Có thể hiểu: Giờ học Ngữ văn theo định hớng đổi mới phơng pháp dạy học không chỉ chú trọng đến hoạt động dạy của giáo viên mà còn chú trọng đến hoạt động học của học sinh, tạo điều kiện
Trang 11 Đặt vấn đề
Tri thức nhõn loại vụ cựng phong phỳ và khụng ngừng biến đổi theo thời
gian, nhất là trong thời đại ngày nay, thời đại của khoa học cụng nghệ thụng tin Khi khoa học đang cú những bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức cú vai trũ ngày càng nổi bật trong quỏ trỡnh phỏt triển lực lượng sản xuất Vỡ vậy khụng
cú con đường nào khỏc ngoài học tập Lờ - Nin từng núi: “Học, học nữa, học mói” học khụng chỉ trờn tài liệu mà phải cũn học ngay cả trong đời sống hàng ngày Trong bỏo cỏo của đại hụi Đảng lần thứ IX trong phần núi về giỏo dục đào tạo thỡ tầm quan trọng của việc học cũng được nờu lờn như sau: “Phỏt huy
tư duy khoa học sỏng tạo năng lực tự nghiờn cứu của học sinh, sinh viờn để nõng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn tay nghề…” đõy là một yờu cầu mà rất nhiều giỏo viờn cú tõm huyết luụn trăn trở và quan tõm
Năm học 2010 -2011 tiếp tục thực hiện chơng trình đổi mới phơng pháp dạy học, ngành giáo dục đã triển khai phong trào thi dua “Xây dựng trờng học thân thiện, học sinh tích cực” nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực l-ợng trong và ngoài nhà trờng để xây dựng môi trờng giáo dục an toàn, thân thiện và hiệu quả
Với đặc thù của môn văn, đối tợng là những tác phẩm văn học đợc chọn lọc từ trong kho tàng văn học của nhân loại và dân tộc Nghệ thuật ngôn từ là
đặc trng của tác phẩm văn học Dạy học văn là phải làm nổi bật đợc sự rung
động thẩm mĩ sâu sắc khiến học sinh say mê thích thú
Có thể hiểu: Giờ học Ngữ văn theo định hớng đổi mới phơng pháp dạy học không chỉ chú trọng đến hoạt động dạy của giáo viên mà còn chú trọng
đến hoạt động học của học sinh, tạo điều kiện cho tất cả các đối tợng học sinh
đều đợc suy nghĩ, tìm tòi, khám phá.để có thể hiểu, cảm, vận dụng tốt các kiến thức, kỹ năng văn học, ngôn ngữ họcdới sự tổ chức, hớng dẫn cảu giáo viên, nhằm đạt đợc những mục tiêu cụ thể của giờ học
Vậy là thế nào để học sinh cú ý thức học tập và học tốt mụn Ngữ văn và đặc biệt ở một số tiết Ngữ văn cú hiệu quả? Cú thể núi trong những năm gần đõy, đặc biệt là từ khi thay đổi chương trỡnh SGK lớp 6-7-8 và 9, bộ mụn Ngữ văn đó đổi mới nhiều trong cỏc khõu cơ bản của quỏ trỡnh dạy học Bộ mụn Ngữ văn, từ xưa đến nay đối với học sinh đõy là một mụn khú học và cú tầm quan trọng so với cỏc bộ mụn khỏc như: Toỏn, Lý, Hoỏ, Anh văn Vậy làm thế nào để học sinh hiểu, học mụn Ngữ Văn đạt kết quả tốt Và từ việc học tốt, cỏc em sẽ thớch và say mờ văn học nhiều hơn
Từ những suy nghĩ, băn khoăn trờn, tụi nghĩ làm thế nào để chọn cho mỡnh phương phỏp dạy thớch hợp nhằm giỳp học sinh tự chuẩn bị bài học thật tốt trước khi đến lớp và thực hành vào một tiết học vấn đề đầu tiờn là cỏc em phải biết tiếp cận tỏc phẩm qua khõu đọc- tỡm hiểu tỏc phẩm Đối tượng đề tài
mà tụi nghiờn cứu quan tõm và thấy phự hợp để giỳp học sinh trong việc học trong chương trỡnh Ngữ văn 9 đú là:
“ Rèn kĩ năng đọc sỏng tạo cho học sinh lớp 9” qua khõu đọc sỏng tạo sẽ gỳp cỏc em nắm bắt được nội dung tỏc phẩm một cỏch thuận lợi nhất
2 Giải quyết vấn đề
2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề
Trang 2Phải nói rằng, lứa tuổi học sinh THCS đặc điểm tâm sinh lý hết sức điển hình Đây là thời kỳ quá độ chuyển từ giai đoạn trẻ em sang ngời lớn Trong giai đoạn này hứng thú của các em đã phát triển ở mức độ cao, hứng thú về học tập đã phát triển và ngày càng đậm nét Đây là một đặc điểm hết sức thuận lợi đối với việc giảng dạy bộ môn Văn Việc tò mò thích thú môn văn không phải là khoảng cách xa đối với các em Bên cạnh đó ý thức t lập và khả năng
đào sâu khám phá những nét đẹp trong cuộc sống là một u điểm điển hình của học sinh bậc THCS Song song với những u điểm trên, một số em còn rụt rè e ngại, đôi lúc còn nản chí, nản lòng khi tiếp cận với một văn bản khó Vậy làm thế nào để khắc phục khó khăn đó? Làm thế nào để tiết dạy học môn Ngữ Văn thật sự có hiệu quả để thu hút học sinh say mê học tập? Đây là vấn đề khiến nghành giáo dục đào tạo nói chung và giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn còn nhiều suy nghĩ vằ trăn trở
Văn học xuất phát từ đời sống, chính vì thế văn học rất gần gũi với con ngời Những bài thơ hay, những văn bản hấp dẫn đã giúp cho giờ văn không chỉ là giờ học mà còn là những giờ giải trí, khám phá biết bao điều kỳ diệu của cuộc sống con ngời Để có giờ văn nh thế thì khâu “đọc sáng tạo” là rất quan trọng đòi hỏi ngời thầy chủ động, sáng tạo và linh hoạt khi thiết kế bài giảng
2.2 Thực trạng vấn đề
Trong thực tế sự hiểu biết và vận dụng những định hớng đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng tích cực hóa hoạt động dạy học của ngời học vào quá trình dạy học của giáo viên cha đợc thờng xuyên, còn máy móc, thiếu linh hoạt đã khiến cho giờ học Ngữ văn trở nên khô khan, trở lại với thói quen dạy học theo kiểu thầy nói trò nghe ghi, tái hiện.Điều đó đã gây nên cảm giác
“buồn ngủ” trong giờ học văn
Để tạo hứng thú và cảm hứng cho học sinh trong giờ học văn học ở nhà trờng luôn là vấn đề trăn trở của mỗi giáo viên có tâm huyết.Làm thế nào để thoát khỏi sự đơn điệu, nhàm chán, để mỗi giờ học văn trở thành một niềm vui, thực sự hấp dẫn, kích thích sự sáng tạo của học sinh
Hiện nay chúng ta đang thực hiện chơng trình đổi mới THCS cả nội dung chơng trình và phơng pháp giảng dạy Đối với giáo viên ngữ văn chúng tôi -những ngời trực tiếp giảng dạy ngữ văn lớp 9, thì việc cải tiến một vài khâu trong trình tự dạy một bài văn học là những điều luôn trăn trở và suy nghĩ Hiện nay trong giáo viên dạy ngữ văn nói chung chúng ta đã có rất nhiều sách tham khảo nhng trong thực tế quá trình dạy chúng tôi thấy không thể thực hiện một cách máy móc theo sách hớng dẫn và tuỳ theo nội dung từng bài chúng tôi thấy có những điều không sáng tạo, không phát huy đợc trí thông minh của học sinh
Cụ thể :
- Kiến thức nhiều khi bị dàn đều trong từng phần, không rõ, xoáy và lớt
- Hệ thống kiến thức bị chặt ra làm nhiều đoạn
Khi giảng và học các mục tổng quát thờng ít hứng thú, công việc xem ra
đơn giản, ít phải gia công sáng tạo Thầy hỏi trò nói, thầy sửa trò ghi một cách quá tẻ nhạt Nhiều giáo viên giảng phần này có tính chất chiếu lệ, khi kiểm tra
ít đồng chí đề cập đến Thế là dù muốn hay không, những kiến thức khái quát nhng cũng rất cơ bản ấy lại bị bỏ rơi, bị lãng quên Xét cho cùng dạy văn học chính là phân tích tác phẩm ở một dạng đặc biệt
Tôi hiểu nó đặc biệt ở chỗ, nó đòi hỏi sự tham gia của hai đối tợng Ngời giảng dạy ( thầy) phải rất chủ đạo, ngời nghe (trò) cũng rất chủ động chứ không thụ động nh một thính giả, độc giả
Xuất phát từ thực trạng trên, tôi mạnh dạn đa ra sáng kiến “ Rèn kĩ năng đọc sỏng tạo cho học sinh lớp 9” là khâu theo tôi đặc biệt quan trọng nhằm giúp các em học sinh lớp 9 tiếp cận với văn bản một cách thuận lợi khi nắm
Trang 3bắt nội dung tác phẩm nhằm khơi gợi hứng thú tìm tòi khám phá của các em trong học tập
Nh chúng ta đã biết “văn học là nhân học”, “văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Chính vì vậy việc học văn không phải là đơn giản, hơn nữa trong thời đại hiện nay, môn ngữ văn không còn là “điểm đến” hấp dẫn với các em học sinh nh các môn Toán, Lý, Hoá, Anh mặc dù đó là một trong 2 môn chính chiếm số lợng tiết không nhỏ Có nhiều học sinh rất ngại học môn Văn bởi lý do là Văn viết dài, khó học, khó thuộc Có những tác phẩm tự sự dài học sinh lời không đọc hết dẫn tới tình trạng mơ màng về nội dung, cốt truyện, nhân vật Có những bài thơ khi học xong học sinh không nắm đợc những nghệ thuật tiêu biểu, nội dung của bài thơ Những lý do trên khiến tâm lý học sinh ngại và chán học môn Văn Vậy làm thế nào để khắc phục khó khăn đó? Làm thế nào để tiết dạy học môn Ngữ Văn thật sự có hiệu quả để thu hút học sinh say mê học tập?
Theo kinh nghiệm giảng dạy của tôi trong 7 năm gần đây nhất, đối với các tiết dạy văn bản tôi cảm nhận đợc rằng tâm lý học sinh rất ngại học do không nắm bắt đợc nội dung tác phẩm, rất ít học sinh tóm tắt đợc tác phẩm và cảm nhận tác phẩm văn chơng rất hời hợt, qua quýt Nguyên nhân chính cũng
là do đa số em lời đọc tác phẩm trớc ở nhà, khi đọc tác phẩm các em không chú tâm vào tình huống, nhân vật chính, nhân vật trung tâm và các nhân vật phụ (đối với các tác phẩm văn xuôi), các em khó cảm thụ và hiểu nội dung ý nghĩa (đối với các tác phẩm thơ) Do vậy khâu đầu tiên và có tầm quan trọng bậc nhất theo tôi là các em phải đọc và cảm nhận tác phẩm, có nh vậy thì các
em mới có thể chú tâm và hiểu đợc nội dung ý nghĩa của tác phẩm khi phân tích, và “đọc sáng tạo” là một trong những khâu không thể thiếu khi tiếp cận tác phẩm văn chơng Vậy “đọc sáng tạo cần hiểu nh thế nào?
Theo PGS TS Nguyễn Viết Chữ (Giảng viên khoa ngữ văn trờng ĐHSP Hà Nội) trong cuốn “Phơng pháp dạy học tác phẩm văn chơng theo loại thể” NXB
Đại học s phạm - trang 24 thì “đọc sáng tạo là phơng pháp đặc biệt đợc sinh ra bởi chính đặc trng bộ môn Nó là hệ thống của những biện pháp khác nhau hỗ trợ, nhng trung tâm vẫn là đọc Nó không chỉ quy về việc “tập đọc” hiểu theo nghĩa đơn giản, mà nó thể hiện ở nhiều biện pháp khác nhau của tác giả và hoạt động khác nhau của học sinh Mục đích của phơng pháp này là phát triển
đợc sự cảm thụ sâu sắc và thêm đợc sự cảm thụ trực tiếp của trò với tác phẩm văn học nghệ thuật.”
Nh vậy “đọc sáng tạo” ở đây không chỉ với mục đích là “tập đọc” mà chúng ta cần phải nhìn nhận theo chiều sâu khoa học có nghĩa là “đọc sáng tạo” đợc kết hợp xuyên suốt trong quá trình dạy học một tác phẩm văn chơng
mà đặc trng của nó là đọc để hiểu nội dung tác phẩm (đọc kết hợp với bình giảng, phân tích, tìm hiểu chi tiết nội dung và tổng kết văn bản…) và nó gắn kết chặt chẽ không tách rời với phần đọc - hiểu văn bản
Qua thực tế giảng dạy môn Ngữ Văn hai lớp 9A,B tại trờng THCS Hồ Sơn
cụ thể là qua các tiết dạy văn bản tôi nhận thấy rằng kĩ năng đọc văn bản của các em còn yếu trong lớp chỉ có một số em học sinh khá, giỏi có kĩ năng đọc
t-ơng đối tốt, đọc lu loát và diễn cảm các tác phẩm văn cht-ơng, nhìn chung các
em đã đọc thể hiện đợc lời nói của nhân vật (Ví dụ khi đọc văn bản “Chiếc lợc ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng các em đã thể hiện đợc lời của nhân vật thể hiện đợc lời của nhân vật bé Thu trong các lợt lời xng hô với ông Sáu từ chỗ nói chống không cho đến lúc câu chuyện đợc đẩy tới mức cao trào đó là lúc bé Thu nhận ba… qua đó có thể thấy đợc vai trò của đọc diễn cảm là một khâu quan trọng trong đọc sáng tạo có tác động mạnh mẽ tới tâm hồn cảm xúc của ngời nghe thể hiện khái quát đợc nội dung t tởng của tác giả ở đoạn trích này đó là tình cha con sâu sắc của hai cha con ông Sáu sau tám năm xa cách…) các em biết cách tóm tắt đợc nội dung tác phẩm văn chơng một cách
Trang 4ngắn gọn, xúc tích dới sự hớng dẫn của giáo viên, hớng dẫn các em chuẩn bị bài trớc ở nhà Để thực hiện đợc việc này tôi thờng đọc và tham khảo ở một số cuốn sách sẵn có trong nhà trờng (Ví dụ khi tóm tắt đoạn trích “Chiếc lợc ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng tôi có thể tham khảo trong cuốn sách giáo viên ngữ văn 9 tập 1 - NXB giáo dục- trang 215.216).Và các em đọc khá hay
và lu loát các tác phẩm thơ trữ tình phần nào thể hiện đợc t tởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm Tuy nhiên đó chỉ là một số ít học sinh thể hiện đợc qua phần đọc, cảm nhận tác phẩm Còn đối với đa phần những học sinh học lực trung bình, yếu thì các em hoàn toàn mang tính chất thụ động khi tiếp cận tác phẩm qua phần đọc Đây là vấn đề mà tôi trăn trở suy nghĩ làm sao tìm đợc ra phơng pháp dạy học tốt nhất mang lại hiệu quả trong học tập cho các em Trên cơ sở đó theo tôi việc dạy học các tác phẩm văn chơng trong chơng trình Ngữ Văn THCS nhất thiết khâu đọc tiếp cận và phân tích văn bản nằm trong phơng pháp đọc sáng tạo là thiết thực và quan trọng bậc nhất không thể dạy học một cách qua loa, hời hợt ở phần này
Để thực hiện ý tởng sáng kiến của mình, đầu năm học 2010 - 2011 tôi đã tiến hành khảo sát kĩ năng đọc diễn cảm (một bộ phận quan trọng trong khâu
đọc sáng tạo) của các em Tôi đã thực hiện ở hai lớp đang trực tiếp giảng dạy
là lớp 9A,B trờng THCS Hồ Sơn Tôi chia ra các mức độ khi tiến hành khảo sát ( Tốt, khá TB, Yếu) kết quả đạt đợc nh sau
Kết quả khảo sát kĩ năng đọc sáng tạo của học sinh lớp 9
Từ kết quả khảo sát trên có thể thấy đợc thực trạng vấn đề đặt ra nếu so sánh các con số giứa tỷ lệ tốt và tỉ lệ yếu khá chênh lệch, thực trạng đó cho thấy ngoài những em có khả năng đọc và cảm thụ tác phẩm văn học tơng đối tốt bên cạnh đó còn có đa phần học sinh rất yếu ở khâu này, cụ thể nh đã nêu ở trên và qua kết quả khảo sát có thể nhận thấy rõ điều này Có nhiều vấn đề đặt
ra ở đây cần đợc giải quyết để cải thiện kết quả học tập của các em
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
Trong một giờ dạy tác phẩm thơ hoặc đoạn thơ, tác phẩm truyện hoặc đoạn trích ngoài phần cho học sinh đọc và giảng về tác giả, tác phẩm, nội dung và
bố cục, cần giải quyết tốt những khâu : Giới thiệu bài và tập đọc Về mặt này tôi mạnh dạn kết hợp thực hiện các khâu của phơng pháp đọc sáng tạo vào bài giảng
Phơng pháp này thông qua “việc đọc” hoặc “các hoạt động hỗ trợ cho đọc” hình thành ở các em những sự thể nghiệm nghệ thuật, khuynh hớng và năng khiếu nghệ thuật “Cảm thụ nghệ thuật và những thể nghiệm thẩm mĩ thì lại có cấp độ đầu tiên và không thể thiếu đợc trong việc nhận thức văn học một cách khoa học” (Kuđriasép) Điều rất rễ thấy là một tác phẩm văn học khác về chất
so với việc đọc một văn bản khoa học, văn bản chính luận Nó đặc biệt đòi hỏi ngời đọc, ngời nghe đều phải chú ý đến từ, câu, nhịp điệu…gây cảm xúc và kích thích hoạt động hình dung tởng tợng, biết phân tích, đánh giá, thởng thức tác phẩm Ngời đọc, ngời nghe, bên cạnh những rung động sâu sắc trong tâm hồn còn biết chịu ảnh hởng cách nói, cách viết gợi cảm
Ngữ văn
Trang 5Nh vậy nếu giáo viên áp dụng một cách khoa học của các khâu của đọc sáng tạo vào thực hiện tiến trình của bài giảng thì tôi nghĩ rằng sẽ đem đợc nhiều hiệu quả sáng tạo và mới mẻ đối với học sinh Tất nhiên là vẫn trên cơ
sở kế thừa và phát huy những phơng pháp cũ nhng có sáng tạo hơn, khoa học hơn Trên cơ sở đó tôi tiến hành áp dụng phơng pháp đọc sáng tạo ở các tiết dạy văn bản trong chơng trình Ngữ văn lớp 9 thành các bớc sau:
* Các khâu thực hiện đọc sáng tạo:
Để một giờ dạy văn đạt hiệu quả giáo viên có thể kết hợp rất nhiều ph
-ơng pháp nh: ph-ơng pháp dạy học nêu vấn đề, ph-ơng pháp tái hiện, ph-ơng pháp bình giảng Điều đó còn tùy thuộc giờ dạy đó thuộc phân môn gì để vận dụng một cách linh hoạt nhất các phơng pháp dạy học Với giờ học tiếng ngời
ta thờng thiên về phát triển các kĩ năng thực hành vận dụng, kĩ năng viết và tạo lập văn bản Với giờ văn(phân tích tác phẩm văn học) đã có chất văn, kĩ năng
đọc (đặc biệt là đọc diễn cảm) đợc chú trọng Một trong những phơng pháp
đem lại thành công cho giờ học chính là phơng pháp đọc sáng tạo
Phơng pháp đọc sáng tạo có nhiều biện pháp và hình thức: Đọc diễn cảm,
đọc phân vai, đọc thuộc lòng, ngâm thơ, nghe nghệ sĩ đọc
Việc dạy đọc diễn cảm cho học sinh trong các giờ dạy văn học là phát triển ở học sinh khả năng thể hiện tác phẩm văn học trong việc đọc phù hợp với hiểu biết của mình.Một giờ học ngữ văn mà giáo viên đọc tốt, học sinh đọc tốt góp phần làm cho giờ dạy hứng thú Để đợc nh thế giáo viên cần hớng dẫn cho học sinh cách đọc diễn cảm (đọc tự nhiên, đúng giọng mình, có cảm xúc, thái độ yêu cầu) dới nhiều hình thức: Đọc ở nhà, đọc một mình, đọc trớc tập thể: Đọc trên lớp trớc khi tìm hiểu tác phẩm, sau khi đã cảm thụ tác phẩm
Trong tiến trình của bài dạy phơng pháp đọc sáng tạo đợc thể nghiệm ở
các khâu:
- Khâu giới thiệu bài: Văn học khác với các môn học khác ở chỗ học sinh không những biết trớc bài sắp học mà còn thâm nhập khá sâu vào hài học qua việc chuẩn bị trớc bài ở nhà Cho nên mọi cách giới thiệu bài mang nội dung gợi ra cái tên bài học đều có vẻ gợng gạo, công thức
Tôi tán thành cách giới thiệu bài bằng cách “ nêu tình huống có vấn đề” hoặc chuyển từ bài cũ đến bài mới một cách khéo léo tự nhiên mà sâu sắc tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo và vận dụng phơng pháp của giáo viên ơ đây giáo viên có thể linh động vận dụng phơng pháp đọc sáng tạo trong khi giới thiệu bài, khi sử dụng phơng pháp này sẽ tác động đến các em cả âm thanh và
t tởng cùng một lúc
Ví dụ: Truyện Kiều - Nguyễn Du.
Giáo viên có thể gợi mở từ hình ảnh ngời phụ nữ ngày nay có cuộc sống bình đẳng, tự do, đợc xã hội, gia đình trân trọng Vậy ngời phụ nữ xa họ có cuộc sống nh thế nào? Đọc truyện Kiều ta sẽ thấy
Mục đích của việc giới thiệu bài là làm cho học sinh nhập bài một cách tự nhiên mà hứng thú
Thông thờng trớc đây sau khi kiểm tra bài cũ, chúng ta giới thiệu bài, sau
đó học sinh mở sách vở học tập
Cách làm này có nhợc điểm là khá nhiều học sinh thờng tranh thủ mở sách vở khi thầy giới thiệu, có lẽ vì thế mà mặc dù mỗi tiết học thuộc bất cứ môn gì thầy đều giới thiệu mà các em thấy vẫn khó tìm ý dẫn dắt khi làm bài văn nói trớc lớp
Bây giờ tôi đổi lại, sau khi kiểm tra, đánh giá kết quả chung, tôi yêu cầu học sinh mở sách vở song rồi mới bắt đầu giới thiệu Làm nh vậy bài học đợc tiến hành nghiêm túc hơn, lời nói của thầy đáp ứng sự chờ đợi của học sinh,
nh thế sẽ kết quả hơn Nhng làm nh vậy có mất hứng thú không? Thực tế thì không mà ngợc lại Vấn đề là ở thái độ nghiêm túc và nội dung giới thiệu bài của thầy là quyết định
Trang 6Đảm nhiệm công việc này cũng thật là khó, nhng cũng thật hẫp dẫn, nhất
là các em yêu văn và học khá Thực tế không những các em làm đợc mà còn làm khá tốt
Để học sinh chuẩn bị bài trớc (kể cả phần giới thiệu bài) chính là tạo thêm điều kiện cho các em tự tìm hiểu sâu bài văn hơn, buộc các em bỏ nhiều công phu khi soạn bài Tất nhiên nh vậy không phải thầy sẽ nhàn hơn mà ngợc lại phải dự kiến trớc lời giới thiệu phải lắng nghe, sửa chữa, tận dụng công phu sáng tạo của học trò đóng góp vào bài học, nhất là các em có ý tốt mà diễn đạt cha thành
- Khâu đọc: Đọc trên lớp có giá trị rất lớn, nó giúp cho công việc truyền
đạt một phần nghệ thuật và nội dung bài văn, nhất là khi gặp những từ ngữ đắt, những câu văn hay, những đoạn văn giàu nhạc điệu, những hình ảnh sâu sắc
Đồng thời nó tạo điều kiện cho việc rèn đọc mà hiện nay học sinh chúng ta còn kém
Lâu nay ở lớp 9 chúng ta coi nhẹ việc này việc đọc bài văn thờng đợc đọc trớc khi phân tích thầy đọc mẫu, trò đọc sau
Tôi không phản đối trình tự đó, tôi cũng thờng làm nh thế, nhng không nhất thiết bài văn nào cũng làm thế
Thầy đọc trớc có tác dụng mẫu mực cho học sinh noi theo nhng lại có
nh-ợc điểm là không phát hiện đúng kỹ năng đọc của học sinh Vả lại khi bắt đầu giảng, cách đọc của học sinh không có tác dụng truyền cảm vì hiện nay phần
lớn các em đọc “ phá hoại” bài văn rất nhiều.
Căn cứ vào mục đích đề ra, đối với những bài có nhiều từ khó, chúng tôi thờng yêu cầu học sinh đọc trớc, vừa học, vừa giải thích những từ khó trong bài, sau đó thầy đọc vào giảng Làm nh vậy giá trị truyền cảm một phần nghệ thuật và nội dung bài văn hơn hẳn Đồng thời làm cho học sinh thấy rõ tác dụng của đọc đoạn văn mà phấn đấu đọc tốt hơn
Đối với một số bài hay, từ hay, câu hay, khi cần sửa cho học sinh, tôi có thể xen vào những câu bình khi cần thiết
Ví dụ: :Khi đọc những câu có dấu chấm hỏi trong 8 câu cuối đoạn trích
“Kiều ở lầu Ngng Bích không đúng ngữ điệu tôi uốn nắn, đọc mẫu, bình một
vài câu Lời bình khi đọc này, hoàn toàn có thể thay thế cho lời giảng khi phân tích chi tiết Nó vừa giúp cho học sinh hứng thú hơn có ý thức hơn khi
đọc, vừa giúp cho giáo viên đỡ lan man khi giảng xoáy vào một hình tợng nào
đó
Khi đọc sáng tạo nên kết hợp với chặt chẽ với việc phát triển kỹ năng nghe Có thể giáo viên đọc mẫu hoặc cho học sinh nghe một kiểu ngâm bài thơ
đó, giới thiệu hay mô phỏng cách hát những bài ca dao theo những làn điệu dân ca, hoặc đọc phân vai đối với những tác phẩm kịch, truyện ngắn.Thí dụ khi tìm hiểu về văn bản “Con cò” của Chế Lan Viên (SGK Ngữ văn 9 tập II) giáo viên có thể cho học sinh nghe một làn điệu dân ca, hay có thể cho học sinh nghe mẫu đoạn băng trong vở “ Bắc Sơn” khi đọc văn bản
Vì thời gian có hạn nên trong quá trình phân tích học sinh có thể đọc lần một, lần hai trong từng đoạn văn một và lần thứ 3 chỉ đọc những đoạn văn hay Nói tóm lại chúng tôi không quan niệm phần đọc nào riêng rẽ, không chỉ nhằm rèn kỹ năng mà còn là một biện pháp giúp cho việc phân tích mà giáo viên cần tận dụng
Trung tâm của phơng pháp đọc sáng tạo là đọc diễn cảm cả thầy và trò cùng tham gia đọc diễn cảm, có diễn ra sự phân tích bằng diễn xuất khi đọc Thông qua việc đọc còn biết đợc trình đọ của học sinh Việc đọc cần phải tuân thủ 8 yêu cầu sau:
Giản dị và tự nhiên
Thâm nhập vào nội dung t tởng của tác phẩm ở mức độ dễ hiểu đối với học sinh ở các lứa tuổi
Truyền đạt rõ ràng t tởng của tác giả
Trang 7Thể hiện trình độ của mình với tác phẩm đợc đọc.
Thái độ tiếp xúc nhiệt tình với ngời nghe
Phát âm rõ ràng, chính xác
Truyền đạt đợc đặc điểm loại thể và phong cách tác phẩm
Kĩ năng sử dụng đúng giọng của mình
Thực chất đọc sáng tạo là phơng pháp huy động tổng lực các biện pháp, các nghành nghệ thuật, hỗ trợ cho hoạt động trung tâm là “đọc” một hoạt động
đặc trng của công việc dạy học văn
Cho nên, khi cần thiết, tôi có thể tổ chức đọc lần thứ nhất trong khi khái quát tác phẩm đó là những trờng hợp cần cho lời giới thiệu liên mạch với hoàn cảnh ra đời, nghệ thuật, nội dung nổi bật
Để có thể đạt hiệu quả cao trong vận dụng phơng pháp đọc sáng tạo trong giờ học ngữ văn giáo viên phải rèn luyện cách đọc cho học sinh.Ngời giáo viên cần phải:
Chú ý các vấn đề giúp học sinh thể hiện tác phẩm qua cách đọc nh: Cách ngắt nhịp, cách nhấn giọng trong đọc
Cần phải làm sao cho khi đọc bài văn, học sinh phải truyền đạt đợc nội dung tác phẩm đã đợc tiếp thu một cách cụ thể (nh t tởng, hình ảnh, sự đánh giá, ý định của tác giả) làm cho ngời nghe hiểu đợc những điều đã nói trong
đoạn văn bằng hình ảnh cụ thể Có nghĩa là làm cho ngời đọc giao tiếp với
ng-ời nghe một cách chân thực và có mục đích rõ ràng.Bởi chúng ta biết đặc điểm của ngôn ngữ câm (không phải là ngôn ngữ nói to)là sự cấu âm ẩn kín Y nghĩa đợc diễn tả đôi khi bằng một từ hay cụm từ Một từ hoặc một cụm từ có thể thay thế và làm tín hiệu cho một loạt lời nói
Đặc biệt khi đọc cần chú ý đến ngữ điệu trong câu Ngữ điệu bao gồm tất cả các dấu hiệu âm thanh phức tạp: Sự thay đổi của giọng nói cơ bản, độ vang
to, âm sắc, độ dài, chổ nghĩ hơi (những chổ ngắt câu) Đó chính là cơ sở của việc đọc diễn cảm.Nhiệm vụ của việc đọc diễn cảm là tái hiện lại hình tợng nghệ thuật, hiểu đợc giá trị nội dung nghệ thuật và chủ đề tác phẩm một cách chân thực.Qua đọc có thể giúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng tổng hợp, phê phán vận dụng những kĩ năng đã học để cảm nhận những giá trị thẩm mĩ của văn bản Ngay từ lần tiếp xúc đầu tiên đã quyết định vấn đề học sinh có yêu thích tác phẩm hay không Những ấn tợng ban đầu là những ấn tợng mới mẻ,
là “nền móng” cho sự sáng tạo trong quá trình phân tích văn bản
Kỹ năng đọc diễn cảm của học sinh sẽ đợc hình thành trong quá trình phân tích logich ngữ điệucác tác phẩm văn học và trong quá trình biểu diễn những tác phẩm đó Có nghĩa là việc rèn luyện đọc diễn cảm sẽ có tác dụng góp phần làm hoàn thiện ngôn ngữ
Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ, một nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng
đầu ở cấp THCS, bao gồm việc đọc sáng tạo Đó là một trong những hình thức phát triển ngôn ngữ nói của học sinh.Nghệ thuật đọc diễn cảm là quá trình rèn luyện lâu dài, không ngừng tích lũy kiến thức và rèn luyện kĩ năng dần dần từng bớc
* Đọc - tìm hiểu chi tiết
Trong bất kì trờng hợp nào không thể tách rời hoạt động đọc với tìm hiểu văn bản.Giáo viên có thể hổ trợ học sinh bằng những câu hỏi hay những gợi ý trong giờ học Ví dụ giáo viên có thể hớng dẫn học sinh bằng nhiều cách đọc khác nhau vừa tìm những từ ngữ khó hiểu và giải nghĩa,phát hiện các biện pháp nghệ thuật và các chi tiết quan trọng của văn bản để tái hiện, đồng cảm với những gì tác giả nói đến trong văn bản
Trong phần này tôi không có một thay đổi đặc biệt nào cả, tôi chỉ tiếp thu vận dụng vào từng bài cụ thể những kinh nghiệm đợc đúc kết trong các chuyên
đề
Giảng dạy văn học tinh và chắc
Giảng dạy văn học gắn với đời sống
Trang 8Giảng dạy văn học phát huy trí thông minh của học sinh.
Giảng dạy văn học theo loại thể
.Tận dụng sách giáo khoa trong giảng dạy văn học
ở phần này, khi chuẩn bị bài tôi thờng phải tìm hiểu xem học sinh hiểu những gì, những gì còn sai lầm trong nhận thức của các em
Khi giảng tôi thờng kết hợp chặt chẽ giữa hỏi, diễn giảng, lắng nghe,
động viên, hớng dẫn học sinh, phân tích xoáy vào một điểm nào đó cho nổi rõ vấn đề, kích thích mạnh mẽ cảm xúc của học sinh, để các em rung động trớc những điều mới mẻ, đầy hứng thú mà trớc đây các em cha nhìn thấy Từ đó, các em lĩnh hội đợc toàn bài, dần dần có khả năng tự lực, nghiên cứu những bài sau
Đây không phải là điều gì mới mẻ về mặt lý luận cho nên tôi chỉ xin trình
bày một ví dụ rất nhỏ giảng bài: Nói với con của Y Phơng của Sách giáo khoa
Ngữ văn 9 kỳ II, ý thứ nhất của bài
Theo sách hớng dẫn yêu cầu phân tích con lớn lên trong tình yêu thơng của cha mẹ, sự đùm bọc của quê hơng
Qua thăm dò tìm hiểu, tôi đợc biết các em thiên nghĩ về những tác phẩm
văn học nói về tình mẹ nh bài Con cò của Chế Lan Viên, Khúc hát ru những
em bé lớn trên lng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm, còn những tác phẩm mà trong
đó chủ đề lại mới đó là lời ngời cha nói với con thì ít
Cho nên điều cần giúp học sinh suy nghĩ đó là sự tởng tợng khi đọc khổ 1 bài thơ Tôi đã suy nghĩ cụ thể:
Em hãy hình dung khi còn bé mình đã sống ra sao? để giúp các em tởng tợng tốt, tôi đã gọi học sinh đọc diễn cảm 4 câu thơ đầu
Chân phải bớc tới cha
Chân trái bớc tới mẹ
Một bớc chạm tiếng nói
Hai bớc chạm tiếng cời.
Nh thế học sinh dễ dàng nhận ra bên cạnh mẹ là cha, là hai ngời luôn yêu thơng con nhất và em bé lớn lên trong một gia đình hạnh phúc, giáo viên có thể liên hệ với truyện ngắn “Chiếc lợc ngà” của Nguyễn Quang Sáng để thấy
đợc sự thiêng liêng cao cả của tình cha con trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều rất cảm động
Phần này có thể đọc - bình: Tại sao trong tình cảm gia đình thì tình cảm cha mẹ với con là sâu nặng và thiêng liêng nhất? Từ đó ta có thể tích hợp với phần tập làm văn nghị luận với đề tài: Suy nghĩ của em về ca dao:
Công cha nh núi Thái Sơn Nghĩa mẹ nh nớc trong nguồn chảy ra.
Nhờ cách giảng xoáy, tích hợp nên học sinh đều hiểu nhanh, có kiến thức
để làm bài Tôi cho rằng nội dung mình giảng đã có kết quả và tôi chuyển
đoạn khác
Giảng xoáy theo cách này và vận dụng phơng pháp đọc sáng tạo sẽ có những u điểm sau:
.Học sinh dễ nhớ, nhớ sâu, có cảm xúc mạnh, đó cũng là cơ sở để học sinh tự lực sáng tạo khi không có thầy hớng dẫn
.Tận dụng đợc sách giáo khoa, các em không những phải sử dụng các phần trích học mà còn cả những phần tham khảo nữa
.Tập trung đợc sự chú ý của học sinh
.Rút bớt thời gian
Nh chúng ta đã biết, trong ba phân môn của ngữ văn thì tác phẩm văn học chiếm vị trí quan trọng Trong sách giáo khoa phần Văn học đợc biểu hiện bằng các văn bản Khi học tập học sinh phải “đọc sáng tạo văn bản” Vậy “đọc sáng tạo” là gì? Khái niệm “đọc sáng tạo” không diến tả hành động tách rời
đọc và hiểu “Đọc - hiểu văn bản” là hoạt động đọc văn một cách nghiêm túc
có nghiền ngẫm, cảm xúc, tởng tởng và liên tởng Bản chất đọc - hiểu là tìm
Trang 9hiểu phân tích để chiếm lĩnh văn bản bằng nhiều phơng pháp và hình thức dạy học văn, trong đó phơng pháp dạy học văn bằng hệ thống câu hỏi cảm thụ văn bản đợc thực hiện dới hình thức đối thoại sẽ là hình thức và phơng pháp chủ
đạo Các tác giả trong Ngữ Văn 6 tập một sách giáo viên đã lý giải nh sau “ khả năng đọc - hiểu (bao gồm cả cảm thụ) một tác phẩm văn chơng lệ thuộc không ít vào việc có thể trả lời đợc hay không những câu hỏi đặt ra ở những cấp độ khác nhau Mức thấp nhất là chỉ cần sử dụng những thông tin có ngay trong văn bản Đó là trờng hợp câu trả lời sẵn có trong bài chỉ mới biết đọc trên dòng Mức cao hơn là buộc phải suy nghĩ và sử dụng những thông tin trong bài Đó là trờng hợp phải suy nghĩ ra câu trả lời, là trình độ đã biết đọc giữa dòng Cao hơn là yêu cầu khái quát, liên hệ giữa những cái mà học sinh
đã đọc với thế giới bên ngoài đó là trình độ vợt ra khỏi dòng để đọc văn bản Khám phá văn bản theo hớng ấy thì học sinh khôn chỉ hứng thú hiểu sâu văn bản mà còn liên hệ đợc một cách sinh động tự nhiên với những vấn đề trong cuộc sống
Nh vậy “đọc - hiểu văn bản” đòi hỏi ngời phải có thái độ chủ động tích cực
và sáng tạo trong đọc văn
Với các loại văn bản, kỹ năng “đọc sáng tạo” cần đạt tới mức độ sau:
.Biết đọc thầm, đọc thành tiếng có diễn cảm
Biết chọn đọc hững đoạn văn bản có minh họa cho các nhiệm vụ học tập một cách chính xác, tốc độ vừa phải, đúng với nội dung văn bản
Biết đọc nhanh các đoạn văn bản, ngữ liệu có những cách dùng từ ngữ và cấu trúc câu phức tạp với năng lực phán đoán ngôn ngữ nhanh nhạy
.Biết đặt câu hỏi cho mình hoặc cho ngời khác để hiểu mục đích văn bản và các yêu cầu của nội dung học tập
Biết tóm tắt, chia đoạn, xác định chủ đề, mối liên hệ giữa các phần trong văn bản và biết đặt tên cho đoạn văn
Biết nhận ra các câu văn, đoạn văn hay, có nội dung sâu sắc và hiểu đợc nghĩa, vai trò và tác dụng của cac từ ngữ, câu then chốt, các biện pháp nghệ thuạt trong đoạn văn đó
Nhớ chính xác một số câu, đoạn và văn bản hay, thơ hay biết bình giá chi tiết nghệ thuật trong các văn bản
Đọc và hiểu đợc các phơng thức biểu đạt khác nhau và đặc điểm thể loại, thái độ, tình cảm và t tởng của tác giả
Xác định đợc các hệ thống luận điểm và tuyến lập luận trong các văn bản qua việc tổng kết các tác phẩm tự sự, trữ tình, nghị luận, nhật dụng và sự kết hợp các phơng thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết minh trong một
số tác phẩm qua việc hệ thống hoá các khái niệm: Loại, thể loại, đặc điểm của truyện ngắn, tiểu thuyết và thể hiện đại
Nh vậy "Đọc sáng tạo" đã thực hiện phơng châm tích hợp Học sinh vận dụng đợc kỹ năng, hiểu bíêt về một phân môn này vào việc học tập phân môn khác Trong thực tế, rất hiếm những văn bản chỉ dùng một phơng thức biểu đạt
mà một trong những trọng tâm của phần tập làm văn là dạy cho học sinh biết phân tích, biết thực hiện sự kết hợp các phơng thức ấy Chính điều đó đã tạo ra một trờng tích hợp vô cùng rộng lớn Các câu hớng dẫn "Đọc - Hiểu văn bản" trong SGK đã tạo ra cơ chế cho sự tích hợp ấy Điều quan trọng là giáo viên cần thực sự năng động, biết vận dụng linh hoạt và khi cần vẫn có thể tạo ra những tình huống tích hợp mới Việc đọc hiểu, phân tích, bình giá các loại văn bản sẽ giúp HS có điều kiện tốt hơn các nội dung làm văn tự sự, thuyết minh
và nghị luận Hoạt động "Đọc - Hiểu văn bản" giúp học sinh qua việc đọc
đúng sẽ cảm nhận và hiểu đúng những thông tin, hiển ngôn và hàm ngôn trong văn bản Nếu quan niệm văn bản là sự tổng hợp của 3 cấu trúc: Cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình tợng và cấu trúc ý nghĩa thì đối với học sinh lớp 9 thực hiện tốt hoạt động "Đọc - Hiểu văn bản" có nghĩa là học sinh phải nắm và lý giải
đợc mối liên hệ của 4 lớp cấu trúc này không chỉ trên phơng diện của từ ngữ,
Trang 10câu chữ, nhịp điệu mà còn hiểu đợc giá trị iểu đạt và biểu cảm của ngôn từ nh
là phơng tiên để thể hiện hình tợng nghệ thuật, hiểu đợc những quan điểm, t t-ởng về con ngời, về thời đại, về ý tt-ởng giáo dục của tác giả gửi gắm trong văn bản
Đối với một số tryện nớc ngoài trong SGK ngữ văn 9 thì đó là những văn bản tự sự tiêu biểu có lối kể chuyện hấp dẫn, nội dung giàu tính nhân đạo các văn bản này đợc học song song với các nội dung làm văn, đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm cũng là do dụng ý dạy tích hơp của các tác giả nhằm giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về sự biến hoá của tự sự cũng
nh sự đan xen các yếu tố miêu tả, biểu cảm trong văn tự sự ở đó có sự độc
đáo về cách tạo dựng tình huống truyện, cách sắp xếp tình tiết, trình tự kể, cách khắc hoạ nhân vật, cách chọn ngôi kể, lời kể
* Giảng phần tổng kết:
Nhìn chung giảng giải đến đâu chúng ta thờng vội vã đọc cho học sinh chép hoặc phát vấn qua loa chiếu lệ Với quan điểm tìm hiểu tác phẩm từ đầu
đến cuối và thầy trò cùng làm việc từ đầu đến cuối, chúng tôi không làm nh thế Tôi hớng dẫn các em đánh giá chung về nghệ thuật, nội dung về tác giả và rút ra bài học t tởng hành động, tôi thờng ghi tóm tắt những ý đúng của các em lên bảng rồi học sinh dựa vào đó nói cho lu loát trọn vẹn Thờng tôi diễn đạt bằng nhiều cách, học sinh trên cơ sở đó mà lựa chọn cách nào hợp với mình
để thời gian cho các em ghi chép Tôi đi kiểm tra và giũp đỡ một số em, thờng
là ba em ở ba trình độ khác nhau Cuối cùng tôi giới thiệu một số em ghi tốt hoặc em có những điểm sai cần uốn nắn để cả lớp rút kinh nghiệm
Công việc tởng nh nhàn, nhng làm việc rất căng Giáo viên phải khẩn
tr-ơng, tập trung suy nghĩ, thấy đợc u, khuyết điểm của những lời phát biểu, nhất
là những em có ý tốt mà diễn đạt cha thành Phải làm sao trong một thời gian ngắn vừa đánh giá, vừa thâu tóm đợc tất cả những ý kiến đúng của các em, diễn đạt thành lời văn hay giầu cảm xúc, giầu hình ảnh để nâng cao cảm xúc của học sinh Đây cũng là một yêu cầu khó khi vận dụng phơng pháp đọc sáng tạo để giảng phần tổng kết văn bản
Yêu cầu đó đòi hỏi giáo viên cần chủ động từ đầu đến cuối, mình định giảng những gì, phải chủ động dự kiến trớc Mình định kết luận thế nào, chủ
động mà không đợc chủ quan, không cứng nhắc mà linh hoạt Mỗi lần là một lần rút kinh nghiệm “ học tập tại chỗ” của mình Có thế, thầy trò mới cùng làm việc và thầy mới sát đối tợng khi kết luận vấn đề
Ví dụ: Phần tổng kết của bài Nói với con sau gợi ý học sinh phát biểu
những ý dựa vào câu hỏi tổng hợp
Cảm nhận của em về nghệ thuật, nội dung của bài thơ và rút ra bài học suy nghĩ của em?
Nghệ thuật: Hình ảnh thơ cụ thể, ngôn từ giản dị
Nội dung: Tình cảm gia đình
Bài học: Sức sống, vẻ đẹp tâm hồn dân tộc miền núi
Tác giả: Một ngời cha yêu con, yêu quê hơng đất nớc
Từ trả lời của học sinh giáo viên nói lại bằng một đoạn văn có sức thuyết phục và yêu cầu học sinh lên bảng viết lại phần này bằng 2 đến 3 cách khác nhau Quá trình này chính là luyện tập luôn
*Các văn bản trong chơng trình Ngữ Văn 9
Nh vậy “đọc - hiểu văn bản” đòi hỏi ngời phải có thái độ chủ động tích cực
và sáng tạo trong đọc văn Các văn bản đợc học trong chơng trình Ngữ Văn 9 bao gồm: