằng nhiều phương phỏp khỏc nhau Phương phỏp thụ sơ nhất là vẽ lại theo từng ụ Khi ủú bản ủồ gốc và bản biờn vẽ ủều ủược chia ra thành cỏc ụ nhỏ bằng cỏc ủường vẽ phụ tương ứng (cỏc ủường kẻ phụ cú thể là cỏc ủường kinh vĩ tuyến hoặc lưới toạ ủộ ụ vuụng và ủược tăng dày thờm (hỡnh 89)) Trong mỗi ụ, bằng cỏch ước lượng bằng mắt tiến hành vẽ lại hỡnh ảnh kết hợp khỏi quỏt hoỏ cỏc chi tiết
Trang 8Hình 88 Máy triển toạ độ cỡ lớn
Trang 99
Hình 89 Chuyuển vẽ bằng phương pháp ô vuông có thay đổi tỷ lệ và lưới chiếu
Trong xản xuất bản ủồ hiện nay, phương phỏp chụp ảnh cơ học ủược dựng rộng rói Bản ủồ gốc ủược chụp ảnh thu nhỏ một cỏch chớnh xỏc về tỷ lệ của bản ủồ cần thành lập, từ phim õm chế
ra bản sao, bản sao ủược cắt dỏn (ghộp) lờn bản cơ sở toỏn học theo lưới bản ủồ hoặc theo cỏc ủiểm khống chế Bản chụp sao này chỉ là cỏi sườn cho bản biờn vẽ, nờn hỡnh chụp khụng ủược cản trở hỡnh vẽ mới khi biờn vẽ và cũng khụng ủược hiện lại khi chụp ảnh bản biờn vẽ sau này Vỡ mục ủớch
ủú, người ta sử dụng ảnh sao màu lam nhạt rừ nột, vỡ màu này khụng tỏi hiện khi chụp ảnh lại
Khi biờn vẽ bản ủồ theo nhiều bản ủồ tài liệu gốc, tiện nhất là dựng cỏc mỏy thu phúng quang học loại cú ủốn chiếu, phản xạ cú thể chiếu lờn màn ảnh cỏc hỡnh vẽ trờn nền khụng trong suốt Với mục ủớch này, người ta ủặt cỏc nguồn sỏng mạnh C từ phớa trờn của hỡnh vẽ P (hỡnh 90) ỏnh sỏng khi chiếu vào hỡnh vẽ khụng trong suốt, một phần sẽ bị hấp thụ trờn bề mặt hỡnh vẽ, một phần sẽ tỏn xạ
ðể so sỏnh ưu nhược ủiểm của những phương phỏp trờn
về khả năng, phạm vi ứng dụng, ủộ chớnh xỏc và ủặc biệt là năng xuất lao ủộng Chuyển vẽ theo ụ kẻ là vạn năng, nú ứng dụng cho mọi loại tương quan tỷ lệ, mọi hỡnh chiếu, nhưng
ủộ chớnh xỏc và năng xuất lao ủộng thấp
Hỡnh 90 S ơ ủồ c ấ u t ạ o c ủ a mỏy
thu phúng quang h ọ c
Trang 10Quá trình chụp ảnh cơ học và thu phóng quang học cho ta hình vẽ ñồng dạng, nên chỉ ứng dụng trong trường hợp khi bản ñồ tài liệu và bản ñồ thành lập có cùng lưới chiếu
Sử dụng các máy ño vẽ ảnh - máy nắn ảnh cho phép thực hiện phép biến ñổi có giới hạn – biến ñổi ñều hay biến ñổi cộng tuyến, khi chuyển vẽ các ñường thẳng vẫn giữ nguyên tính thẳng nhưng tỷ lệ thay ñổi theo từng ñoạn khác nhau Nói cách khác các thiết bị này cho phép nắn hình
vẽ trong phạm vi một họ phép chiếu, như các phép chiếu hình nón
Các phép biến ñổi phức tạp hơn, như biến ñổi ñường thẳng thành ñường cong, có thể thực hiện trên máy nắn ảnh quang học hoặc ứng dụng máy nắn ñiện tử mà hiện nay mới chỉ có những mẫu thí nghiệm
Việc chuyển nội dung từ bản ñồ tài liệu gốc sang bản biên vẽ ñược tiến hành theo một trình
tự nhất ñịnh kể cả khi sử dụng tài liệu cũng như biên vẽ các yếu tố nội dung
Trước hết biên vẽ những khu vực có tài liệu ñảm bảo nhất và ñặc trưng nhất trong phạm vi lãnh thổ biên vẽ Chúng ñược xem như những vùng chìa khoá, như những hình mẫu ñể biên vẽ cho toàn bộ diện tích còn lại của bản ñồ
Trình tự biên vẽ các yếu tố nội dung ñược quy ñịnh dựa vào mối liên quan lẫn nhau của các yếu tố ñó và mức ñộ xác ñịnh khi ñịnh vị chúng trong không gian Ví dụ, các ñiểm dân cư nên vẽ trước giao thông, vì chúng quy ñịnh sự phân bố của giao thông Những ñối tượng mang tính chất ñịnh vị chính xác (các ñiểm khống chế, các vật mang tính ñịnh hướng) và các ñường ranh giới ñược ñưa lên bản biên vẽ trước, ñể bảo ñảm ñộ chính xác của bản ñồ Vì khi khái quát hoá, các yếu tố nội dung không tránh khỏi sự dịch chuỷên vị trí Vì vậy ñối với bản ñồ ñịa lý chung thường biên vẽ theo thứ tự sau: các ñiểm khống chế và các vật ñịnh hướng của thực ñịa, thuỷ văn (lưới chiếu bản ñồ và các ñiểm khống chế ñóng vai trò làm nền cơ sở ñể ñịnh vị các yếu tố khác của bản ñồ), ñường ranh giới quốc gia, các ñiểm dân cư, giao thông, ñịa hình, ranh giới hành chính, các yếu tố thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật, những nội dung khác của bản ñồ
Khi biên vẽ theo từng yếu tố riêng biệt dễ gây nguy cơ làm quá tải trọng của bản ñồ, vì những yếu tố ñưa lên trước hình như còn nhiều chỗ trống Vậy nên, ñiều quan trọng là ngay từ khi bắt ñầu vào công tác biên vẽ phải tính toán hình dung cho ñược dung lượng tổng cộng cuối cùng của bản ñồ
Việc biên vẽ bản gốc bản ñồ ñược thực hiện bằng mực ñen và màu Nếu như bản ñồ không cần nhân bản bằng các phương pháp kỹ thuật (in) thì ñược trình bày ñầy ñủ bằng các ký hiệu ñã quy ñịnh, những khi cần in thì bản gốc của nó phải ñáp ứng ñược những yêu cầu chuyên môn của
kỹ thuật ấn loát sẽ ñược trình bày dưới ñây
Khi cần chuẩn bị bản in bằng cách chụp ảnh in lại thì trên bản gốc bản ñồ không tô nền màu (tô bằng các diện tích, các tầng ñịa hình, phân chia hành chính, các loại thổ nhưỡng khác nhau…)
và các biểu hiện nửa tông (tô màu với sự thay ñổi dần của một màu nào ñấy, ví dụ như vờn bóng ñịa hình) ngay cả khi những màu sắc này ñã dự tính cho in Trên các bản chụp ảnh chung có thể che các nét vẽ của bản ñồ (các chấm, các ký hiệu, các ñường, các nét chải…)
Bất kỳ một bản gốc nào dùng ñể chụp ảnh in lại, cần phải ñảm bảo nghiêm khắc kích thước của chúng Nhưng như ta biết, giấy bị biến dạng khi thay ñổi nhiệt ñộ và ñộ ẩm Vì vậy, trước khi
vẽ người ta dán chúng lên những ñế cứng và thường là dán lên những bản nhôm mỏng
Trang 1111
Các bản nhựa trong không biến dạng rất thuận lợi khi ñược dùng làm vật liệu ñể biên vẽ bản gốc bản ñồ Chúng làm giảm nhẹ việc biên vẽ theo ảnh sao lại từ các bản ñồ - tài liệu (ñặt chúng dưới bản nhựa) và cho phép nhận ñược bản sao từ bản gốc một cách trực tiếp bằng cách phiên ảnh (bỏ qua quá trình chụp ảnh)
Trong thực tiễn bản ñồ Xô viết các bản gốc của bản ñồ ñịa lý chung thường ñược thực hiện ở
tỷ lệ với bản ñồ in, khi ñó, người biên vẽ sẽ nhìn thấy bản ñồ sắp thành lập ở kích thước thực tế,
và sắp ñặt dung lượng tối ưu mà vẫn bảo toàn việc ñọc tốt các hình vẽ Cũng có khi biên vẽ trong
tỷ lệ của tài liệu với việc sử dụng các ký hiệu lớn hơn (phù hợp với tương quan với tỷ lệ tài liệu với bản ñồ tương lai) hay ở tỷ lệ trung gian nào ñó, sau ñó tỷ lệ sẽ in nhờ chụp ảnh thu nhỏ lại Theo phương pháp ñó thì biên vẽ sẽ dễ dàng hơn ñặc biệt là với các bản ñồ có dung lượng lớn, nhưng yêu cầu có kinh nghiệm ñể tính toán ñúng sự thu nhỏ tiếp theo Việc tăng tỷ lệ ñôi khi
cũng ñược sử dụng cho các bản ñồ gốc tác giả của bản ñồ chuyên ñề (§54) nhất là nếu như các
chuyên gia chuyên ñề chưa quen với công tác ñồ họa
Trình tự của quá trình chuẩn bị bản gốc bản ñồ ñược trình bày ở sơ ñồ 91
Do ñó , nhiều khi ñể bổ sung cho bản gốc ñầu tiên của bản ñồ, trong trường hợp này nó ñược
gọi là bản gốc biên vẽ, người ta còn chuẩn bị trên bản gốc thứ hai – bản gốc thanh vẽ Chúng là
những bản sao ñúng từ bản gốc biên vẽ nhưng có chất lượng khác ( khi thực hiện trên ñé phim trong) hoặc vẽ với chất lượng rất cao ñể thỏa mãn những yêu cầu khác của công tác ấn loát Trình
tự công tác này ñòi hỏi trên bản gốc biên vẽ phải ñảm bảo ñúng các kích thước ñã quy ñịnh cho các ký hiệu bản ñồ và chữ viết, bố trí các ghi chú có suy tính làm rõ ñộ lớn tương ñối hay ý nghĩa các ñối tượng bằng các ký hiệu ( thí dụ, thể hiện trên bản ñồ tỷ lệ nhỏ cấp hạng các sông bằng lực nét của các ñường biểu diễn chúng) và….nhưng cho phép hạ thấp một số yêu cầu ñối với kỹ thuật vẽ, ký hiệu và ghi chú Như vậy, việc ứng dụng bản gốc thanh vẽ còn kéo theo một ưu ñiểm nữa – nó tạo ñiều kiện phân công lao ñộng hợp lý các cán bộ có chuyên môn, có trình ñộ cao thì xây dựng bản gốc biên vẽ, còn việc thực hiện các bản gốc thanh vẽ lại ñược giao cho các thợ vẽ bản ñồ
Khi xây dựng các bản gốc thanh vẽ trên ñé phim trong, không biến dạng, người ta tráng một lớp khắc ñặc biệt ( màng khắc) ñục ( không trong) hoặc trong ở trường hợp thứ nhất hình vẽ nét của bản gốc ñầu tiên ñược phiên lên lớp phủ bằng phương pháp chụp ảnh và sau ñó ñược khắc lại ( cắt thủng) bằng các kim khắc hoặc dao khắc, tiếp theo sau, hình vẽ trong suốt gồm các yếu tố nét, ñược dùng ñể chế bản ịn (kẽm) Khi màng khắc thuộc loại trong suốt, thì ñế phim ñược ñặt chồng lên bản gốc biên vẽ ( hoặc trên bản chụp ảnh từ bản gốc ñó) và việc khắc ñược tiến hành trên bàn kính
Trang 12Sơ đồ hình 91
Trang 1313
Khi chuẩn bị bản thanh vẽ bằng cách vẽ trên giấy thì công việc ñược thực hiện trên bản lam (dán trên ñế cứng) mà ta có ñược bằng cách chụp ảnh bản gốc biên vẽ Phương pháp này không còn ứng dụng nữa – nó kém phương pháp khắc về mặt chất lượng và năng suất lao ñộng
Các bản khắc ñược thực hiện ở tỷ lệ sẽ in, ñiều ñó cho phép thu nhận bản in (kẽm) bằng cách phiên, bỏ qua một lần chụp ảnh Còn trong phương pháp vẽ, các bản gốc thanh vẽ , các bản lam phải ñược phóng to, và các bản gốc thanh vẽ ở tỷ lệ phóng to cùng với các ký hiệu phóng to tương ứng Sau ñó việc chụp ảnh bản gốc và ñưa về tỷ lệ sẽ in (khi chuẩn bị bản in) cho phép loại
bỏ nhiều nhược ñiểm khi vẽ Việc phóng to sẽ thừa khi hình vẽ lớn, vốn thường có ở các bản ñồ treo tường
Trên bản gốc biên vẽ, các yếu tố nét ñược vẽ ñúng bằng màu mà ñề cương bản ñồ quy ñịnh khi in (trừ màu lơ như ta ñã nói ở trên kia), nhưng trên các bản gốc thanh vẽ chúng hoặc sẽ trong suốt (khi khắc) hoặc ñược vẽ bằng mực ñen (không phụ thuộc vào màu của chúng trên bản gốc biên vẽ) ðồng thời, mỗi bản in có thể chỉ gồm những yếu tố nét sẽ chỉ ñược in bằng một màu (xem ð57) Nói cách khác, số lượng bản in các yếu tố nét của bản ñồ tương ứng với số màu ñã ñược thiết kế cho các yếu tố ñó Làm thế nào ñể phân màu cho các yếu tố nét vốn chưa ñược phân biệt bằng màu sắc trên các bản gốc thanh vẽ? ðể làm việc này ta có nhiều phương pháp khác nhau, mà trong ñó ta chỉ kể hai phương pháp thường dùng nhất – một cho các bản gốc thanh vễ ñược khắc, một phương pháp khác dành cho các bản vẽ gốc
Việc khắc các yếu tố nét của nội dung bản ñồ có thể ñược thực hiện một cách tách biệt, khi các yếu tố nét của mỗi một màu ñược khắc riêng trên từng bản gốc (từ ñó bản in có thể nhận ñược bằng cách phiên không cần xử lý thêm); trong trường hợp này số lượng bản thanh vẽ tương ứng với số lượng màu nét
Thường thường, việc vẽ các yếu tố nét ñược tiến hành trên một bản gốc chung (bằng mực ñen) Khi ấy việc tách màu sẽ ñược thực hiện trong quá trình chuẩn bị bản ( kẽm) in (xem ð57) Nhằm mục ñích này, khi chụp ảnh bản gốc thanh vẽ ta thu ñược một số bản âm giống nhau tương ứng với số lượng màu nét, trên mỗi bản âm ñó bằng cách phân tô ta che tất cả các yếu tố khác trừ một màu (nét) trong số màu cần in Như vậy ta có ñược các bản âm cho từng màu (nét), ví dụ cho màu lơ (nước), nâu (cho ñịa hình)…
Việc tách màu bằng cách phân tô các bản âm sẽ trở nên khó khăn hay thậm chí không thể thực hiện ñược khi hình vẽ bản ñồ quá chi tiết và phức tạp; ở những chỗ các ñường nét và ký hiệu ñan chéo phức tạp và chồng ñè lên nhau thì không thể giữ lại một cách vô hại các yếu tố của màu nào ñó khi phân tô che các yếu tố khác Lối thoát khỏi khó khăn là chuẩn bị hai (hay một số) bản gốc thanh vẽ Ví dụ khi tách một bản gốc ñặc biệt gồm các chữ ghi chú
Các ghi chú ñược chuẩn bị bằng phương pháp chụp chữ trên giấy ảnh hay trên màng trong, sau ñó cắt rời và dán vào các vị trí tương ứng trên bản gốc
Kiểm tra các bản gốc thanh vẽ về mức ñộ phù hợp của chúng với nhau và chất lượng các yếu
tố nét ñược thực hiện bằng cách chuẩn bị các tờ in- vốn ñược gọi là các bản thử nét Khi các bản
gốc thanh vẽ ñược chuẩn bị bằng cách khắc riêng biệt thì bản thử nét với tất cả các màu ñã ñược quy ñịnh cho các yếu tố nét chính là tờ in phối hợp từ các bản (kẽm) in của tất cả các bản gốc thanh vẽ (hình 92)
Trang 14ðối với bản gốc vẽ, người ta chuẩn bị các bản thử nét không phân màu, ñó là tờ in phối hợp
từ các bản (kẽm) in vốn xuất phát từ các bản âm trước khi phân tô tách màu chúng; rõ ràng là số màu của bản thử tương ứng với số lượng bản gốc thanh vẽ (hình 93)
Các tờ in thử nét ñược dùng làm cơ sở ñể chuẩn bị bản gốc màu của bản ñồ, nó cho phép hình dung về các màu nền của bản ñồ; các màu nền ñược tô bằng tay với màu thuốc nước
Trước ñây ta ñã nói rằng trong các phương pháp ấn loát bản ñồ hện ñại, bản gốc ñầu tiên, gốc biên vẽ không có tô màu nền Những bản màu ñầy ñủ kèm theo ñề cương bản ñồ chỉ ñược thực hiện ở một số khu vực nên dựa vào chúng khó hình dung về toàn bộ bản ñồ Gam màu vốn chỉ ñược tô thử trên mặt khu vực nhỏ của bản ñồ có thể tỏ ra khác hẳn khi mở ra toàn bộ nền bản
ñồ Bản gốc màu ñược dùng ñể kiểm tra, hoàn thiện và khảng ñịnh dứt khoát các màu nền của bản
ñồ, và sau ñó là chỉ dẫn (mẫu) khi in bản ñồ ðối với các bản ñồ phức tạp, nhất là ñối với các bản
ñồ loại mới, ñôi khi người ta chuẩn bị hàng loạt bản gốc màu ñể tìm phương án tô màu hoàn hảo nhất, ñáp ứng tư tưởng và mục ñích của bản ñồ và ñồng thời ñẹp nhất, tiết kiệm nhất theo quan ñiểm ấn loát
Như vậy, khi cần in một bản ñồ, thay vì một bản gốc thanh vẽ, thường ta phải chuẩn bị một
số bản gốc cho mỗi một bản ñồ ấy Cụ thể, một bản gốc ñặc biệt, người ta thường gọi là bản gốc
nửa tông ñể vờn bóng ñịa hình (và nói chung hơn là ñể biểu thị những biến ñổi ñều ñặn từ tông
nhạt ñến tông bảo hòa của chính một màu nào ñó)
Việc chuẩn bị các bản nét thanh vẽ, bản gốc màu và bản gốc nửa tông, cũng nhơ các tài liệu
hỗ trợ cho người in ñược gọi là công tác chuẩn bị bản ñồ ñể in Trình tự các quá trình này ñược
trình bày bằng sơ ñồ ở các hình 92 và 93
Ta thấy rõ sự ñơn giản và tiết kiệm ở sơ ñồ chuẩn bị các bản gốc thanh vẽ bằng phương pháp khác Các sơ ñồ nêu trên có thể rút gọn nhiều ở những bản ñồ có nội dung ñơn giản, ñối với chúng việc chuẩn bị các bản gốc thứ hai là không hợp lý Có thể, hoặc là bảo ñảm bản gốc biên
vẽ có chất lượng vẽ cao, ñủ ñể chế trực tiếp các bản (kẽm) in, hoặc là biên vẽ bản gốc bằng cách khắc trên ñế phim vốn ñược phiên trực tiếp từ tài liệu gốc
Hiện nay người ta ñang thiết kế và bắt ñầu ứng dụng vào việc sản xuất bản ñồ những thiết bị
tự ñộng chuẩn bị các bản gốc thanh vẽ mà ta sẽ nói ñến ở §58.
Trang 1515
Sơ đồ hình 92
Trang 16Sơ đồ hình 93
Trang 1717
Đ 53 Biên tập bản đồ Kiểm tra , sửa chữa
Cỏc quỏ trỡnh xõy dựng bản ủồ ở trong phũng mà ta ủó xột trong cỏc tiết trờn, cú thể ủược chia thành ba giai ủoạn cơ bản:
1 Biờn soạn ủề cương bản ủồ
2 Xõy dựng bản gốc thứ nhất (biờn vẽ) của bản ủồ
3 Chuẩn bị bản ủồ ủể in
Trong nền sản xuất bản ủồ hiện ủại, việc thực hiện cỏc cụng tỏc này là nhiệm vụ của cả một tập thể gồm nhiều nhà chuyờn mụn khỏc nhau Vớ dụ, việc chuẩn bị cỏc bản gốc thanh vẽ ủược giao cho cỏc thợ khắc bản ủồ (hay thợ vẽ), tức là những cỏn bộ chuyờn mụn cú trỡnh ủộ kỹ thuật tương ủối hẹp Ngược lại, việc biờn soạn ủề cương ủũi hỏi người thực hiện phải lao ủộng sỏng tạo, cú trỡnh ủộ khoa học, học vấn rộng về ủịa lý- bản ủồ, kinh nghiệm và núi chung là sự hiểu biết cụng việc Khi tỏc giả bản ủề cương là cỏn bộ bản ủồ thỡ thường chớnh người ấy ủược giao cho cỏc cụng tỏc tiếp theo nhằm biến ủề cương thành hiện thực, tức là lónh ủạo về mặt khoa học
và kỹ thuật cỏc giai ủoạn tiếp theo khi xõy dựng bản ủồ Như ta ủó núi ở trờn, sự chỉ ủạo ấy ủược
gọi là cụng tỏc biờn tập bản ủồ, và người ủược giao nhiệm vụ thực hiện nú - ủược gọi là người
biờn tập bản ủồ.Từ ủú, thuật ngữ “người biờn tập” ủược mở rộng cho cả tỏc giả của ủề cương khi
người ấy chỉ ủạo cụng tỏc tiếp theo, cũn giai ủoạn ủầu tiờn trong việc xõy dựng bản ủồ (bao gồm lựa chọn tài liệu gốc, nghiờn cứu ủối tượng sẽ ủược ủưa lờn bản ủồ và biờn soạn ủề cương) ủược
gọi là cụng tỏc biờn tập chuẩn bị
Khi biờn vẽ bản gốc bản ủồ , cỏn bộ biờn tập thực hiện sự chỉ ủạo khoa học chung và kiểm tra cụng việc, cụ thể:
- Giới thiệu ủề cương và cỏc tài liệu gốc của bản ủồ cho cỏc cỏn bộ bản ủồ–những người biờn vẽ, cũng như chỉ dẫn cỏc vẫn ủề khỏi quỏt húa và quy ủịnh cụng nghệ
- Theo dừi việc thực hiện tất cả cỏc quy ủịnh của ủề cương trong quỏ trỡnh biờn vẽ, ủặc biệt
là tiờu chuẩn của ủộ chớnh xỏc, khỏi quỏt húa cũng như việc sử dụng và liờn kết cỏc tài liệu gốc
- Giải ủỏp những cõu hỏi mà người biờn vẽ ủề ra trong quỏ trỡnh cụng tỏc,
- Chỉ ủạo hàng ngày những người biờn vẽ nhằm bảo ủảm sự thống nhất cỏc cụng tỏc của họ
và ủộ rừ của bản gốc bản ủồ
Sau khi kết thỳc cụng tỏc biờn vẽ, người biờn tập xem xột bản gốc nhằm kiểm tra sự phự hợp của nú với mục ủớch sử dụng của bản ủồ và với những yờu cầu của ủề cương Lỳc này, người biờn tập ủó nhỡn rừ hoàn toàn dung lượng nột của bản ủồ, trong khi trước ủú chỉ cú thể hỡnh dung trong
ý nghĩ về hỡnh thức và nội dung của bản ủồ Việc xem xột như vậy khụng những cho phộp nhận xột về cụng tỏc biờn vẽ mà cũn kiểm tra trong thực tế, trờn bản ủồ , chất lượng của ủề cương Người biờn tập chỉ ủạo cả việc kiểm tra( sẽ núi dưới ủõy) và sau khi thực hiện tất cả cỏc sửa chữa, bổ sung cần thiết thỡ ký duyệt bản ủồ, bằng cỏch cho phộp ủưa nú vào chuẩn bị in
Cỏc thao tỏc chuẩn bị bản ủồ ủể in, chủ yếu cú tớnh chất kỹ thuật ủơn thuần nhưng người biờn tập vẫn phải giỏm sỏt chũng một cỏch cú hệ thống Người biờn tập theo dừi việc thực hiện tất
cả cỏc yờu cầu của ủề cương, nhất là chất lượng khắc (hoặc vẽ) và tớnh ủỳng ủắn khi sử dụng cỏc
ký hiệu bản ủồ, xem xột và duyệt tất cả cỏc bản gốc thanh vẽ, kiểm tra sự phự hợp của chỳng với
Trang 18các bản gốc biên vẽ, kiểm tra , duyệt các tờ in thử và quyết ñịnh các vấn ñề quan trọng có thể xuất hiện, cụ thể như khi chuẩn bị bản gốc màu ñể làm việc này không chỉ cần có khiếu thẩm mỹ ( mà người trình bày bản ñồ phải có ñầy ñủ) mà trước hết cần tính ñến mục ñích sử dụng, nội dung và ñặc ñiểm của bản ñồ
Sau cùng, trong giai ñoạn in bản ñồ (xem §57) người biên tập phải theo dõi ñể việc phân các
bản gốc thanh vẽ ñạt chất lượng cao, ñể tờ in thử màu nền phù hợp với bản gốc màu, kiểm tra về
kỹ thuật ñể ñưa tờ in thử màu vào in thật và thực hiện việc xem xét kiểm tra các tờ in trong quá trình in bản ñồ
Như vậy công tác của người biên tập mang tính chất tổ chức “xuyên suốt”, nó xuyên qua tất
cả các giai ñoạn xây dựng bản ñồ
Một dạng công tác xuyên suốt khác, nhưng hoàn toàn mang tính chất kỹ thuật là công tác
kiểm tra bản ñồ – kiểm tra kỹ thuật nhằm ñảm bảo chất lượng của bản ñồ ở tất cả các công ñoạn
xây dựng của nó Chính thuật ngữ xuất xứ từ một từ Latinh Correctio có nghĩa là sự hiệu chỉnh ñã quy ñịnh nhiệm vụ cơ bản của công tác kiểm tra là loại bỏ những sai sót trong quá trình xây dựng bản ñồ Nó ñược tiếp thu từ ngành in, trong ñó việc sửa chữa các sai sót ñược phát hiện thấy trên bản dập từ chữ in ñược gọi là kiểm tra Người kiểm tra trong khi ñọc lại bài viết trên tờ in, ñánh dấu các lỗi chính tả, xem xét việc thực hiện các quy ñịnh kỹ thuật không có gì phức tạp lắm khi xếp chữ, ñối chiếu cẩn thận tờ in thử với bản thảo, người kiểm tra có thể không cần ñi sâu vào nội dung của bài viết
Công tác kiểm tra bản ñồ nhìn chung ña dạng hơn, sâu sắc hơn và do ñó khó khăn hơn và quan trọng hơn Sự cần thiết khắc phục kịp thời các sai sót khiến ta phải kiểm tra mỗi quá trình sau khi hoàn thành xong việc xây dựng bản ñồ, ví dụ, sau khi xử lý các tài liệu gốc, sau khi biên biểu các ñịa danh ñể phiên âm… những việc kiểm tra này hoặc do chính người thực hiện tiến hành dưới hình thức tự kiểm tra, hoặc do một người khác – người kiểm tra
Cơ bản nhất là việc kiểm tra sau khi các bản gốc biên vẽ và thanh vẽ ñược hoàn thành, cũng như kiểm tra các tờ in thử khi chuẩn bị in bản ñồ Chúng cũng nhằm vào mục ñích kiểm tra việc chấp hành các quy ñịnh và yêu cầu kỹ thuật ñã nêu trong ñề cương của bản ñồ, và ñánh giá chất lượng công tác
Kiểm tra bản gốc biên vẽ có tính chất quyết ñịnh nhất Việc sử dụng các tài liệu có tính chất khác nhau – số liệu, bản ñồ , bài mô tả, với sự khái quát hóa phối hợp dưới dạng hình vẽ bằng ñường nét, không cho phép người kiểm tra tự giới hạn ở việc kiểm tra có tính chất hình thức về sự phù hợp của bản gốc bản ñồ với các tài liệu sử dụng Người kiểm tra phải nghiên cứu ñề cương bản ñồ, thông thạo các tài liệu, hiểu bản chất các ñối tượng ñược ñưa lên bản ñồ và , tất nhiên, phải nắm ñược kỹ thuật của công việc Rõ ràng là việc tự kiểm tra cần ghi chú thời gian và phương tiện ít hơn, nhưng nó chỉ mang lại hiệu quả mong muốn nếu người thực hiện có kinh nghiệm cần thiết và bản ñồ ñã có quy cách
Trong công tác của mình, người kiểm tra hầu như ñi theo vết chân người thực hiện khi kiểm tra:
-Việc dựng cơ sở toán học – khung, lưới và các ñiểm khống chế
-Sự ñúng ñắn và ñầy ñủ trong việc sử dụng các tài liệu bản ñồ