1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Ngữ Văn

18 498 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 3,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“KINH NGHIỆM XÂY DỰNG NẾP HỌC TẬP TÍCH CỰC TRONG KHÂU SOẠN BÀI MÔN NGỮ VĂN ĐỐI VỚI HỌC SINH LỚP 6 TRƯỜNG THCS LONG GIANG” 1.. Để giải quyết vấn đề trên phù hợp với học sinh lớp mình phụ

Trang 1

“KINH NGHIỆM XÂY DỰNG NẾP HỌC TẬP TÍCH CỰC TRONG KHÂU SOẠN BÀI MÔN NGỮ VĂN ĐỐI VỚI HỌC

SINH LỚP 6 TRƯỜNG THCS LONG GIANG”

1 Lý do chọn đề tài:

Cùng với sự đổi mới và phát triển đa dạng của xã hội, để ngày càng

thực hiện tốt hơn vai trò trách nhiệm của mình trong việc “trồng người”,

ngành giáo dục đã và đang có những đổi mới tích cực cả về nội dung chương trình lẫn phương pháp dạy học nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất cho việc dạy học cũng như đáp ứng tốât nhất cho sự phát triển trí tuệ và kỹ năng của học sinh

Nếu như trước đây việc dạy học chủ yếu là truyền thụ kiến thức một chiều từ giáo viên đến học sinh thì ngày nay việc học đã có những bước tiến mới đó là việc lấy học sinh làm trung tâm Đặc biệt là qua 09 năm thay sách giáo khoa chương trình Phổ thông cơ sở đã đạt được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học với yếu tố học sinh làm trung tâm Tuy nhiên, dạy học đổi mới phương pháp đòi hỏi học sinh phải nổ lực rất nhiều so với phương pháp học truyền thống Để đảm nhiệm tốt vai trò trung tâm của mình cũng như nắm vững những kiến thức mới, hiện đại gần gũi với thực tế đó học sinh phải có một quá trình chuẩn bị tích cực, lâu dài Đồng thời để hưởng

ứng phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ

Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thì học sinh cần phải phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của mình nhiều hơn nữa trong học tập

Để giải quyết vấn đề trên phù hợp với học sinh lớp mình phụ trách,

tôi đi sâu nghiên cứu đề tài: “Kinh nghiệm xây dựng nếp học tập tích cực trong khâu soạn bài môn Ngữ Văn đối với học sinh lớp 6 trường THCS Long Giang” nhằm giúp học sinh xây dựng, rèn luyện nếp học tập tích cực

và phát huy vai trò trung tâm của mình

2/ Đối tượng nghiên cứu :

Học sinh lớp 6 trường Trung học cơ sở Long Giang

3/ Phạm vi nghiên cứu :

Môn Ngữ Văn lớp 6 trường Trung học cơ sở Long Giang

4/ Phương pháp nghiên cứu :

- Nghiên cứu tài liệu, cụ thể:

+ Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 (tập 1 2)

+ Sách giáo viên Ngữ Văn 6 (tập 1, 2)

Trang 2

+ Dạy Văn-học Văn (Đặng Hiển, NXB ĐHSP-2003)

+ Những vấn đề dạy học Tiếng Việt THCS (Nguyễn Đức Tồn, NXB GD Hà Nội-2001)

+ Phân tích, bình giảng tác phẩm văn học 6 (Trần Đình Sử, Lê Nguyên Cẩn,

…, NXB GD Hà Nội-1999 )

- Điều tra:

+ Dự giờ đồng nghiệp và rút kinh nghiệm bản thân trong quá trình dạy học + Kiểm tra tình hình soạn bài của học sinh

+ Đàm thoại:

- Trao đổi với đồng nghiệp, tổ chuyên môn về kiến thức chuyên môn cũng như phương pháp dạy học tích cực

- Trao đổi và lắng nghe ý kiến của học sinh những vấn đề về môn học, về việc học bài và soạn bài

B NỘI DUNG

1/ Cơ sở lí luận :

* Các văn bản chỉ đạo của cấp trên:

- Công văn số 2032 về việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học các

môn Ngữ Văn, lịch sử, GDCD,…

- Chỉ thị 40 của bộ GD-ĐT về việc thực hiện phong trào xây dựng

“Trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2008-2013.

- Công văn số 11167/BGD-ĐT về việc hướng dẫn thực hiện đánh giá, xếp loại học sinh trung học và sử dụng sổ gọi tên và ghi điểm

2/ Cơ sở thực tiễn :

Thực tế học sinh lớp tôi phụ trách môn Ngữ Văn cho thấy hầu hết học sinh đều có soạn bài (77%) trước ở nhà nhưng đa số các em còn soạn theo cảm tính Nghĩa là các em nghĩ thế nào thì viết thế ấy chứ không theo một qui trình nhất định nào, thậm chí có em viết sơ sài không trả lời cụ thể các câu hỏi trong SGK Do đó khi lên lớp các em ít dựa vào vở soạn để phát biểu xây dựng bài Tôi cho rằng sở dĩ học sinh chưa phát huy tính tích cực, chủ động của mình là vì các em chưa có một phương pháp soạn bài hiệu quả

Do đó, xây dựng nếp học tập tích cực của học sinh trong khâu soạn bài là yếu tố rất cần thiết đòi hỏi sự nổ lực rất nhiều mặt ở cả giáo viên và học sinh

Trang 3

3/ Nội dung vấn đề:

a/ Thực trạng việc học tập của học sinh đối với bộ môn Ngữ Văn:

So với các môn học khác, môn Ngữ Văn được đánh giá là một trong những môn khó Môn học này không chỉ phong phú về nội dung mà còn đa dạng về hình thức, bởi lẽ nó đề cập đến nhiều vấn đề trong cuộc sống về thế giới quan cũng như nhân sinh quan Đọc một bài văn, một bài thơ, người ta

có thể “vui, buồn, mừng giận cùng những người ở đâu đâu, vì những chuyện ở đâu đâu” ( Hoài Thanh - “Ýù nghĩa văn chương”) Qua tác phẩm văn học,

người ta có thể học cách làm người, học cách giao tiếp, sử dụng từ ngữ, văn phong, học trình bày tư tưởng, tình cảm một cách rõ ràng, mạch lạc và nó được phân chia ra nhiều phân môn khác nhau, đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau Đó là cái hay của môn Ngữ Văn và cũng là cái khó của nó

Chính vì vậy, học sinh tiếp thu kiến thức và cảm nhận được những vấn đề của cuộc sống qua môn học là một việc khó, đối với học sinh vùng nông thôn sâu thì việc đó lại càng khó hơn Do đó việc học tập tốt môn Ngữ Văn không phải học sinh nào cũng có thể làm được

Nhận định này được rút ra qua thực tế kiểm tra bài của học sinh của lớp mà bản thân phụ trách:

Lớp TSHS Số lần kiểm

tra Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu Ghi chú

61 37 1 15 (40%) 17 (60%) 5 HS không soạn bài

61 37 2 21 (56.7%) 14 (44.3%) 2 HS không soạn bài

61 37 3 21 (56.75%) 16 (43.25%)

62 36 1 16 (44.4%) 14 (38.9%) 6 HS không soạn bài

62 36 2 19 (53%) 13 (34.21%) 4 HS không soạn bài

62 36 3 22 (61.1%) 14 (38.9%)

Về việc phát biểu xây dựng bài, sau thời gian giảng dạy cũng như theo dõi quá trình học tập của học sinh, tôi nhận thấy như sau:

Lớp TSHS Thời gian

(số tuần) Số HS thường xuyên phát biểu Số HS ít phát biểu

Trang 4

Trước thực tế chất lượng học tập cũng như khâu soạn bài của học sinh đối với bộ môn nêu trên, bản thân cho rằng có nhiều lí do khác nhau, có lí

do chủ quan cũng như khách quan Trong đó, việc học sinh không biết cách soạn bài trước ở nhà là nguyên nhân chính dẫn đến việc tiếp thu bài chậm, bởi vì bài học mà học sinh soạn trước ở nhà là kiến thức mới Vì vậy bản thân nhận thấy rằng cần phải có biện pháp giúp học sinh phát huy tính cích cực của mình, đặc biệt ở khâu soạn bài nhằm đem lại kết quả học tập như mong đợi

b- Biện pháp thực hiện:

Cũng như các môn học khác, môn Ngữ Văn đòi hỏi sự tư duy, chuẩn

bị trước ở nhà Tuy nhiên, nó cũng có đặc trưng riêng, đó là trí tưởng tượng phong phú, óc quan sát và kỹ năng tích hợp nhạy bén Cho nên thái độ học tập tích cực, thói quen học bài cũ, soạn bài mới là yếu tố hết sức quan trọng và hết sức cần thiết

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để mục tiêu nói trên được thực hiện có hiệu quả – nghĩa là không hoàn toàn áp đặt mà phần lớn là dựa trên cơ sở tự nguyện, tự giác của học sinh

Để phần nào giải quyết vấn đề trên, trong năm học vừa qua, tôi đã thực hiện một số biện pháp sau đây:

3.1 Thông tin cho học sinh hiểu về sự cần thiết của việc học tập tích

cực, đặc biệt là trong khâu soạn bài ở nhà.

Như đã nói ở trên, môi trường xã hội có ảnh hưởng nhất định đến tâm

lí, sự hình thành và phát triển tính cách của học sinh Nhất là ở lớp 6 Tuổi các em còn nhỏ nên các em chưa có nhận thức một cách sâu sắc về vai trò,

ý nghĩa của việc học Một số em ngày nay thường ham chơi hơn ham học, dẫn đến lười học, chán học, thậm chí có nguy cơ bỏ học Vì vậy ngay từ đầu năm học, giáo viên cần sinh hoạt cho các em hiểu về sự cần thiết và quan trọng của việc học tập, cụ thể là học bài và soạn bài để giúp học sinh nhận thức rõ hơn ý nghĩa của nó Từ đó, học sinh có thể chú trọng hơn đến nhiệm vụ của mình và mang lại hiệu quả học tập cao

3.2 Nêu ra cam kết thực hiện nội qui học sinh có chữ kí của phụ

huynh

Sự phối hợp giữa nhà trường – gia đình – xã hội góp phần không nhỏ

trong việc nâng cao chất lượng học tập cũng như ý thức đạo đức của học sinh Bên cạnh quá trình dạy học của nhà trường thì yếu tố gia đình cũng có tác động mạnh mẽ đến các em Vì vậy ngay từ đầu năm học, giáo viên

Trang 5

có thể cho học sinh cam kết thực hiện nội qui kèm chữ kí cam kết của phụ huynh

Có sự nhắc nhở, kiểm tra của gia đình thì học sinh sẽ siêng năng hơn Kết hợp với việc học trên lớp dần dần các em sẽ thấy được hiệu quả của bước học trước một lần Cũng từ đây, giúp học sinh nhận thức rõ hơn về giá trị và tầm quan trọng của vở soạn

3.3 Giáo viên đầu tư, hướng dẫn cho học sinh cách soạn bài – nghĩa

là học sinh phải nắm được nội dung, yêu cầu cụ thể mình cần phải soạn trong mỗi tiết dạy.

Theo kết quả khảo sát trong năm học vừa qua, đa số học sinh không soạn bài hoặc không biết cách soạn bài Sau một thời gian tìm hiểu, tôi nhận thấy rằng sở dĩ học sinh không soạn bài hoặc soạn không đúng yêu cầu là vì:

+ Các em không tích cực tư duy để trả lời câu hỏi

+ Các em không có tài liệu tham khảo nào khác ngoài SGK (ở đây không nói đến sách giải bài tập)

+ Các em không có một phương pháp soạn bài đúng

Cho nên điều đầu tiên phải làm là hướng dẫn học sinh soạn bài

Môn Ngữ Văn có 3 phân môn khác nhau nên việc hướng dẫn học soạn bài cũng có những đăc trưng khác nhau:

* Đối với phân môn Ngữ Văn:

- Văn xuôi:

+ Giáo viên nhắc nhở học sinh đọc kĩ văn bản

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu giới thiệu nhân vật và sự việc, miêu tả phong cảnh và con người cộng với việc phân tích một số biện pháp nghệ thuật Qua đó rút ra nhận xét chung về nội dung, ý nghĩa của truyện và vẻ đẹp của thiên nhiên, con người

+ Đọc kỹ và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa dựa và những dẫn chứng trong nội dung bài học

Ví dụ: Văn bản: “Bài học đường đời đầu tiên” (trích “Dế Mèn phiêu lưu kí” – Tô Hoài), SGK Ngữ Văn 6 tập II

Phân tích nhân vật Dế Mèn:

Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm và nhặt ra những chi tiết miêu tả ngoại hình và hành động, từ đó rút ra kết luận về tính cách của Dế Mèn:

Trang 6

Miêu tả ngoại hình: “ Đôi càng tôi

mẫm bóng Những cái vuốt ở chân, ở

khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt { -}

Đôi cánh tôi trước đây ngắc hủn hoẳn,

bây giờ thành cái áo dài xuống tận

chấm đuôi { -} Đầu tôi to ra và nỗi

từng tảng, rất bướng Hai cái răng đen

nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp

như hai lưỡi liềm máy làm việc Sợi

râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đổi

hùng dũng { -}”

Hành động: Cà khịa với tất cả bà con

trong xóm, quát mấy chị Cào Cào,

ghẹo anh Gọng Vó, trêu chị Cốc, xem

thường và hay quát mắng Dế

Kiêu căng, hống hách, xem thường mọi người xung quanh

- Thơ:

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích từ ngữ, nghệ thuật miêu tả, các biện pháp tu từ thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà thơ để trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa

Ví dụ:

Trong văn bản: “Đêm nay Bác không ngủ” (SGK Ngữ Văn 6, tập II)

Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những câu thơ miêu tả hình dáng, cử chỉ, hành động của Bác trong đêm không ngủ vì lo cho đoàn dân công

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chú ý phân tích dấu câu, nhịp, vần, thanh trong bài thơ

- Đối với phân môn Tiếng Việt:

Lý thuyết:

+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ nội dung các ví dụ trong sách giáo khoa, liên hệ với ngữ cảnh của từ ngữ, câu văn để trả lời các câu hỏi

Ví dụ:

Tìm hiểu về một số từ loại: danh từ, động từ, tính từ (SGK Ngữ Văn 6, tập I), giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những từ ngữ chỉ sự vật, hiện tượng, khái niệm gần gũi, quen thuộc; những hoạt động, trạng thái, tính chất của người và vật trong đời sống hàng ngày để xác định từ loại

Thực hành:

Trang 7

Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ đề tài, liên hệ với kiến thức lý thuyết để giải quyết

- Đối với phân môn Tập làm văn:

Là lớp đầu cấp, ở lứa tuổi này, các em chưa có nhiều kĩ năng viết bài tập làm văn Đặc biệt là khâu mở bài và kết bài Vì vậy, ở phân môn này, giáo viên chú trọng rèn cho học sinh tập trung ở hai phần nói trên

Dưới đây là phần minh hoạ quá trình hướng dẫn học sinh soạn

một bài học cụ thể cho từng phân môn:

* Văn bản: bài “CON RỒNG, CHÁU TIÊN”:

Câu 1 Hướng dẫn học sinh đọc kĩ văn bản và tìm những chi tiết thể hiện tính chất kì lạ, lớn lao, đẹp đẽ về nguồn gốc và hình dạng của nhân vật Lạc Long Quân và Âu Cơ

- Nhân vật Lạc Long Quân:

+ Nguốn gốc: (tìm những câu văn chỉ nguồn gốc của Lạc Long Quân trong bài)

+ Hình dạng: hình dạng Lạc Long Quân được miêu tả như thế nào?

- Nhân vật Aâu Cơ:

+ Nguồn gốc: nhân vật Aâu Cơ thuộc dòng họ nào? Ở đâu?

Câu 2

a Yếu tố thần kì trong:

- Việc kết duyên giữa Lạc Long Quân và Aâu Cơ: giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào nguồn gốc của hai nhân vật

- Việc sinh nở của Aâu cơ: tìm những câu văn nói về việc sinh con của Aâu

Cơ, liên hệ với việc sinh con trong thực tế

b Đọc lại văn bản và tìm những chi tiết nói lên quá trình chia con và mục đích việc chia con của Lạc Long Quân và Aâu Cơ

c Dựa vào những yếu tố đã phân tích, nêu nguồn gốc của người Việt Câu 3 – Giải thích nghĩa của từ “Tưởng tượng, kì ảo”

- Nêu vai trò của yếu tố tưởng tượng, kì ảo qua những sự việc liên quan đến nhân vật Lạc long Quân và Aâu Cơ

* Tiếng Việt:

Bài: DANH TỪ

I Đặc điểm của danh từ:

Câu 1 Danh từ (Nêu danh từ trong phần in đậm)

Câu 2 Chỉ ra các từ đứng trước và sau danh từ đã nói ở câu 1

Câu 3 Dựa vào định nghĩa danh từ ở phần ghi nhớ và kiến thức đã học ở tiểu học Tìm các danh từ khác trong ví dụ ở câu 1

Trang 8

Câu 4 Tìm danh từ:

- Chỉ người:

- Chỉ vật:

Ghi nhớ 1: (SGK/86)

II Danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật:

Câu 1 Chỉ ra sự khác nhau giữa danh từ in đậm và danh từ đứng phía sau nó (Từ in đậm đứng một mình có nghĩa không? Nó thường phải đi kèm với những từ nào?)

Câu 2 Thay từ in đậm bằng các từ mang nghĩa tương đương và nhận xét về sự khác ư4a chúng

Câu 3 Dựa vào thực tế đời sống hàng ngày để giải thích hai câu nói trên Từ đó rút ra kết luận về ý nghĩa của danh từ chỉ đơn vị

Ghi nhớ 2: SGK/87

III Luyện tập:

Câu 1 Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm một số danh từ chỉ những sự vật gần gũi, quen thuộc với các em và đặt câu với những danh từ ấy

Câu 2, 3 Giáo viên hướng dẫn học dựa vào những sự vật, hình ảnh quen thuộc trong đời sống hàng ngày để làm các bài tập: 2,3 (SGK)

Câu 4 Học sinh viết một đoạn văn trong bài “Cây bút thần” (Từ đầu đến

“dày đặc các hình vẽ”)

Câu 5 Dựa vào ghi nhớ và phần trả lời câu hỏi để lập danh sách danh từ chỉ đơn vị và danh từ chỉ sự vật trong đoạn văn ở câu 4

- Danh từ chỉ đơn vị:

- Danh từ chỉ sự vật:

* Tập làm văn:

Nêu mở bài cho đề văn: “Kể một câu chuyện (Truyền thuyết hoặc cổ tích) mà em biết bằng lời văn của em.”

- Mở bài: (1) Giới thiệu chung về văn học dân gian và thể loại truyền thuyết, cổ tích Sau đó dẫn dắt đến tên truyện mà học sinh sẽ kể

(2) Nêu sơ lược về ý nghĩa của truyện theo thể loại truyền thuyết, cổ tích và dẫn chứng bằng tên một câu chuyện cụ thể mà học sinh sẽ kể

Trang 9

* Lưu ý:

Giáo viên nên nhắc nhở học sinh không lặp lại câu hỏi sách giáo khoa mà chỉ trả lới ngắn gọn, đầy đủ ý

3.4 Động viên, nhắc nhở học sinh thường xuyên.

Như đã nói ở trên, lớp 6 là lớp đầu cấp trung học cơ sở Học sinh chưa quen với môi trường mới cũng như chương trình, phương pháp học tập mới

Do đó, ngay từ đầu năm học, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh nếp học tập tích cực, thói quen học bài và soạn bài đầy đủ trước khi đến lớp Có như vậy mới giúp các em học tập tốt hơn và hình thành nề nếp ở những năm học sau

3.5 Có nhắc nhở phải có kiểm tra, nếu không kiểm tra thì việc nhắc nhở thường xuyên sẽ làm cho học sinh “lờn thuốc” Soạn bài, chép bài đầy đủ là bước quan trọng của quá trình học tốt Bởi lẽ nếu học sinh không soạn bài trước ở nhà thì sẽ bỡ ngỡ với bài học mới trên lớp Học sinh tiếp thu bài chậm, lâu dần sẽ mất kiến thức căn bản dẫn đến lười học, chán học Điều đó hết sức nguy hiểm, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng học tập của học sinh

Và nếu học sinh chán học vì không hiểu bài thì trên lớp các em cũng

không chép bài vì “chép mà không hiểu thì chép làm chi?” Đây là lối suy

nghĩ tiêu cực nhưng không phải là hiếm ở một số học sinh yếu kém

TRUYỆN “SƠN TINH, THUỶ TINH” TRUYỆN “CÂY BÚT THẦN”TINH”

Trang 10

Vì vậy, giáo viên cần kiểm tra vở học, vở soạn của học sinh hàng

tuần, có nhận xét, đề nghị và tái kiểm tra nhằm góp phần ngăn chặn tình trạng tiêu cực nêu trên có thể xảy ra

Ngay từ đầu năm học, giáo viên thông báo kế hoạch kiểm tra vở học và vở soạn cho học sinh nắm và thực hiện theo kế hoạch Cuối mỗi tuần, giáo viên yêu cầu một số học sinh yếu kém (5-10 em) nộp vở học và vở soạn để giáo viên kiểm tra (tuỳ đặc điểm tình hình của lớp mà giáo viên có thể linh hoạt kiểm tại trường hay về nhà) Việc kiểm tra tập của học sinh diễn ra hàng tuần nên cũng không mất nhiều thời gian của giáo viên

Không chỉ kiểm tra vở học và vở soạn của học sinh yếu kém hàng tuần mà giáo viên còn kiểm tra vở học của cả lớp sau bốn tuần chuyên môn (mỗi tháng kiểm tra một lần) nhằm tránh trường hợp học sinh khá – giỏi có xu hướng lười học vì chủ quan

Để đảm bảo cho việc theo dõi mang tính chính xác, khách quan thì giáo viên cần có sổ theo dõi kiểm tra tập của học sinh, cập nhật đầy đủ thông tin (ưu điểm, khuyết điểm, hướng khắc phục và thời gian tái kiểm tra để tiện theo dõi và nắm tình hình soạn bài của học sinh Có thể tham khảo theo mẫu dưới đây:

Kiểmtra học sinhHọ tên Ưu điểm Khuyếtđiểm khắc phụcHướng kiểm traTG tái

3.6 Song song với việc kiểm tra vở học và vở soạn của học sinh, giáo viên cũng cần phân công một số học sinh khá – giỏi trong lớp kiểm tra việc học bài của các bạn yếu kém và báo cáo hàng hàng buổi vào đầu mỗi tiết học bộ môn (cập nhật vào sổ theo dõi nề nếp học tập của học sinh) để giúp các em học tập tích cực hơn

Đa số học sinh yếu kém thường có thái độ lười học Thậm chí học sinh khá giỏi nhưng nếu giáo viên không kiểm tra trong thời gian dài thì các em cũng sẽ có tâm lí chủ quan và giảm dần thời gian học tập Từ đó chất lượng sẽ giảm sút

Ngày đăng: 18/05/2015, 01:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w