1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM môn NGỮ văn 8

10 294 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 111,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên đề tài: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TRIỂN KHAI LUẬN ĐIỂM THÀNH ĐOẠN VĂN DIỄN DỊCH VÀ QUI NẠP NGỮ VĂN 8 A ĐẶT VẤN ĐỀ I Lí do chọn đề tài: Văn bản nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu, nó có giá trị và tác dụng hết sức to lớn trong trường kì lịch sử, trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Có thể kể từ Chiếu dời đô (1010) của Lí Công Uẩn, Hịch tướng sĩ (1285) của Trần Quốc Tuấn cho đến Bình Ngô đại cáo (1428) của Nguyễn Trãi;…Cho đến ngày nay, nghị luận vẫn được xem là một thể văn quan trọng trong đời sống xã hội của con người, bởi nó giúp con người phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của mình cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống,…nhưng lại được trình bày bằng một thức ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục. Chính vì lẽ đó, văn nghị luận có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống. Có thể nói không có văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc và sâu sắc trong đời sống. Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội. Với đối tượng là học sinh lớp 8, các em đã được làm quen và nắm được những vấn đề cơ bản về văn nghị luận. Đó là nền móng để các em học tốt hơn về loại văn này ở chương trình Ngữ văn 8. Tuy nhiên, để học tốt loại hình văn bản này không phải là điều đơn giản, bởi với đối tượng là học sinh lớp 8, các em còn quen với kiểu tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận; ít có bản lĩnh, ít có chủ kiến đối với các vấn đề trong cuộc sống. Bởi vậy, để giúp các em tạo lập được một văn bản nghị luận, ngoài việc giúp các em ôn lại các kiến thức về văn nghị luận đã học ở chương trình Ngữ văn 7; trước hết, giáo viên cần phải cho các em rèn luyện kĩ năng triển khai luận điểm thành đoạn văn nghị luận một cách thành thạo. Có nhiều cách để triển khai luận điểm thành một đoạn văn, như: diễn dịch, qui nạp, móc xích, song hành, tổng phân hợp. Song, tôi thiết nghĩ, học sinh lớp 8 đang còn nhỏ và mới học làm văn nghị luận nên giáo viên chỉ cần rèn luyện cho các em triển khai luận điểm thành hai dạng đoạn văn nghị luận phổ biến và dễ làm hơn cả là diễn dịch và qui nạp. II Thực trạng vấn đề nghiên cứu: Mặc dù đã được rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản qua các kiểu văn bản đã học: miêu tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh; nhưng khả năng viết được một đoạn văn đảm bảo cả về nội dung và hình thức của học sinh là chưa cao. Đặc biệt, khi học đến kiểu văn nghị luận một thể văn rất cần có sự rõ ràng, mạch lạc thì các em thường mắc các lỗi như: không xác định được khi nào là hết một đoạn; các lí lẽ và dẫn chứng chưa được triển khai hợp lí; chưa biết xác đinh đoạn nào trước, đoạn nào sau;… Vì vậy, bài viết của các em thường là lộn xộn, thiếu lô gíc, khiến người đọc khó hiểu. Chính vì vậy, tôi thấy rằng việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng viết đoạn văn nghị luận theo một thao tác đơn giản nhất đó là lập luận theo kiểu diễn dịch và qui nạp là rất cần thiết, bởi nó sẽ là nền móng để các em có thể tạo lập tốt một văn bản nghị luận.

Trang 1

Tên đề tài: RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TRIỂN KHAI LUẬN ĐIỂM THÀNH

ĐOẠN VĂN DIỄN DỊCH VÀ QUI NẠP - NGỮ VĂN 8 A- ĐẶT VẤN ĐỀ

I/ Lí do chọn đề tài:

Văn bản nghị luận là một thể văn ra đời từ rất lâu, nó có giá trị và tác dụng hết sức to lớn

trong trường kì lịch sử, trong công cuộc dựng nước và giữ nước Có thể kể từ "Chiếu dời

đô (1010) của Lí Công Uẩn, "Hịch tướng sĩ" (1285) của Trần Quốc Tuấn cho đến "Bình Ngô đại cáo" (1428) của Nguyễn Trãi;…Cho đến ngày nay, nghị luận vẫn được xem là một thể văn quan trọng trong đời sống xã hội của con người, bởi nó giúp con người phát biểu

tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của mình cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống,…nhưng lại được trình bày bằng một thức ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục Chính vì lẽ đó, văn nghị luận có vai trò rèn luyện tư duy, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng sâu sắc trước đời sống Có thể nói không có văn nghị luận thì khó mà hình thành các tư tưởng mạch lạc

và sâu sắc trong đời sống Có năng lực nghị luận là một điều kiện cơ bản để con người thành đạt trong cuộc sống xã hội

Với đối tượng là học sinh lớp 8, các em đã được làm quen và nắm được những vấn đề cơ bản về văn nghị luận Đó là nền móng để các em học tốt hơn về loại văn này ở chương trình Ngữ văn 8 Tuy nhiên, để học tốt loại hình văn bản này không phải là điều đơn giản, bởi với đối tượng là học sinh lớp 8, các em còn quen với kiểu tư duy cụ thể, cảm tính, ít năng lực suy luận; ít có bản lĩnh, ít có chủ kiến đối với các vấn đề trong cuộc sống

Bởi vậy, để giúp các em tạo lập được một văn bản nghị luận, ngoài việc giúp các em ôn lại các kiến thức về văn nghị luận đã học ở chương trình Ngữ văn 7; trước hết, giáo viên

cần phải cho các em rèn luyện kĩ năng triển khai luận điểm thành đoạn văn nghị luận

một cách thành thạo

Có nhiều cách để triển khai luận điểm thành một đoạn văn, như: diễn dịch, qui nạp, móc xích, song hành, tổng - phân - hợp Song, tôi thiết nghĩ, học sinh lớp 8 đang còn nhỏ và mới học làm văn nghị luận nên giáo viên chỉ cần rèn luyện cho các em triển khai luận điểm

thành hai dạng đoạn văn nghị luận phổ biến và dễ làm hơn cả là diễn dịch và qui nạp.

II/ Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

Mặc dù đã được rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản qua các kiểu văn bản đã học: miêu

tả, tự sự, biểu cảm, thuyết minh; nhưng khả năng viết được một đoạn văn đảm bảo cả về nội dung và hình thức của học sinh là chưa cao Đặc biệt, khi học đến kiểu văn nghị luận-một thể văn rất cần có sự rõ ràng, mạch lạc thì các em thường mắc các lỗi như: không xác định được khi nào là hết một đoạn; các lí lẽ và dẫn chứng chưa được triển khai hợp lí; chưa biết xác đinh đoạn nào trước, đoạn nào sau;… Vì vậy, bài viết của các em thường là lộn xộn, thiếu lô gíc, khiến người đọc khó hiểu Chính vì vậy, tôi thấy rằng việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng viết đoạn văn nghị luận theo một thao tác đơn giản nhất đó là lập luận

theo kiểu diễn dịch và qui nạp là rất cần thiết, bởi nó sẽ là nền móng để các em có thể tạo

lập tốt một văn bản nghị luận

Trang 2

B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

PHẦN I: Các giải pháp thực hiện:

1.Điều tra đối tượng:

Kết quả khảo sát sau khi áp dụng các dạy mới ở lớp 8A, học kì II năm học 2014

-2015:

- Kết quả bài làm của học sinh không cao là do những lỗi sau:

+ Chưa xác định đúng yêu cầu của luận điểm nên việc viết câu chủ đề còn mắc các lỗi như: thiếu chính xác, không rõ nghĩa, dài dòng,…

+ Việc sắp xếp các câu trong đoạn văn còn thiếu lô gíc

+ Giữa các câu văn trong đoạn chưa có sự liên kết, đặc biệt là việc liên kết giữa câu văn thứ 2 trong trong đoạn với câu chủ đề (đối với đoạn văn diễn dịch) và giữa câu chủ đề

ở cuối đoạn cuối các câu trên (đối với đoạn văn qui nạp)

+ Thiếu lí lẽ hoặc có lí lẽ nhưng chưa thuyết phục

+ Thiếu dẫn chứng hoặc dẫn chứng không phù hợp

- Nguyên nhân của các lỗi trên:

+ Do chưa được tiếp xúc nhiều với kiểu văn này nên các em còn bỡ ngỡ, thiếu kinh nghiệm trong cách làm bài

+ Nhiều em chưa có thói quen tiến hành công việc theo các bước, bỏ qua các khâu: tìm hiều đề, tìm ý,…

+ Do thời lượng luyện tập còn ít nên các em chưa được rèn luyện các kĩ năng viết, trình bày, nhận xét để rút kinh nghiệm cho bản thân

+ Do cách trình bày các khái niệm trong sách giáo khoa còn mang tính hàn lâm dẫn đến việc học sinh khó hiểu, đặc biệt biệt là với đối tượng học sinh lớp 8

2 Xây dựng kế hoạch thực hiện:

- Trước hết, giáo viên cần phải tìm tòi, nghiên cứu tài liệu để có kế hoạch dạy - học phù hợp với tất cả các đối tượng học sinh

- Ngoài thời gian luyện tập ở các tiết luyện tập chính khoá, giáo viên cần lên kế hoạch

cụ thể, khoa học cho việc luyện tập ở các tiết học thêm buổi chiều và việc tự học ở nhà cho học sinh

- Khi soạn bài, giáo viên cần chu ý tất cả các đối tượng học sinh, xây dựng hệ thống bài tập ở nhiều cấp độ để phù hợp với mọi đối tượng học sinh của lớp

- Khi giải thích các khái niệm có liên quan đến văn nghị luận, giáo viên cần tra từ điển

và chọn ngôn ngữ dễ hiểu nhất để giúp các em hiểu khái niệm sâu hơn

- Sau mỗi tiết học cần có sự điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp

3 Thực hành luyện tập:

- Từng bước thực hiện một cách tỉ mỉ cho học sinh luyện tập, từ việc nêu luận điểm, đến cách triển khai luận điểm theo từng yêu cầu từ dễ đến khó

- Khi luyện tập, trước tiên, giáo viên cần cho học sinh làm theo một số mẫu đơn giản Chẳng hạn, có thể đưa ra những đề bài gần giống với bài làm mẫu trong sách giáo khoa để học sinh bắt trước Bước tiếp theo giáo viên đưa ra những vấn đề gần gũi với cuộc sống và

Trang 3

tâm lí lứa tuổi của các em và hướng dẫn cụ thể để các em dựa vào đó triển khai thành đoạn văn Khi kĩ năng của các em đã dần thuần thục thì giáo viên sẽ đưa ra vấn đề để học sinh tự viết, tự bộc lộ quan điểm, tư tưởng, hoặc có thể để các em tự chọn vấn đề theo sự khoanh vùng của giáo viên

- Khi luyện tập viết đoạn văn giáo viên cần lưu ý hạn chế việc học sinh dùng tài liệu một cách thụ động, nếu ở những tiết đầu khi các em đang cần học theo mẫu thì nên yêu cầu các đọc tài liệu mẫu trong thời gian nhất định, sau đó gấp lại rồi mới viết, không nên để học sinh vừa nhìn tài liệu vừa viết Sở dĩ phải làm như vậy vì trên thực tế, có nhiều em khi không có tài liệu sẽ không có khả năng tự viết, thậm chí viết được nhưng diễn đạt rất lủng củng; bên cạch đó các em cũng sẽ không rèn luyện được khả năng học thuộc mà điều này thì lại rất cần trong học môn Ngữ văn

- Một điều nữa cần phải làm tốt khi luyện tập, đó là giáo viên phải quán xuyến được lớp cả khi làm bài, khi trình bày và khi nhận xét bài của bạn Bởi điều này sẽ giúp các em nắm chắc vấn đề một cách tự nhiên nhưng rất sâu sắc

PHẦN II: Các biện pháp thực hiện:

I- Củng cố những đơn vị kiến thức có liên quan

1/ Đoạn văn:

Đoạn văn là một đơn vị cấu thành văn bản Văn bản là một chỉnh thể thống nhất, thường bao gồm nhiều đoạn văn Các đoạn văn trong văn bản vừa cần được tách ra một cách rõ rệt, vừa cần có sự liên kết chặt chẽ với nhau Bên trong mỗi đoạn văn cũng cần có sự liên kết của các câu Hơn nữa, các câu trong đoạn văn cần có quan hệ với nhau, tạo nên những kiểu kết cấu của đoạn văn Mỗi đoạn văn thường có nhiều câu, diễn đạt một ý chọn vẹn Về hình thức, đoạn văn được mở đầu từ chỗ viết hoa lùi vào và hết đoạn là dấu hết câu và xuống dòng

Khi cung cấp lí thuyết về đoạn văn, giáo viên cần cho học sinh biết đây là đoạn văn thông thường mà các em cần đạt tới khi viết; còn trên thực tế, để thể hiện những ý đồ nghệ thuật thì có nhiều đoạn văn trong các tác phẩm văn học có cấu tạo hết sức đặc biệt

2/ Đoạn văn nghị luận:

Đoạn văn nghị luận cũng có những đặc điểm cơ bản của một đoạn văn Tuy nhiên, mỗi kiểu văn bản đều có những đặc điểm riêng của nó Trong mỗi văn bản nghị luận sẽ có một vấn đề được đem ra để bàn luận, để làm sáng tỏ được vấn đề đó thì người làm phải xác định được một hệ thống luận điểm Khi chúng ta dùng lí lẽ, dẫn chứng và lập luận một cách phù hợp để làm sáng tỏ một luận điểm thì đó được xem là một đoạn văn trong bài văn nghị luận

Có nhiều cách để làm sáng tỏ luận điểm, có nghĩa là có nhiều cách viết một đoạn văn nghị luận Tuy nhiên, với học sinh lớp 8 thì giáo viên nên hướng dẫn học sịnh viết đoạn

văn theo hai kiểu: diễn dịch và qui nạp:

- Đoạn văn diễn dịch: Câu chủ đề đứng ở đầu đoạn và là câu chứa đựng nội dung chính, khái quát, là hạt nhân ý nghĩa của cả đoạn Các câu còn lại được sắp xếp hợp lí và liên kết chặt chẽ nhằm làm nổi bật chủ đề đã nêu ra ở câu chủ đề

Ví dụ:

Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương: Ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi Đã đúng ngôi nam bắc đông tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa

Trang 4

núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi đây là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất

của đế vương muôn đời

(Lí Công Uẩn - "Chiếu dời đô")

- Đoạn văn qui nạp: Câu chủ đề đứng ở cuối đoạn Nghĩa là người viết phải trình bày nội dung đi từ các ý nhỏ đến ý lớn ( từ lí lẽ, dẫn chứng rồi đi đến kết luận)

Ví dụ: Trong mỗi gia đình, dù giàu sang hay nghèo khó đều có bàn thờ gia tiên Dẫu chỉ nén nhang, chén nước nhưng con cháu gửi gắm vào đó tấm lòng thành kính tưởng nhớ tới công đức tổ tiên, ông bà, cha mẹ Việc làm ấy chứng tỏ có mối quan hệ vô cùng khăng khít giữa các thế hệ với nhau Người đã khuất dường như luôn có mặt bên cạnh người đang sống, tiếp thêm sức mạnh cho họ trên bước đường mưu sinh vất vả Với việc làm này, lớp con cháu đã bày tỏ lòng biết ơn các bậc tiền nhân bằng cách giữ gìn, phát huy truyền thống

để làm vẻ vang gia đình, dòng họ

3- Đặc điểm của văn nghị luận:

a- Luận điểm:

- Luận điểm hiểu một cách đơn giản thì đó là ý kiến về một vấn đề nào đó Ý kiến ở đây được hiểu là cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá riêng, phương hướng hành động của mỗi người về sự vật, sự việc, về một vấn đề nào đó Tuy nhiên, nếu đưa ra ý kiến "Mùa hè

tớ rất thích ăn kem" thì đó chỉ là ý kiến chứ không phải là luận điểm Nhưng nếu nói "Mùa

hè, chúng ta cần phải ăn uống cho hợp vệ sinh" thì đó lại là một luận điểm Nghĩa là, luận điểm là ý kiến, nhưng phải là ý kiến thể hiện một tư tưởng, quan điểm nào đó về những vấn

đề mang tính khái quát cao, có ý nghĩa phổ biến đối với đời sống xã hội

- Luận điểm là linh hồn, tư tưởng, quan điểm của bài văn nghị luận Trong bài văn nghị luận có luận điểm lớn (tổng quát bao trùm toàn bài); có luận điểm phụ (nhỏ) là bộ phận của luận điểm chính Ví dụ: Nói "Hút thuốc lá rất có hại cho con người" - đó là luận điểm chính, tổng quát Từ luận điểm chính ấy có thể chia ra các luận điểm phụ như: "Hút thuốc

lá có hại cho sức khoẻ", "Hút thuốc gây thiệt hại về kinh tế", "Nghiện thuốc lá có thể dẫn tới các tệ nạn xã hội "…Tuy nhiên, cách phân chia như trên chỉ được sử dụng theo ý nghĩa tương đối

- Luận điểm có hình thức phán đoán: Đó là câu khẳng định tính chất, thuộc tích, như: + Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước

+ Cần tạo ra thói quen tốt trong đời sống xã hội

+ Sách là người bạn lớn của con người

+ Học cơ bản mới có thể trở thành tài

b- Luận cứ: là những lí lẽ, dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm Lí lẽ là những đạo lí, lẽ

phải đã được thừa nhận, nêu ra là được đồng tình Dẫn chứng là sự việc, số liệu, bằng chứng để xác nhận cho luận điểm Dẫn chứng phải xác thực, đáng tin cậy, không thể bác

bỏ Lí lẽ và dẫn chứng đáng tin cậy làm cho luận cứ được vững chắc

c- Lập luận: là cách nêu luận điểm và vận dụng lí lẽ, dẫn chứng sao cho luận điểm được

nổi bật và có sức thuyết phục Luận điểm được xem như là kết luận của lập luận Lập luận bao gồm các cách suy lí, quy nạp, diễn dịch, phân tích, so sánh, tổng hợp, sao cho luận điểm đưa ra là hợp lí, không thể bác bỏ Lập luận thể hiện trong cách viết đoạn văn và trong việc tổ chức bài văn Mở bài cũng có lập luận, Thân bài cũng có lập luận và Kết bài

Trang 5

cũng có lập luận Trong luận cứ cũng có lập luận Có thể nói lập luận có ở khắp trong bài văn nghị luận Có lập luận mới đưa ra được luận điểm như là kết luận của nó

II- Hướng dẫn học sinh luyện tập

1/ Hướng dẫn học sinh cách nêu luận điểm:

Để có thể nêu rõ luận điểm, người làm bài cần tập viết thật tốt câu chủ đề Chính vì

vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh viết câu chủ đề sao cho ngắn gọn, rõ ý Đặc biệt, cần lưu ý đến từ ngữ ở đầu câu sao cho có sự tiếp nối với luận điểm đứng trước và chuyển tiếp sang luận điểm sau

Ở phấn này, giáo viên đưa ra một đề bài cụ thể với một hệ thống luận điểm, sau đó cho học sinh chọn một luận điểm bất kì để viết thành một câu giới thiệu luận điểm

Ví dụ: Đề bài: Hiện nay, trong lớp có một số bạn còn ham chơi, chưa chăm chỉ học tập Em hãy viết một bài văn để khuyên các bạn ấy chăm chỉ học tập hơn.

Giáo viên có thể đưa ra hệ thống luận điểm sau:

a) Đất nước ta đang rất cần những người tài giỏi để đưa Tổ quốc tiến lên "đài vinh quang", sánh kịp với bè bạn năm châu

b) Quanh ta đang có nhiều tấm gương của các bạn học sinh phấn đấu học giỏi để đáp ứng được yêu cầu của đất nước

c) Muốn học giỏi, muốn thành tài thì trước hết phải chăm học

d) Một số bạn ở lớp ta còn ham chơi, chưa chăm học, làm cho thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh rất lo buồn

e) Bây giờ càng chơi bời, không chịu khó học tập thì sau này khó có thể có được thành công trong cuộc sống

g) Các bạn nên bớt vui chơi, chịu khó học hành chăm chỉ, để trở thành người có ích cho

xã hội và nhờ đó, tìm được niềm vui chân chính lâu bền

Sau khi đưa ra hệ thống luận điểm giáo viên yêu cầu học sinh: Trong các câu sau, có thể chọn những câu nào để giới thiệu luận điểm (d)? Vì sao?

(1) Do đó, một số bạn ở lớp ta còn ham chơi, chưa chăm học, làm cho thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh rất lo buồn

(2) Vậy nên, một số bạn ở lớp ta còn ham chơi, chưa chăm học, làm cho thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh rất lo buồn

(3) Vậy mà, một số bạn ở lớp ta còn ham chơi, chưa chăm học, làm cho thầy, cô giáo và các bậc phụ huynh rất lo buồn

Sau khi học sinh đã đưa ra cách lưa chọn, giáo viên đưa ra kết luận: Căn cứ vào luận điểm đứng trước thì luận điểm (d) có quan hệ tương phản nên ta thấy rằng chọn câu (3) để giới thiệu luận điểm (d) là hợp lí bởi có cụm từ nối "vậy mà" Còn trong câu (1) và (2) dùng các từ nối ("do đó", "vậy nên") thể hiện mối quan hệ nhân quả nên không phù hợp Sau khi cho học sinh lựa chọn cách viết câu giới thiệu luận điểm phù hợp, giáo viên yêu cầu học sinh viết câu giới thiệu luận điểm:

? Xác định mối quan hệ ý nghĩa giữa luận điểm (e) với luận điểm (d), giữa luận điểm (g) với luận điểm (e)?

? Viết câu giới thiệu luận điểm cho các luận điểm (e) và (g)?

Sau khi học sinh viết, giáo viên đưa ra nhận xét và có thể đưa ra một số câu giới thiệu luận điểm:

Trang 6

e) Nếu bây giờ các bạn càng chơi bời, không chịu khó học tập thì sau này khó có thể có được thành công trong cuộc sống

g) Vì vậy, ngay từ bây giờ, các bạn nên bớt vui chơi, chịu khó học hành chăm chỉ, để trở thành người có ích cho xã hội và nhờ đó, tìm được niềm vui chân chính lâu bền

2/ Hướng dẫn học sinh cách trình bày luận cứ để làm sáng tỏ luận điểm:

Trong bước này, giáo viên cần cho học sinh thấy rõ rằng:

- Một luận điểm chỉ thật sự sáng tỏ và trở nên đáng tin cậy khi nó được bảo đảm bằng những lí lẽ và chứng cứ xác thực mà ta vẫn gọi là luận cứ Trong một đoạn văn nghị luận, nếu luận điểm là hạt nhân thì luận cứ chính là khối chất nguyên sinh dùng để nuôi luận điểm Có nghĩa là, luận cứ không chỉ cần phù hợp với lẽ phải và sự thật mà còn phải phù hợp với luận điểm và đủ để làm cho luận điểm trở nên hoàn toàn sáng tỏ

- Khi triển khai luận điểm thành một đoạn văn rất cần có sự liên kết giữa luận điểm với luận cứ, lí lẽ trước dẫn đến lí lẽ sau, theo một trật tự chắc chắn, không thể nào bác bỏ

Để thực rèn luyện kỹ năng cho học sinh trong bước này, trước tiên giáo viên cần đưa ra một hệ thống luận cứ để học sinh lựa chọn và sắp xếp sao cho phù hợp để làm sáng tỏ luận điểm

Ví dụ: Cho hệ thống các luận cứ sau:

(1) Các vĩ nhân trên thế giới đều là những người luôn kiên trì và cố gắng học tập, chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua tấm gương ngời sáng mà cả thế giới đều phải kính phục đó chính là Bác Hồ - vị cha già kinh yêu của dân tộc Việt Nam.

(2) Trong thời đại ngày nay, có rất nhiều tấm gương vươn lên trong học tập để có được thành công và niềm vui trong cuộc sống, có thể kể đến những tâm gương như: Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu- ông là nhà khoa học trẻ nhất Việt Nam được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước Việt Nam phong học hàm giáo sư; cậu học sinh Lê Thái Hoang, học sinh lớp 12A, khối phổ thông chuyên Toán, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: năm

1998 đã đạt giải nhì kì thi Toán quốc gia và Huy chương Đồng trong kì thi Toán quốc tế lần thứ 39, năm 1999 đạt Huy chương Vàng tại cuộc thi "Ô-lim-píc Toán châu Á - Thái Bình Dương" lần thứ XI và Huy chương Vàng kì thi Toán quộc tế lần thứ 40.

(3) Có những người kém mắn trong cuộc sống, đó là những học sinh khuyết tật, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhưng họ vẫn cố gắng học tập để vươn lên trong cuộc sống, một tấm gương tiêu đó là thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, từ năm lên 4 tuổi đã bị bệnh

và bị bại liệt cả hai tay, nhưng thầy đã cố gắng vượt qua số phận của mình và trở thành nhà giáo ưu tú.

(4) Ngay từ bây giờ, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần phài cố gắng học thì mới có được những kiến thức cơ bản để làm nền tảng vững chắc tiến bước vào tương lai (5) Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, làm việc gì cũng cần có tri thức, mà muốn có tri thức thì phải chăm học.

(6) Là học sinh, chúng ta cần phải quan tâm và giúp đỡ mọi người để thực hiện đạo lí

"Thương người như thể thương thân" của dân tộc.

(7) Để cha mẹ vui lòng, các bạn phải biết giúp được cha mẹ làm những công việc phù hợp với lứa tuối.

Câu hỏi: ?Trong các luận cứ trên, những luận cứ nào có thể sử dụng để làm sáng tỏ luận

điểm: Vì vậy, ngay từ bây giờ, các bạn nên bớt vui chơi, chịu khó học hành chăm chỉ, để trở thành người có ích cho xã hội và nhờ đó, tìm được niềm vui chân chính lâu bền.

Trang 7

Học sinh đưa các ý kiến, giáo viên kết luận: có thể chọn các luận cứ: 1, 2, 3, 4, 5; các luận cứ 6, 7 không phù hợp vì không liên quan đến luận điểm

Sau khi hướng dẫn cho học sinh lựa chọn các luận cứ đã cho, giáo viên chia nhóm để học sinh tìm luận cứ cho các luận điểm còn lại trong hệ thống luận điểm đã nêu trên

3/ Hướng dẫn học sinh cách phối hợp giữa nêu luận điểm và trình bày luận cứ.

Trong thực tế có rất nhiều cách để phối hợp giữa nêu luận điểm và trình bày luận cứ Tuy nhiên, với đối tượng là học sinh lớp 8, tôi thấy rằng chỉ nên hưỡng dẫn cho học sinh hai

dạng đoạn văn nghị luận phổ biến và dễ làm đó là diễn dịch và qui nạp.

Ở thao tác này, giáo viên tiến hành lần lượt theo hai bước từ dễ đến khó

Trước hết, giáo viên đưa ra hệ thống luận cứ rồi yêu cầu học viết thành đoạn văn diễn dịch và qui nạp

Ví dụ: Từ hệ thống luận cứ sau, hãy triển khi thành đoạn văn diễn dịch hoặc qui nạp để

làm sáng tỏ luận điểm: Vì vậy, ngay từ bây giờ, các bạn nên bớt vui chơi, chịu khó học hành chăm chỉ, để trở thành người có ích cho xã hội và nhờ đó, tìm được niềm vui chân chính lâu bền.

(1) Các vĩ nhân trên thế giới đều là những người luôn kiên trì và cố gắng học tập, chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua tấm gương ngời sáng mà cả thế giới đều phải kính phục đó chính là Bác Hồ - vị cha già kinh yêu của dân tộc Việt Nam.

(2) Trong thời đại ngày nay, có rất nhiều tấm gương vươn lên trong học tập để có được thành công và niềm vui trong cuộc sống, có thể kể đến những tâm gương như: Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu- ông là nhà khoa học trẻ nhất Việt Nam được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước Việt Nam phong học hàm giáo sư; cậu học sinh Lê Thái Hoang, học sinh lớp 12A, khối phổ thông chuyên Toán, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: năm

1998 đã đạt giải nhì kì thi Toán quốc gia và Huy chương Đồng trong kì thi Toán quốc tế lần thứ 39, năm 1999 đạt Huy chương Vàng tại cuộc thi "Ô-lim-píc Toán châu Á - Thái Bình Dương" lần thứ XI và Huy chương Vàng kì thi Toán quộc tế lần thứ 40.

(3) Có những người kém mắn trong cuộc sống, đó là những học sinh khuyết tật, những học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhưng họ vẫn cố gắng học tập để vươn lên trong cuộc sống, một tấm gương tiêu đó là thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, từ năm lên 4 tuổi đã bị bệnh

và bị bại liệt cả hai tay, nhưng thầy đã cố gắng vượt qua số phận của mình và trở thành nhà giáo ưu tú.

(4) Ngay từ bây giờ, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần phài cố gắng học thì mới có được những kiến thức cơ bản để làm nền tảng vững chắc tiến bước vào tương lai (5) Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, làm việc gì cũng cần có tri thức, mà muốn có tri thức thì phải chăm học.

Trong phần này giáo viên cần lưu ý học sinh:

- Cần chú ý đến sự liên kết gữa luận điểm đang triển khai với luận điểm đứng trước và đứng sau nó

- Nếu viết đoạn văn diễn dịch thì cần lưu ý đến từ ngữ liên kết giữa câu chủ đề với câu đứng sau nó

- Nếu là đoạn văn qui nạp thì cần lưu ý đến từ ngữ ở đầu câu chủ đề, nên dùng các từ

ngữ mang ý nghĩa khái quát, tổng kết (vídụ: chính vì vậy, vậy, vì vậy, vậy nên,…)

Sau khi học sinh đã trình bày, giáo viên đưa ra nhận xét và dùng máy chiếu hoặc bảng phụ để đưa đoạn văn đã chuẩn bị để học sinh tham khảo

Trang 8

Đoạn văn diễn dịch:

Vì vậy, ngay từ bây giờ, các bạn nên bớt vui chơi, chịu khó học hành chăm chỉ, để trở thành người có ích cho xã hội và nhờ đó, tìm được niềm vui chân chính lâu bền Đúng vậy, cuộc sống đã cho ta thấy rằng các vĩ nhân trên thế giới đều là những người luôn kiên trì

và cố gắng học tập, chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua tấm gương ngời sáng mà cả thế giới đều phải kính phục đó chính là Bác Hồ - vị cha già kinh yêu của dân tộc Việt Nam Trong thời đại ngày nay, có rất nhiều tấm gương vươn lên trong học tập để có được thành công và niềm vui trong cuộc sống, có thể kể đến những tâm gương như: Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu- ông là nhà khoa học trẻ nhất Việt Nam được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước Việt Nam phong học hàm giáo sư; cậu học sinh Lê Thái Hoàng, học sinh lớp 12A, khối phổ thông chuyên Toán, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: năm 1998 đã đạt giải nhì kì thi Toán quốc gia và Huy chương Đồng trong kì thi Toán quốc tế lần thứ 39, năm

1999 đạt Huy chương Vàng tại cuộc thi "Ô-lim-píc Toán châu Á - Thái Bình Dương" lần thứ XI và Huy chương Vàng kì thi Toán quốc tế lần thứ 40 Và chúng ta càng nể phục hơn với những con người kém mắn trong cuộc sống nhưng họ vẫn cố gắng học tập để vươn lên trong cuộc sống, một tấm gương tiêu biểu đó là thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, từ năm lên 4 tuổi đã bị bệnh và bị bại liệt cả hai tay, nhưng thầy đã cố gắng vượt qua số phận của mình

và trở thành Nhà giáo ưu tú Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, làm việc gì cũng cần có tri thức, mà muốn có tri thức thì phải chăm học Các bạn ạ, ngay từ bây giờ, khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta cần phài cố gắng học thì mới có được những kiến thức cơ bản để làm nền tảng vững chắc tiến bước vào tương lai.

Đoạn văn qui nạp:

Cuộc sống đã cho ta thấy rằng các vĩ nhân trên thế giới đều là những người luôn kiên trì và cố gắng học tập, chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua tấm gương ngời sáng mà cả thế giới đều phải kính phục đó chính là Bác Hồ - vị cha già kinh yêu của dân tộc Việt Nam Trong thời đại ngày nay, có rất nhiều tấm gương vươn lên trong học tập để có được thành công và niềm vui trong cuộc sống, có thể kể đến những tâm gương như: Giáo sư Toán học Ngô Bảo Châu- ông là nhà khoa học trẻ nhất Việt Nam được Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước Việt Nam phong học hàm giáo sư; cậu học sinh Lê Thái Hoàng, học sinh lớp 12A, khối phổ thông chuyên Toán, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: năm 1998 đã đạt giải nhì kì thi Toán quốc gia và Huy chương Đồng trong kì thi Toán quốc tế lần thứ 39, năm

1999 đạt Huy chương Vàng tại cuộc thi "Ô-lim-píc Toán châu Á - Thái Bình Dương" lần thứ XI và Huy chương Vàng kì thi Toán quốc tế lần thứ 40 Và chúng ta càng nể phục hơn với những con người kém mắn trong cuộc sống nhưng họ vẫn cố gắng học tập để vươn lên trong cuộc sống, một tấm gương tiêu biểu đó là thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, từ năm lên 4 tuổi đã bị bệnh và bị bại liệt cả hai tay, nhưng thầy đã cố gắng vượt qua số phận của mình

và trở thành Nhà giáo ưu tú Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, làm việc gì cũng cần có tri thức, mà muốn có tri thức thì phải chăm học Có cố gắng học thì mới có được những kiến thức cơ bản để làm nền tảng vững chắc tiến bước vào tương lai Chính vì vậy, ngay

từ bây giờ, các bạn nên bớt vui chơi, chịu khó học hành chăm chỉ, để trở thành người có ích cho xã hội và nhờ đó, tìm được niềm vui chân chính lâu bền.

Trang 9

C/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ

1/ Kết luận:

Sau một thời gian tổ chức hướng dẫn học sinh rèn luyện kĩ năng triển khai luận điểm thành một đoạn văn nghị luận theo kiểu diễn dịch và qui nạp, tôi thấy rằng, bước đầu các

em đã biết cách triển khai các luận cứ và phối hợp giữa nêu luận điểm và trình bày luận cứ thành một đoạn văn Đặc biệt, các em đã biết liên kết giữa các luận điểm với nhau trong một bài văn Thực hiện tốt việc viết các đoạn văn sẽ là điều kiện tốt nhất để các em viết được một bài văn nghị luận

Ngoài việc rèn luyện kĩ năng viết, thì việc rèn luyện viết đoạn văn nghị luận cũng đã cải thiện rất tốt khả năng trình bày miệng của các em trong các tiết học cũng như trong giao tiếp hằng ngày

Kết quả khảo sát sau khi áp dụng các dạy mới ở lớp 8B, học kì II năm học 2014 -2015:

2/ Bài học kinh nghiệm:

Qua việc áp dụng những kinh nghiệm trong việc rèn luyện cho học sinh cách triển khai luận điểm thành một đoạn văn nghị luận theo kiểu diễn dịch và qui nạp, với kết quả đạt được như trên, tôi đã rút ra cho mình những bài học sau:

- Trước hết, giáo viên cần phải điều tra đối tượng để nắm được tình hình thực tế của học sinh, đặc biệt là tìm ra những lỗi mà các em thường mắc phải khi làm văn Từ đó, tìm ra nguyên nhân để có hướng khắc phục Qúa trình phát hiện lỗi, tìm ra nguyên nhân và sửa chữa cho học sinh cần có một qua trình lâu dài, tỉ mỉ

- Khi truyền thụ kiến thức, đặc biệt là những thuật ngữ trong văn nghị luận, như: luận đề, luận điểm, luận cứ…, giáo viên cần diễn đạt nó bằng những ngôn ngữ dễ hiểu nhất, không cần thiết phải dùng ngôn ngữ trong sách giáo khoa Và để học sinh dễ hiểu những khái niệm này, giáo viên cần có những dẫn chứng thật cụ thể, gần gũi với đời sống và phù hợp với tâm lí lứa tuổi của các em

- Trong qúa trình luyện tập phải thực hiện từng bước, bởi với đối tượng là học sinh lớp 8, nếu chúng ta nóng vội, nhồi nhét thì sẽ gây áp lực cho các em, dẫn đến việc các em sẽ không còn hứng thú mà trở nên chán nản

- Khi luyện tập cần phải chú ý đến tất cả các đối tượng học sinh, giáo viên cần có các dạng

đề theo các cấp độ khác nhau để vừa sức với từng đối tượng học sinh

Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi trong việc rèn luyện học sinh viết đoạn văn lập luận chứng minh, tôi hy vọng rằng nó sẽ góp một phần nhỏ trong việc rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận cho học sinh Để đề tài này được hoàn thiện hơn, tôi rất mong được

sự góp ý của các đồng nghiệp

Trang 10

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG

ĐƠN VỊ

, ngày 23 tháng 04 năm 2015

TÔI XIN CAM KẾT SKKN NÀY DO MÌNH TỰ LÀM, KHÔNG COPY CỦA

NGƯỜI KHÁC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1/ Làm văn- PGS, TS Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên)

2/ SGK và SGV Ngữ văn khối 8

Ngày đăng: 03/09/2018, 09:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w