Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng ta
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sự kết thúc của cục diện thế giới hai cực thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng đa
phương, đa dạng hoá quan hệ quốc tế Kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức
mạnh tổng hợp từng quốc gia và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ
quốc tế thời kỳ sau chiến tranh lạnh Tuy nhiên, không có nghĩa đã hết khả năng
xảy ra căng thẳng mới, rối loạn hoặc xung đột cục bộ Thêm vào đó là những vấn
đề toàn cầu trở nên gay gắt
Từ năm 1986, trước yêu cầu bức bách của tình hình trong nước (khủng hoảng
kinh tế trầm trọng, mục tiêu tổng thể của kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 thất bại; lòng
tin của nhân dân giảm sút; những khó khăn bên trong do vấn đề Campuchia và hậu
quả của cuộc chiến tranh biên giới năm 1979) và sự phát triển mới của tình hình
quốc tế (thuận lợi: xu thế hoà hoãn Đông - Tây; xu thế toàn cầu hoá và cạnh tranh
kinh tế trong QHQT; khu vực châu Á - TBD phát triển năng động nhất thế giới;
vấn đề Campuchia đang từng bước được giải quyết bằng thương lượng chính trị; và
khó khăn: Mỹ và phương Tây tiếp tục duy trì bao vây, cấm vận đối với VN; cải tổ
và sự sụp đổ của các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô), Đảng ta từng bước xây
dựng CSĐN mới
Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại được thể hiện qua các Văn kiện, Nghị
quyết sau:
- N/Q 32/BCT khoá V (7/1986)
- Đại hội VI (12/1986)
- N/Q 13/BCT khoá VI (20/5/1988)
- N/Q TW 6 khoá VI (3/1989)
- Đại hội VII (6/1991)
- N/Q TW 3 khoá VII (6/1992)
- Hội nghị giữa nhiệm kỳ (1/1994)
Trang 2- Đại hội VIII (6/1996)
- Đại hội IX (4/2001)
- N/Q 07/BCT ngày 27/11/2001 của BCT
- N/Q TW 8 khoá IX (8/2003)
- Đai hội X (4/2006 )
Nội dung đổi mới tư duy đối ngoại nhằm vào các vấn đề sau:
Đổi mới nhận thức về đặc điểm, mâu thuẫn, xu thế phát triển của thế
giới
Đổi mới quan điểm về các vấn đề an ninh và phát triển, dân tộc và giai
cấp, về tập hợp lực lượng
Đổi mới về đường lối, chính sách, tư tưởng chỉ đạo, phương châm
hoạt động đối ngoại
1 Đổi mới nhận thức về đặc điểm, mâu thuẫn, xu thế phát triển của thế giới:
Về tính chất thời đại, trong Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội VII, Đảng ta
khẳng định: "Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người
cuối cùng nhất định sẽ tiến tới CNXH vì đó là quy luật tiến hoá của XH" Đại hội
VIII lại khẳng định: "Sau những biến cố chính trị ở Liên Xô và Đông Âu, CNXH
tạm thời lâm vào thoái trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất của thời
đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH" Tới Đại hội
IX, luận điểm "theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới
CNXH" lại được nhấn mạnh một lần nữa
Về mâu thuẫn thời đại, Cương lĩnh 1991 có nhiều điểm mới Một là, thay vì
nêu mâu thuẫn giữa "phe XHCN và phe đế quốc chủ nghĩa" như trước đây, Cương
Trang 3lĩnh đề cập mâu thuẫn "giữa CNXH và CNTB đang diễn ra gay gắt" Hai là, khi đề
cập mâu thuẫn giai cấp trong lòng các nước tư bản phát triển, trước đây chỉ đề cập
mâu thuẫn "giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản", Cương lĩnh vạch rõ "mâu
thuẫn cơ bản vốn có của CNTB giữa tính XH hoá ngày càng cao của lực lượng sản
xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN ngày càng sâu sắc", đồng thời chỉ ra mâu
thuẫn "giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư
bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn tiếp tục phát
triển" Ba là, do hệ thống thuộc địa đã tan rã, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã
được độc lập ở mức độ khác nhau nên thay vì nêu "mâu thuẫn giữa các dân tộc bị
áp bức với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân" như trước đây, nay Đảng ta nêu
lên "mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển tăng
lên" Bốn là, nếu như trước đây nhấn mạnh "hệ thống XHCN đang trở thành nhân
tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người", thì nay Đảng ta chỉ rõ "chính sự
vận động của tất cả các mâu thuẫn đó và sự đấu tranh của nhân dân lao động các
nước sẽ quyết định số phận của CNTB" Năm là, nay không còn xếp loại "mâu
thuẫn cơ bản", "mâu thuẫn chủ yếu" như trước đây, vì mỗi loại mâu thuẫn có vai
trò và phạm vi tác động của nó, giữa chúng không có khoảng cách, mà đan xen
nhau, tác động qua lại lẫn nhau
Về chiến tranh và hoà bình, nếu như NQTW 9 khoá III còn nêu "nhân dân các
nước đứng trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh thế giới mới", thậm chí Đại hội
VI vẫn đánh giá rằng, chưa bao giờ nguy cơ chiến tranh hạt nhân lại lớn như hiện
nay, thì Đại hội VIII đã nêu nhận định "nguy cơ chiến tranh thế giới huỷ diệt bị đẩy
lùi" và đến Đại hội IX, Đảng ta nói rõ thêm "trong vài thập kỷ tới ít có khả năng
xảy ra chiến tranh thế giới" Cách tiếp cận mới về mặt này bắt nguồn từ sự đánh giá
rằng "hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức
xúc của các dân tộc và các quốc gia trên thế giới" (Đại hội VIII) được khẳng định
lại tại Đại hội IX "hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi
hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc"
Trang 4Về cách mạng khoa học - công nghệ và quá trình toàn cầu hóa Tới Đại hội IV
(1976), cách mạng khoa học - kỹ thuật đã được coi là "then chốt" trong ba cuộc
cách mạng (bên cạnh quan hệ sản xuất và tư tưởng - văn hoá) Và trong Cương lĩnh
được thông qua tại Đại hội VII đã nhận định rằng "cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại đang diễn ra một cách mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở
mức độ khác nhau" Các Đại hội VIII và IX của Đảng đều khẳng định những nhận
định nêu trên, đặc biệt trong Văn kiện Đại hội IX có 2 nét mới là: Đã đánh giá
"kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng
sản xuất; thay vì nêu khái niệm "quốc tế hoá" đã nhấn mạnh một khái niệm rộng
hơn về phạm vi và sâu hơn về nội dung là: "toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế
khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia; xu thế này đang bị một số
nước phát triển và các tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng
nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có
đấu tranh"
2 Đổi mới quan điểm về các vấn đề an ninh và phát triển, dân tộc và giai cấp,
về tập hợp lực lượng:
Tháng 7 năm 1986, Bộ Chính trị khoá V của Đảng đã ra Nghị quyết 32, điều
chỉnh bước đầu CSĐN của VN Nghị quyết nhấn mạnh cần chủ động chuyển sang
thời kỳ cùng tồn tại hoà bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực
hoà bình, ổn định và hợp tác Từ đó, Đại hội VI đã đề ra chính sách "Ra sức kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ những điều kiện quốc tế
thuận lợi để xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, chủ động tạo thế ổn định để tập
trung xây dựng kinh tế" Tuy nhiên, những nghị quyết này chưa đổi mới chính sách
tập hợp lực lượng do đó chưa làm chuyển động mạnh quan hệ đối ngoại của nước
ta
Ngày 20 tháng Năm 1988, BCT khoá VI ra NQ 13 với chủ đề "Giữ vững hoà
bình, phát triển kinh tế", đã đổi mới chiến lược đối ngoại: đổi mới tư duy, mục tiêu
Trang 5công tác đối ngoại, phương thức đấu tranh và chính sách tập hợp lực lượng, thay
đổi hẳn quan điểm về bạn-thù, từ đó đưa ra chính sách đối ngoại đổi mới
Nghị quyết 13 đã chuyển từ coi trọng an ninh sang coi trọng phát triển và mở
rộng quan hệ quốc tế: "Với một nền kinh tế mạnh, một nền quốc phòng vừa đủ
mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng ta sẽ càng có khả năng
giữ vững độc lập và xây dựng thành công CNXH hơn" Nghị quyết đã xác định lại
mục tiêu của công tác đối ngoại của nước ta: "Lợi ích cao nhất của Đảng và nhân
dân ta sau khi giải phóng miền Nam, cả nước thống nhất, đi lên CNXH là phải
củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế."
Nghị quyết đã nêu phương thức đấu tranh mới: "Chủ động chuyển cuộc đấu tranh
từ trạng thái đối đầu hiện nay sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà
bình" với tất cả các đối tác chính Nghị quyết đã đánh giá lại quan hệ bạn-thù: đã
"vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và kết hợp chủ nghĩa quốc tế chân chính với chủ
nghĩa yêu nước trong sáng trong tình hình mới", từ đó bỏ chủ trương "làm nghĩa vụ
quốc tế có tầm quan trọng chiến lược", không còn coi nước nào là "hòn đá tảng",
"đối lập" hay "kẻ thù trực tiếp", "kẻ thù cơ bản, lâu dài" của nước ta nữa, do đó đã
tạo bước ngoặt trong việc thực hiện chính sách đối ngoại mới: Đổi mới quan hệ với
Liên Xô và các nước anh em Lào và Campuchia, chủ động tạo điều kiện để bình
thường hoá quan hệ với Trung Quốc XHCN, thúc đẩy xây dựng khu vực Đông
Nam Á hoà bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác, tranh thủ Mỹ và từng bước mở rộng
quan hệ với các nước phương Tây
Để đảm bảo công cuộc đổi mới đúng hướng và thành công, Hội nghị TW lần 6,
tháng Ba 1989, tiến hành kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và
đề ra những quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới Nghị quyết của
Hội nghị nhấn mạnh đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà làm cho
mục tiêu ấy được thực hiện tốt hơn bằng quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp,
bước đi thích hợp; đồng thời phải tiếp tục kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ
nghĩa quốc tế XHCN, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Trang 6Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng, tháng Sáu 1991, đã xác định nhiệm vụ
đối ngoại là giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện
quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội Từ phương châm "thêm bạn, bớt thù" của Nghị quyết 13,
Đảng ta đã nâng thành phương châm: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước
trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển'' Đại hội và
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đề ra chính sách
"đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại", hợp tác bình đẳng và cùng có lợi
với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau trên cơ sở
các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình
Khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới không còn lấy ý thức hệ làm tiêu chí
chính trong tập hợp lực lượng, không còn đứng theo hai phe, hai cực nữa Các nước
đều xem xét, điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình Tuy nước ta cơ bản đã
chuyển sang hình thái cùng tồn tại hoà bình với các đối tác chính, nhưng với việc
Liên Xô-Đông Âu sụp đổ, nước ta lại mất các đối tác quan trọng, mất nguồn viện
trợ và thị trường chính, do đó cần thời gian để tìm các đối tác mới và hình thành
đường lối đối ngoại trong bối cảnh mới Quán triệt tinh thần Chiến lược đối ngoại
mới của Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị, từ Nghị quyết TW 3 khoá VII (6-1992)
Đảng ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện đường lối đối ngoại sau Chiến tranh
lạnh Nghị quyết đề ra tư tưởng chỉ đạo "giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất
và CNXH đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt" và nêu bốn phương
châm để xử lý quan hệ đối ngoại trong tình hình mới, từ đó Đảng ta đã từng bước
nâng cao lên thành đường lối, chính sách
- "Bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu
nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân" Lúc này cách mạng thế giới
lâm vào thoái trào, việc nước ta vượt qua mọi thử thách để tìm đường xây dựng
thành công CNXH ở nước ta chính là làm nghĩa vụ quốc tế một cách thiết thực
Trang 7- "Giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương
hoá quan hệ đối ngoại" Hội nghị giữa nhiệm kỳ của Đảng (1-1994) đã nâng
phương châm này thành "chính sách đối ngoại" và từ Đại hội VIII thì thành
"Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá Việt
Nam sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn
đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển"
- "Nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế" Tới Nghị
quyết TW 8 (khoá IX) thì phương châm này chuyển thành "đối tác", "đối tượng":
Những ai chủ trương tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu
nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta
Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh Mặt khác, trong
tình hình diễn biến mau lẹ và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng: trong
mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể
có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta Trên cơ sở đó cần khắc phục cả hai
khuynh hướng mơ hồ, mất cảnh giác hoặc cứng nhắc trong nhận thức, chủ trương
và trong xử lý các tình huống cụ thể
- "Tích cực tham gia hợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các
nước, đặc biệt là các nước lớn" Đại hội VIII và IX, nhất là Hội nghị TW 8 và 9
(khoá IX) đã mở rộng, điều chỉnh phương châm này và chuyển thành chính sách
đối ngoại của nước ta: "Tiếp tục ưu tiên hàng đầu cho việc củng cố quan hệ với các
nước láng giềng", "láng giềng có chung biên giới", "các nước XHCN", "các nước
trong khu vực"; "Tích cực chủ động góp phần giữ vững các nguyên tắc cơ bản của
ASEAN, tăng cường gắn kết trong Hiệp hội, hạn chế tác động phân hoá từ bên
ngoài, đẩy mạnh hợp tác kinh tế"; "Tiếp tục thúc đẩy quan hệ với các nước và trung
tâm lớn trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, tạo thế đan xen lợi ích giữa các nước với nước ta; tránh bị rơi vào thế
đối đầu, cô lập, lệ thuộc"
Trang 8Rõ ràng, qua 4 phương châm này ta có thể thấy ngay được những điểm mới là:
lợi ích dân tộc là chuẩn mực cao nhất cho CSĐN
độc lập tự chủ là mục tiêu
đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ là biện pháp mới
nhấn mạnh vào tính địa chính trị của CSĐN
yếu tố ý thức hệ đã giảm đi
3 Đổi mới về đường lối, chính sách, tư tưởng chỉ đạo, phương châm hoạt
động đối ngoại:
Xuất phát từ những nhận thức mới về thời đại và những xu thế chủ yếu trong
thế giới ngày nay, từ yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta
đã có những sự thay đổi rất sâu sắc về đường lối và chính sách đối ngoại
Điều có tầm quan trọng hàng đầu là xác định chuẩn mực mục tiêu của đường
lối, chính sách đối ngoại phục vụ ba yêu cầu gắn bó mật thiết, tác động qua lại lẫn
nhau là "an ninh", "phát triển" và "vị thế quốc tế" của đất nước Đối với nước ta sau
ngày thống nhất đất nước, mục tiêu đó luôn luôn được xác định là phục vụ hai
nhiẹm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần cuộc đấu
trah chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ
XH Nói cách khác, mục tiêu của đường lối đối ngoại gồm hai vế: nghĩa vụ dân tộc
và nghĩa vụ quốc tế
Chính sách đối ngoại "muốn là bạn với tất cả các nước" được triển khai trong
thực tiễn quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi mở rộng sự hợp tác về chính trị và kinh
tế trong khi vẫn kiên trì định hướng XHCN, đáp ứng kịp thời yêu cầu của công
cuộc đổi mới, bảo đảm để cách mạng VN tiếp tục giành thắng lợi
Để đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ, bản
sắc văn hoá dân tộc và định hướng XHCN, Hội nghị lần 4 khoá VIII, tháng Mười
hai 1997, đã nêu lên tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt là tiếp tục đẩy mạnh công cuộc
đổi mới, khơi dậy và phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế, ra
Trang 9sức cần kiệm để đẩy mạnh CNH - HĐH Nâng cao ý chí tự lực, tự cường, giữ
vững bản sắc dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế Đa dạng hoá, đa phương hoá
quan hệ đối ngoại, hội nhập và hợp tác quốc tế phải dựa trên cơ sở độc lập, tự chủ
Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là cơ sở vững chắc để đẩy mạnh hơn nữa đoàn
kết, hợp tác và hội nhập quốc tế nhằm góp phần xây dựng thành công CNXH và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Tư tưởng đối ngoại đó xuất phát từ thực tiễn
quan hệ chính trị, kinh tế quốc tế khi toàn cầu hoá đang trở thành một thực tế khách
quan và từ nhu cầu của đất nước cần phải tiếp tục khai thác các điều kiện quốc tế
thuận lợi, sử dụng tốt sự hợp tác quốc tế để phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất
nước
Đa dạng hoá, đa phương hoá ở đây được hiểu là trên cả ba mặt: đối tượng, hình
thức quan hệ và chủ thể tham gia
Về đối tượng quan hệ, Đại hội VII đưa ra khẩu hiệu "VN muốn làm bạn với tất
cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển"
và Đại hội IX bổ sung thêm ý VN không chỉ sẵn sàng là bạn mà còn sẵn sàng là
"đối tác tin cậy" của các nước trong cộng đồng quốc tế Tiếp đó, NQTW 8 khoá IX
đã đưa ra một khái niệm rất mới về đối tượng, đối tác, phân tích một cách biện
chứng rằng, trong mỗi đối tượng vẫn có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số
đối tác vẫn có thể có sự khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta Đi đôi với cách tiếp
cận này, chúng ta theo đuổi một phương châm khác là: trong QHQT luôn luôn có
hai mặt hợp tác và đấu tranh
Về hình thức quan hệ, ngoại giao ngày nay không chỉ tập trung vào quan hệ
chính trị mà các nội dung kinh tế, văn hoá, quốc phòng - an ninh chiếm vị trí ngày
càng quan trọng Các mối quan hệ này gắn quyện với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau, trong đó quan hệ chính trị (bao gồm cả quốc phòng - an ninh) là tiền đề, quan
hệ kinh tế là cơ sở, quan hệ văn hoá là nhân tố góp phần gia tăng sự hiểu biết lẫn
nhau giữa các dân tộc Cái mới nữa là, trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá, bên
Trang 10cạnh quan hệ song phương, quan hệ đa phương thể hiện trong sự giao lưu trên các
diễn đàn, tổ chức đa phương có vai trò rất lớn
Một hướng mới rất quan trọng nữa là các Đại hội VIII và IX đã đặt cao nhiệm
vụ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế do nhu cầu nội tại của nền kinh tế nước ta cần
mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn và công nghệ Điều này được thể hiện rõ
qua việc Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 07 ngày 27-11-2001 về chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế
Về các chủ thể tham gia, nước ta vốn có truyền thống huy động sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị cùng tham gia các hoạt động đối ngoại Ngày nay
truyền thống ấy vẫn được phát huy với nét mới là: bên cạnh các hoạt động của
Đảng, Chính phủ và các đoàn thể chính trị - xã hội, Quốc hội, các hiệp hội ngành
nghề, các cơ quan quốc phòng - an ninh, các địa phương, các doanh nghiệp cũng
rầm rộ "vào trận"
4 Một số nét mới của đường lối, chính sách đối ngoại của Đại hội X:
Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã dự báo tình hình thế giới những năm sắp tới
với những nét lớn khái quát, súc tích như sau:
Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ
trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về
biên giới, lãnh thổ, hải đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều
nơi trên thế giới với tính chất ngày càng phức tạp Nhưng hoà bình, hợp tác và phát
triển vẫn là xu thế lớn của tình hình thế giới Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục
phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường Toàn
cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng những yếu tố bất
bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang
phát triển Cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật các tài nguyên, năng lượng,
thị trường, nguồn vốn, công nghệ giữa các nước ngày càng gay gắt Khoa học và
công nghệ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn