Những nhiệm vụ ñó ñược giải quyết ñối với những hiện tượng có tính chất phân bố bất kỳ : phân bố thành “”các ñiểm” như sự phát triển các thành phố; sự chuyển ñộng có tính chất “ñiểm” ví
Trang 1CH ƯƠ NG III KÝ HI Ệ U B Ả N ðỒ VÀ CÁC PH ƯƠ NG PHÁP
BI Ể U HI Ệ N B Ả N ðỒ GHI CHÚ TRÊN B Ả N ðỒ
§ 13 KÝ HI Ệ U B Ả N ðỒ S Ử D Ụ NG VÀ PHÂN LO Ạ I CHÚNG
Ký hiệu bản ñồ là ngôn ngữ của bản ñồ Chúng truyền ñạt nội dung của bản ñồ, tức là truyền ñạt toàn bộ những tin tức chứa ñựng trên bản ñồ về hiện thực Ký hiệu bản ñồ biểu thị các ñối tượng, các hiện tượng, các quá trình (ví dụ, giếng phun, ñường ô tô, ñầm lầy,ñịa hình, thực vật, nhiệt ñộ không khí, mật ñộ dân cư, các quá trình về khí tượng….) và có thể nêu rõ một số các ñặc ñiểm ñịnh lượng và ñịnh tính cuả chúng (ví dụ, lượng nước của giếng, chiều rộng của ñường ô tô, khả năng ñi lại trên ñầm lầy…) Chức năng cơ bản của các ký hiệu trên bản ñồ là xác ñịnh thể loại và vị trí của ñối tượng trong không gian ( giếng nước , ñường ô tô…), cũng như xác ñịnh ñặc ñiểm phân bố trong không gian của các hiện tượng ( sự phân bố nhiệt ñộ, mật ñộ dân cư…) Rõ ràng là các ký hiệu bản ñồ có thể có cả nghĩa vật thể lẫn cả về ý niệm ðể sử dụng bản ñồ cần phải nắm ñược ý nghĩa của các ký hiệu, tức là tương quan của chúng ñối với các ñối tượng và hiện tượng ñược biểu thị
Các bản ñồ cổ thường ñặc trưng bằng lối biểu hiện thực ñịa theo lối tranh vẽ, khi sử dụng rộng rãi các hình vẽ phối cảnh của núi, thực vật, các ñiểm dân cư và các ñối tượng khác ( hình 31) Hình vẽ theo kiểu tranh thường dễ hiểu không cần các giải thích ñặc biệt
Lúc ñầu, hình vẽ các ñối tượng cụ thể thường mang tính chất cá biệt Ví dụ, trên các bình ñồ thành phố người ta cố gắng phản ánh kiến trúc của những ngôi nhà ñột xuất Về sau, ñặc biệt là trên các bản ñồ tỷ lệ nhỏ các hình vẽ phối cảnh mất dần tính riêng biệt và trở thành hình vẽ chung cho các ñối tượng giống nhau: ví dụ,người ta sử dụng các ký hiệu phối cảnh ñặc biệt cho từng nhóm ñiểm dân cư: các làng, các khu nhà, các thành phố, các pháo ñài….Việc chuyển từ những ñặc ñiểm cá biệt ñến những khái niệm thể loại ñó có nghĩa là vận dụng những ký hiệu bản ñồ Muốn hiểu ñược các ký hiệu ñó cần phải giải thích
Vào khoảng giữa thế kỷ thứ XVIII, khi bản ñồ bắt ñầu ñược sử dụng ñể ño khoảng cách và diện tích, khi nhu cầu của quân ñội ñòi hỏi phải phản ảnh chính xác ñồ hình mặt bằng của các ñiểm dân cư, rừng…thì các ký hiệu phối cảng bắt ñầu nhường chỗ cho các biểu hiện theo ñồ hình mặt bằng của các ñối tượng
Các ñối tượng có tính chất ñiểm” ở thực ñịa (các ñiểm trong mạng lưới tam giác nhà nước, các bảng chỉ ñường…) và cho các ñối tượng có diện tích nhỏ, ranh giới của chúng không biểu thị ñược trong tỷ lệ bản ñồ (kho nhiên liệu, bể chứa hơi ñố thiên nhiên, trạm phát ñiện…) ñược biểu thị bằng các ký hiệu (hình dáng) có hình vẽ và kích thước nhất ñịnh chung cho mỗi loại ñối tượng (hình 32).Vì chúng không xác lập ñược trên bản ñồ diện tích có thực mà chúng chiếm trong thực
tế nên trên các bản ñồ ñịa hình người ta gọi chúng là những “ký hiệu” ngoài tỷ lệ Chúng ñược bố trí trên bản ñồ sao cho vị trí thực tế của ñối tượng trùng với tâm của ký hiệu có hình dạng theo ñồ
Trang 22
hình hoặc có dạng hình học, hay là trùng với ñường ñáy của ký hiệu dưới dạng một hình vẽ phối cảnh
ðối với các ñường noặc ñối tượng kéo dài thành tuyến (ñường ranh giới, mạng lưới ñường
sá, sông ngòi, dường bờ vực…) người ta dùng ký hiệu tuyến (hình 32) Chúng bảo toàn sự ñồng dạng của các ñường nét, nhưng có thể mở rộng chiều ngang của các ñối tượng kéo dài theo tuyến
Ví dụ, ñường ô tô có chiều ngang ở thực ñịa 10m cần phải biểu hiện trên bản ñồ có tỷ lệ 1:1000.000 bằng một ñường có lực nét 0,01mm Trong thực tế phải sử dụng ký hiệu dưới dạng một ñường tô ñậm ñếm 0,5mm cho nó, như vậy sẽ tương ứng với 500m ở thực ñịa
Các ñối tượng có diện tích vẽ ñược trong tỷ lệ của bản ñồ thì ñược biểu thị bằng ngay các
ñường của chúng (ranh giới ngoài) và bên trong bố trí các ký hiệu diện tích tương ứng với loại
ñối tượng ñó (ví dụ, rừng, ñầm lầy, ñồn ñiền….) Phương pháp ñó cho ta một khái niệm trực tiếp bằng mắt về vị trí phân bố, hình dáng, ñộ kéo dài và diện tích của các ñối tượng
Các phương tiện ñồ họa ñược sử dụng trong bản ñồ học cho phép phân biệt các ký hiệu bản
ñồ về mặt hình dạng, ñộ lớn, màu sắc, ñịnh hướng, ñộ sáng và cấu trúc bên trong (của hình vẽ) Những khác biệt ñó thể hiện không giống nhau trong các ký hiệu của ñố tượng có tính chất
“ñiểm”, “tuyến “, và “diện tích”
Những ñối tượng có tính chất “ñiểm” hoặc các hiện tượng mà khi xét trên diện rộng, phân bố theo cấc ñiểm ñược biểu thị bằng các ký hiệu hoặc các hình Trước hết ta dễ dàng phân biệt chúng
về mặt hình dáng (hình 33a) những khác biệt về ñộ lớn của các ký hiệu (hình 33b) về màu sắc của chúng cũng rất rõ ràng Những khác biệt khác của các ký hiệu : về ñịnh hướng (hình 33c) về
ñộ sáng (hình 33d) và cấu trúc bên trong (hình vẽ bên trong các ký hiệu “các hạt” (hình 33e) ñược thu nhận bằng mắt kém hơn, cần phải có sự cố gắng và không phải bao giờ cũng ứng dụng ñược
Ví dụ, không thể nói về hướng bố trí của các ký hiệu tròn, và khó thay ñổi hướng bố trí của các
ký hiệu tượng trưng Những khác biệt về ñộ sáng của các ký hiệu như cũng khó phân biệt Tuy nhiên việc sử dụng các hình vẽ cấu trúc cho phép ta làm phong phú các ký hiệu ñặc biệt là những
Trang 3Hình 31 B ứ c v ẽ th ự c ñị a (M ộ t ph ầ n c ủ a b ả n ñồ Xiledi c ủ a Martin Khanvit, 1561)
Trạm bưu ñiện, ñiện thoại
Ranh giới Quốc gia
ðường quốc lộ ðường mòn ðường dây ñiện thoại
Trang 44
Hình 33 Các ký hi ệ u ñượ c phân bi ệ t theo:
a/ hình dáng; b/ ñộ l ớ n; c/ ñị nh h ướ ng; d/ ñộ sáng; c ấ u trúc bên trong
Hình 34 Ký hi ệ u di ệ n tích ñượ c phân bi ệ t theo:
a/ m ầ u s ắ c; b/ c ấ u trúc; c/ ñộ sáng c ủ a ký hi ệ u
Hình 35 Các ký hi ệ u di ệ n tích ñượ c phân bi ệ t theo:
a-m ấ u s ắ c; b-c ấ u trúc;c- hình v ẽ c ủ a các nét v ẽ bên trong và d- theo h ướ ng các nét ch ả i
Về nguyên tắc, phương tiện ñồ họa ñược sử dụng trong bản ñồ học có khả năng không giới hạn ñối việc thiết kế các hệ thống ký hiệu bản ñồ khác nhau và ñầy ñủ ñến ñâu cũng ñược Ngoài những hiện tượng phân bố thành cụm (trong “các ñiểm”) trên các tuyến và diện tích, các ký hiệu bản ñồ còn có khả năng ñặc trưng các hiện tượng phân bố rộng khắp, liên tục hoặc thay ñổi từ từ trong không gian (ví dụ, ñịa hình mặt ñất, từ thiên…) cũng như các hiện tượng phân bố tản mạn phổ biến (ví dụ, dân cư nông thôn, gia súc và súc vật hoang dại)
Các bản ñồ hiện ñại trong khi phản ảnh sự phân bố các ñối tượng còn có thể biểu hiện: + Sự di ñộng của các hiện tượng Ví dụ, ñường ñi thám hiểm, sự biến ñộng của các phòng tuyến , của sự di dân, gió… (sự di ñộng vật chất trong không khí), dòng chảy (sự di ñộng vật chất của nước…)
+Sự phát triển của các hiện tượng Ví dụ sự phát triển của cácthành phố, sự tăng cường các dòng hàng hóa, sự mở rộng diện tích gieo trồng, sự mở rộng lãnh thổ quốc gia, biến trình nhiệt ñộ năm…
Trang 5Những nhiệm vụ ñó ñược giải quyết ñối với những hiện tượng có tính chất phân bố bất kỳ : phân bố thành “”các ñiểm” như (sự phát triển các thành phố); sự chuyển ñộng có tính chất “ñiểm” (ví dụ sự chuyển ñộng của các con tàu vũ trụ); phân bố thành tuyến (sự di cư của ñộng vật, sự mở rộng diện tích gieo trồng…) cũng như phân bố ñều khắp (sự di ñộng vật chất trong không khí; biến trình thế kỷ của từ trường…)
Trong khi chức năng của ký hiệu bản ñồ rất ña dạng ñể thiết kế các hệ thống ký hiệu bản ñồ
( và tất nhiên là trên các bản ñồ ñịa lý ), người ta sử dụng một số lượng không lớn các phương
pháp biểu hiện bản ñồ Trong số cấc phương pháp cơ bản gồm có: ký hiệu, ký hiệu tuyến, nền
chất lượng, biểu ñồ ñịnh vị, phương pháp chấm ñiểm, khoanh vùng, ký hiệu chuyển ñộng (vecto) Người ra còn có các phương pháp biểu hiện ñặc biệt như biểu ñồ, ñồ giải cũng cần thiết kế , trình bày dưới hình thức bản ñồ những ñại lượng tổng cộng hoặc trung bình của các ñối tượng (hiện tượng) Những ñối tượng ñó (hiện tượng) ñược thu ( chủ yếu là bằng phương pháp thống kê) trong các ranh giới phân chia lãnh thổ nào ñó, thường là ranh giới phân chia hành chính
Các mục sau ñây (§14-25) sẽ ñược dành ñể phân tích các phương pháp nêu trên, sự biến
dạng của chúng, và sự sử dụng kết hợp chúng Vai trò của các ký hiệu bản ñồ cũng có thể do các ghi chú, ký hiệu số trên bản ñồ ñảm nhiệm
Về hình dáng các ký hiệu có thể phân ra: ký hiệu hình học, ký hiệu chữ và ký hiệu trực
quan
Thuộc số ký hiệu hình học, có các hình vẽ hình học ñơn giản nhất: hình tròn, hình vuông,
hình tam giác,hình chữ nhật, hình thoi, hình quạt…chúng dễ dùng, dễ nhớ, chiếm diện tích tương ñối nhỏ, chỉ rõ vị trí phân bố của ñối tượng, dễ so sánh về ñộ lớn (hình 36) Số lượng hình ñơn giản thường không lớn nhưng số lượng ký hiệu có thể tăng lên khi sử dụng các màu sắc khác nhau và thay ñổi các hình vẽ bên trong ký hiệu
Ký hiệu chữ- ñó là một trong hai chữ ñầu tiên trong tên gọi của ñối tượng (ví dụ, dùng chữ
U và chữ W ñể biểu thị các mỏ Uran và Vonfran) Ký hiệu chữ ñược sử dụng tương ñối hạn chế
vì chúng làm rối bản ñồ, không nêu chính xác vị trie phân bố của các ñối tượng, khó so sánh về
ñộ lớn, ñặc biệt là các chữ có ñộ rộng và mặt hình vẽ khác nhau (ví dụ, trường hợp chữ I và chữ W) Các ký hiệu chữ thường ñược sử dụng trong trường hợp cần phân biệt rõ một loại ñối tượng nào ñó (ví dụ các mỏ khoáng sản) trong số các loại khác (ví dụ các cụm công nghiệp) khi biểu thị
Trang 66
bằng các ký hiệu hình học Việc so sánh các ký hiệu chữ và ñịnh vị chúng sẽ dễ dàng nếu như các chữ ñược viết vào trong một hình vẽ hình học nào ñó, ví dụ, trong hình vuông Trong trường hợp
ñó kết hợp ñược những ưu ñiểm của cả hai loại
Hình 36 Các ký hi ệ u hình h ọ c trong thang gián ñ ạ n ( theo atlas qu ố c gia Th ụ y ð i ể n- s ố l ượ ng
xu ấ t b ả n hàng tu ầ n tính ñế n hàng nghìn b ả n)
Ký hiệu trực quan gợi nhớ lại hình dáng của hiện tượng ñược biểu thị (hình 37) trong số
này ta phân biệt loại ký hiệu tượng trưng (ví dụ hình khối tượng trưng cho tinh thể muối, có thể dùng ñể biểu thị các mỏ muối) và ký hiệu tự nhiên (còn gọi là ký hiệu nghệ thuật- ND)(ví dụ, hình vẽ con tàu biểu thị nhà máy ñóng tàu)
In nét bao và ñơn giản
In nét chải
Trang 7Các ký hiệu tự nhiên không thuận tiện khi so sánh và ñịnh vị các ñối tượng, chúng cồng kềnh
và chiếm nhiều vị trí ngay trên các bản ñồ ñơn giản nhất Tuy nhiên những bản ñồ này thường gặp trên những bản ñồ- áp phích, ở ñây chúng dễ ñập vào mắt, dễ nhìn nhận từ những khoảng cách lớn
H×nh 37 C¸c ký hiÖu trùc quan
Việc phản ảnh những tương quan số lượng bằng kích thước của ký hiệu có thể ñược thực hiện trên những cơ sở khác nhau Nhiều khi người ta cho diện tích các ký hiệu tỷ lệ thuận một cách chặt chẽ với các ñặc ñiểm ñịnh lượng (ñộ lớn) của các ñối tượng tương ứng (ví dụ, số lượng công nhân khi lập bản ñồ các xí nghiệp công nghiệp) Lúc ñó kích thước chiều dài của ký hiệu tỷ
lệ với căn bậc hai của con số biểu thị ñộ lớn của ñối tượng
Thang chia những ký hiệu trên có thể ñược xây dựng khác nhau Trên cơ sở chia ñều một thang nằm ngang của các ñại lượng ta ñặt theo các ñường vuông góc các kích thước chiều dài của
ký hiệu, các kích thước ñó tỷ lệ thuận với căn bậc hai của các ñại lượng tương ứng nối chúng bằng một ñường cong ñều ta sẽ vẽ ñược các ký hiệu (hình 38a) Một phương án khác của thang
ñó ñược biểu thị ở hình 38b Khả năng so sánh các ký hiệu (hay như thường nói “tính tỷ lệ” của các ký hiệu) tỷ lệ thuận một cách chính xác với ñộ lớn của các ñối tượng ñược gọi là tuyệt ñối Thang tuyệt ñối rõ ràng nhưng không thuận tiện khi các ñại lượng cực trị của các ñối tượng ñược
ño vẽ khác xa nhau Trong trường hợp ñó, buộc phải sử dụng những ký hiệu vô cùng lớn cho các ñối tượng lớn, hay là dùng những ký hiệu vô cùng nhỏ cho các ñối tượng nhỏ Cả trường hợp này hay trường hợp kia ñều không nên có Vì khi có những khác biệt ñáng kể giữa những giá trị cực trị của các ñối tượng ñược biểu thị , người ta hoặc dùng những hình khối, ví dụ dùng hình cầu có bán kính tỷ lệ thuận với căn bậc ba của chỉ số giá trị ñối tượng, hoặc sử dụng sự so sánh quy ước theo kiểu cấp số giảm dần hay tùy ý chỉ nhằm phản ảnh xu hướng chung trong sự biến ñối của các giá trị Vì các ký hiệu khối kém rõ ràng hơn các ký hiệu diện tích (thu nhỏ qua thị giác tương quan giá trị các ñối tượng) nên tương ñối ít ñược sử dụng
Khi so sánh tuyệt ñối cũng nhơ khi so sánh tương ñối các ký hiệu, thang chia của chúng có
thể là liên tục hoặc không liên tục, tức là chia các cấp bậc Trong số các thang chia liên tục kích
thước các ký hệu thay ñổi một cách lên tục theo sự thay ñổi của các giá trị các ñối tượng Trong thang chia không liên tục, kích thước ký hiệu cố ñịnh trong giới hạn của từng cấp nhất ñịnh và phát triển ñột biến khi chuyển sang cấp kế cận Ta hãy xét một số nguyên tắc xây dựng thang chia không liên tục Sự thuận lợi khi nhớ và sử dụng thang chia cũng như sự dễ dành nhận biết các ký hiệu cần ñề ra hai ñiều kiện chung cho bất cứ thang chia nào: thứ nhất cần giới hạn các cấp hạng bằng những số tròn, thứ hai hạn chế các cáp hạng dưới 5-7, tối ña là dưới 10-12 Việc thực hiện
Trang 8< 100
tứ 100 ………… .1000 1000……… 10.000 10.000………100.000 100.000………… 1.000.000
sự phân chia các ñối tượng theo các cấp hạng ñã dự ñịnh của thang chia) Thang chia thành bậc không ñược xác ñịnh rõ như thang liên tục nhưng chúng ñược thu nhận dễ hơn và cho phép khi dùng bản ñồ không cần ñến compa hoặc thước ño và không cần sử dụng các phép tính số học Có thể xác ñịnh bằng mắt một ký hiệu thuộc bậc này hay bậc khác Hình 39 trình bày các thang chia ñược xây dựng theo các nguyên tắc khác nhau ñã nêu ở trên
Trang 9Cơ sở của thang chia các ký hiệu( tức là số ñơn vị hay giá trị khác tương ứng với 1mm diện tích ký hiệu ) ñược chọn sao cho bảo ñảm khả năng ñọc ñược các ký hiệu nhỏ và ñồng thời không làm nặng nề bản ñồ bởi các hình vẽ của các ký hiệu lớn Hình 40 biểu thị số dân các thành phố Tây Ban Nha, trong 3 thang chia khác nhau minh họa rõ ưu ñiểm của phương án 2 thật rõ ràng
Hình 39 Các lo ạ i thang khác nhau c ủ a ký hi ệ u
Ký hiệu giống như những biểu hiện ndungi tỷ lệ, không biểu thị diện tích mà các ñối tượng tương ứng chiếm trên bản ñồ, nhưng chúng cho phép xác ñịnh trên bản ñồ vị trí các ñối tượng ðối với các ký hiệu hình học vị trí thường trùng với tâm của chúng Trong trường hợp ñó, ngay
cả các ký hiệu nằm chồng lên nhau cũng không ñể lại sự nghi ngờ về sự phân bố thực tế của các ñối tượng ( hình 41)
Thang tuyệt ñối liên tục
Thang quy ước liên tục
Thang bậc tuyệt ñối
Thang bậc quy ước
Trang 1010
Hình 40 S ố dân các thành ph ố Tây Ban Nha – s ự thay ñổ i hi ệ u qu ả tr ự c quan khi l ự a ch ọ n nh ữ ng c ơ
s ở khác nhau ñể l p thang t ầ ng ( theo R Berten)
Trang 11Hình 41 Các ký hi ệ u ch ồ ng lên nhau ở nh ữ ng ch ỗ dày ñặ c ( theo b ả n ñồ phân b ố dân c ư trong atlas
mi ề n b ắ c n ướ c Pháp)
Tình hình sẽ phức tạp hơn khi trong cùng một ñiểm có ñến vài ñối tượng Nếu chúng cùng loại và so sánh ñược với nhau thì có thể hợp nhất chúng thành một ký hiệu tổng hợp chung Ví dụ, hình tròn trong ñó các múi ñặc trưng cho các ñối tượng riêng biệt ñược hợp nhất một ký hiệu chung về thể loại cũng như về giá trị Như những xí nghiệp của những ngành công nghiệp khác nhau tập trung trong một ñiểm dân cư nào ñó có thể biểu thị trong một hình tròn chung của ñiểm công nghiệp và chia hình trên theo các nghành công nghiệp thành các múi Giá trị các múi phản ảnh tương quan giữa các ngành tính theo giá trị tổng sản lượng Một số thể loại ký hiệu tập hợp ñược trình bày ở hình 42
Nếu khó hợp nhất các ñối tượng do sự không ñồng nhất của các chỉ số thì ký hiệu của các ñối tượng riêng biệt ñược bố tri gần các ký hiệu của các ñiểm tương ứng (hình 43)
Phương pháp ký hiệu cho phép biểu hiện sự vận ñộng của các ñối tượng ( hiện tượng), ví dụ như:
+Sự phát triển của các ñối tượng trong khoảng thời gian nhất ñịnh bằng các” ký hiệu phát triển” (hình 44), tức là bằng hai hoặc một số bặc thang ký hiệu nằm chồng lên nhau, biểu thị các giá trị các ñối tượng trong những thời ñiểm cho trước (hình 45)
+ Tốc ñộ phát triển, bằng màu sắc các ký hiệu (ví dụ , tập atlas Ircut, trang 126)…
Trang 1212
Hình 42 Ký hi ệ u t ổ ng s ố (c ấ u trúc) M ỗ i ký hi ệ u th ể hi ệ n m ỗ i ñ i ể m v ớ i các xí nghi ệ p thu ộ c ba ngành
công nghi ệ p khác nhau: d ệ t 10% ; th ự c ph ẩ m 30%; ch ế t ạ o máy 60%
Hình 43 Ký hi ệ u ñặ c tr ư ng cho các xí nghi ệ p thu ộ c nhi ề u nhành công nghi ệ p khác nhau ( theo atlas Normandi,1962) các xí nghi ệ p: 1/ n ă ng l ượ ng, 2/ công nghi ệ p khai khoáng, 3/ ch ế t ạ o máy,4 /công nghi ệ p k ỹ thu ậ t I ệ n, 5/ công nghi ệ p hóa ch ấ t, 6/ v ậ t li ệ u xây d ự ng,7/ công nghi ệ p d ệ t và may
m ặ c ,8/ công nghi ệ p th ự c ph ẩ m, 9/ các ngành khác
Trang 13Hình 44 Các ký hi ệ u t ă ng d ầ n có hình dáng khác nhau
Hình 45.S ự phát tri ể n dân c ư các thành ph ố Các ký hi ệ u phát tri ể n ở 3 th ờ i ự I ể m khác nhau
ậ 15.Ph−ểng phịp ký hiỷu tuyạn
Ký hiệu tuyến ựược sử dụng ựể phản ảnh các ựường ựúng theo nghĩa hình học của chúng, vắ
dụ, dùng cho các ựường chia nước, ựường ựứt gãy kiến tạo, ranh giới hành chắnh- chắnh trị, ựường dây ựiện thoạiẦ thứ hai dùng cho các ựối tượng kéo dài thành tuyển có chiều rộng không biểu thị ựược trong tỷ lệ của bản ựồ, vắ dụ, ựường sá, sông ngòiẦ.Một số ựường có thể ựược xem
là ranh giới phân ựới (hoặc ựường ranh giới) vắ dụ, ựường bờ nước là sự phân chia ựất nổi và bờ nước đôi khi các ký hiệu tuyến còn nhấn manh những phương hướng chủ yếu của các ựối tượng ựược biểu thị trên bản ựồ ựúng theo diện tắch của chúng, vắ dụ các hướng cơ bản và các dãy núi (tập bản ựồ biển, tập 2, trang12 Tập bản ựồ này do Liên Xô xuất bản ,ND)
Nhiều ựối tượng có tắnh chất tuyến tự nhiên hoặc nhân tạo có những hình dạng không gian ựặc biệt ựược phản ảnh rõ rệt trong hình dạng của các ký hiệu tuýên trên bản ựồ Vắ dụ, sự uốn khúc của mạng lưới sông ngòi tương phản rất rõ với hình vẽ ngay thẳng của hệ thống thủy lợi, tắnh thẳng góc của ựường ô tô với ựộ cong ựều ựặn của ựường sắt Nhưng những phương tiện chủ yếu ựể phản ảnhcác ựặc ựiểm ựịnh lượng và ựịnh tắnh của các ựối tượng kéo dài thành tuyến ( và
sự biến ựổi của chúng theo thời gian) gộp trong hình vẽ, màu sắc và ựộ rộng của ký hiệu Những
Dẹn sè ẻ thêi
kú ệẵu nẽm
1mm 2 t−ểng ụng
250 ng−êi
Trang 1414
bản ủồ lý thỳ trong tập bản ủồ biển ủó phõn loại bờ biển; thứ nhất, tựy thuộc vào cỏc quỏ trỡnh bờ biển hỡnh thành; thứ hai, theo cỏc hỡnh dạng ủặc trưng của ủường bờ biển ( tập 2, tờ 13 và 14) hoặc cỏc bản ủồ biểu thị ủặc ủiểm và trị số của thủy triều (hỡnh 46 tạp bản ủồ biển tập 2, tờ 33)… Khi chiều rộng của cỏc ký hiệu tuyến khỏc lớn thỡ xuất hiện vấn ủề về vị trớ thực tế của cỏc ủối tượng tương ứng Bài toỏn cú thể giải theo nhiều cỏch khỏc nhau Trờn cỏc bản ủồ ủịa hỡnh ký hiệu thường ủược bố trớ sao cho trục của chỳng trựng với vị trớ thực tế của cỏc ủối tượng, vớ dụ, ủường sỏ chẳng hạn Trờn cỏc bản ủồ chuyờn ủề người ta sử dụng cỏch giải quyết khỏc, khi bố trớ cỏc giải màu hoặc nột chải bờn cạnh dọc theo ủường biểu thị vị trớ của ủối tượng, hoặc thậm chớ ủưa nú ra xa, vớ dụ, dưới dạng ủồ thị (hỡnh 46)
Sự di chuyển của cỏc ủối tượng kộo dài thành tuyến, vớ dụ, sự thay ủổi vị trớ của ủường bờ nước, ủược phản ảnh dễ dàng bằng cỏc tổ hợp cỏc ký hiệu tuyến theo cỏc thời ủiểm khỏc nhau
Hình 46 Các ký hiệu tuyến biểu thị đặc điểm và độ lớn của thủy triều
Đ 16 PH ƯƠ NG PHÁP ðƯỜ NG ðẲ NG TR Ị
Cỏc ủường ủẳng trị ( từ tiếng Hy Lạp “izos” nghĩa là bằng nhau , như nhau) là những ủường cong trờn bản ủồ vẽ qua cỏc ủiểm cú cựng giỏ trị của chỉ số ủịnh lượng, ủặc trưng cho hiện tượng ủược biểu thị Vớ dụ kinh ủiển của cỏc ủường ủẳng trị là cỏc ủường ủồng mức hoặc cỏc ủường ủẳng cao, tức là cỏc ủường nối cỏc ủiểm trờn mặt ủất cú cựng ủộ cao (hỡnh 2) Lỳc ủầu cỏc ủường
ðặc ủiểm thuỷ triều
Thuỷ triều lờn chu kỳ nửa ngày Thuỷ triều lờn chu kỳ nửa ngày khụng cú quy luật
Giỏ trị lớn nhất (Biờn ủộ) Thuỷ triều lớn ở gần bờ và lục ủịa Giỏ trị lớn nhất của thuỷ triều lờn (ủv: m) (1cm-2m)
Vị trớ và giỏ trị (biờn ủộ) của thuỷ triều lờn lớn hơn 10m
Trang 15ñẳng trị ñược ñề nghị và cả ngày nay ñược sử dụng rộng rãi ñể biểu thị các ñại lượng (hoặc cường ñộ) của những ñối tượng (hiện tượng) thay ñổi liên tục tuần tự trong không gian như từ thiên, nhiệt ñộ không khí, ñộ cao mặt ñất…
Sơ ñồ xây dựng các ñường ñẳng trị như sau: ñầu tiên , trên bản ñồ ñánh dấu các ñIểm mà ở
ñó cần xác ñịnh bằng cách này hay cách khác các giá trị của ñối tượng ñược biểu thị Tiếp theo nối các ñiểm kế cận bằng các ñường thẳng và giả ñịnh rằng hiện tượng biến ñổi ñều ñặn Bằng nội suy, người ta tìm trên những ñường thẳng ñó các ñiểm mà ở ñó hiện tượng phải ñược biểu thị bằng các trị số tròn hoặc nguyên ñã ấn ñịnh từ trước Sau cùng qua các ñiểm cùng giá trị ta vẽ các ñường cong ñều ñặn, ñó là những ñường ñẳng trị Những ñường này mang các tên riêng tùy thuộc vào loại ñối tượng (hiện tượng) Như các ñường nối các ñiểm có từ thiên giống nhau ñược gọi là ñường ñẳng từ (từ chữ Hy Lạp”gonia”-góc), những ñường có nhiệt ñộ giống nhau là ñẳng nhiệt (từ tiếng Hy Lạp “terme”- ñộ ẩm)…
Tuy nhiên, những biến ñổi ñều ñặn thường là ngoại lệ Ngay cả khi ngoại suy các ñường ñồng mức giữa hai ñiểm ñộ cao thuộc cùng một sườn cũng phải tính ñến những khác biệt trong
ñộ dốc của sườn Nội suy các ñộ cao trên hai sườn ñói diện của thung lũng (hoặc dãy núi) là một sai lầm nghiêm trọng Tương tự như vậy, không cho phép nội suy các ñường ñẳng nhiệt giữấ hai ñiểm cách nhau bởi một sống núi ðể xây dựng ñúng ñắn các ñường ñẳng trị, ñặc biệt là trên các bản ñồ tỷ lệ nhỏ, cần phải chú ý ñến ñặc ñiểm của ñối tượng (hiện tượng) ñược biểu thị, nắm ñược các quy luật chung trong sự phân bố của nó và trong hàng loạt trường hợp phai tính ñến quan hệ với những ñối tượng (hiện tượng) khác Ví dụ, ñịa hình với mạng lưới thủy văn khi vẽ các ñường ñồng mức; nhiệt ñộ không khí với ñịa hình khi vẽ các ñường ñẳng nhiệt….Những dtinhiểm có tính chất ñịa phương của ñối tượng ( hiện tượng) quy ñịnh những nét ñộc ñáo trong hình vẽ của các ñường ñẳng trị
Khi sử dụng các ñường ñẳng trị, ñặc ñiểm của các hiện tượng ñược phản ảnh không phải bằng từng ñường ñẳng trị tách riêng ra , mà bằng toàn bộ, bằng cả hệ thống của chúng ðiều ñó xác ñịnh tầm quan trọng của việc chọn hợp lý khoảng cách giữa các ñương ñẳng trị, sự phù hợp
và sự khái quat hóa ñồng thời các ñường ñẳng trị
Về nguyên tắc, khoảng cách giữa các ñường ñẳng trị nên cố ñịnh Khi ñó tần số các ñường ñẳng trị cho phép nhận xét bằng mắt về tốc ñộ biến ñổi của chỉ số biểu thị, về gradien nằm ngang
ðộ lớn khoảng cách phụ thuộc trước hết vào những giới hạn mà trong ñó giá trị của ñối tượng giao ñộng Các giới hạn càng rộng (ở ví dụ các ñường ñồng mức là sự giao ñộng ñộ cao ñịa hình càng rộng) thì khoảng cách càng lớn và ngược lại Những nhân tố khác ảnh hưởng ñến ñộ lớn của khoảng cách là tỷ lệ bản ñồ (tỷ lệ càng lớn, nói chung khoảng cách càng nhỏ), mục ñích sử dụng bản ñồ và mức ñộ chi tiết của tài liệu gốc
Tuy nhiên sự cố ñịnh của các khoảng chia có thể trở nên bất tiện ñối với những tỷ lệ nhỏ, khi một tờ bản ñồ phủ một lãnh thổ rộng có những khác biệt lớn trong ñặc ñiểm những thay ñổi của ñối tượng (hiện tượng) ñược biểu thị Ví dụ, khoảng cao ñều tối ưu ñể phản ảnh ñịa hình ñồng bằng thấp có thể làm sự biểu hiện vùng núi trở nên nặng nề khó ñọc, và ngược lại, khoảng cao ñều ñược tính cho ñịa hình miền núi thường làm nghèo sự biểu hiện các ñồng bằng thấp Người ta tìm ra lối thoát mở rộng khoảng cao theo chiều cao- một cách tuần tự hoặc theo ñới ( hình 47) Hệ thống ñường ñẳng trị với các khoảng chia biến ñổi ñược gọi là thang tầng
Trang 16Khi tơ màu nền các đường đồng mức,ta sẽ dùng những màu khác nhau để biểu thị : lơ đối với nước, lục cho đồng bằng (hình 70) Cách phân biệt màu rõ rệt ở các đường đẳng trị như thế nhằm xác định những giá trị đột biến của đối tượng cũng thường dùng cho
những đường đẳng trị khác (ví dụ, sự chuyển màu ở đường đẳng nhiệt 0o,
ranh giới nhiệt độ dương và âm) ðồng thời trình tự chung của các màu và
cường độ của chúng cần phản ảnh xu hướng và trình tự chuyển biến từ
những giá trị thấp đến những giá trị cao, và ngược lại
Ngồi việc biểu thị các giá trị với những đối tượng (hiện tượng) liên
tục và thay đổi tuần tự trong khơng gian, các đường đẳng trị cĩ thể và thực
hiện được nhiều chức năng khác trên bản đồ Như nhờ các đường đẳng trị
ta biểu thị được:
+ Sự thay đổi giá trị của các hiện tượng theo thời gian Ví du,các
đường đẳng biến (từ chữ Hy Lạp “poreia”sự tiến triển) biểu thị sự thay đổi
hàng năm của từ thiên (BSAM, tập1, trang 92)
+ Sự di động (chuyển động) của các đối tượng ( hiện tượng).Ví dụ, sự
nâng lên và hạ xuống của đáy biển (tập bản đồ biển, tập 2, trang11A), sự
phân bố lại theo mùa của các khí đồn (như trên, tờ 46), khoảng cách từ
một điểm nào đĩ cần vượt qua trong khoảng thời gian nhất định khi sử
dụng một loại phương tiên nào đĩ
+ Thời gian xẩy ra hiện tượng, ví dụ, bằng các đường đẳng thời (chữ
Hy Lạp “kronos’’- thời gian) biểu thị nhiệt độ trung bình ngày, đêm
chuyển qua 0o, +5o, +10o trong thời gian kỳ tăng và trong thời gian kỳ giảm
nhiệt độ ( tập atlas tỉnh Ircut, trang 58-60), thời gian cấy các loại cây trồng
(ví dụ, bơng ,ngơ), thời gian chín tới, thời gian đi từ một đIểm xác định…
+ Tần suất (hoặc xác suất) của các đối tượng, ví dụ tần xuất giĩ mạnh
và bão biển các tháng trong năm ( tập bản đồ biển, tập 2 , trang 56 –57)
Nĩi cách khác, các đường đẳng trị khơng những được áp dụng để biểu
thị các đặc điểm định lượng của những đối tượng (hiện tượng) liên tục
trong một thời điểm nào đĩ ( hoặc khoảng thời gian) mà cịn phản ảnh
những thay đổi về số lượng và di động của các đối tượng (hiện tượng) theo
thời gian Cuối cùng các đường đẳng trị cĩ thể biểu thị thời gian xuất hiện
tượng và phục vụ cho những mục đích dự báo (cần phân biệt các loại
Hình 47:::: Thang t ầ ng c ủ a các đườ ng đồ ng m ứ c v ớ i kho ả ng cách l ớ n d ầ n
Trang 17ựường ựẳng trị cả về mặt thuật ngữ khi gọi các ựường ựẳng trị biểu thị giá trị hiện tượng là các là các ựường ựẳng trị, các ựường biểu thụ sự thay ựổi)
đôi khi các ựường ựẳng trị ựược dùng ựể biểu thị các ựối tượng không có tắnh liên tục hoặc tuần tự trong sự biến ựổi, như ựể chỉ mật ựộ dân cư, tỷ lệ ựất càyẦ.đối với những ựối tượng này, khái niệm về sự phát triển tuần tự của chỉ số là cơ sở của việc xây dựng các ựường ựẳng trị, sẽ mất hết ý nghĩa vì nếu giữa ựỉnh và chân ựồi với các ựộ cao 500m và 25m thì nhất ựịnh phải có các ựiểm bên sườn với các ựộ cao 300m, 400mẦ trong khi ựó sự chuyển hóa từ mật ựộ dân cư trong phạm vi thành phố từ 500 người / km2 ựến mật ựộ dân cư của vùng nông thôn là 25 người /
km2 có thể qua hàng loạt nhảy vọt vắ dụ, qua vùng rừng, công viên, vùng thưa dân Bởi vậy, việc ựưa mật ựộ dân cư thành phố về trung tâm thành phố, còn mật ựộ dân cư nông thôn về trung tâm làng, xã và vạch giữa những ựiểm ấy các ựường ựẳng trị mật ựộ 300, 400Ầ.người / km2 là tùy tiện Những ựường ựẳng trị kiểu ấy ựúng hơn nên gọi là Ộựẳng trị giảỢ, chúng có thể dẫn ựến sự khái quát quá mức hoặc thậm chắ làm sai lệch cách phản ảnh hiện thực Những ựường Ộựẳng trị giảỢ có thể xem như những ựồ giải ựược khái quát hóa ( xem ậ33)
Tương tự như vậy, tất cả các ựộ cao ựược dùng ựể vạch các ựường ựồng mức cần ở trong một hệ thống ựo và ựưa về một mặt chuẩn cũng như các số liệu ựược dùng ựể vạch các ựường ựẳng trị thuộc bất cứ loại nào cũng phải so sánh ựược với nhau và ựồng nhất Nếu như hiện tượng (vắ dụ, nhiệt ựộ) biến ựổi không những trong không gian mà cả theo thời gian thì giá trị của hiện tượng ở các ựiểm khác nhau phải ựược ựo ở một thời ựiểm chung (vắ dụ, nhiệt ựộ lúc 13h ngày 1 tháng1 năm1980) hoặc ựược xác ựịnh như giá trị trung bình trong một khoảng thời gian nào ựó (vắ dụ, nhiệt ựộ trung bình năm)Ầ
Bản chất của các ựường ựẳng trị có thể biến ựổi tùy thuộc vào tài liệu gốc Trong vắ dụ dưới ựây, các ựường ựẳng nhiệt trong một thời ựiểm nhất ựịnh biểu thị sự phân bố nhiệt ựộ như nó có trong thực tế, tức là phản ảnh các sự kiện cụ thể Ngược lại, các ựường ựẳng trị trung bình năm là một sự trừu tượng hóa khoa học
Các ựường ựẳng trị rất ựơn giản, rõ ràng và hầu như không cần giải thắch ký hiệu Chúng phối hợp với tất cả các phương pháp biểu hiện bản ựồ khác, nhưng sẽ giảm hiệu lực rõ rệt khi chồng lên một bản ựồ hai hay nhiều hệ thống ựường ựẳng trị
đ 17 PH ƯƠ NG PHÁP N Ề N CH Ấ T L ƯỢ NG
Phương pháp nền chất lượng biểu thị sự phân chia lãnh thổ (phân vùng nó) theo những dấu hiệu nào ựó của tự nhiên, kinh tế hay hành chắnh, chắnh trị ,Nó ựược sử dụng ựể biểu thị những ựặc ựiểm ựịnh tắnh của các hiện tượng phân bố rộng khắp trên mặt ựất (vắ dụ, lớp thổ nhưỡng) hoặc phân bố tản mạn , phổ biến (vắ dụ, dân cư)
Khi xây dựng bản ựồ theo phương pháp nền chất lượng, trước hết phải soạn thảo hệ thống phân loại ựối tượng ựược biểu thị, tiếp theo, dựa vào bảng phân loại ựó chia toàn bộ lãnh thổ ra những khu vực (vùng, tỉnh) ựồng nhất về mặt chất lượng, sau ựó những khu vực cùng loại ựược
tô một màu dành cho loại ựó hoặc phủ những nét chải ựã ựược quy ựịnh (h.48), có thể tay màu hoặc nét chải bằng các số hiệu hoặc ghi chú, mặc dù phương pháp ựó kém rõ ràng
Rõ ràng nhất là bảng phân loại ựược xây dựng trên cơ sở một dấu hiệu ựịnh tắnh cụ thể, như ựặc ựiểm dân cư theo nguồn gốc dân tộc Cũng hoàn toàn cụ thể là những bảng phân loại sử dụng
Trang 18Các ñường ranh giới khu vực phân chia theo phương pháp nền chất lượng ñược ñưa lên bản
ñồ trong quá trình ño vẽ ngoại nghiệp (ñịa chất, thổ nhưỡng, ñịa thực vật ….) hoặc trên cơ sở sử dụng những tài liệu bản ñồ và sách báo khác nhau Nhiệm vụ ñó không có khó khăn ñáng kể nếu ranh giới ñó ñã ñược ñánh dấu ở thực ñịa (như ranh giới phân chia hành chính- chính trị) hoặc có thể theo dõi ở thực ñịa (như ranh giới các nham thạch có tuổi khác nhau) Sự kiện sẽ trở nên phức tạp nếu sự thay ñổi loại này bằng một loại khác xẩy ra một cách tuần tự qua một giải chuyển tiếp, ñiều ñó có thể xẩy ra khi lập bản ñồ các dân tộc Nếu vạch các ñường ranh giới thì có thể làm mờ tính chất tuần tự của sự thay ñổi thành phần dân tộc trong dân cư Người ta ñã tìm ra lối thoát cho việc sử dụng trong ñới chuyển tiếp các dải màu xen kẻ (h.49) hoặc theo kiểu bàn cờ, thay ñổi ñộ rộng các dải hoặc kích thước ô màu có thể phản ảnh các tương quan khác nhau trong vùng trùng lặp
Sử dụng nền chất lượng cho những hiện tượng phân bố trên một diện rộng, với sự dao ñộng lớn về nhiệt ñộ ñòi hỏi một sự thận trọng Nếu như một cấp hạng phân loại nào ñó có mật ñộ lớn (hoặc nhỏ) ở khắp nơi thì cần dành cho nó những phương tiện biểu hiện mạnh hoặc yếu ðối với một số bản ñồ xây dựng theo phương pháp nền chất lượng như ñịa chất chẳng hạn, thì thang màu tiêu chuẩn ñã ñược thống nhất Khi chọn màu cho bản ñồ mới cần cố gắng sao cho các loại ñối tượng ñược ño vễ giống nhau về mặt chất lượng ñược biểu thị bằng những màu gần nhau
Việc sử dụng màu sắc dẫn ñến chỗ ñôi khi phương pháp nền chất lượng ñược gọi là phương pháp “ nền màu”, tuy rằng thuật ngữ ñó không ñạt Trong phương pháp này các nền màu chỉ khác nhau về hình vẽ và mức ñộ tối sáng của nền bản ñồ (h.48), hoặc các ký hiệu nét khác nhau Ngược lại không phải bất cứ một bản ñồ nhiều màu nào (như bản ñồ ñịa hình có phân tầng màu) ñều ñược xây dựng theo phương pháp nền chất lượng
Hai hệ thống màu của nền chất lượng không thể phủ chồng lên nhau, nhưng có thể phủ chồng một nền màu với các nét chải và như thế có thể kết hợp trên một bản ñồ hai , thậm chí ba
hệ thống nền chất lượng Ví dụ, trên các bản ñồ thổ nhưỡng, nhiều khi nền màu chỉ các cấp hạng ñất về một nguồn gốc phát sinh, còn nét chải biểu thị thành phần cơ giới Phương pháp nền chất lượng phối hợp dễ dàng với các phương pháp biểu hiện khác
Trang 19Hình 48 Th ổ nh ưỡ ng c ủ a Tajikistan 1/ ñấ t xám sáng c ủ a vùng hoang m ạ c và bán hoang m ạ c; 2/ ñấ t xám th ườ ng và xám ñ en c ủ a vùng ñồ ng c ỏ ; 3/ ñấ t xám ñ en và ñấ t nâu c ủ a vùng r ừ ng ñồ ng c ỏ ; 4/ ñấ t
ñồ ng c ỏ c ủ a ñ ai c ậ n Anpi; 5/ ñấ t bán hoang m ạ c c ủ a vùng núi cao; 6/ ñấ t hoang m ạ c c ủ a vùng núi cao có xen k ẽ v ớ i ñấ t ñồ ng c ỏ ở trên các bãi c ủ a sông và h ồ ; 7/ các khu v ự c không có l ớ p th ổ
nh ưỡ ng
Hình 49.Ph ươ ng pháp n ề n ch ấ t l ượ ng bi ể u th ị cho nh ữ ng ñố i t ượ ng
n ằ m xen k ẽ ẫ n nhau
Trang 20là trong một biểu đồ cĩ thể phối hợp và đối chiếu một số chỉ số ví dụ, trên hình 50e và 50f là biến trình nhiệt độ và mưa (atlas biển, tập II trang 49)
Dưới dạng “hoa hồng” tức là dưới dạng các đồ thị phân phối tầng suất hướng và cường độ của hiện tượng, , các biểu đồ định vị được sử dụng rộng rãi cho các chủ đề như tầng suất và cường độ giĩ các hướng khác nhau ( hình 51, atlas biển , tập II trang 56,57), tần suất sĩng và gợn
do giĩ ( atlas biển, tập II, trang 34,37), tần suất và tốc độ giịng biển… Sự trình bày các hoa giĩ rất đa dạng Ví dụ, hoa gĩi trên hình 51 biểu thị tần suất giĩ ở các độ cao khác nhau trong khu vực trạm đo, các tia của nĩ (năm tia trên một cạnh của hình 8 cạnh) hướng về tâm của hoa và biểu thị ( theo chiều kim đồng hồ) giĩ trên các độ cao 0,5; 1; 2; 3; 4km; tần suất giĩ cho biết số phần trăm và được biểu thị bằng chiều dài của tia tính từ cạnh của hình 8 cạnh, chữ số ghi trong hoa là chỉ số phần trăm tần suất lặng giĩ trên các độ cao ấy
Như các ví dụ chỉ rõ, biểu đồ định vị và đặc trưng cho các hiện tượng ở “các điẻm” cĩ thể áp dụng thành cơng thành những tập hợp cho việc biểu thị những hiện tượng phân bố rộng khắp trên mặt đất hoặc chiếm một diện tích đáng kể trên mặt đất Nhằm mục đích đĩ, các biểu đồ được bố trí hoặc là theo hàng loạt các điểm đã chọn một cách hợp lý (hình 51) hoặc là theo các ơ độ (hình thang) cĩ diện tích đã được xác định trước (như 10o một) và bố trí ở tâm mỗi ơ Trong trường hợp cuối cùng, các biểu đồ cung cấp các giá trị trung bình, khi so sánh chúng trong những ơ kế cận cĩ thể xét đốn về sự thay đổi khơng gian của những hiện tượng được phân bố rộng khắp
Trang 21Hình 50 S ử d ụ ng các bi ể u ñồ ñể bi ể u di ễ n bi ế n trình hàng n ă m c ủ a nhi ệ t ñộ và l ượ ng m ư a theo
tháng trong n ă m ( t ạ ñ I ể m Susa c ủ a C ộ ng Hòa Azerbaijan) 1/ ñườ ng cong phân b ố nhi ệ t ñộ , trong h ệ t a ñộ ðề Các; b/ c ũ ng chúnh nó nh ư ng trong h ệ t a ñộ
c ự c; c/ bi ể u ñồ c ộ t l ượ ng m ư a trong h ệ t a ñộ ðề các; d/ bi ể u ñồ c ộ t l ượ ng m ư a trong h ệ t a ñộ
c ự c; e/ ph ố i h ợ p hai bi ể u ñồ a và c ; g/ph ố i h ợ p hai bi ể u ñồ b và d
Trang 2222
Hình 51 S ử d ụ ng bi ể u ñồ ñị nh v ị ñể bi ể u th ị t ầ n su ấ t và t ố c ñộ gió trong
b ả n ñồ “ gió ven b ờ ” t ừ atlas Azerbaijian
Hình 51a H ướ ng gío trên ñộ cao 0,5; 1; 2; 3;và 4km;
mùa xuân (atlas bi ể n , t ậ p II trang 68)
- ðộ dài mũi tên chỉ tương
ứng hướng gió chiếm %
trong tổng số lần quan sát 1mm tương ứng 1%
Sự lặp lại nhỏ hơn 1% ñược biểu thị 1%
Vận tốc trung bình của gió (ñv: bar)
Trang 23đ 19 PH ƯƠ NG PHÁP đ I Ể M
Phương pháp ựiểm dùng ựể biểu thị những hiện tượng phân bố tản mạn, phổ biến như dân
cư, nhất là dân nông thôn; diện tắch gieo trồng; chăn nuôiẦ.người ta biểu thị một số lượng nhất ựịnh các ựối tượng (ựơn vị) của hiện tượng ựược ựo vẽ bằng một ựiểm (ựúng hơn là một hình tròn nhỏ) ựặt trên bản ựồ ựúng nơi mà ựối tượng ựó phân bố trong thực tế Kết quả là sẽ ựưa lên bản
ựồ một số lượng ựiểm nào ựó có ựộ lớn bằng nhau Tập hợp các ựiểm ựó (ựộ dày ựặc) cho ta khái niệm rõ rệt về sự phân
bố của ựối tượng , còn số lượng ựiểm cho phép xác dịnh kắch thước (số lượng ựối tượng) của nó Trên hình 52 trình bày bản ựồ sử dụng phương pháp ựiểm ựói với ựất cày của Thụy điển
Trong phương pháp ựiểm ựiều quan trọng là chọn hợp
lý Ộ trọng lượng Ộ ựiểm, tức là quy ựịnh số lượng ựối tượng cho một ựiểm biểu thị Khi trọng lượng lớn ta dễ dàng bố trắ các ựiểm ở những vùng có mật ựộ ựối tượng cao nhất, nhưnh
sẽ khó khăn trong việc phản ảnh các nhóm ựối tượng phân
bố riêng lẻ và nhỏ hơn trọng lượng của mỗi ựiểm Trong trường hợp ựó , một số nhóm gộp lại cho bằng trọng lượng của một ựIểm và bố trắ ở nơi có nhóm lớn nhất,
Các ựiểm có trọng lượng nhỏ sẽ thuận tiện ựối với những vùng có mật ựộ ựối tượng nhỏ, nhưng chúng có thể dắnh liền với nhau ở những nơi mật ựộ quá lớn Trong thực
tế, chọn trọng lượng ựiểm càng nhỏ càng tốt, nhưng làm sao cho các ựiểm không dắnh liền với nhau, vì khi ựó không thể ựếm ựược các ựiểm (khi thành lập các bản ựồ ỘựiểmỢ nhiều lúc chỉ phản ảnh các ựặc ựiểm ựịa lý trong sự phân bố các ựối tượng (vắ dụ, sự phân bố diện tắch gieo trồng); khi ựó cho phép dắnh liền các ựiểm ở những nơi chúng phân bố dày ựặc nhất), và bắt ựầu từ mật ựộ sẽ dẫn ựến sự dắnh liền với các ựiểm thành vệt và bất cứ một mật ựộ nào cao hơn cũng không tìm ựược sự biểu hiện của mình trên bản ựồ
Khi dùng phương pháp ựiểm ựể phản ảnh những diện tắch phân bố rải rác như diện tắch gieo cấy một loại cây trồng nào ựó thì có thể làm phù hợp trị số ựồ thị của ựiểm, tức là diện tắch của ựiểm với Ộ trọng lượngỢ của ựiểm tắnh theo tỷ lệ bản ựồ Khi ựó diện tắch mà các ựiểm chiếm sẽ bằng diện tắch gieo trồng trong tỷ lệ của bản ựồ (vắ dụ, các bản ựồ rừng và trồng trọt trong tập atlas quốc gia của Anh (1963) ựã ựược xây dựng như thế)
Trọng lượng của ựiểm có thể ựồng thời là trị số tuyệt ựối và tương ựối, khi quy ựịnh nó bằng một tỷ lệ nhất ựịnh vắ như bằng 1% của tổng giá trị ựối tượng ựược biểu thị như tổng sản lượng của lúa mì (gọi là phương pháp ựiểm phần trăm)
đôi khi người ta chọn trọng lượng ựiểm xuất phát từ một nhóm phổ biến các ựối tượng, vắ dụ như khi tắnh số lượng trung bình của ựàn súc vật có sừng, ựàn ngựa, ựàn cừu trê bản ựồ chăn nuôi
Hình 52 Ứ ng d ụ ng ph ươ ng pháp
ự i ể m có tr ọ ng l ượ ng khác nhau
trên b ả n ựồ t ướ i tiêu (atlas tài
nguyên Colombia thu ộ c Anh)
Trang 2424
Sự ủơn giản và rừ ràng của phương phỏp ủiểm tạo ủiều kiện cho sự phổ biến rộng rói của nú, hơn nữa khi dựng cỏc ủiểm cú màu sắc khỏc nhau ta cú thể phản ảnh khụng những cỏc tương quan ủịnh lượng mà cả tương quan ủịnh tớnh, cũng như sự biến ủộng của hiện tượng, sự phỏt triển
và biến ủổi trong cỏch phõn bố Vớ dụ, trờn bản ủồ dõn cư, dựa vào màu sắc cỏc ủiểm cú thể phõn biệt thành phần dõn tộc; phương phỏp ủú cũn cho phộp biểu thị sự biến ủộng, như sự phỏt triển của diện tớch gieo trồng trong thời gian nhất ủịnh (atlaas Armenia, trang 82)
Bản chất cơ bản của phương phỏp ủiểm sẽ khụng thay ủổi nếu thay cỏc “hỡnh trũn” bằng cỏc hỡnh vẽ khỏc như hỡnh vuụng, nột gạch…nhưng vỡ cỏc hỡnh trũn rừ ràng và tiết kiệm chỗ nhất nờn một hỡnh vẽ khỏc của “ ủiểm” thường coi là ngoại lệ Nú cú thể sử dụng khi trờn cựng một bản ủồ
cú nhiều ủối tượng khỏc nhau ủược biểu thị bằng phương phỏp ủiểm (vớ dụ, trờn bản ủồ dõn cư và ủất cày trong atlas quốc gia Phần Lan, 1960) Trong trường hợp ủú ủiều quan trọng là làm sao cho “cỏc ủiểm” cú hỡnh vẽ khỏc nhau mà cú hiệu lực như nhau cho người ủọc
Sự việc sẽ khỏc khi “cỏc ủiểm”, ủỳng hơn là cỏc hỡnh vẽ cú trọng lượng khỏc nhau ủược sử dụng cho cựng một ủối tượng trờn cựng một bản ủồ Sự phức tạp húa phương phỏp như thế cú thể gặp khi cú những tương phản rừ rệt trong mật ủộ (ủộ dày ủặc) Cỏc ủối tượng, muốn bảo toàn cỏc ủặc ủiểm của sự phõn bố trong những vựng cú mật ủộ thấp và bảo ủảm khả năng phõn biệt cỏc ủiểm trong vựng cú mật ủộ tối ủa dẫn ủến việc ỏp dụng cỏc ủiểm khỏc nhau: hai hay nhiều trị số trọng lượng (hỡnh 53) Khi ủú cần cố gắng bảo toàn tớnh tỷ lệ và diện tớch của cỏc ủiểm cú giỏ trị khỏc nhau bằng trọng lượng của chỳng
Hình 53 Sử dụng các điểm có trọng lượng khác nhau trên bản đồ đất được tưới tiêu
( trong atlas của Columbia)
KHU ðẤT ðƯỢC TƯỚI NƯỚC
Trang 25đối với bản ựồ ựiểm cơ sở ựịa lý ựược chọn hợp lý rất quan trọng (tức là các yếu tố của bản
ựồ ựịa lý chung nằm trong nội dung của bản ựồ chuyên ựề) Khi thành lập bản ựồ nó sẽ làm dễ dàng cho việc ựịnh vị ựúng ựắn về mặt ựịa lý của các ựiểm, và khi sử dụng bản ựồ nó cho phép giải thắch các quan hệ của ựối tượng ựược biểu thị với môi trường ựịa lý Vắ dụ, cần tách những lãnh thổ, nơi ựối tượng rõ ràng là vắng mặt (như các vành ựai Anpi và cận Anpi (trên bản ựồ ựất cày của Thụy điển hình 52) Tuy nhiên, nếu cơ sở (nền) và ghi chú ựập vào mắt có thể làm giảm hiệu quả của bản ựồ ựiểm Bởi vậy, khi bản ựồ ựiểm in một màu người ta thường bỏ ghi chú và làm thoáng phần cơ sở, còn khi in nhiều màu thì ựưa cơ sở về phần thứ yếu, in nó bằng màu nhạt, như màu xám tro chẳng hạn(5)
ậ 20 Ph−ểng phịp khoanh vỉng
Khoanh vùng (từ chữ La tinh ỘareaỢ có nghĩa là diện tắch, không gian) là không gian phân bố một hiện tượng nào ựó, như một loại thực vật hay ựộng vật, ựất cày (hình 61a)ẦTùy theo ựặc ựiểm phổ biến hiện tượng trong phạm vi phân bố của mình có thể là liên tục, rộng khắp (như vùng phân bố băng hà) hay tản mạn (như vùng trồng bông)
Người ta phân biệt vùng phân bố tuyệt ựối và vùng phân bố tương ựối Gọi là vùng phân bố tuyệt ựối khi ngoài phạm vi của nó hoàn toàn không gặp hiện tượng ựó Vùng phân bố tương ựối hẹp hơn, nó chỉ bao gồm lãnh thổ trên ựó hiện tượng bao gồm một số ựặc tắnh nhất ựịnh, như một loài ựộng vật (sóc, chồnẦ) có mật ựộ phổ biến ựể săn bắt
Có nhiều phương án ựể biểu thị các vùng phân bố trên bản ựồ (hình 54): giới hạn những ựường phân bố bằng những ựường viền nối hoặc chấm chấm có hình vẽ nhất ựịnh, tô màu vùng phân bố, chải nét vùng phân bố; bố trắ một cách ựều ựặn các ký hiệu trong phạm vi vùng phân bố nhiều khi không cần nêu ranh giới của vùng, chỉ vùng phân bố bằng ghi chú viết trong giới hạn của nó, hoặc vẽ bằng một hình vẽ riêng (như vẽ một con chim Ờ ký hiệu ựó biểu thị cho cả ựàn chim)
Nếu như vùng phân bố chỉ có một phần trong phạm vi khu vực ựo vẽ thì trên bản ựồ nó có thể biểu thị bằng một ựường cong không khép kắn (như ranh giới phắa bắc của cây sồi trên bản ựồ phần châu Âu của Liên xô) Cách vạch ựường ranh giới rõ ràng phù hợp với vùng phân bố ựược xác ựịnh chắnh xác trên thực ựịa, trong khi ựó, cách trình bày không có ựường viền lại thuận tiện cho những vùng phân bố có tắnh chất sơ ựồ, chỉ phản ánh gần ựúng khu vực phổ biến của hiện tượng Tắnh chất gần ựúng như thế có thể là do kết quả của một sự hiểu biết chưa ựầy ựủ về ranh gới thực tế của vùng, hoặc do tắnh chất không xác ựịnh của ranh giới trong thiên nhiên (vắ dụ ở một số loài ựộng vật biển) đôi khi do mục ựắch sử dụng của bản ựồ mà các vùng phân bố cố ý vẽ
sơ lược ựể ựạt ựược một hình ảnh ựơn giản và rõ ràng hơn Sự biểu thị gần ựúng thường hay gặp trên các bản ựồ kinh tế tổng hợp, khi các nhóm ký hiệu nét và cả những ký hiệu riêng lẽ ựã biểu thị vị trắ phân bố của các cây công nghiệp khác nhau Những ký hiệu khoanh vùng ựó về mặt hình thức có thể giống các hiện tượng của phương pháp ký hiệu (xem ậ14), mặc dù chúng không nằm trong loại vùng (các ký hiệu khoanh vùng biểu thị diện tắch, trong khi những ký hiệu thường biểu thị các ựối tương phân bố ở các ựiểm)
Sự ựa dạng trong cách trình bày vùng phân bố (như giới hạn chúng bằng các ựường có hình
vẽ và màu sắc khác nhau) cho phép kết hợp trên một bản ựồ hàng loạt vùng phân bố của những hiện tượng khác nhau (như các loại cây trồng), là các vùng phân bố của một hiện tượng nhưng
Trang 2626
được đặc trưng theo những khác biệt bên trong của nĩ (như mật độ cao, mật độ thấp) hoặc sự thay đổi theo thời gian (như sự di chuyển ranh giới trồng trọt phía bắc của Liên xơ) cũng như những tổ hợp của các vùng trên
Các vùng phân bố với tư cách là phương pháp biểu hiện bản đồ chính, được sử dụng chủ yếu trên bản đồ địa lý động vật, trên đĩ phản ảnh các khu vực phổ biến các lồi động vật khác nhau (atlas biển, tập II trang 38-40, atlas Iarcut, trang 96) Thơng thường hơn, các vùng phân bố được
sử dụng như một phương pháp hỗ trợ, bổ sung Ví dụ trên bản đồ trầm tích đệ tứ được xây dựng bằng nền chất lượng, người ta đưa thêm vào các vùng phân bố các băng hà khác nhau, trên bản đồ
từ thiên, người ta vạch ra các vùng dị thường từ…Người ta cũng thường kết hợp các vùng phân
bố với những ký hiệu ngồi tỷ lệ và phương pháp điểm
Nên nhận thấy rằng một số vùng phân bố cáo yheer được xem như một trường hợp riêng của các phương pháp nền chất lượng và đường đẳng trị Trong trường hợp thứ nhất, vùng phân bố biểu thị một đặc điểm của lãnh thố lựa chọn theo một dấu hiệu định tính như là sử dụng một cấp hạng phân chia trong bảng phân loại được soạn thảo cho nền chất lượng ( như vạch ra trên bản đồ các khu vực cư trú của một dân tộc nào đĩ) Trong trường hợp thứ hai, vùng phân bố trùng với một đường đẳng trị và chỉ một đương duy nhất Ví dụ, vùng phân bố khu vực khơng cĩ nhiệt độ trung bình ngày đêm dưới khơng độ được giới hạn bằng đường đẳng nhiệt 0o
Vùng phân bố giữ vị trí khác hẵn trong quan hệ với các ký hiệu ngồi tỷ lệ ðối với chúng vùng phân bố là một sự khái quát hĩa khi nĩ giới hạn và thay thế một nhĩm ký hiệu ngồI tỷ lệ tập trung trên lãnh thổ nào đĩ (như biểu hiện vùng khai thác qua các năm trong mỗi lưu vực bằng các cột biểu đồ, ♣22), hoặc là cường độ trung bình của hiện tượng trong mỗi vùng (như số lượng
gỗ cĩ giá trị trung bình trên một ha rừng) Phương pháp đơn giản nhất để biểu thị các vùng phân
bố là vạch những vùng quan trọng nhất trong số chúng bằng một ghi chú to hơn, tơ đậm đường viền hoặc tơ đậm nền maui Biện pháp sau cùng cĩ thể thấy ví dụ trên bản đồ “ hướng dương, gai
và thuốc lá” của Liên xơ trong atlas địa lý dùng cho giáo viên trường trung học Trên đĩ các khu vực trồng hướng dương và gai chủ yếu được nêu rõ bằng màu và nét chữ đậm hơn
ð 21 PH ƯƠ NG PHÁP KÝ HI Ệ U CHUY Ể N ðỘ NG
Phương pháp này được dùng để biểu thị những sự di động khác nhau trong lĩnh vực các hiện tượng tự nhiên (đường biển, đường chim di cư…) cũng như những hiện tượng xã hội (các hành trình, sự di dân, vận chuyển hàng hĩa…) Ngồi ra, ký hiệu chuyển động cịn dùng để phản ảnh các quan hệ kinh tế, chính trị, các mối phụ thuộc và tác động, dể biểu thị rõ các kế hoạch tác chiến…
Ký hiệu chuyển động áp dụng cho các hiện tượng cĩ đặc điểm phân bố bất kỳ Cĩ tính chất điểm (như sự di chuyển của con tàu), cĩ tính chất tuyến tính (sự di động của các phịng tuyến), phân bố tản mạn (sự di cư của động vật), phân bố rộng khắp (sự di chuyển của các khí đồn) Tùy thuộc vào mục đích sử dụng của bản đồ và đặc điểm của hiện tượng được đo vẽ, bằng các ký hiệu chuyển động ta cĩ thể biểu thị đường đi, kích thước, phương hướng và tốc độ di chuyển, chất lượng, cường độ và cơ cấu của hiện tượng chuyển động Tất nhiên, khơng phải một hiện tượng bất kỳ nào cũng cần hoặc cĩ những đặc điểm nhiều mặt như thế Ngược lại, đơi khi
Trang 27cần phải ñưa thêm những chỉ số bổ sung như ñộ bền vững của giòng biển, thời gian di cư của chim…
H×nh 54 C¸c ph−¬ng ¸n kh¸c nhau trong c¸ch thÓ hiÖn c¸c vïng ph©n bæ (diÖn tÝch trång thuèc l¸)
Phương tiện ñồ họa cơ bản ñể phản ánh sự vận ñộng và các mối quan hệ là các vectơ, tức là các ñường ñịnh hướng (mũi tên) Có thể phân biệt chúng theo hướng bố trí (chỉ phương hướng di ñộng hoặc quan hệ) Hình dáng, ñộ lớn, màu sắc, ñộ sáng và cấu trúc (hình 55), hơn nữa ñể phân biệt về ñộ lớn dẽ dàng sử dụng hai chỉ số: chiều rộng và chiều dài của vector