1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Cây thuốc, vị thuốc phòng và chữa bệnh phụ nữ

90 414 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 124,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi để khô trênlam kính, dịch cổ tử cung có hiện tượng tinh thể hóa, và soi lam kính dưới kính hiển vi thấy hìnhảnh “dương xi”.Những đặc trưng trên được dùng làm chỉ số đánh giá sự bài t

Trang 1

Phần thứ nhất: Đại cương về phụ khoa - Chương 1: Cấu trúc và sinh lý sinh sản nữ

Các cơ quan chính của bộ máy sinh sản nữ bao gồm hai buồng trứng, hai vòi trứng, tử cung và

âm đạo

* Buồng trứng:

Mỗi người phụ nữ có 2 buồng trứng Kích thước mỗi buồng trứng trưởng thành là 2,5 - 5 x 2 x 1

cm và nặng từ 4 - 8 g, trọng lượng của chúng thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt

Ở tuần thứ 30 của thai nhi, cả hai buồng trứng có khoảng 6.000.000 nang trứng nguyên thủy.Sau đó phần lớn chúng bị thoái hóa để chỉ còn lại khoảng 2.000.000 nang vào lúc mới sinh và đếntuổi dậy thì chỉ còn lại khoảng 300.000 - 400.000 nang Trong suốt thời kỳ sinh sản của phụ nữ(khoảng 30 năm) chỉ có khoảng 400 nang này phát triển tới chín và xuất noãn hàng tháng Số cònlại bị thoái hóa

* Tử cung:

Tử cung là một cơ quan hình quả lê, có kích thước 6 x 4cm ở những phụ nữa chưa sinh đẻ và 7

-8 x 5 cm ở những phụ nữ đã sinh đẻ nhiều lần Tử cung gồm 2 phần là thân tử cung và cổ tử cung.Giữa thân tử cung và cổ tử cung có một chỗ thắt được gọi là eo tử cung

Từ ngoài vào trong, thành tử cung được cấu tạo bởi 3 lớp là lớp vỏ ngoài, lớp cơ và lớp niêmmạc tử cung ay còn được gọi là nội mạc tử cung

Cả lớp cơ và lớp niêm mạc của thân tử cung và cổ tử cung đều có những đặc điểm cấu trúc khácnhau

Niêm mạc của thân tử cung là nơi trứng thụ tinh là tổ và phát triển thành bào thai Cấu trúc nộimạc thân tử cung của các lứa tuổi khác nhau có những đặc điểm khác nhau

Ở lứa tuổi hoạt động sinh dục, về hình thái học niêm mạc thân tử cung của phụ nữ được cấu tạobởi 2 lớp, đó là lớp biểu mô và lớp đệm

- Lớp biểu mô: Lớp biểu mô phủ nội mạc thân tử cung là một lớp biểu mô đơn Có những chỗlớp biểu mô đơn lõm sâu xuống lớp đệm tạo ra các tuyến của niêm mạc thân tử cung Những tuyếnnày có sự biến đổi về sinh thái và chức năng của chu kỳ kinh nguyệt

- Lớp đệm: Lớp đệm là lớp giàu tế bào liên kết.Lớp đệm chứa nhiều tuyến của niêm mạc tửcung Trong lớp đệm còn có nhiều đám tế bào lympho có vai trò quan trọng trong các phản ứngmiễn dịch có liên quan đến khả năng sinh đẻ Trong lớp đệm cũng có rất nhiều mạch máu (độngmạch, tĩnh mạch, mao mạch, bạch mạch)

Về phương diện chức năng, ở những người trong độ tuổi sinh đẻ, niêm mạc thân tử cung có 2lớp biến đổi khác nhau trong chu kỳ kinh nguyệt

- Lớp nền: Lớp này nằm sát cơ tử cung, ít có những biến đổi về cấu tạo trong chu kỳ kinhnguyệt

- Lớp chức năng: là một lớp dày, nằm sát khoang tử cung Chiều dày và cấu tạo của lớp này biếnđổi mạnh theo từng giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt Trong cơ thể đây là mô duy nhất biến đổi vàbiến đổi có chu kỳ hàng tháng

Trang 2

Hai hormon chính của buồng trứng là estrogen và progesteron Ngoài ra hoàng thể còn bài tiếtmột hormon khác nữa là inhibin.

Ở phụ nữ bình thường không có thai, estrogen được bài tiết chủ yếu ở buồng trứng, chỉ mộtlượng rất nhỏ do tuyến vỏ thượng thận bài tiết Khi có thai, rau thai bài tiết một lượng lớn estrogen

Ở buồng trứng, estrogen do các tế bào hạt của lớp áo trong các nang trứng bài tiết trong nửa đầuchu kỳ kinh nguyệt và nửa sau do hoàng thể bài tiết

Có 3 loại estrogen có mặt với một lượng đáng kể trong huyết tương đó là -estradiol, estron vàestriol, trong đó chủ yếu là -estradiol Buồng trứng cũng bài tiết estron nhưng chỉ với một lượngnhỏ Hầu hết estron được hình thành ở mô đích từ nguồn androgen do vỏ thượng thân và lớp áo củanang trứng bài tiết

Tác dụng của -estradiol mạnh gấp 12 lần estron và gấp 80 lần estriol, vì vậy -estradiol được cọi

Tại gan, estrogen sẽ kết hợp với glucuronid và sulfat thành những hợp chất bài tiết theo đườngmật (khoảng 1/5 tổng hợp) và theo đường nước tiểu (khoảng 4/5) Gan cũng có tác dụng chuyểndạng estrogen mạnh là estradiol và estron thành dạng estriol yếu Do vậy, nếu chức năng gan yếu,hoạt tính estrogen sẽ tăng và đôi khi có thể gây ra cường estrogen

* Tác dụng của estrogen:

Làm xuất hiện và bảo tồn đặc tính sinhdục nữ thứ phát triển kể từ tuổi dậy thì bao gồm phát triểncác cơ quan sinh dụng, phát triển lớp mỡ dưới da, giọng nói trong, dáng mềm mại…

* Tác dụng lên tử cung:

- Làm tăng kích thước tử cung ở tuổi dậy thì và khi có thai

- Kích thích sự phân chia lớp nền là lớp tái tạo ra lớp chức năng trong nửa đầu của chu kỳ kinhnguyệt

- Tăng các mạch máu mới ở lớp chức năng và làm cho các mạch máu này trở thành các độngmạch xoắn cung cấp máu cho lớp niêm mạc chức năng Tăng lưu lượng máu đến lớp niêm mạcchức năng

- Kích thích sự phát triển các tuyến niêm mạc Tăng tạo glycogen chứa trong tuyến nhưng khôngbài tiết

- Tăng khối lượng tử cung, tăng hàm lượng actin và myosin trong cơ thể, đặc biệt trong thời kỳ

có thai

- Tăng co bóp cơ tử cung Tăng tính nhạy cảm của cơ tử cung với oxytocin

* Tác dụng lên cổ tử cung:

Trang 3

Dưới tác dụng của estrogen, các tế bào biểu mô của niêm mạc cổ tử cung bài tiết một lớp dịchnhày loãng, mỏng Dịch này có thể kéo thành sợi dài khi được đặt vào lam kính Khi để khô trênlam kính, dịch cổ tử cung có hiện tượng tinh thể hóa, và soi lam kính dưới kính hiển vi thấy hìnhảnh “dương xi”.

Những đặc trưng trên được dùng làm chỉ số đánh giá sự bài tiết estrogen trong nửa đầu của chu

kỳ kinh nguyệt

* Tác dụng lên vòi trứng:

- Làm tăng sinh mô tuyến của niêm mạc ống dẫn trứng

- Làm tăng sinh các tế bào của biểu mô lông rung

- Làm tăng hoạt động của tế bào biểu mô lông rung theo một chiều, hướng về phía tử cung.Tất cả các tác dụng của estrogen lên ống dẫn trứng đều nhằm giúp trứng đã thụ tinh di chuyển dễdàng vào tử cung

* Tác dụng lên âm đạo:

- Estrogen làm thay đổi biểu mô âm đạo từ dạng khối thành biểu mô tầng Cấu trúc biểu mô tầngnày vững chắc hơn, do vậy tăng khả năng chống đỡ với các chấn thương và nhiễm khuẩn

- Kích thích các tuyến của âm đạo bài tiết dịch acid

Trẻ em và phụ nữ mãn kinh bị nhiễm khuẩn đường âm đạo, điều trị bằng estrogen sẽ làm vữngbền biểu mô âm đạo và chống đỡ được với tác nhân gây nhiễm khuẩn

* Tác dụng lên tuyến vú:

- Phát triển hệ thống ống tuyến

- Phát triển mô đệm ở vú

- Tăng lắng đọng mỡ ở vú

* Tác dụng lên chuyển hóa:

- Làm tăng tổng hợp protein ở các mô đích như tử cung, tuyến vú, xương

- Làm tăng nhẹ quá trình sinh tổng hợp protein của toàn cơ thể

Tác dụng này yếu hơn nhiều so với testosteron Đây là sự khác biệt của estrogen và testosteron,bởi vì testosteron là tăng tổng hợp protein trên khắp cơ thể còn estrongen chủ yếu tác dụng ở một

số mô

- Tăng lắng đọng mỡ ở dưới da đặc biệt là ở ngực, mông, đùi để tạo dáng nữ

- Tăng nhẹ tốc độ chuyển hóa, tác dụng này chỉ bằng 1/3 tác dụng testosteron

Trang 4

- Tăng lắng đọng muối calci-phosphat ở xương Tác dụng này cũng yếu hơn testosteron.

- Làm nở rộng xương chậu

Do những tác dụng kể trên, nếu thiếu estrongen (ở người già) sẽ gây hiện tượng loãng xương.Khi thiếu estrogen sẽ gây ra những rối loạn sau đây:

- Giảm hoạt động ở các tế bào xương

- Giảm khung protein ở xương

- Giảm lắng đọng calci và phosphat ở xương

Kết quả là xương yếu nên dễ gãy Vị trí dễ gãy là cột sống

* Tác dụng lên chuyển hóa muối nước:

Do cấu tạo hóa học của estrogen cũng giống như aldosteron và các hormon ở thượng thận khác,nên estrogen cũng có tác dụng tăng giữ ion Na và tăng giữ nước Tuy nhiên, ở những người phụ nữbình thường tác dụng này rất yếu trừ khi có thai

* Tác dụng của progesteron:

Tác dụng quan trọng nhất của progesteron là kích thích sự bài tiết ở niêm mạc tử cung trong nửasau của chu kỳ kinh nguyệt Dưới tác dụng của progesteron, niêm mạc tử cung lớp chức năng đượctăng sinh nhờ ảnh hưởng của estrogen, nay được biến đổi trở thành cấu trúc có khả năng bài tiết.Các tuyến của niêm mạc tử cung dài ra, cuộn lại cong queo và bài tiết glycogen Tác dụng này, có ýnghĩa quan trọng là chuẩn bị niêm mạc tử cung ở trạng thái sẵn sàng đón trứng đã thụ tinh vào làmtổ

Làm giảm co bóp cơ tử cung, do đó ngăn cản việc đẩy trứng đã thụ tinh ra ngoài và tạo môitrường yên ổn cho bào thai phát triển

* Tác dụng lên cổ tử cung:

Progesteron kích thích các tế bào tuyến niêm mạc tử cung bài tiết một lớp dịch nhày, quánh, dày.Tính chất quánh đặc của dịch cơ tử cung cùng với sự vắng mặt của hình ảnh “dương xi”, là nhữngbằng chứng cho biết hiện tượng phóng noãn và giai đoạn hoàng thể đã xảy ra

* Tác dụng lên vòi trứng:

Progesteron kích thích niêm mạc vòi trứng bài tiết dịch chứa chất dinh dưỡng để nuôi trứng đãthụ tinh, thực hiện quá trình phân chia trong khi di chuyển vào buồng tử cung

* Tác dụng lên tuyến vú:

- Làm phát triển thùy tuyến

- Kích thích các tế bào bọc tuyến vú tăng sinh, to lên và trở nên có khả năng bài tiết

* Tác dụng lên cân bằng điện giải:

Cũng như các hoạt động Steroid khác, progestron với nồng độ cao có thể làm tăng tái hấp thụion Na+, Cl- và nước Tuy nhiên trong thực tế, progesteron thường gây tăng bài xuất ion Na+ vànước bởi vì progesteron có khả năng cạnh tranh với aldosteron để gắn với receptor, nó sẽ làm tăngtái hấp thu ion Na+ và nước Nhưng tác dụng này của progesteron lại yếu hơn nhiều so với

Trang 5

aldosteron, bởi vậy thực chất trong trường hợp nay có thể mất muối và nước, vì chúng không đượctái hấp thu nhiều như khi có tác dụng của aldosteron Tuy nhiên, do tăng lượng ion Na+ được bàixuất nên lại làm tăng bài biết aldosteron từ tuyến vỏ thượng thận Hiện tượng này thường gặp trongthời kỳ có thai.

* Tác dụng lên thân nhiệt:

Progesteron làm tăng nhiệt độ của cơ thể, do vậy ở nửa sau của chu kỳ kinh nguyệt thân nhiệtcủa phụ nữ thường cao hơn nửa đầu từ 0,3 - 0,50C

Cơ chế làm tăng thân nhiệt của progesteron vẫn chưa rõ Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng có lẽprogesteron tác dụnglên trung tâm điều nhiệt ở vùng dưới đồi

* Rối loạn bài tiết hormon do buồng trứng bị cắt bỏ:

Ở người phụ nữ bị cắt bỏ hai buồng trứng, các cơ quan sinh dục hầu như nhỏ lại giống trẻ con

Âm đạo hẹp hơn, biểu mô âm đạo trở nên mỏng và ít tiết dịch hơn, do đó dễ bị chấn thương vànhiễm khuẩn Ngực teo, nhẽo, lông mu thưa Những thay đổi này giống những phụ nữ mãn kinh

* Ưu năng:

Sự bài tiết quá nhiều hormon buồng trứng thường ít gặp trên lâm sàng, vì khi estrogen được bàitiết nhiều sẽ ức chế tuyến yên làm giảm bài tiết FSH và LH, do đó lượng hormon sinh dục đượcđiều hòa trở lại bình thường

Tăng bài tiết hormon sinh dục trên lâm sàng chỉ gặp trong trường hợp u buồng trứng Tuy nhiên,

tế bào hạt lại ít khi xảy ra ở buồng trứng progesteron Nếu có thì thường xuất hiện ở phụ nữ mãnkinh hơn

Khi có khối u ở tế bào hạt, một lượng lớn estrogen được bài tiết vào máu gây tăng sinh nội mạc

tử cung, chảy máu bất thường ở nội mạc tử cung Do vậy, trên thực tế lâm sàng, chảy máu là dấuhiệu đầu tiên và duy nhất để chẩn đoán khối u buồng trứng (u tế bào hạt)

Chu kỳ kinh nguyệt là sự biến đổi về cấu trúc, chức năng dẫn tới sự chảy máu có chu kỳ ở niêmmạc tử cung, dưới tác dụng của các hormon tuyến yên và buồng trứng

Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt, được tính bằng khoảng thời gian giữa hai ngày chảy máu đầutiên của hai chu kỳ kế tiếp nhau

Độ dài của chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ Việt Nam là 28 - 30 ngày

* Các giai đoạn của chu kỳ kinh nguyệt

Trang 6

Sự biến đổi ở niêm mạc tử cung hàng tháng trải qua hai giai đoạn, đó là giai đoạn tăng sinh vàgiai đoạn bài tiết, kinh nguyệt là kết quả của hai giai đoạn biến đổi này.

Có mối liên quan chặt chẽ giữa tuyến yên, buồng trứng và niêm mạc tử cung ở từng giai đoạn.Mối liên quan này được thể hiện bằng sự chỉ huy của các tuyến nội tiết trung ương, đến tuyến đíchngoại biên rồi đến mô đích (niêm mạc tử cung và có tác dụng điều hòa ngược từ tuyến ngoại biênđến tuyến chỉ huy trung ương Do vậy, rối loạn hoạt động của trục tuyến yên - buồng trứng sẽ dẫnđến rối loạn kinh nguyệt (thiếu kinh, đa kinh, vô kinh)

* Giai đoạn tăng sinh (giai đoạn estrogen):

Dưới tác dụng của FSH và LH, đặc biệt là FSH, ở buồng trứng có từ 6 - 12 nang trứng nguyênthủy phát triển Tác dụng đầu tiên là tăng sinh tế bào hạt Sau đó tạo ra lớp vỏ nang trứng Lớp nàyđược chia thành hai lớp là lớp áo trong và lớp áo ngoài Lớp áo trong có những tế bào biểu mô cấutạo giống tế bào hạt có khả năng bài tiết hormon Lớp áo ngoài có nhiều mạch máu

Sau vài ngày phát triển, dưới tác dụng của LH các tế bào lớp áo trong bắt đầu bài tiết dịch nang.Thành phần rất quan trọng của dịch nang là estrogen Lượng dịch được bài tiết tăng dần và tạo ramột hốc nằm giữa các tế bào hạt Đồng thời với sự tăng kích thước của nang, noãn tự nó cũng lớnnhanh từ 3 - 4 lần Dịch trong hốc nang tăng dần và đẩy noãn cùng một số tế bào hạt về một cựccủa nang để tạo ra gò trứng

* Biến đổi ở niêm mạc tử cung:

Sau hành kinh, niêm mạc tử cung chỉ còn lại một lớp mỏng của mô đệm và sót lại một ít tế bàobiểu mô nằm tại đáy các tuyến

Dưới tác dụng của estrogen, các tế bào mô đệm và tế bào biểu mô tăng sinh nhanh chóng Bềmặt của niêm mạc tử cung được biểu mô hóa trở lại trong vòng 4 - 7 ngày sau hành kinh Niêm mạcdày dần, các tuyến dài, mạch máu phát triển Đến cuối giai đoạn này, niêm mạc tử cung dày khoảng

3 - 4mm Các tuyến của cổ tử cung bài tiết một lớp dịch nhày kéo thành sợi dọc theo tử cung Lớpdịch này tạo thành kênh dẫn tinh trùng di chuyển vào cổ tử cung

* Hiện tượng phóng noãn:

Sau khoảng 7 - 8 ngày phát triển, có 1 nang bắt đầu phát triển nhanh, số nang còn lại thoái triểndần Nguyên nhân của sự thoái chuyển này còn chưa rõ

Tại nang, trứng phát triển nhanh, kích thước nang tăng lên, lượng estrogen được bài tiết cũngnhiều hơn hẳn các nang khác

Cuối giai đoạn tăng sinh, nồng độ estrogen tăng cao đã gây ra tác dụng điều hòa ngược dươngtính đối với tuyến yên và làm tăng bài tiết cả FSH và LH

Dưới tác dụng của FSH và LH, các tế bào hạt và tế bào lớp áo trong tăng sinh mạnh, đồng thờibài tiết estrogen, do vậy càng làm tăng kích thước của nang Ở thời điểm phóng noãn, đường kínhnang đạt tới 1 - 1,5cm và người ta gọi là nang trứng chín

LH của tuyến yên rất cần thiết cho giai đoạn phát triển tới chín của nang trứng và cho sự phóngnoãn

Khoảng 2 ngày trước khi phóng noãn, lượng LH được bài tiết từ tuyến yên tăng, đột ngột tănglên 6 - 10 lần và đạt tới mức cao nhất vào thời điểm 16 giờ trước khi phóng noãn Nồng độ FSH

Trang 7

cũng tăng khoảng 2 - 3 lần Hai hormon này tác dụng phối hợp làm cho nang trứng căn phồng lên.Đồng thời, LH kích thích các tế bào hạt và tế bào lớp áo trong tăng bài tiết progesteron Mức bàitiết estrogen bắt đầu giảm trước khi phóng noãn một ngày, trong khi đó mức bài tiết progesteron lạibắt đầu tăng dần.

Việc tăng đột ngột LH thực ra chưa rõ nguyên nhân, hiện nay được giải thích như sau:

- Estrogen có tác dụng điều hòa ngược dương tính với LH mạnh hơn với FSH vào thời điểm này.Điều này hơi ngược với bình thường

- Prigesteron được các tế bào hạt của nang trứng bài tiết vào ngày trước đó, là yếu tố nhạy cảmlàm tăng bài tiết LH

Kết quả khảo sát trên thực nghiệm cũng như trên lâm sàng cho thấy rằng, nếu không có đỉnh LH

sẽ không có hiện tượng rụng trứng

Vài giờ trước khi phóng noãn, có hai hiện tượng đồng thời xảy ra dưới tác dụng của progesteronlà:

- Các tế bào lớp áo ngoài của nang trứng chín giải phóng các enzym tiêu protein từ các bọclysosom Dưới tác dụng của enzym này, thành nang bị phá hủy trở nên mỏng và yếu hơn

- Tăng sinh các mạch máu ở thành nang, đồng thời tại đây prostaglandin cũng được bài tiết.Dưới tác dụng của prostaglandin các mao mạch giãn ra và tăng tính thấm làm cho huyết tươngthấm vào trong nang

Cả hai tác dụng trên đều làm cho nang căng phồng trong khi thành nang lại mỏng, yếu, vì vậynang sẽ vỡ ra và giải phóng noãn ra khỏi nang trứng Hiện tượng phóng noãn thường xảy ra vàothời điểm 13 - 14 ngày trước khi có kinh lần sau Thông thường mỗi chu kỳ chỉ có 1 nang trứng vỡ

và xuất noãn ở cả hai buồng trứng

* Giai đoạn bài tiết (giai đoạn progesteron):

- Bài tiết hormon và biến đổi ở buồng trứng:

Sau khi phóng noãn, tuyến yên vẫn tiếp tục bài tiết FSH và LH Dưới tác dụng của LH, một ít tếbào hạt còn lại ở vỏ nang trứng vỡ được biến đổi nhanh chóng để trở thành các tế bào hoàng thể.Các tế bào hạt này trương to gấp hai lần chứa đầy hạt mỡ trong bào tương và có màu vàng nhạt.Các tế bào hạt này tăng sinh, tạo thành một khối vây quanh cục máu đông Nang trứng vỡ lúc nàynhư một cấu trúc màu vàng (nhìn buồng trứng tươi, không nhuộm) nên được gọi là hoàng thể.Các tế bào hoàng thể dưới tác dụng kích thích của LH đã bài tiết một lượng lớn progesteron vàestrogen - đồng thời mạch máu phát triển mạnh trong hoàng thể Sau khi phóng noãn 7 - 8 ngày,hoàng thể có đường kính xấp xỉ 1,5cm Sau đó hoàng thể bắt đầu giảm dần chức năng bài tiết.Quá trình phát triển của hoàng thể hình như đã được chương trình hóa theo một trình tự nhấtđịnh được bắt đầu bằng sự tăng sinh và phát triển tế bào hạt, hoàng thể lớn lên, hoàng thể bài tiết vàcuối cùng là hoàng thể thoái hóa Ngay cả khi không có LH, quá trình này vẫn xảy ra nhưng chỉkéo dài 4- 8 ngày Nếu có mặt LH, sự phát triển của hoàng thể mạnh hơn, bài tiết hormon nhiềuhơn, đời sống của hoàng thể kéo dài hơn (thường khoảng 12 ngày)

* Biến đổi niêm mạc tử cung:

Trang 8

Trong giai đoạn này estrogen vẫn tiếp tục làm tăng sinh lớp niêm mạc tử cung, nhưng tác dụngnày yếu hơn nhiều so với progesteron.

Dưới tác dụng của progesteron, niêm mạc tử cung dày nhanh và bài tiết dịch Các tuyến dài ra,cong queo, chứa đầy các chất tiết Bào tương của các tế bào đệm tăng lên, lắng đọng nhiều lipid vàglycogen Các mạch máu phát triển, trở nên xoắn lại và cung cấp máu cho niêm mạc tử cung cũngtăng lên Một tuần sau phóng noãn, niêm mạc tử cung dày tới 5 - 6mm

Mục đích của tất cả những thay đổi trên là tạo ra một kiểu niêm mạc tử cung chứa đầy chất dinhdưỡng để cung cấp cho trứng đã thụ tinh khi được di chuyển vào buồng tử cung Chất dịch bài tiết

từ niêm mạc tử cung được gọi là “Sữa tử cung”

* Hiện tượng kinh nguyệt:

Khoảng 2 ngày cuối cùng của chu kỳ, hoàng thể đột nhiên bị thoái hóa Nồng độ estrogen vàprogesteron đột ngột giảm xuống mức rất thấp Kinh nguyệt được gây ra do sự giảm đột ngột nồng

độ hai hormon sinh dục nữ, đặc biệt là progesteron

Do nồng độ hai hormon giảm, niêm mạc tử cung bị thoái hóa tới 65% chiều dày Các động mạchxoắn co thắt do tác dụng của các sản phẩm được bài tiết từ niêm mạc bị thoái hóa mà một trongnhững sản phẩm đó là prostaglandin Một mặt do các động mạch nuôi dưỡng lớp niêm mạc chứcnăng bị co thắt gây tình trạng thiếu máu, mặt khác do thiếu tác dụng kích thích của hormon nên lớpniêm mạc này bắt đầu hoại tử đặc biệt là các mạch máu Kết quả của những biến đổi này là mạchmáu bị tổn thương và máu chảy đọng lại dưới lớp niêm mạc chức năng Vùng chảy máu lan rộngnhanh trong 24 - 36 giờ Tiếp theo đó, lớp niêm mạc bị hoại tử sẽ tách khỏi tử cung ở những vùngchảy máu Sau khoảng 48 giờ kể từ lúc xảy ra hiện tượng chảy máu, toàn bộ lớp niêm mạc chứcnăng bong ra

Khối mô bị bong ra, và dịch máu trong khoang tử cung cộng với tác dụng co cơ tử cung củaprostaglandin sẽ được đẩy ra ngoài qua âm đạo

Lượng máu mất trung bình trong mỗi chu kỳ là 38,13 + 24,76ml Máu kinh nguyệt là máu khôngđông Trong trường hợp cường kinh, do hiện tượng bong niêm mạc và chảy máu xảy ra quá nhanhnên trong kinh nguyệt có thể có những cục máu đông

Thời gian chảy máu trung bình mỗi chu kỳ là 3 - 5 ngày Sau khi ngừng chảy máu, niêm mạc lạiđược tái tạo dưới tác dụng của estrogen được bài tiết từ các nang trứng phát triển ở buồng trứngtrong chu kỳ tới

* Dậy thi:

Cũng như nam giới, sau khi sinh buồng trứng không họat động, cho tới khi nhận được nhữngkích thích phù hợp từ tuyến yên, hai buồng trứng bắt đầu họat động, thể hiện bằng sinh giao tử vàbài tiết hormon sinh dục nữ, dẫn đến những thay đổi về thể chất, tâm lý, sự trưởng thành và hoànthiện về chức năng sinh dục Thời kỳ phát triển và trưởng thành này được gọi là dậy thì

* Những biến đổi về cơ thể:

Trong thời kỳ này cơ thể các em gái phát triển nhanh về chiều cao cũng như trọng lượng Cơ thểtrở nên cân đối, mềm mại: thân hình có đường cong do lớp mỡ dưới da phát triển, đặc biệt ở một sốvùng như ngực, mông, khung chậu mở rộng hơn

* Xuất hiện một số đặc tính sinh dục thứ phát:

Trang 9

Hệ thống lông mu, lông nách phát triển Giọng nói trong hơn Tâm lý cũng có những biểu hiệnthay đổi so với thời niên thiếu như: biểu hiện xấu hổ khi đứng trước bạn khác giới, hay tư lự vàthường ít nghịch ngợm hơn, ý tứ hơn trong cách cư xử.

* Hoạt động của tuyến sinh dục:

- Chức năng sinh giao tử của buồng trứng bắt đầu họat động Hàng tháng, dưới tác dụng củahormon tuyến yên, các nang trứng nguyên thủy phát triển, có khả năng tiến tới chín và phóng noãn.Như vậy, từ thời kỳ này các em gái bắt đầu có khả năng sinh con Tuy nhiên, vì chức năng của các

cơ quan thuộc hệ thống sinh sản chưa phát triển thành thục nên chưa đủ khả năng mang thai, nuôicon, vì vậy cần tư vấn cho các thiếu nữ cách quan hệ với bạn bè khác giới, cách phòng tránh thai,cách phòng tránh các bệnh lây nhiễm theo con đường tình dục

- Chức năng nội tiết của buồng trứng

Song song với khả năng sinh giao tử, buồng trứng bắt đầu bài tiết estrogen và progesteron

Dưới tác dụng cả hai hormon này, chuyển hóa của cơ thể sẽ tăng mạnh, cơ thể phát triển nhanh,các cơ quan sinh dục như tử cung, vòi trứng, âm đạo, âm hộ, tuyến vú đều phát triển cả về kíchthước và chức năng

Một dấu hiệu đặc biệt quan trọng đánh dấu thiếu nữ đã dậy thì, đó là xuất hiện kinh nguyệt hàngtháng

Tất cả những biến đổi về cơ thể, tâm lý và họat động của hệ thống sinh sản, đều do tác dụng củacác hormon hướng sinh dục của tuyến yên và các hormon của buồng trứng Các dấu hiệu dậy thì ở

nữ thường thể hiện rõ rệt hơn ở nam giới

* Thời gian xuất hiện dậy thì:

Tuổi dậy thì không phải là một thời điểm, mà là một khoảng thời gian Khoảng thời gian này cóthể thay đổi theo từng cá thể, nhưng thường kéo dài 3 - 4 năm

Thời điểm bắt đầu dậy thì ở nữ thường được đánh dấu bằng biểu hiện tuyến vú bắt đầu pháttriển Ở Việt Nam, thời điểm này thường từ 8 - 10 tuổi

Thời điểm dậy thì hoàn toàn được đánh dấu bằng lần có kinh nguyệt đầu tiên Ở Việt Nam vàokhoảng 13 - 14 tuổi

* Cơ chế dậy thì:

Ở nữ cũng như nam, vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng đều có khả năng bài tiết hormon.Nhưng trong thực tế các tuyến này không họat động cho tới tuổi dậy thì vì chúng thiếu những tínhiệu kích thích phù hợp từ vùng limbic Thời gian dậy thì chính là khoảng thời gian trưởng thànhhay “chín” của vùng limbic tức còn gọi là vùng hệ viền

* Mãn kinh:

Ở người phụ nữ vào khoảng 40 - 50 tuổi, các nang trứng của buồng trứng trở nên không đáp ứngvới kích thích của hormon tuyến yên Quá trình này xảy ra từ từ dẫn đến giảm chức năng buồngtrứng Biểu hiện của sự suy giảm này là chu kỳ kinh nguyệt và chu kỳ phóng noãn trở nên khôngđều Sau vài tháng đến vài năm, các chu kỳ buồng trứng, chu kỳ niêm mạc tử cung ngừng họatđộng, người phụ nữ hết kinh, không phóng noãn, nồng độ các hormon sinh dục nữ giảm đến mứcbằng không Hiện tượng này được gọi là mãn kinh

Trang 10

+ Nguyên nhân của mãn kinh:

Mãn kinh là do sự kiệt quệ của buồng trứng Vào quãng tuổi 45, ở buồng trứng số nang trứng cókhả năng đáp ứng với kích thích của FSH và LH còn rất ít, vì vậy lượng estrogen giảm dần đếnmức thấp nhất Với lượng estrogen này nó không đủ để tạo cơ chế điều hòa ngược dương tính kíchthích phóng noãn

+ Biểu hiện của thời kỳ mãn kinh:

Tất cả những biểu hiện thường gặp trong thời kỳ mãn kinh, chủ yếu là do giảm nồng độ estrogengây ra Các biểu hiện thường gặp là:

- Buồng trứng teo nhỏ, thoái hóa

- Không có kinh nguyệt

- Cơ quan sinh dục như tử cung, cổ tử cung teo nhỏ

- Teo bộ phận sinh dục ngoài: Âm đạo, âm hộ teo Thành âm đạo mỏng, hẹp, ngắn, kém đàn hồihơn, ít tiết dịch hơn và pH của dịch ít axit hơn, do vậy dễ chấn thương và dễ nhiễm khuẩn

- Vú trở nên phẳng và nhẽo do teo các mô đệm và ống dẫn sữa

- Giảm mô mỡ ở vùng xương mu, lông thưa hơn

- Có những biến đổi về hình thể như: dáng người không nhanh nhẹn, lớp mỡ dưới da phát triểnmạnh ở mông và vú Có thể mọc lông ở cằm và quanh môi

- Có những thay đổi về tâm lý: tính tình dễ thay đổi, hay buồn bực cáu gắt…những thay đổi này

sẽ mất sau một thời gian

- Có những cơn bốc nóng lên mặt do rối loạn thần kinh thực vật

Trong thời kỳ này, do giảm lượng estrogen nên người phụ nữ dễ mắc một số bệnh như loãngxương, viêm âm đạo, viêm bàng quang, xơ vữa động mạch

Chương 2: Thụ thai, mang thai

1 Noãn trưởng thành và di chuyển trong vòi trứng

Ngay trước khi noãn bào I được giải phóng ra khỏi nang, nhân của nó được phân chia giảmnhiễm và cực đầu thứ nhất được tách khỏi nhân Sau đó noãn bào I trở thành noãn bào II chỉ còn lại

23 nhiễm sắc thể Một trong 23 nhiễm sắc thể của noãn bào II là nhiễm sắc thể X, đây là nhiễm sắcthể giới tính Nếu noãn bào thụ tinh với tinh trùng mang nhiễm sắc thể X thì trứng thụ tinh sẽ cócặp nhiễm sắc thể XX, bào thai sẽ là bào thai gái Nếu noãn bào thụ tinh với tinh trùng mang nhiễmsắc thể Y thì trứng thụ tinh sẽ có cặp nhiễm sắc thể XY, bào thai sẽ là bào thai trai

Sau khi nang trứng vỡ, noãn chín được giải phóng cùng với hàng trăm tế bào hạt, tạo thànhmột lớp như hình nan hoa sẽ được đẩy vào vòi trứng Nhờ những tế bào lông rung ở niêm mạc vòitrứng mà nõan được đẩy dần về phía tử cung Thời gian trứng tồn tại là từ 24 - 48 giờ

Trang 11

Sự thụ tinh thường xảy ra ở khoảng 1/3 ngoài của vòi trứng Tinh trùng muốn xâm nhập vàotrong noãn, trước hết phải xuyên qua được lớp tế bào hạt bao quanh noãn để tiến tới vỏ ngoài củanoãn Sau đó tinh trùng phải gắng xuyên qua được màng trong suốt.

Cơ chế xâm nhập vào noãn của tinh trùng được giải thích như sau:

Khi tinh trùng có ở trong tinh dịch, có một lượng lớn cholesterol bọc quanh đầu tinh trùnglàm bền vững màng bao bọc quanh đầu tinh trùng và ngăn chặn sự giải phóng enzym Sau khiphóng tinh, tinh trùng di chuyển trong đường sinh dục nữ, lớp cholesterol bọc đầu tinh trùng bị mất,màng tinh trùng trở nên yếu và tăng tính thấm đối với ion Ca++ Nồng độ ion Ca++ cao trong bàotương của đầu tinh trùng một mặt làm tăng vận động của tinh trùng, mặt khác làm giải phóng cácenzym từ đầu tinh trùng

Đầu tinh trùng dự trữ một lượng lớn hyaluronidase và các enzym thủy phân protein Dưới tácdụng của enzym hyaluronidase, các chất gắn liên kết các tế bào hạt bao quanh noãn bị phá hủy Sau

đó, nhờ enzym phân giải protein mà tinh trùng có thể chọc thủng màng trong suốt của noãn và tiếpcận với lớp vỏ bao quanh noãn Tại đây có các receptor để cố định màng trước của tinh trùng vàolớp vỏ noãn Rất nhanh, màng trước tinh trùng bị tiêu đi, tinh trùng giải phóng enzym và mở đường

để xâm nhập vào lòng noãn Màng của đầu tinh trùng tan ra và vật chất di truyền của đầu tinh trùng

đã xâm nhập vào noãn gây ra hiện tượng thụ tinh

Trong quá trình thụ tinh, thường chỉ có một tinh trùng xâm nhập vào noãn Lý do tại sao chođến nay vẫn chưa thật rõ Tuy nhiên người ta cho rằng có thể do 3 lý do sau đây:

- Một vài tinh trùng di chuyển được tới vòi trứng nhưng tốc độ di chuyển rất khác nhau Tinhtrùng đến sớm nhất có thể trước tinh trùng thứ hai 10, 20 hoặc thậm chí 30 phút

- Vài phút sau khi tinh trùng đã xuyên qua lớp màng trong, ion Ca+ thấm qua màng noãn vàlàm cho nhiều hạt vỏ (cortical granules) là những hạt nằm sát ngay lớp màng trong xuất bào, giảiphóng ra các chất có tác dụng ngăn cản không cho tinh trùng gắn vào màng trong, thậm chí còn đẩytinh trùng ra xa màng

- Sau khi tinh trùng thâm nhập vào trong, noãn sẽ làm khử cực màng và đẩy xa tinh trùng ra.Khi tinh trùng đã lọt vào bào tương của noãn, bào tương của tinh trùng sẽ hòa lẫn với bàotương của noãn Nhân của noãn được gọi là tiền nhân cái, nhân của tinh trùng được gọi là tiền nhânđực Do mỗi tiền nhân cái hoặc tiền nhân đực chỉ chứa 1n DNA nên chúng phải tăng lượng

DNA lên gấp đôi Ngay sau đó màng nhân của các thể nhiễm sắc này được giải phóng bàotương, sắp xếp lại tạo ra một đường xích đạo cách đều hai cực Rồi mỗi thể nhiễm sắc con tiến vềmột cực tế bào Trên bề mặt trứng xuất hiện một rãnh phân chia ngày càng rõ Quá trình thụ tinhđược thể hiện ở hình 8 - 15 và 8 - 16

3 Trứng đã thụ tinh di chuyển vào buồng tử cung

Sau hiện tượng thụ tinh, trứng phải mất từ 3 - 4 ngày để di chuyển vào buồng tử cung Trứng

di chuyển được vào tử cung là nhờ dịch vòi trứng, họat động của tế bào lông rung ở vòi trứng, tácdụng giãn vòi trứng ở đoạn sát với tử cung của progesteron

Trong quá trình di chuyển, trứng được nuôi dưỡng bằng dịch vòi trứng và thực hiện nhiềugiai đoạn của quá trình phân chia Khi tới tử cung trứng đã phân chia và được gọi là phôi bào(blastocyst) với khoảng 100 tế bào

Vì một lý do nào đó trứng đã thụ tinh không di chuyển vào buồng tử cung (ví dụ do viêm tắcvòi trứng), trứng có thể phát triển ngay tại vòi trứng hoặc loa vòi trứng, hoặc đôi khi do nhu độngngược chiều của vòi trứng làm trứng rơi vào ổ bụng Những trường hợp này được gọi là chửa ngoài

dạ con Nếu không được phát hiện và xử trí kịp thời, phôi phát triển đến một mức nào đó sẽ làmgiãn, vỡ vòi trứng gây chảy máu làm nguy hiểm đến tình trạng người mẹ

4 Phôi làm tổ phát triển trong buồng tử cung

Trang 12

Sau khi chạm vào niêm mạc tử cung, phôi thường tiếp tục phát triển trong buồng tử cung từ

1 - 3 ngày nữa rồi mới gắn vào niêm mạc tử cung Như vậy sự làm tổ trong niêm mạc tử cungthường xảy ra vào khoảng ngày thứ 5 - 7 sau khi phóng noãn, và đó cũng là lúc niêm mạc tử cung

đã được chuẩn bị sẵn sàng để đón phôi vào làm tổ

Hiện tượng làm tổ được bắt đầu bằng sự phát triển của các tế bào lá nuôi (trophoblast) trên

bề mặt túi phôi Những tế bào này bài tiết enzym phân giải protein làm tiêu hủy các tế bào biểu môcủa nội tạng tử cung, đồng thời lấy chất dinh dưỡng bằng hiện tượng thực bào để nuôi phôi Các tếbào lá nuôi phát triển, ăn sâu vào niêm mạc tử cung, làm cho túi phôi vùi sâu vào niêm mạc tửcung

Ngay khi hiện tượng làm tổ xảy ra, các tế bào lá nuôi của phôi và các tế bào nội mạc tử cungtại chỗ đều tăng sinh nhanh để tạo ra rau thai và các màng thai

Trong hai tuần đầu, phôi phát triển nhờ chất dinh dưỡng lấy từ dịch niêm mạc tử cung Sau

đó, hệ thống mạch máu của bào thai phát triển và nguồn dinh dưỡng nuôi bào thai được lấy từ máu

mẹ qua rau thai

5 Chức năng của rau thai

Tổng diện tích bề mặt của các tua rau (villi) vào khoảng vài mét vuông (nhỏ hơn nhiều sovới tổng diện tích bề mặt của phế nang) Khoảng cách giữa máu mẹ và máu thai chỉ khoảng 3,5 m(gấp 10 lần khoảng cách qua màng phế nang) Nhiều chất dinh dưỡng và các chất khác khuếch tánqua màng rau (giống qua màng phế nang và qua thành mao mạch)

Rau thai có 3 chức năng quan trọng, đó là cung cấp chất dinh dưỡng cho thai, bài tiết cáchormon và vận chuyển các sản phẩm chuyển hóa được tạo thành từ thai, qua máu mẹ để thải rangoài

* Cung cấp chất dinh dưỡng:

Rau thai là trạm trung gian để cung cấp chất dinh dưỡng cho thai, và thải các sản phẩmchuyển hóa của thai, bằng cách cho các chất dinh dưỡng khuếch tán từ máu mẹ để thải ra ngoài qua

hệ thống bài tiết của người mẹ Sự khuếch tán các chất dinh dưỡng phụ thuộc vào diện tích bề mặtcủa rau và tính thấm của màng rau

Trong những tháng đầu, màng rau còn dày, do chưa được phát triển đầy đủ, vì vậy tính thấmcòn thấp Hơn nữa, khi đó rau chưa đủ lớn nên diện tích khuếch tán còn bị hạn chế Những thángsau, màng rau mỏng hơn, diện tích bề mặt lớn hơn nên tính thấm của màng rau thường tăng gấpbội

Rất ít khi gặp hiện tượng tổn thương màng rau do đó các tế bào máu của thai không thể quamáu mẹ Ngược lại cũng hiếm khi các tế bào máu của mẹ chuyển sang máu thai Những hiện tượngnày chỉ xảy ra khi màng rau bị tổn thương

* Khuếch tán oxy qua màng rau:

Oxy khuếch tán qua màng rau giống như qua màng phế nang, do có sự chênh lệch về Po2giữa máu mẹ và máu thai Ở những tháng cuối của thời kỳ có thai, Po2 của máu mẹ là 50mmHg,Po2 của máu thai là 30mmHg

Như vậy, chênh lệch Po2 giữa máu mẹ và máu con chỉ là 20mmHg Phân áp oxy của máu từrau thai đến thai chỉ là 30mmHg nhưng vẫn cho phép vận chuyển oxy đến các mô của thai giốngnhư máu mẹ vận chuyển oxy đến các mô của cơ thể mẹ, là vì 3 lý do:

- Do đặc tính của hemoglobin, thai có khả năng gắn oxy mạnh hơn so với hemoglobin ngườitrưởng thành

- Do nồng độ hemoglobin của thai cao hơn của người trưởng thành (cao hơn máu mẹ khoảng50%)

Trang 13

- Do tác dụng Bohr: Máu của thai khi chuyển đến rau có nồng độ CO2 cao hơn, nhưng CO2nhanh chóng khuếch tán qua màng rau vào máu mẹ, nên máu của thai trở nên kiềm hơn, còn máucủa mẹ trở nên axit hơn Chính điều kiện này đã làm cho hemoglobin gắn mạnh hơn với oxy.

* Khuếch tán CO2 qua màng rau:

CO2 được tạo thành liên tục ở mô thai nhi theo cơ chế giống ở cơ thể mẹ CO2 của máu thaicao hơn máu mẹ khoảng 2 - 3mmHg Mặc dù sự chênh lệch về phân áp CO2 giữa máu thai và máu

mẹ rất ít nhưng CO2 vấn khuếch tán được qua màng rau, vì CO2 có khả năng thấm qua màng raulớn hơn oxy khoảng 20 lần

* Khuếch tán chất dinh dưỡng qua màng rau:

Các chất dinh dưỡng cần cho thai được khuếch tán qua màng rau theo cơ chế giống khuếchtán oxy

- Glucose: Thời kỳ cuối, thai thường sử dụng glucose nhiều bằng toàn thể cơ thể mẹ Đểcung cấp được một lượng lớn glucose cho thai, các tế bào lá nuôi lót các múi rau cho glucose thấmqua màng rau bằng cơ chế khuếch tán tăng cường nhờ các chất thải có ở màng tế bào Tuy vậy,nồng độ glucose ở máu thai vẫn còn thấp hơn máu mẹ 20 - 30%

- Axit béo: Mặc dù tính thấm của axit béo qua màng tế bào cao, nhưng tốc độ khuếch tán củaaxit béo từ máu mẹ sang máu con vẫn chậm hơn glucose

- Các ion K+, Na+, Cl- và thể ceton cũng khuếch tán từ máu mẹ sang máu con

* Bài tiết các sản phẩm chuyển hóa của thai:

Các sản phẩm chuyển hóa của thai như CO2, các nitơ phi protein (urê, axit uric, creatinin)được khuếch tán từ máu con sang máu mẹ qua rau thai Sự bài tiết các sản phẩm chuyển hóa từ máuthai sang máu mẹ, phụ thuộc vào sự chênh lệch nồng độ của các sản phẩm này giữa máu thai vàmáu mẹ, cũng như phụ thuộc vào khả năng khuếch tán của từng chất Ví dụ urê khuếch tán quamàng rau rất dễ, nên mức urê của máu thai chỉ cao hơn máu mẹ một ít Ngược lại, creatinin lạikhuếch tán rất khó khăn nên sự chênh lệch giữa máu mẹ và máu thai rất cao

* Bài tiết hormon:

+ HCG (Human chorionic gonadotropin)

HCG do các tế bào lá nuôi bài tiết vào máu mẹ Hormon này có thể được tìm thấy trong máuhoặc nước tiểu của mẹ 8 - 9 ngày, sau khi phóng noãn, tức là rất sớm ngay sau khi phôi cấy vàoniêm mạc tử cung Nồng độ HCG tăng trong máu mẹ, cao nhất vào 10 - 12 tuần sau phóng noãn.Sau đó giảm dần, đến 16 - 20 tuần nồng độ còn rất thấp và duy trì ở mức này trong suốt thời giancòn lại của thời kỳ có thai

HCG có bản chất hóa học là glycoprotein với trọng lượng phân tử là 39.000 Cấu trúc vàchức năng của HCG rất giống LH do tuyến yên bài tiết

Tác dụng của HCG như sau:

- Ngăn cản sự thoái hóa của hoàng thể ở cuối chu kỳ kinh nguyệt

- Kích thích hoàng thể bài tiết một lượng lớn progesteron và estrogen trong 3 tháng đầu củathời kỳ có thai Những hormon này sẽ ngăn cản hiện tượng kinh nguyệt và làm cho niêm mạc tửcung tiếp tục phát triển và dự trữ chất dinh dưỡng tạo điều kiện cho phôi làm tổ và phát triển trongniêm mạc tử cung

- Kích thích các tế bào Legdig của tinh hoàn thai nhi bài tiết testosteron cho đến lúc sinh.Lượng testosteron được bài tiết ra tuy ít nhưng rất quan trọng vì nó làm phát triển các cơ quan sinhdục đực và kích thích chuyển tinh hoàn từ ổ bụng xuống bìu vào cuối thời kỳ có thai

+ Estrogen:

Trang 14

Estrogen do các tế bào lá nuôi bài tiết, nồng độ tăng dần, vào cuối thời kỳ có thai nồng độ cóthể gấp 30 lần so với bình thường Đặc điểm bài tiết estrogen của rau thai hoàn toàn khác với buồngtrứng ở chỗ:

Hầu như estrogen do rau thai bài tiết, là estriol - loại có họat tính estrogen rất yếu

Estrogen được bài tiết ở rau thai không được tổng hợp trực tiếp từ cholesterol, mà là đượcchuyển từ androgen có nguồn gốc từ tuyến vỏ thượng thận của mẹ và của thai Tế bào lá nuôi chỉ làchặng chuyển hóa trung gian để chuyển androgen thành estrogen

Tác dụng của estrogen trong thời kỳ có thai là:

- Tăng kích thước và trọng lượng cơ tử cung

- Phát triển ống tuyến vú và mô đệm

- Phát triển đường sinh dục ngoài: giãn và làm mềm thành âm đạo, mở rộng lỗ âm đạo

- Giãn khớp mu, giãn dây chằng

- Tăng tốc độ sinh sản tế bào ở các mô của thai

Tất cả những tác dụng trên có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển và tạo điều kiện dễ dàngcho sự sổ thai

+ Progesteron:

Cũng như estrogen, progesteron là một hormon rất quan trọng trong thời kỳ có thai.Progesteron được bài tiết từ hoàng thể trong khoảng 10 - 12 tuần đầu của thời kỳ có thai, sau đó dorau thai bài tiết với một lượng đáng kể khoảng 0,25mg/ngày cho tới cuối thời kỳ có thai

Progesteron có tác dụng đặc biệt quan trọng, đó là làm cho quá trình có thai xảy ra bìnhthường

- Làm phát triển tế bào màng bụng ở nội mạc tử cung Những tế bào này đóng vai trò quantrọng trong việc nuôi dưỡng bào thai trong thời gian đầu

- Giảm co bóp cơ tử cung khi có thai, do đó ngăn cản xảy ra

- Tăng bài tiết dịch vòi trứng và niêm mạc tử cung để cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi

- Ảnh hưởng đến quá trình phân chia của trứng đã thụ tinh

- Phát triển thùy và bọc tuyến vú

Vì những tác dụng trên, người ta gọi progesteron là hormon dưỡng thai Vì lý do nào đó mànếu nồng độ progesteron giảm, sự phát triển của thai sẽ bị ảnh hưởng

+ HCS (Human chorionic somatomamotropin)

HCS là một hormon mới được tìm thấy ở rau thai Bản chất hóa học của HCS là protein vớitrọng lượng phân tử 38.000

Hormon này được bài tiết từ rau thai vào tuần thứ 5, nồng độ tăng dần theo tuổi thai và tỷ lệthuận với trọng lượng rau thai Nồng độ hormon này trong máu cao gấp nhiều lần so với tổng lượngcác hormon khác trong thời kỳ có thai gộp lại

Tác dụng của HCS như sau:

- Trên một số động vật cấp thấp, HCS tham gia phát triển tuyến vú và trong một số trườnghợp còn gây bài tiết sữa Chính vì tác dụng này mà lúc mới tìm ra hormon này người ta đặt tên cho

nó là “Yếu tố bài tiết sữa do rau thai bài tiết” Người ta cho rằng, nó có tác dụng giống prolactin.Tuy nhiên, trên người HCS không gây bài tiết sữa

- Có tác dụng giống GH nhưng yếu hơn HCS có công thức hóa học giống như GH, nhưng

để có tác dụng làm phát triển cơ thể thì cần phải có một lượng nhiều gấp 100 lần hormon GH

- Làm giảm tính nhạy cảm với insulin và làm giảm tiêu thụ glucose ở cơ thể mẹ, do đó đểdành một lượng lớn glucose cho thai sử dụng vì glucose là chất chủ yếu cung cấp năng lượng chothai phát triển

Trang 15

- Kích thích giải phóng axit béo từ mô mỡ dự trữ của mẹ, để cung cấp nguồn năng lượngthay thế cho chuyển hóa của mẹ.

Chính vì những tác dụng trên nên HCS được coi là một hormon chuyển hóa, có liên quanđến dinh dưỡng đặc biệt cho cả mẹ và thai

6 Những đáp ứng của cơ thể người mẹ khi có thai

* Bài tiết hormon:

Trong thời kỳ có thai, ngoài các hormon do rau thai bài tiết, người mẹ cũng có những thayđổi về họat động của hệ thống nội tiết để một mặt tăng cường chuyển hóa trong cơ thể mẹ với mụcđích cung cấp chất dinh dưỡng nuôi thai, mặt khác phát triển cơ thể người mẹ, chuẩn bị cho khảnăng sinh con và nuôi con

- Tuyến yên: Trong khi có thai, tuyến yên người mẹ to gấp rưỡi so với bình thường Tuyếnyên tăng bài tiết một số hormon như: ACTH, TSH, PRL; ngược lại giảm bài tiết FSH, LH

- Cortisol: Được bài tiết nhiều để tăng vận chuyển axit amin từ mẹ sang thai

- Aldosteron: Nồng độ tăng gấp đôi bình thường và cao nhất vào thời gian cuối của thời kỳ

có thai Aldosteron cùng với entrogen là tăng tái hấp thu ion Na+ ở ống thận và kéo theo nước, do

đó làm tăng huyết áp

T3 T4: Tuyến giáp của người có thai to gấp rưỡi người bình thường và tăng bài tiết T3 T4 Nồng độ T3 - T4 tăng một phần do tác dụng kích thích tuyến giáp của HCG, phần khác do một

-ít hormon kích thích tuyến giáp được bài tiết từ rau thai (Human chorionic thyrotropin)

- Parathormon: Tuyến cận giáp ở người có thai cũng to hơn bình thường và tăng bài tiếtPTH Hiện tượng này đặc biệt xảy ra mạnh ở những người mẹ thiếu canxi trong chế độ ăn LượngPTH tăng đã làm tăng quá trình hủy xương ở người mẹ nhằm mục đích duy trì nồng độ ion Ca+ ởdịch ngoại bào vì thai luôn lấy canxi để tạo xương

- Relaxin: Relaxin do hoàng thể và rau thai bài tiết Bản chất hóa học của relaxin vàpolypeptid với trọng lượng phân tử là 9.000

Tác dụng của relaxin là giãn dây chằng khớp mu ở lợn và chuột động dục Ở người, tác dụngnày chủ yếu do estrogen đảm nhận

Làm mềm cổ tử cung của phụ nữ lúc sinh con

* Phát triển các cơ quan sinh dục:

Do tăng bài tiết các hormon nên kích thước các cơ quan sinh dục thay đổi Trọng lượng tửcung tăng từ 50g lúc bình thường, lên 1100g khi có thai Tuyến vú to gấp đôi Âm đạo rộng hơn, lỗ

âm đạo mở to hơn

* Tuần hoàn của mẹ:

Tăng lưu lượng tim: Trong những tháng cuối, lưu lượng tim tăng hơn bình thường 30 40% do tăng chuyển hóa

Tăng lưu lượng máu khoảng 30% Nguyên nhân chủ yếu là do tăng nồng độ aldosteron,estrogen Ngoài ra còn do tủy xương tăng sản xuất hồng cầu Vào thời điểm sổ thai, lượng máu của

mẹ tăng 1 - 2 lít nhưng chỉ 1/4 lượng này bị mất khi đẻ

* Hô hấp của mẹ:

Do tăng trọng lượng cơ thể, tăng chuyển hóa nên mức tiêu thụ oxy cũng tăng

Ngay trước khi sinh, mức tiêu thụ oxy tăng khoảng 20%, lượng CO2 cũng tăng do đó tăngthông khí Ngoài ra do tăng progesteron nên tính nhạy cảm của trung tâm hô hấp với CO2 cũngtăng Kết quả của những thay đổi này đều làm tăng thông khí Một lý do khác nữa cũng góp phầnlàm tăng thông khí đó là do tử cung tăng kích thước đẩy cơ hoành lên làm khó khăn cho việc thayđổi kích thước phổi

* Tăng trọng lượng cơ thể và dinh dưỡng trong thời kỳ có thai:

Trang 16

Vào tháng cuối của thời kỳ có thai, trọng lượng cơ thể mẹ có thể tăng tới 12kg, trong đótrọng lượng thai khoảng 3kg, 2kg dịch và rau, 1kg tử cung, 1kg tuyến vú, dịch ngoài bào 3kg, mỡ 1

- 2kg

Trong thời kỳ có thai, nhu cầu dinh dưỡng tăng vì cần phải cung cấp chất dinh dưỡng cho cả

mẹ và thai đặc biệt trong 3 tháng cuối, vì thai lớn nhanh trong thời gian này Thông thường trongnhững tháng này cho dù tăng dinh dưỡng, người mẹ cũng không thể thu nhận đủ chất dinh dưỡngqua đường tiêu hóa Tuy nhiên, trong những tháng đầu của thời kỳ có thai, người mẹ đã có mộtlượng chất dinh dưỡng nhất định dự trữ ở rau thai và nhất là ở các kho dự trữ của mẹ

Các chất dinh dưỡng cần thiết trong thời kỳ này là protein, glucid, lipid đặc biệt là calci,phosphat, sắt, vitamin, như vitamin D, vitamin A

Nếu cung cấp không đủ chất dinh dưỡng, thai sẽ kém phát triển và gây thiếu hụt dinh dưỡng

ở mẹ

7 Sổ thai

Sổ thai hiểu theo một nghĩa đơn giản là quá trình sinh đứa bé

Thai phát triển trong tử cung từ 270 - 290 ngày Vào cuối thời kỳ có thai, tử cung ở trongtrạng thái bị kích thích Đến cuối kỳ này, tử cung bắt đầu có những cơn co Chính nhờ những cơn

co này mà thai và rau được sổ ra ngoài do co cơ tử cung, đó là những thay đổi về nồng độ hormon

và những thay đổi về cơ học

* Vai trò của hormon:

- Tỷ lệ giữa estrogen và progesteron

Progesteron ức chế co cơ tử cung trong thời kỳ có thai giúp cho thai yên ổn phát triển trong

tử cung Ngược lại estrogen lại làm tăng co cơ tử cung Cả hai hormon này đều được bài tiết nhiềutrong thời kỳ có thai Nhưng từ tháng thứ 7, lượng estrogen tiếp tục được bài tiết tăng trong khi đólượng progesteron lại giữ nguyên, thậm chí có thể giảm Người ta cho rằng sự thay đổi tỷ lệ giữahai hormon này đã làm tăng co cơ tử cung

- Số lượng receptor tiếp nhận oxytocin trong cơ tử cung tăng trong vài tháng cuối của thời kỳ

có thai

- Nồng độ oxytocin trong máu tăng lúc sổ thai

Ở người, oxytocin không phải là yếu tố quyết định cuộc đẻ nhưng nếu thiếu oxytocin, cuộc

đẻ sẽ kéo dài

* Vai trò của các yếu tố cơ học:

- Căng cơ tử cung: Thông thường khi các sợi cơ trơn bị kéo căng ra sẽ có xu hướng co lại.Trong trường hợp này do thai lớn nên đồng thời tăng vận động vào cuối kỳ có thai, nên cơ tử cung

bị kéo căng đến mức tối đa Chính sự căng cơ đã kích thích cơ tử cung co

- Căng cổ tử cung: Cổ tử cung bị căng hoặc bị kích thích, là yếu tố rất quan trọng gây co cơ

tử cung Khi màng ối rách, đầu đứa trẻ thúc xuống cổ tử cung với lực đủ mạnh sẽ kích thích cổ tửcung Cổ tử cung bị kích thích sẽ gây tác dụng điều hòa ngược dương tính lên phần thân tử cung,làm cho cơn co của thân tử cung càng mạnh hơn

* Sổ thai:

Trong lúc sổ thai, cơn co tử cung bắt đầu từ đáy tử cung, rồi truyền xuống thân tử cung.Cường độ co mạnh ở đáy và thân tử cung nhưng yếu dần khi đến vùng tiếp giáp giữa thân và cổ tửcung Vì vậy, mỗi một nhịp co của cơ tử cung, thai có xu hướng được đẩy xuống cổ tử cung

Vào lúc bắt đầu chuyển dạ, cứ khoảng 30 phút cơn co xuất hiện một lần Sau đó dần dần cơ

co dày hơn (1 - 3 phút 1 lần) và mạnh hơn

Trang 17

Trong lúc sổ thai, cơ chế điều hòa ngược dương tính từ cổ tử cung lên đáy và thân tử cung có

ý nghĩa rất quan trọng Chính nhờ cơ chế này mà cơn co tử cung ngày càng dày và mạnh, theohướng từ đáy đến thân và cổ tử cung, tạo một lực đẩy đứa trẻ ra ngoài

Động tác rặn trong lúc đẻ gây co cơ thành bụng dồn phủ tạng ép vào đáy tử cung, cũng cótác dụng tạo lực đẩy đứa trẻ ra ngoài

Chính vì cơ tử cung co, ép vào mạch máu gây tình trạng thiếu máu, thiếu oxy kết hợp với sựcăng cổ tử cung, căng múc mạc, căng thành âm đạo đã gây ra đau đớn cho người phụ nữ khi đẻ

8 Bài tiết sữa

* Bài tiết sữa:

Nồng độ prolactin trong thời kỳ có thai cao gấp 10 lần so với bình thường Thêm vào đó rauthai bài tiết HCS Hai hormon này phối hợp kích thích nang tuyến sữa đã được phát triển dưới tácdụng của các hormon sinh dục bài tiết sữa

Trong khi có thai, do tác dụng ức chế của estrogen và progesteron, nên mỗi ngày tuyến sữachỉ bài tiết vài mililit cho tới lúc đẻ Sữa được bài tiết vài ngày đến vài tuần trước khi đẻ, được gọi

là sữa non Sữa này có thành phần giống sữa sau khi sinh con nhưng lượng lipid ít hơn

Ngay sau khi đẻ, estrogen giảm nên đã làm tăng tác dụng bài tiết sữa của prolactin

* Bài xuất sữa:

Sữa được bài tiết dưới tác dụng của prolactin vẫn nằm trong bọc tuyến Dưới tác dụng củaoxytocin do vùng dưới đồi bài tiết, sữa được đẩy vào ống tuyến Khi đứa trẻ bú, sữa từ ống tuyến sẽchảy vào miệng đứa trẻ

Chính động tác nút núm vú của đứa trẻ sẽ tạo xung động truyền về vùng dưới đồi và thùy sautuyến yên, gây bài tiết oxytocin Bởi vậy, ngay sau khi sinh người mẹ cần cho con bú ngay Việccho bú sớm sẽ làm tăng bài tiết oxytocin để một mặt kích thích bài xuất sữa, mặt khác giúp co hồi

tử cung sau đẻ nhanh hơn

Sự bài tiết oxytocin còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, cảm xúc Vuốt ve âu yếmcon, nghe tiếng con khóc, đều gây những tín hiệu cảm xúc truyền về vùng dưới đồi làm tăng bàixuất sữa Trái lại những kích thích giao cảm mạnh, căng thẳng kéo dài sẽ ức chế bài xuất sữa

* Thành phần và sự ưu việt của sữa mẹ:

So với sữa bò, sữa mẹ có thành phần lactose cao hơn khoảng 50% nhưng lượng protein lạithấp hơn 2 - 3 lần

Lượng calci và các ion khác trong sữa mẹ chỉ bằng 1/3 trong sữa bò Trong sữa mẹ có mộtthành phần rất quan trọng đó là kháng thể, do vậy những đứa trẻ bú mẹ thường có sức đề kháng caohơn những đứa trẻ ăn sữa bò

Mỗi ngày lượng sữa mẹ được sản xuất khoảng 1,5 lít Với lượng sữa được sản xuất hàngngày lớn như vậy, một lượng lớn chất dinh dưỡng bị rút khỏi cơ thể mẹ để đưa vào sữa: 50g mỡ,100g lactose, 2 - 3g calciphosphat Bởi vậy trong thời kỳ nuôi con, nếu không cung cấp đủ chấtdinh dưỡng cho mẹ thì sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt dinh dưỡng ở người mẹ và ảnh hưởng đến sựphát triển của con

Chương 3: Quan niệm của Đông y về sinh lý, sinh sản nữ

1 Đặc điểm sinh lý của phụ nữ

Trang 18

Sự họat động khí huyết, kinh lạc, tạng phủ trong cơ thể của con người, nam cũng như nữ,bình thường giống nhau, nhưng có điều khác hơn là do phụ nữ có sinh đẻ, có tử cung, buồng trứng,kinh nguyệt, mang thai, và bú mớm, chính thế mà họat động khí huyết, tạng phủ, kinh lạc của phụ

nữ có điều khác hơn chút ít ở nam giới

Cơ thể con người lấy kinh lạc tạng phủ làm gốc, lấy khí huyết làm dụng Kinh nguyệt, cóthai; sinh đẻ, bú mớm của phụ nữ là biểu hiện tác dụng hóa sinh của khí huyết, tạng phủ, kinh lạc

Tử cung là cơ quan hành kinh nguyệt và nuôi nấng thai nhi ; khí huyết là vật chất cơ sở của kinhnguyệt, dưỡng thai, bú mớm ; tạng phủ là nguồn gốc hóa sinh ra khí huyết ; kinh lạc là đường lưuthông của sự vận hành khí huyết Vì thế khi nghiên cứu về sinh lý của phụ nữ cần phải lấy kinh lạc,tạng phủ làm hạch tâm Khi muốn tìm hiểu đến kinh nguyệt, mang thai thì phải tìm đến sự liên hệgiữa nó cùng với kinh lạc, tạng phủ, khí huyết, nhất là các tạng phủ thận, can, tỳ, vị và hai mạchXung, Nhâm, tất cả những điều này đối với giới phụ nữ có tác dụng rất quan trọng

2 Tử cung

Tử cung còn gọi là Bào cung, hay Nữ tử bào, đó là cơ quan của phụ nữ bài tiết kinh nguyệt

và khi có thai dùng để chứa đựng thai nhi Do có công dụng đặc thù này mà Nội kinh còn gọi nó là

“Kỳ hằng chi phủ” Nó nằm ở chính giữa bụng dưới, sau bàng quang và phía trước trực tràng,miệng dưới nối tiếp với âm đạo, khi mang thai, hình dạng của nó giống trái lê lộn ngược

Tử cung, ngoài sự liên hệ hỗ tương giữa 12 kinh mạch và tạng phủ ra, nó lại có quan hệ rấtmật thiết với Xung mạch, Nhâm mạch, Đốc mạch và Đới mạch, nhất là Xung mạch và Nhâm mạch.Hai mạch Xung, Nhâm này đều bắt đầu xuất phát ở trong tử cung Xung mạch là huyết hải, Nhâmmạch chủ bào thai Khi người con gái tới tuổi dậy thì, trên dưới 14 tuổi thì Nhâm mạch đã thông,mạch Thái xung thịnh huyết hải tràn đầy chảy xuống tử cung mà xuất hiện kinh nguyệt, ấy chứng

tỏ rằng chức năng sinh dục của người con gái đã đến lúc đầy đủ để có thể sinh con

Ngoài ra, tử cung còn có quan hệ mật thiết với hai tạng Tâm và Thận Trong sách Tố vấn ởthiên “Binh nhiệt bệnh luận” ghi rằng: “Mạch của tử cung thuộc Tâm và có mạch lạc vào ở trong tửcung (Bảo mạch thuộc Tâm nhi lạc vu bào trung) và trong “Kỳ bệnh luận” ghi rằng: Mạch của tửcung có quan hệ với thận (Bào mạch giả hệ vu Thận) Theo sinh lý, Tâm chủ huyết, Thận tàng tinh,nếu như tâm huyết và thận tinh đầy đủ thông vào tử cung thì kinh nguyệt và thai dựng đều ở trongtrạng thái bình thường

3 Xung, Nhâm, Đốc, Đới

Mạch Xung, mạch Nhâm, mạch Đốc, mạch Đới là một phần trong kỳ kinh bát mạch, bốnmạch này trên phương diện sinh lý của phụ nữ có tác dụng rất quan trọng, trong đó công dụng củamạch Xung và Nhâm lại càng quan trọng hơn

Xung mạch là tổng lĩnh yếu xung của khí huyết 12 kinh, đường đi bắt đầu từ Hội âm qua nếpbẹn rồi hợp với kinh của Thận đi lên ngực, bụng hợp với mạch Nhâm lên mặt, vòng quanh môi rồiđến hàm dưới, mắt Từ nếp bẹn, dọc theo mặt trong chi dưới, đến mắt cá trong ra đến mu bàn chânrồi đến ngón cái, hợp với mạch Đốc di ở lưng Mạch Xung liên hệ với tử cung, tủy sống, thận, mắt,gồm có các huyệt nằm trên đường kinh thận: Hoành cốt, Đại hách, Khí huyệt, Tứ mãn, Trung chú,Hoang du, Thương khúc, Thạch quan, Âm đô, Thông cốc, U môn Giao hội với huyệt Hội âm, Khíxung, Âm giao Vì sự phân bố quan trọng của nó nên cổ nhân còn gọi Xung mạch là “Biển của ngũtạng lục phủ” (Ngũ tạng lục phủ chi hải) hoặc là “Biển của 12 kinh” (Thập nhị kinh chi hải) lại cókhi gọi nó là “Huyết hải” người đàn bà mà huyết hải tràn đầy thì chảy lên trên thành sữa, chảyxuống dưới làm thành kinh nguyệt

Nhâm mạch bắt đầu phát xuất từ Hội âm, qua trong tử cung rồi giữa bụng, ngực lên mặt rồiđến dưới mắt Mạch Nhâm liên hệ với tử cung, mắt gồm có các huyệt nằm trên đường kính: Hội

âm, Khúc cốt, Trung Cực, Quan nguyên, Thạch môn, Khí hải, Âm giao, Thần khuyết, Thủy phân,

Trang 19

Hạ quản, Kiến lý, Trung quản, Thượng quản, Cự khuyết, Cưu vĩ, Trung đình, Chiên trung, Ngọcđường, Tử cung, Hoa cải, Triền cơ, Thiên đột, Liêm tuyền, Thừa tương Giao hội với huyệt: Thừakhấp, Ngân giao, vì có tác dụng tổng nhiệm các âm mạch của cả toàn thân, nên cổ nhân còn gọi là

“Biển của âm mạch” (Âm mạch chi hải có tác dụng chủ trì chức năng sinh dục của phụ nữ)

Đốc mạch gồm 4 nhánh, nhưng nhánh có liên quan nhiều tới phụ nữ bắt đầu từ trong tử cungbụng dưới, đi xuống tầng dưới sinh môn đến vùng Hội âm qua mút xương sống cụt rồi vòng quanhqua mông cùng với mạch của kinh Thận đi lên hội với kinh Bàng quang, quay lui nhập vào thận Vì

có tác dụng tổng đốc các dương mạch của toàn thân, nên cổ nhân còn gọi nó là “Dương mạch chihải” (Biển của các dương mạch) Mạch đốc liên hệ với Thận, Tử cung, Tủy não Gồm có các huyệtnằm trên đường kinh: Trường cường, Yêu du, Dương quan, Chí dương, Linh đài, Thần đạo, Thântrụ, Đào đạo, Đại chùy, Á môn, Phong phủ, Não hộ, Cường gian, Hậu đính, Bách hội, Tiền đính,Tín hội, Thượng tinh, Thần đình, Tố liêu, Thủy cấu, Đoài đoan, Ngân giao Giao hội với huyệt:Phong môn, Hội âm

Đới mạch bắt đầu đi từ dưới đốt thắt lưng thứ hai, ra vòng quanh bụng và lưng, có tác dụngchính là cột túm các kinh mạch khác để tăng cường sự liên hệ hỗ tương giữa các kinh khác lại vớinhau Gồm có những huyệt nằm trên đường kinh: Đới mạch, Ngũ khu, Duy đạo

Xung, Nhâm, Đốc, Đới tuy mỗi mạch có một tác dụng khác nhau, nhưng lại luôn liên hệ vớinhau Mạch Xung và Nhâm đều liên hệ cùng với sự phát triển ở trong tử cung Xung chủ yếu vềhuyết hải, Nhâm chủ về bào thai, mạch Nhâm lưu thông, mạch Xung thịnh vượng thì hai mạchnương nhờ lẫn nhau mà sinh hóa để có thể sinh ra kinh nguyệt, có kinh nguyệt thì người đàn bà mới

có khả năng có thai và sinh dục, đó là tác dụng đặc thù của sinh lý phụ nữ

Hai mạch Đốc và Đới lại cùng tương thông với nhau Ba mạch Đốc, Nhâm, Xung đều phảithông qua vùng Hội âm, ở đây chúng cùng liên hệ lẫn nhau Mạch Đới vì có tác dụng cột túm (ướcthúc) nên các kinh mạch toàn thân đều liên hệ với nó Ba mạch Đốc, Nhâm, Xung đều có lạc mạchtương thông với Đới mạch Cổ nhân đã lấy sự quan hệ này rồi nhận xét rằng: “Ba mạch Xung,Nhâm, Đốc cùng bắt đầu khởi hành từ một chỗ nhưng đường đi của nó khác nhau và đều lạc ởmạch Đới” (Tam mạch Xung, Nhâm, Đốc đồng khởi nhi dị hành, giai lạc vu Đới mạch) Điều nàychứng tỏ chúng có liên hệ ảnh hưởng mật thiết lẫn nhau, rồi cấu thành một hệ thống hữu cơ liên hệ

Hệ thống này có quan hệ trực tiếp đối với kinh nguyệt và sinh dục của phụ nữ

4 Kinh nguyệt

Hiện tượng sinh lý

Nữ giới khỏe mạnh vào khoảng chừng 14 tuổi thì kinh nguyệt bắt đầu có, sau đó cứ theo quyluật mỗi tháng một lần, cứ thế mà đến khoảng năm 49 tuổi thì ngừng kinh, trừ khi có thai và thờigian cho con bú, sau thời gian đó thì sẽ trở lại đó là trạng thái sinh lý bình thường Ngoài ra, cũng

có khi cơ thể không bị bệnh tật mà kinh nguyệt hai tháng có một lần, gọi là Tịnh nguyệt, ba tháng

có kinh một lần gọi là Cư kinh hay Cư nguyệt lại gọi là Phi quý Một năm có kinh một lần gọi là Tỵniên hay Tỵ kinh Suốt đời không có kinh, đến kỳ chỉ thấy hơi đau bụng mà vẫn có thai như thườnggọi là Ám kinh Lại có người sau khi thai nghén nhưng hàng tháng vẫn hành kinh mà không thươngtổn tới người mang thai và thai nhi gọi là Thạnh thai hay Cấu thai còn gọi là Khích kinh Tất cả đóđều là hiện tượng cá biệt trên lãnh vực sinh lý của người phụ nữ mà không phải là bệnh lý

Kinh nguyệt, ngoài chu kỳ cố định ra, lượng kinh cũng có khi do thể chất và bẩm tố khácnhau vì tuổi tác, khí hậu, địa khu, sinh hoạt mà thay đổi Thời gian hành kinh mỗi lần thôngthường liên tục từ 3 - 5 ngày thì sạch huyết, cũng có khi nhiều đến 6 - 7 ngày, nếu không có bệnhchứng gì thì cũng đều thuộc trong phạm vi sinh lý bình thường Thường màu sắc của kinh nguyệt

có màu hồng sẫm, bắt đầu hơi nhạt kế tiếp hơi đậm rồi sau là hồng nhạt lần lần cho đến khi hết,

Trang 20

không đóng cục, không ngưng kết tủa, không trong không dẻo cũng không có mùi vị hôi hám đặcbiệt.

Cơ chế

Sự sinh sản ra kinh nguyệt là do hiện tượng sinh lý của kinh lạc, tạng phủ, khí huyết tác dụngtrên tử cung Thành phần của kinh nguyệt chủ yếu là huyết, mà huyết là do tạng phủ biến hóa mà rarồi thông qua hệ kinh mạch mới có thể đưa tới tử cung Sự sinh sản ra kinh nguyệt và sự bìnhthường hay không bình thường của nó là trực tiếp bị ảnh hưởng đến sự thịnh suy của tạng phủ kinhmạch Tạng phủ vô bệnh và khí huyết sung túc, kinh mạch thông suốt thì kinh nguyệt cũng nhờtheo đó mà thay đổi Vì thế mỗi khi thảo luận đến cơ chế sinh sản ra kinh nguyệt cũng cần quan hệxiển minh từ tạng phủ kinh mạch cùng với kinh nguyệt Sách “Tố Vấn” trong thiên “Thương cổthiên chân luận” ghi rằng: “Đàn bà con gái 27 thì thiên quý đến mạch Nhâm thông, mạch Thái xungthịnh thì kinh nguyệt theo đó mà xuống”, nói lên rằng sự thông thịnh của hai mạch Xung, Nhâm làđiều kiện chủ yếu việc sinh sản kinh nguyệt (Thiên quý đến tức là Thiên quý chí) thầy thuốc đờisau nhận lầm Thiên quý là kinh nguyệt Thiên quý là vật chất mới sản sinh trong lúc cơ năng sinhdục đã trưởng thành Theo trong “Linh khu” thiên “Quyết chí” ghi rằng: Hai thần bắt gặp nhau hợplại mà thành hình, người xưa vẫn biết được rằng có thai là do sự cấu tinh, nhưng cấu tinh có khikhông mang thai, nhân thế mà nghĩ đến phương diện Tinh nhất định sẽ có nhân tố sinh thai, vì thiếuđiều kiện vật chất người xưa không thể quan sát tường tận, không biết gọi là gì nên gọi là Thần, chonên tiếp đến dưới lại nói rằng: “Thường sinh trước Thần gọi là Tinh” Giải thích Thần sinh ở trongTinh Ta lại xem lại câu: “Con gái thiên quý đến thì mạch Nhâm thông, mạch Thái xung cườngthịnh mới có kinh nguyệt, con trai Thiên quý đến tinh khí đầy dẫy mà có con”, lý giải Thiên quý làvật chất chủ yếu đến chức năng sinh dục

Thành phần chủ yếu của kinh nguyệt là huyết, mà sinh ra huyết thống nhiếp sự vận hành củahuyết đều có sự điều tiết và hóa sinh của khí, đồng thời khí lại cần vào sự dinh dưỡng của huyết Vìthế trên cơ chế sinh sản kinh nguyệt khí huyết chẳng những là vật chất cơ sở tối căn bản mà lại còn

có quan hệ hỗ tương mật thiết với nhau Nhưng khí huyết là nguồn gốc trong tạng phủ Trong tạngphủ thì Tâm chủ huyết, Can chứa huyết, Tỳ thống huyết, Vị chủ thu nạp nấu chín thủy cốc cùng với

Tỳ là nguồn gốc của sự sinh hóa Thận tàng tinh, tinh lại là căn bản của khí huyết sinh thành, Phếchủ khí của toàn thân, nơi mà qui triều của bách mạch vận chuyển tinh vi Ngũ tạng điều hòa, khíhuyết thông sướng thì huyết hải khi ấy tràn đầy, kinh nguyệt đúng kỳ Chúng ta thấy được rằng trên

cơ lý của tạng phủ sự phát sinh sinh sản ra kinh nguyệt của nó rất có quan trọng, nhất là với Thận,Can, Tỳ, Vị lại càng quan trọng hơn

Thận là bản gốc của tiên thiên, cội rễ của nguyên khí, chủ về tàng tinh khí (khi ấy thuộc vềthận khí) là bản căn của sự phát dụng, sinh trưởng và sinh dục của con người Người con gái saukhi sự phát dục đã trưởng thành, thì thận khí vượng thịnh chân âm trong thận bắt đầu thành thục(trưởng thành) nhờ đó mà Thiên quý đến, và nhờ thông Nhâm thịnh Xung mà có kinh nguyệt hàngtháng

Can là tạng tàng huyết, toàn thân các bộ phận đều do huyết hóa sinh, ngoại trừ dinh dưỡng ởchâu thân đều chứa ở gan, nó chia phần hữu dư chảy xuống huyết hải làm thành kinh nguyệt

Tác dụng của Tỳ là sinh huyết và thống huyết Tỳ chủ vận hóa thủy cốc, vận tống tinh vichảy lên ở tâm phế rồi hóa làm huyết, vì vậy là nguồn gốc sinh hóa của huyết, gốc rễ của kinhnguyệt Tiết Lập Trai nói rằng:

“Huyết là tinh khí của thủy cốc, sái trần của sáu phủ, đàn bà thì chạy lên trên làm thành nhũtrấp, chạy xuống làm thành kinh nguyệt Đó là nói lên rằng Tỳ có tác dụng sinh sản ra kinh nguyệt

Vị là biển của thủy cốc (Thủy cốc chi hải) chủ về thu nạp và chưng chính cơm nước cùng cóquan hệ biểu lý với Tỳ, vì Vị là phủ đa khí đa huyết Mạch của Túc dương minh, Vị kinh chạy

Trang 21

xuống cùng hội với mạch Xung ở Khí xung Vì vậy có thuyết nói rằng: “Xung mạch kiện ở Dươngminh” Vì vậy, Vị khí mạnh thịnh thì Xung mạch cũng theo đó mà mạnh theo, huyết hải thườngtràn đầy kinh nguyệt mới có thể đến với những chu kỳ bình thường.

Tóm lại, Can, Thận, Tỳ, Vị và hai mạch Xung, Nhâm trên cơ lý của việc sản sinh ra kinhnguyệt, tuy mỗi cái có tác dụng mỗi khác nhau, nhưng giữa chúng có liên hệ hỗ tương với nhau,không thể phân cắt ra được Thận và Can là mẹ con, Thận chủ tàng tinh, Can chủ tàng huyết Tinhhuyết là gốc của việc sinh ra kinh nguyệt Tỳ Vị là biểu lý Vị chủ thu nạp thủy cốc Tỳ chủ vận hóatinh vi lại là nguồn gốc sinh tính hóa huyết Tỳ, Thận, Can, Vị sung túc tự điều chỉnh giúp đỡ lẫnnhau rót vào hai mạch Xung Nhâm xuống tử cung mà thành kinh nguyệt Vì thế, tác dụng hiệp điềugiữa tạng phủ, kinh lạc, khí huyết được tốt mới có thể là cho kinh nguyệt bình thường, ngược lại thìsinh ra bệnh tật

5 Mang thai

Sau sự phát dục trưởng thành của phụ nữ, kinh nguyệt mỗi tháng mỗi đến thì người đàn bà

có khả năng mang thai được Cơ quan tổ chức chứa đựng thai nhi là Tử cung, mà cơ lý của việcchứa thai thì ở Thận và hai mạch Xung, Nhâm Xung là huyết hải, Nhâm chủ về bào thai; Xung,Nhâm thông thịnh thì kinh nguyệt chảy xuống, Thận khí thịnh thiên quý đến thì tinh khí tràn đầy.Hình hài thai nhi là do sự kết hợp “tinh” của phái nam “Tinh” là vật chất cơ bản để cấu thành cơthể con người, nó có sức phát dục cho sự sinh trưởng và sinh dục, tinh tàng chứa trong tạng Thận,sau khi nam nữ sinh dục đã được trưởng thành, thận tinh sung túc, khi ấy nam nữ cùng nhau giaohợp thì hai tinh kết hợp để cấu thành thai nhi

Sau khi thụ thai, kinh nguyệt đình chỉ thì lúc đó khí huyết của tạng phủ kinh lạc đều chảyxuống ở Xung, Nhâm để dưỡng thai Vì thế, theo toàn thân mà nói, thì khi huyết mà đưa đến không

đủ thì khí tương đối hữu dư sinh nên các đặc điểm âm tụ ở dưới, dương thịnh ở trên Cuối kỳ thángthứ nhất đều thèm ăn uống khác thường, vị khí không thư thái sinh ra các cảnh tượng mửa, ọe khan.Vào thời kỳ tháng thứ 3, buồng vú to dần, thân vú và núm vú đổi sắc, có khi buồng vú cảm thấynhức nhẹ, bụng mỗi ngày mỗi to, hai chân phù thũng, tiểu tiện nhiều lần, là bởi thời kỳ đầu mangthai do huyết tụ ở bên dưới, khí ở Xung mạch tương đối thịnh, nếu vị khí vốn đã hư thì dễ kết hợpvới khí nghịch lên trên của Can và Vị, làm ra các hiện tượng thích ăn đồ chua, lợm mửa, nôn ọe,chóng mặt, xoàng đầu

Sau bốn tháng, thai phụ có thể thấy thai động, sờ biết chỗ thai Vào kỳ tháng thứ năm thứsáu, các chứng phù thũng, ẩu thổ, nôn ọe lần lượt biến mất, buồng vú nở to, nặn ra có chút ít sữa,bụng dưới căng lên rõ ràng, tự thấy thai động mạnh Vào khoảng bảy, tám tháng bụng dưới phình

to, rốn nổi lên Đến tháng thứ mười rốn lồi lên, hay tiểu tiện, đại tiện nhiều hoặc bí là do sự pháttriển của thai ép vào bàng quang và trực thường, chuẩn bị thai nhi chào đời

6 Lâm sản, hậu sản

Người phụ nữ mang thai chừng trên dưới 280 ngày (khoảng chín tháng rưỡi) là có thểchuyển bụng sinh con, thường thường đau bụng từng cơn, bụng dưới có cảm giác nặng trệ xuống vàthúc đau từng hồi rồi có huyết dịch, giống như nước dẻo từ âm đạo chảy ra, sau đó thai nhi lần lầntống ra, nhau thai cũng tùy theo đó mà ra Toàn bộ quá trình sinh nở đến đây là kết thúc Phụ nữsinh đẻ là hiện tượng tự nhiên của sinh lý, không nên bối rối tinh thần quá Trong “Thiên KimPhương” Tôn Tư Mạc đã ghi nhận rằng lúc sinh đẻ không nên hoảng hốt bối rối “Đạt sinh thiên”lại đem việc sinh đẻ ví như tai biết nghe, mắt biết trông, tay biết cầm, chân biết bước, đó là lý tựnhiên không nên sợ gì cả và nêu ra 6 chữ gọi là khẩu quyết trong lúc sinh đẻ “Thụy, Nhẫn, Thống,Mạn, Lâm bồn” có nghĩa là ngủ, chịu đau, chậm lâm bồn, để dạy cho người phụ nữ sinh lần đầukhỏi bối rối, an ủi tinh thần, gieo cho họ bình tĩnh để chuẩn bị sinh đẻ

Trang 22

Do khi sinh đẻ có xuống huyết làm hao tổn đến âm dịch, âm huyết bị hư hao nên dương khí

dễ phủ lên trên vì thế sau khi sinh đẻ 1 - 2 ngày thường thấy các chứng trạng âm hư dương vượngnhư: Phát sốt, sợ lạnh, mồ hôi tự ra là những hiện tượng tạm thời, những chứng trạng này nếukhông có kèm theo nguyên nhân nào khác thì trong thời gian ngắn sẽ hết Ngoài ra, sau khi mớisinh xong, chức năng sinh lý của bảo cung chưa thể khôi phục lại bình thường thì trong một sốngày sau ở bụng dưới có những trận co bóp nhẹ, đè vào thấy có nổi khối lên Trong 15 - 20 ngàysau sinh âm đạo vẫn có huyết dơ bài tiết ra ngoài đều là những hiện tượng bình thường Sau khi đẻ,người sản phụ nên nghỉ ngơi từ 40 - 50 ngày (sinh con so thì hơn nữa), trong thời gian bú mớm củatrẻ thì kinh nguyệt đình chỉ không xuống toàn bộ cơ thể tự hồi phục như trạng thái bình thường.Trong khoảng thời gian này nếu giao hợp có thể vẫn có thai như thường mặc dù không thấy kinhnguyệt

Bú mớm là chức năng đặc biệt của giới phụ nữ thông thường trong thời gian có con nhỏ.Trong thời gian mang thai phụ nữ thường có nhiều thay đổi ở vú như vú căng lớn, nhũ đầu cứnghơn, có một chút sữa non sớm Sau khi sinh đẻ, cơ thể người mẹ sau khi hấp thụ chất tinh vi củathủy cốc để cung cấp dinh dưỡng cung ứng cho con, bộ phận Xung mạch và khí của Dương minhthượng hành lên trên (vú thuộc Túc dương minh vị kinh) hóa sinh ra nhũ trấp cung ứng cho con, vìvậy trong thời gian cho bú thì kinh nguyệt đình chỉ

Chương 4: Quan niệm của Đông y về nguyên nhân, cơ chế bệnh phụ khoa

Các chứng bệnh thuộc phụ khoa phần lớn thuộc về huyết, mà những bệnh thuộc về huyếtphận thường do khí mà sinh ra, chẳng hạn như chứng bế kinh chỉ là một chứng nhưng nó đã baogồm rất nhiều nguyên nhân như khí, huyết do thất tình, cảm phải lục dâm, do ăn uống và nơi sinhhọat, đều có thể làm tổn thương để sinh ra bế kinh Sách “Tố vấn” ở thiên “Âm dương biệt luận”ghi rằng: “Những bệnh nhị dương phát ra từ tâm tỳ có ẩn khúc uất ức không hả hơi làm cho ngườicon gái mất kinh nguyệt”, ý muốn nói là người phụ nữ do tình chí không được toại nguyện, có điềuuẩn khúc không phát tiết được, hoặc lo sầu suy nghĩ làm tình chí bị tổn thương trước mà tạo thànhchứng bế kinh Sách “Linh khu” về thiên thủy trướng có nói: “Chứng Thạch hà sinh ở trong tửcung, hàn khí bám ở cửa tử cung làm nó bị bế thì khí không thông, huyết dơ muốn ra mà khôngđược, ứ đọng lại ngày càng lớn thêm hình như cái chén làm kinh nguyệt không xuống được” Ý nóihàn tà làm huyết ngưng đọng lại ứ ở bào cung mà sinh ra bế kinh Sách

“Tốn Vấn” bình luận về nhiệt chứng: “Kinh nguyệt không thông là vì mạch ở bào cung bị bếtắc, mạch bào cung thuộc Tâm mà lạc mạch chạy vào bào cung, nay vì khí bức lên phế, Tâm khíkhông thông xuống đến dưới nên không có kinh nguyệt, thế là khí chạy ngược lên, khí đọng huyếttrên tạo thành chứng bế kinh” Sách “Tố Vấn” luận về phúc trung: “Chứng bệnh huyết khô sinh vìlúc trẻ tuổi có khi xuống huyết quá nhiều, hoặc vì uống rượu say quá mà hành phòng (giao hợp),khí kiệt thì tổn thương tới Can, cho nên kinh nguyệt suy kém không sinh ra được” Đây là do thoáthuyết sinh ra hư tổn, và vi lao phòng mà sinh ra kinh nguyệt bế tắc Ngoài ra, Trương Trọng Cảnhnói rằng: “Các chứng bệnh của đàn bà chỉ vì hư nhược, do lạnh tích tụ, khí ngang kết mà sinh rakinh nguyệt ngừng tắt Ông còn nói thêm rằng: Tỳ khí suy thì ỉa chảy, vị khí suy thì mình húpthũng, mạch Thái âm thấp, mạch Thiếu âm tế, con trai thì tiểu tiện không thông, con gái thì kinhnguyệt không thông” Đây là những kinh nghiệm thực chứng trên lâm sàng, dựa trên lý luận của nộikinh và phát triển thêm một bước nữa là xiển phát thêm ý nghĩa Tỳ Vị suy nhược có thể sinh rachứng bế kinh Ý nghĩa này đã bổ sung thêm được những sự thiếu sót của Nội kinh Về sau, các tácgiả khác như Châu Đơn Khê cho rằng : đàm khí ủng tắc kinh mạch ; có tác giả khác lại cho là đồ ănthức uống chua lạnh đều có thể sinh ra chứng bế kinh, mà các tác giả này thường kinh nghiệmtrong lúc lâm sàng

Trang 23

Thêm vào trong lý luận của chứng bế kinh, tất cả các chứng bệnh thuộc kinh nguyệt đều có

sự khác nhau về khí, huyết, hư, thiệt, hàn, nhiệt, biểu, lý Đem những dữ kiện đã thu lượng đượctrong lúc chẩn bệnh, thì chứng kinh bế phần lớn do tình chí bị uất ức mà sinh ra, đau bụng trước kỳkinh là do khí trệ, đau bụng sau kỳ kinh là do huyết hư, kinh đến trước kỳ là thuộc nhiệt, sau kỳkinh là thuộc hàn, khi trồi khi trụt không nhất định là thuộc về Can khí uất Kinh ra quá nhiều làthuộc về nhiệt, quá ít là thuộc hàn Rong huyết (băng trung) vì khí không nhiệt được huyết Ronghuyết (lậu hạ) vì huyết không quy kinh, kinh đi nghịch sinh ra nôn ra máu là do huyết nhiệt vọnghành Kinh đến mà sốt là do huyết hư mà sinh nhiệt Cổ nhân quy những chứng như: Nhiệt nhậphuyết thất, đau nhức các khớp khi kinh đến, sốt định kỳ do hư lao, đều bao gồm trong lúc có kinhphải sốt (kinh hành phát nhiệt) nhưng thực ra, chứng nhiệt nhập huyết thất là thương hàn, đau nhứccác khớp là do ngoại cảm hoặc do huyết mạch ủng tắc, sốt định kỳ về chiều là hư lao, các chứngnày cũng có chứng trạng phát sốt, chẳng qua lại gặp kỳ kinh nên bệnh tình trở nên nghiêm trọng màthôi

Vương Sĩ Hùng có nói rằng: “Đới hạ, con gái sinh ra đã có rít ướt, đó không phải là bệnhnhưng nếu có nhiều ấy là bệnh” Câu nói này rất hợp lý Sào Nguyên Phương trong sách : “Chưbệnh nguyên hậu luận” gọi đới hạ là lậu hạ ngũ sắc, phù hợp với năm màu: Trắng, đỏ, vàng, xanh,đen đã trông thấy trong lúc chẩn bệnh trên lâm sàng, nguyên nhân sinh ra bệnh có nhiều mặt, tuynhiên bệnh tà gây bệnh ở cửa bào cung làm cho mạch Xung, Nhâm bị tổn thương, đó là nguyênnhân chính của các bệnh đới hạ Châu Đơn Khê lại có thuyết về đới hạ rằng: “Bạch thuộc khí, Xíchthuộc huyết” dĩ nhiên cũng có một ý nghĩa nhất định nào đó, nhưng không thể nói một cách kháiquát như thế được là vì khí phận hay huyết phận, nội nhân hay ngoại nhân đều có thể hình thànhbạch đới cả, phải nên biện chứng nguyên nhân mà phân tích cho rõ ràng

Các bệnh thai tiền là nói đến những bệnh tật đặc thù trong thời kỳ thai nghén Thai khí xungnghịch lên ở Vị thì sinh các chứng nôn mửa ọe khan, thủy khí sinh bệnh thì đầu mặt và toàn thânphù thũng, gọi là tử thũng, thấp khí sinh bệnh - chân đầu gối đều phủ thũng gọi là tử khí, huyết hưgặp phong lẫn đàm nhiệt quấy hại là chứng tử giản hôn quyết, thai khí bức bách ở trên, căng tứccứng ở lồng ngực, sinh ra chứng tử huyền suyễn tức Âm hư sinh nội nhiệt thì sinh ra chứng tửphiền, hạ tiêu thấp nhiệt thì sinh chứng tử lâm Khí hư lưới rãi không khắp, là những nguyên nhânchính sinh ra chứng lậu thai và bán sản Ở đây chỉ sơ lược qua tình trạng khái quát của bệnh tậtthuộc về thai tiền nhưng nguyên nhân bệnh, cơ chế bệnh đều phức tạp hơn, tất cả cần đem tứ chẩn,bát cương ra biện chứng phân biệt để thêm phần tinh tế, chính xác

Trương Trọng Cảnh vạch rõ ra rằng: “Mới sinh sản huyết hư ra mồ hôi nhiều dễ trúng gió,cho nên thường hay mắc bệnh kinh (co giật) mất huyết hay toát mồ hôi, hàn nhiều nên hay mắcbệnh uất ngạo, mất tân dịch, vị táo cho nên sinh đại tiện khó, đó là những lý luận được các đời sauchấp nhận và không thay đổi Kế đến, như chứng ác lộ ứ kết sinh ra bụng dưới đầy tức, mất huyếtquá nhiều sinh ra chứng bụng dưới đau râm rỉ, khí không nhiếp được huyết, huyết không quy kinh

mà sinh ra huyết băng, khí huyết đều hư tổn, vinh vệ không được điều hòa sinh ra phát sốt là nhữngbệnh tật trong sản hậu thường thấy nhất Ngoài ra, huyết, đồ ăn ngưng trệ sinh ra chứng trùng tích,tạng khí uất kết sinh ra các chứng hà, tụ, huyết hư hỏa tổn làm thần khí không được yên tĩnh sinh ratạng táo, Can tỳ khí hư thấp nhiệt đi xuống sinh ra chứng ngứa ngáy trong âm hộ, khí hư hãmxuống bào lạc bị thương tổn sinh ra chứng sa sinh dục, các bệnh chứng này vẫn thường hay gặptrong lúc thăm bệnh của phụ nữ

Phần trên được khái quát dẫn chứng làm ví dụ những điều thường thấy trên lâm sàng Y học

cổ truyền chú trọng đến quan niệm chỉnh thể, dù bệnh tật ở bộ vị nào đi nữa mặc kệ, người thầythuốc cũng cần phải vận dụng vào tứ chẩn, bát cương để suy tìm ra được nguồn gốc bệnh đúng đắn,trong những bài luận về bệnh chứng ở các chương sau xiển thuật rõ ràng hơn

Trang 24

Tóm lại, đặc điểm của phụ nữ biểu hiện ra các phương diện: Kinh, Đới, Thai, Sản do từ bệnhtật của phụ khoa mà phản ánh ra nơi những phương diện này Phần trên đây đã có nói đến Kinh,Đới, Thai, Sản cùng với Kinh, Lạc, Tạng, Phủ, Khí, Huyết, đặc biệt chúng quan hệ mật thiết với haimạch Xung, Nhâm Trong tình trạng khí huyết quân bình, tạng phủ an hòa, Xung, Nhâm thông suốtthì kéo theo Kinh, Đới, Thai, Sản cũng bình thường, ngược lại thể là bệnh tật phát sinh Do đónguyên nhân bệnh, cơ chế bệnh của phụ khoa theo y lý cổ truyền cũng từ sự nghiên cứu biến hóathay đổi nơi tạng phủ, khí huyết và hai mạch Xung, Nhâm.

Nguyên nhân đưa đến nhân tố gây bệnh ở phụ khoa, khi luận về ngoại cảm thường dựa trên

cơ sở hàn, nhiệt, thấp làm chủ, khi luận về nội thương thường dựa trên cơ sở Ưu, tư, bi, kinh và sựgiao hợp không tiết độ gây ra làm chủ Đồng thời, do phụ nữ có Kinh, Đới, Thai, Sản khác với cácđặc điểm sinh lý của con trai, trong những thời kỳ có Kinh, Đới, Thai, Sản thường dễ dàng tổnthương tới huyết làm cho cơ thể thiếu lượng máu và đưa tới trạng thái bệnh lý là khí hữu dư Donhững tác nhân gây bệnh đã nói đó, mà đưa tới chỗ khí huyết rối loạn dễ dàng tổn thương tới haimạch Xung, Nhâm, từ đó lại sinh ra các bệnh tật Kinh, Đới, Thai, Sản

1 Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân sinh ra các bệnh phụ khoa so với các khoa khác đều giống nhau, không ngoàivấn đề do lục dâm, thất tình cho đến ăn uống, làm việc quá sức, giao hợp quá trớn làm tổn thươnggây ra bệnh Tuy nhiên, trong những nguyên nhân này đối với phụ khoa có một số đặc điểm cá biệtriêng của nó

Đứng trên lĩnh vực ngoại cảm lục dâm mà nói thì chúng dễ xâm hại tới phần huyết của giớiphụ nữ Khí huyết bị thiệt thì lưu hành nhanh, bị hàn thì ngừng trệ không thông Nhiệt thịnh thì bứcbách huyết vọng hành (chạy bậy) thường đưa kinh tới sớm, lượng nhiều hơn, băng lậu, thời gian cókinh thường mửa ra máu hoặc chảy máu cam ở mũi, trước khi có kinh đi cầu ra máu Hàn thịnh cóthể làm cho huyết ngưng kết úng tắt dễ dàng đưa tới chỗ kinh nguyệt trễ, lượng ít, đau bụng khi cókinh, kinh bế, trừng hà

Ngoài ra, phong và thấp cũng thường xâm lấn vào Xung và Nhâm đưa tới Hà tụ, Bạch đới,Thống kinh, Kinh nguyệt không đều

Sự kích thích thất tình (7 tình chí) là nhân tố chủ yếu của bệnh phụ khoa, trong những xã hộitrước phụ nữ bị bức bách nhiều nên thường có những sự kích thích tình chí gọi là thất tình, ảnhhưởng đến chức năng bình thường của ngũ tạng mà đưa tới bệnh tật Ngoài ra giao hợp quá khôngtiết độ cũng là một trong những nhân tố chính đưa tới bệnh phụ khoa vì giao hợp nhiều thườngthương tổn tới hai mạch Xung và Nhâm, Can và Thận lôi cuốn theo các bệnh thuộc trong Kinh,Đới, Thai, Sản

2 Cơ chế sinh bệnh

Tác nhân gây bệnh của phụ khoa tuy lấy lục dâm, thất tình, phòng thất làm chủ nhưng cầndẫn tới những biến hóa ở bên dưới mới có thể sinh ra bệnh tật

a Rối loạn kinh nguyệt

Khí huyết mất quân bình là một trong những cơ chế phát bệnh thường trong tất cả các loạibệnh tật, tuy nhiên trên phương diện phụ khoa nó có những tính đặc thù riêng của nó, bởi lẽ phụ nữlấy huyết làm căn bản, kinh nguyệt, thai dựng, sản dục, bú mớm đều lấy huyết làm dụng, mà tronggiữa những thời kỳ này lại dễ hao tổn đến huyết lại làm cho cơ thể người đàn bà phần huyết bị bấttúc phần khí dư ra, do đó mà sách “Linh khu”, trong thiên “Ngũ ẩm, ngũ vị” có câu: Phụ nhân chisanh, hữu dư vu khí, bất túc vu huyết, dĩ kỳ sổ thoát huyết dã” có nghĩa là: Đàn bà sinh đẻ khí hư

mà thiếu huyết vì mất huyết nhiều

Nói đến quan hệ của khí và huyết là do khí và huyết phối hợp với nhau làm nơi nương tựacủa nhau, nên huyết bệnh thì đơn độc một mình khí khó mà có thể hóa sinh được, tương tự khí

Trang 25

bệnh thì huyết không thể tự mình nó thông hành lưu lợi được Vì vậy, hễ tà thương phạm vào huyếttất nhiên phải ảnh hưởng tới khí, tà thương phạm vào khí thì cũng có thể ảnh hưởng tới huyết Do

đó mà ta có thể thấy rằng trên sinh lý, bệnh lý giữa khí và huyết có một sự tồn tại ảnh hưởng hỗtương lẫn nhau Vì vậy khi phân tích bệnh lý trên phụ khoa chúng ta cần phải nên xét đến huyếtbệnh hoặc cơ chế bất đồng của khí bệnh Ví dụ như nói rằng tà nhiệt trong lục dâm nó cùng tươngchuyển với huyết, bức bách huyết vọng hành có thể sinh ra các chứng kinh nguyệt trước kỳ, mửa ramáu….Hàn tà trong lục dâm nó cùng tương chuyển với huyết làm huyết ngưng tụ, chảy khôngthông sinh ra các chứng kinh nguyệt sau kỳ, sản hậu đau bụng như phần nguyên nhân bệnh đã nói,Huyết cũng tương chuyển với thấp, vì thấp là âm tà tính của nó trệ dễ chảy xuống gặp nhiệt thì hóa

ra thấp nhiệt có thể sinh ra băng lậu, đới hạ, gặp lạnh thì hóa làm hàn thấp có thể sinh ra chứngthống kinh, bế kinh Tất cả những chứng trên đều thuộc về sự biến hóa của huyết phận Ngoài ra,tình chí không điều đạt đưa tới bệnh biến của khí phận ảnh hưởng tới huyết phận như khí thượngthì huyết lên, khí hạ thì huyết xuống, khí tiêu thì huyết tiêu, khí kết thì huyết kết, khí loạn thì huyếtloạn Do những nguyên nhân này đưa tới các chứng kinh nguyệt không đều (như kinh nguyệt rỉ mãikhông cầm, bạo băng không cầm), thống kinh, bế kinh, trừng hà và vô sinh Nơi phụ nữ tuy lấyhuyết làm căn bản nhưng huyết lại nhờ vào khí sinh, lại nhờ theo khí hành Vì vậy khí phận bị bệnhcũng sinh ra một trong những cơ chế quan trọng của bệnh phụ khoa

b Rối loạn chức năng của tạng phủ

Phụ nữ lấy huyết làm chủ, huyết dịch sinh hóa do ở Tỳ vị, thống thuộc ở và tàng chứa Canhọat động không ngừng nghỉ, rót chảy đến khắp cả toàn thân, nơi phụ nữ phần dưới quy ở huyết hảilàm thành kinh nguyệt Nếu tinh khí không bị thương tổn, tình chí điều hòa, ăn uống điều độ có thểdương sinh tâm trưởng, khí thuận huyết hòa, trăm mạch đầy đủ, Xung thịnh Nhâm thông thì cơ thểkhỏe mạnh, kinh nguyệt điều hòa bệnh tật khó có chỗ để phát sinh

Ở phụ nữ, nguyên nhân đưa tới tình trạng rối loạn chức năng của tạng phủ thường do tình chíuất ức, làm việc quá nặng nhọc, giao hợp quá độ hoặc do lục dâm xâm hại Nếu vì buồn phiền lolắng suy nghĩ quá tổn thương tới Tâm làm cho Tâm âm hao tổn, vinh huyết bất túc thì huyết hải khi

ấy không thể theo đó mà tràn đầy dễ phát sinh ra các chứng kinh nguyệt không đều, bế kinh, vôsinh Hoặc nếu lao tâm quá làm tâm hỏa vượng lên dẫn động đến tướng hỏa nhiễu động huyết hảibức bách huyết vọng hành có thể đưa tới các chứng kinh nguyệt quá nhiều, băng lậu Hoặc nếu vìCan khí uất kết thì huyết làm cho khí trệ có thể dẫn đến tình trạng kinh nguyệt loạn không định kỳ,thống kinh, bế kinh, hoặc vì can huyết bất túc làm cho can dương nghịch lên dễ phát sinh các chứngđộng kinh khi có thai sản hậu co giật Tức giận quá thương tổn tới Can làm cho Can khí nghịch lênthì huyết theo khí mà chạy lên trên có thể sinh các chứng có kinh mửa ra máu hay chảy máucam, sữa tự chảy Hoặc vì do ăn uống, làm lụng, buồn lo quá sức thương tổn tới Tỳ, khi Tỳ thươngtổn thì nguồn gốc sinh hóa bất túc, huyết hải trống không thì có thể sinh ra các chứng bệnh: kinhđến trễ, lượng ít, bế kinh Nếu vì trung khí khuy hao không còn khả năng thống huyết, nhiếp huyếtđưa tới tình trạng huyết tùy khí hãm mà sinh ra các chứng bệnh: kinh quá nhiều, băng lậu Nếu vì

Tỳ dương mất khả năng vận hóa được thấp trọc, đình trệ ở bên trong chảy xuống Xung, Nhâm màphát sinh ra chứng đới hạ Ngoài ra, như buồn thương quá ảnh hưởng tới Phế làm cho khí không thểvận huyết đi được có thể sinh ra huyết hư, huyết khô làm cho bế kinh không hành được Hoặc vì dophòng dục quá độ hoặc lúc có kinh giao hợp, làm cho tinh huyết đều suy hao, làm thận âm bất túcđưa tới các chứng: kinh nguyệt không đều, thống kinh, băng lậu, trừng hà Hoặc vì nguyên dươnghao tổn làm thận khí hư hàn có thể đưa tới các chứng đới hạ, đẻ non, vô sinh

Ngoài ra, trong cơ chế phát bệnh của tạng phủ cũng nên căn cứ vào những đặc điểm sinh lýcủa phụ nữ khác nhau về các mặt tuổi tác phân biệt và xem nặng tác dụng của 3 tạng Can, Tỳ,Thận Trong lúc còn thiếu nữ thì đặt nặng ở Thận, khi trung niên thì đặt nặng ở Can, sau khi tắt

Trang 26

kinh thì đặt nặng ở Tỳ Vì con gái lúc trước tuổi thanh xuân và lúc thanh xuân Thận khí bắt đầuthịnh, phát dục của cơ thể chưa đầy đủ hoàn toàn, nếu bị bệnh tà xâm lấn thường dễ dàng thươngtổn tới Thận khí, ảnh hưởng tới sự thịnh suy của hai mạch Xung, Nhâm sinh ra các bệnh chứngthuộc về kinh nguyệt Sự thịnh suy này là căn bản của sự sinh trưởng phát dục trong cơ thể, vì vậycon gái lúc thanh xuân nên nhiệt thận là chính Phụ nữ lúc trung niên do đặc điểm sinh lý của kinhnguyệt, thai sản, tình chí dễ bị kích động thường làm cho can khí bị uất trệ sinh ra khí kết, khínghịch, khí loạn, phụ nữ trong thời kỳ này lại là thời kỳ có thai sản, bú mớm, nên thương tổn nhiều

ở huyết Can là tạng tàng chứa huyết, huyết bị thương tổn thì Can mất chức năng nuôi dưỡng, khínghịch lên, vì vậy mà kinh nguyệt không điều hòa, các chứng thống kinh, bế kinh, đới hạ đều dễphát sinh Vì thế, phụ nữ trong tuổi trung niên nên dưỡng Can là chính Người phụ nữ sau khi tắtkinh thì thận khí đã suy, khí huyết đều hư, toàn nhờ vào tư tưởng của hậu thiên thủy cốc Nếu tỳ khíbất túc không thể làm cho Vị chuyển đạt tân dịch của nó thì khí huyết lại càng hư thêm, dễ làm cho

tà khí xâm nhập vào (tà chi sở tấu, kỳ khí tắc hư) mà sinh ra bệnh tật Vì vậy, phụ nữ sau khi tắtkinh, ở tuổi đó nên kiện tỳ là chính Trong sách “Hà Gian lục tử” ghi rằng: « Trong khoảng thờigian con nít và đàn bà thiên quý chưa hành đều thuộc về thiếu âm, khi thiên quý đã hành thì nêndùng Quyết âm để mà luận nó, khi thiên quý đã duyệt thì nên dùng Thái âm mà luận vậy » Đó lànói lên cái lý này thật chính xác vậy

c Tổn thương hai mạch Xung, Nhâm

Đặc điểm sinh lý của phụ nữ biểu hiện chính ở các mặt: kinh nguyệt, thai đựng, sản dục, búmớm như có dịp đã nói ở trên

Tuy nhiên, những đặc điểm rất liên hệ khắn khít với hai mạch Xung, Nhâm Xung là huyếthải, Nhâm chủ về bào thai Chức năng bình thường của hai mạch là kinh nguyệt, mang thai, sinh đẻ

và bú mớm, chức năng này bị rối loạn thì sinh bệnh

Nguyên nhân đưa tới tổn thương Xung, Nhâm tuy nhiều, nhưng tóm lại không ngoài hai vấn

đề hư và thiệt, nếu gặp phải hàn, ẩm lạnh thì huyết ngưng khí trệ và nhiệt bên trong quấy rối bứcbách huyết vọng hành, thấp nhiệt chảy sống dưới thì kinh mạch ủng trệ, tình chí uất ức thì khí trệhuyết ngưng, tức giận quá thì hỏa động làm huyết nghịch loạn lên trên, làm lụng quá độ thì thươngkhí làm mất chức năng thống nhiếp Tất cả các loại này đều có thể tạo thành khí huyết không điềuhòa và làm mất chức năng vận hành của nó mà ảnh hưởng đến tác dụng sinh lý bình thường củaNhâm thông và Xung thịnh, sinh ra các chứng bệnh: Kinh nguyệt không điều hòa, thống kinh, bănglậu, đới hạ, đẻ non và sảy thai Ngoài ra, do bất túc tiên thiên ở thận khí hoặc tổn hao hậu thiên ở tỳ

vị cũng còn có thể ảnh hưởng đến hai mạch Xung, Nhâm sinh ra các chứng bệnh; thuộc thai, sản,kinh, đới Vì thế khi thương tổn hai mạch Xung, Nhâm là một trong những điều kiện quan trọng sựsinh ra các bệnh thuộc phụ khoa

Rối loạn khí huyết, mất quân bình giữa các tạng phủ và tổn thương hai mạch Xung, Nhâmtuy mỗi cái có một cơ chế phát bệnh khác nhau, nhưng tựu chung cả ba cùng ảnh hưởng lẫn nhau.Rối loạn khí huyết có thể đưa tới rối loạn chức năng của các tạng phủ và tổn thương hai mạchXung, Nhâm

Tóm lại, không kể bệnh biến bắt đầu ở tạng phủ kinh lạc nào, khi có bệnh cần phải dựa trênquan niệm chỉnh thể rồi mới tìm ra gốc bệnh ở trong Kinh lạc nào, tạng phủ nào, ảnh hưởng lẫnnhau thế nào mới có thể trong tình trạng thiên biến vạn hóa của từng cơ thể khác nhau mới đưa ranhững then chốt trong điều trị

Phần thứ hai: Bệnh phụ khoa - Chương 1: Bệnh trong thời ký kinh nguyệt

1 Tổng luận theo y học cổ truyền

Sách Nội kinh ghi rằng: “Người con gái đến khoảng 14 tuổi, mạch Nhâm thông, âm huyếtcủa mạch Thái xung vượng, kinh nguyệt theo đó mà dãy lên” - nói lên sự phát dục của con gái đến

Trang 27

giai đoạn dậy thì thành thục Vào khoảng 49 tuổi, mạch Nhâm và Xung bắt đầu suy nhược, thiênquý khô kiệt, kinh nguyệt không sinh được nữa, cơ thể ngày càng suy già, sự sinh dục bắt đầu đìnhchỉ đó là định luật thường thấy trong sự phát dục và suy già của phụ nữ Tuy nhiên, có người thuộc

về ngoại lệ bởi vì sự phát dục và suy già sớm hoặc trễ hơn, có liên quan tới thể chất, dinh dưỡng,khí hậu….Tùy theo hoàn cảnh của mỗi cá nhân

Thông thường kinh nguyệt một tháng đến một lần, mỗi tháng đúng kỳ kinh không thay đổi,nên cổ nhân đã đặt tên nó là nguyệt tín, hoặc là nguyệt kinh Tín có nghĩa là tin vào hàng tháng màthấy kinh, nguyệt kinh là kinh nguyệt hàng tháng Kinh nguyệt được bình thường hay không chỉbao gồm 4 phương diện là: Chu kỳ có được đúng hay không, lượng kinh nhiều hay ít, màu nhạt hayđậm, chất đặc hay lỏng Những phương diện đó giữ được cố định, không thái quá không bất cập thìđược xem như là kinh nguyệt bình thường, nó biểu trưng cho sức khỏe của cơ thể người phụ nữ.Nếu những: chu kỳ, lượng kinh, màu sắc, chất của kinh nguyệt bị thay đổi hoặc trong thời gianhành kinh lại xuất hiện một bệnh lý gì đều được gọi là kinh nguyệt không đều, nhẹ lắm cũng có thểphương hại tới sức khỏe ảnh hưởng tới công việc lao động và vấn đề sinh dục, nếu nặng và để lâungày có thể thành có bệnh đem tới hậu quả xấu

Sách xưa cũng đã đề cập đến các trường hợp đặc biệt của kinh nguyệt như:

Tín nguyệt - hai tháng có một lần Cự kinh - ba tháng có một lần

Tỵ niên - một năm có một lần

Ám kinh - suốt đời không có kinh lần nào có khi chỉ thấy báo vài giọt huyết là có thai

Cấu thai là thứ kinh mỗi tháng có sau khi có thai Những trường hợp này không gọi là bệnhkinh nguyệt, đó là hiện tượng sinh lý bẩm sinh cho nên không cần đến chữa trị

Về nguồn gốc gây ra của các bệnh kinh nguyệt, căn cứ vào cổ thư đã ghi chép gồm banguyên nhân chính đó là nội nhân, ngoại nhân và không phải nội hoặc ngoại nhân Nội nhân là dothất tình ở bên trong Tiết Lập Trai nói rằng: “Tâm tỳ hòa bình thì chu kỳ kinh nguyệt bình thường,nếu là bị thất tình nội dương thì kinh nguyệt rối loạn” ông đã nói lên vấn đề tinh thần không đượcthoải mái cũng có thể ảnh hưởng tới việc kinh nguyệt không đều

Ngoại nhân sinh ra bởi lục dâm Trần Lương Phủ nói rằng: “Đàn bà kinh nguyệt không đềubởi vì phong hàn thừa, cơ thể suy hư bám vào cung làm tổn thương tới hai mạch Xung, Nhâm”.Vương Tử Hạnh cũng góp ý rằng: “Khí hàn ôn khác với thời vận làm kinh nguyệt khi nhiều khi ít

mà sinh ra không đều” Đó là vì huyết nhờ vào nhiệt mới hành đi được, gặp lạnh thì ngưng đọng lạicho nên trong sự sinh họat hằng ngày không biết giữ gìn, lạnh ấm trái với thời tiết cũng có thể làmcho kinh nguyệt không được điều hòa

Nguyên nhân không thuộc về nội nhân và ngoại nhân gọi là bất nội ngoại nhân, như ăn uốngkhông điều độ, lao nhọc quá sức, phòng dục quá độ…đều có thể ảnh hưởng nhiều trong vấn đề rốiloạn kinh nguyệt

Bệnh chứng thuộc kinh nguyệt cần phải căn cứ theo phương pháp tứ chẩn và bát cương đểtiến hành sự chẩn đoán, ngoại sự chú ý đến chu kỳ, lượng nhiều ít, màu sắc và chất đậm nhạt lạicần phải tham khảo tới các chứng trạng của toàn thân để quyết định hàn, nhiệt, hư, thiệt

Thông thường kinh tới trước kỳ thuộc về nhiệt, đến sau kỳ thuộc về hàn Kinh khi trước khisau không nhất định đều thuộc về Can khí uất kết Về phương diện sắc và lượng thì lượng nhiều vàđậm thuộc về thiệt, màu tía đỏ tươi hồng hoặc màu đen tím thì thuộc về nhiệt, lượng ít mà sắc màuhồng nhạt thuộc về huyết hư, sắc lạt ợt mà hơi có chất lầy nhầy như mũi thuộc về đàm, màu tía đen,chất lỏng hay thuần đen thuộc về hư hàn, ngưng đọng lại thuộc về khí hư hoặc thuộc huyết ứ.Ngoài ra, trong sách “Kim giám” lại có câu cơ bản như thế này: “Ứ đọng sắc sẫm mà tía đen gầnthấy chứng hàn nhiệt thì thuộc về hàn ngưng Ứ đọng sắc sáng mà tía đen gần thấy chứng nhiệt thìthuộc về nhiệt kết”

Trang 28

Nguyên tắc chính về điều kinh, ở trước đã có dịp đề cập tới, như Tiêu Thận Trai nói rằng:

“Đàn bà có người trước đó đau rồi sau kinh không đều, thì trước hết trị bệnh, bệnh khỏi thì kinh tựđều Nếu vì kinh không đều mà sau sinh bệnh thì trước đó nên điều kinh, kinh đã điều thì bệnh tấtkhỏi” Kiến giải này có thể gọi là toàn diện và có tính cách khách quan Thư Trì Vận lại cho rằng:

“Kinh nguyệt sở dĩ không đều tất nhiên các bệnh khác sinh ra, trị những bệnh kia tức là để điềukinh” Cách lý giải này so với thuyết của họ Tiêu thì thuyết này chỉ đúng được một mặt mà thôi

Có tác giả lại chủ trương : “Chỉ cốt ức khí để cho huyết hành” bởi lẽ khí là nơi huyết về, khí

đi thì huyết đi, khí dừng thì huyết dừng, khí thuận thì huyết thuận, khí nghịch thì huyết nghịch, chonên mới nói rằng: “Muốn điều kinh trước phải lý khí”

Về phương pháp điều kinh nên căn cứ vào những tình trạng khác nhau để tùy nghi theochứng, chẳng hạn như hư thì phải bổ, thiệt thì phải tả, hàn thì phải làm cho ôn, nhiệt thì phải làmcho mát, khiến kinh nguyệt được đều cho đến khi nào hàn, nhiệt, hư thiệt được quân bình thì thôi

Về vị thuốc thì Linh, Liên, Chi, Bá để thanh nhiệt Ngải, Quế, Cương, Phụ để khử hàn Bổ

hư có Sâm, Truật, Qui, Kỳ Hành trệ như Xuyên khung, Hương phụ,

Thanh bì, Nguyên hồ Cố sáp như Xích thạch chi, Tông lư thán, Trắc bá thán, Mẫu lệ Thăng

cử như Thăng ma, Sài hồ Tùy theo chứng mà chọn thuốc để dùng mới có thể thu hoạch được nhiềukết quả

Về cách dùng thuốc, Triệu Chi Bật ghi rằng: “Kinh nguyệt đang hành thường dùng vị nhiệt

mà không nên dùng vị hàn Thuốc hàn làm huyết dừng lại khiến các chất uế trọc không ra được hết,

do đó mà các chất đới, lâm, hà, mãn sinh ra” Tương tự, Tiết Lập Trai cũng nói rằng: “Trong lúchành kinh cấm dùng các vị thuốc khổ, hàn, tân, tán” Đó là quy luật thông thường, tuy nhiên nếubệnh tình đòi hỏi nên dùng thuốc khổ hàn thì phải dùng thuốc có vị khổ hàn, nên dùng vị tân tán,thì phải dùng vị tân tán quyết không thể bo bo giữ theo giáo điều

Tóm lại, phương pháp thường dùng trên lâm sàng lại càng có lý khí, phò Tỳ, bổ Thận Lý khítrong trường hợp thông điều khí cơ để khai uất hành khí là chính, tuy nhiên không nên quá dùng vịthuốc loại hương táo để tránh hao khí huyết Phò Tỳ trong trường hợp trợ nguồn ích huyết để kiện

tỳ thăng dương là chính tuy nhiên không nên quá dùng những vị cam nhuận hoặc tân ôn làm tổnthương tới tỳ dương hoặc tỳ âm Bổ thận trong trường hợp bổ ích chân thủy của tiên thiên để trấntinh bổ huyết là chính tuy nhiên lại cũng cần kết hợp với thuốc dưỡng hóa để làm cho thủy hỏa đềuđầy đủ, tinh huyết đều vượng thì kinh tự điều hòa

Trong phương pháp điều kinh cần phải căn cứ theo chứng trạng cụ thể, biền biệt hàn nhiệt hưthiệt, vận dụng các phương thuốc một cách linh họat để đạt tới mục đích là kinh nguyệt bìnhthường

Dự phòng bệnh kinh nguyệt phát sinh nên chú ý đến cách sinh họat thường ngày trong thờigian hành kinh như trong “Phụ nhân lương phương” ghi rằng: “Nếu đang gặp lúc hành kinh, rất nêncẩn thận, nếu biết điều nhiếp đúng đắn thì kinh đúng kỳ” Cho nên trong kỳ hành kinh tinh thần nênvui vẻ, tránh phong hàn, không tắm rửa, cứ ăn uống các thứ sống, lạnh, cay, chua, công việc nặngnhọc và giao hợp

2 Kinh nguyệt không đều (rối loạn kinh nguyệt)

Kinh nguyệt không đều là một chứng bệnh ở nữ giới khi đến tuổi phát dục đã có hành kinhnay bị rối loạn không theo chu kỳ bình thường của mỗi cơ thể

Kinh nguyệt không đều gồm có:

- Rối loạn về chu kỳ: Ngắn quá hoặc dài quá theo chu kỳ chung (một tháng một lần) hoặctheo chu kỳ đặc thù riêng (tinh nguyệt, cự kinh, tỵ niên) của cá thể phụ nữ; hoặc thất thường khi cókhi mất Kinh nguyệt đến sớm trước kỳ (kinh sớm, kinh trồi) thường do thực do nhiệt; kinh nguyệtđến sau kỳ (kinh muộn, kinh sụt) thường do hư do hàn

Trang 29

- Rối loạn về lượng và chất : Kinh huyết khi nhiều khi ít hoặc ngày hành kinh quá dài, quángắn…không theo hằng định của mỗi cơ thể.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân không ngoài nội thương thất tình, ngoại cảm lục dâm, ăn uống ẩm thực… cònthêm một số nguyên nhân khác như chế độ vệ sinh kinh nguyệt, tập tục sinh họat, phòng dục…cũnggây bệnh lý nghiêm trọng

- Huyết nhiệt: Do thể trạng vốn có âm hư huyết nhiệt, hoặc cảm nhiễm khí hậu nóng, nộinhiệt hiệp với ngoại tà ẩn náu lâu ngày, gây ra nhiệt uất lâu ngày ảnh hưởng đến Xung Nhâm màgây ra

- Huyết ứ: Sau hành kinh hoặc sau đẻ, huyết dư (huyết hôi) không ra hết lưu lại ở bào cunglâu ngày kết hợp với các yếu tố ngoại tà làm tổn thương đến Xung Nhâm mà gây ra

- Can uất: Do công năng sơ tiết của Can không được bình thường, làm cho việc tàng trữhuyết không tốt, can khí và can huyết mất thăng bằng, làm cho khí huyết ứ trệ mà gây ra

- Khí hư: Do trung khí quá hư yếu hoặc do tỳ hư suy lâu ngày nên nguồn khí không đượcsinh ra hoặc không được bổ sung kịp thời, công năng thống nhiếp huyết của tỳ bị ảnh hưởng gâytổn thương đến Xung, Nhâm mà gây ra

- Do cảm nhiễm hàn tà: Người đang thời kỳ kinh nguyệt không may bị lạnh thời gian dài làmcho hàn tà xâm nhập vào kinh huyết, bào cung mà gây ra

- Đàm trệ: Do công năng vận hóa thủy thấp của Tỳ không tốt kết hợp với việc hóa khí hànhthủy không được làm cho đàm trở trệ ảnh hưởng tới Xung, Nhâm, kinh huyết mà gây ra

Điều trị

Kinh trước kỳ (kinh sớm, kinh trồi)

* Huyết nhiệt: Kinh nguyệt ra trước kỳ sắc đỏ tươi, hoặc đỏ sẫm, lượng nhiều, không có máuhòn, máu cục, người hay choáng váng, ngũ tâm phiền nhiệt, khát nước; chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng,mạch sác

- Bài thuốc:

Đan bì 12g Địa cốt bì 12g Bạch thược 12g Bạch linh 12g Hoàng bá 10g Thạch cao 12g Sinhđịa 16g Đào nhân 8g Hồng hoa 8g Hoàng cầm 10g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

* Can uất: Kinh nguyệt ra trước kỳ, sắc kinh đỏ tươi, hoặc đỏ sẫm, có khi lẫn máu cục, lượngnhiều, ít không nhất định, ngực sườn đầy tức, hay đau hai bên mạng sườn, bụng trướng trước khihành kinh, người hay choáng váng Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng Mạch huyền sác

- Bài thuốc:

Bạch thược 12g Bạch linh 12g Bạch truật 12g Đương quy 12g Sài hồ 10g Đan bì 10g Bạc hà8g Cam thảo 6g Đào nhân 8g Hồng hoa 8g Hoàng cầm 10g Hương phụ 10g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

* Khí trệ: Kinh nguyệt chậm 6 - 7 ngày, sắc kinh đỏ hoặc đỏ sẫm không nhất định, có khi lẫnmáu cục, lượng ít, lưng đau, bụng trướng, người mệt mỏi, sắc mặt xanh xạm, ấm ách khó chịu.Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng Mạch huyền

Trang 30

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần.

* Huyết ứ: Kinh nguyệt ra trước kỳ, có khi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ một vài ngày, sắc kinh đỏtươi, hoặc đỏ sẫm, có khi lẫn máu cục, lượng ít, hay đau bụng vùng thiểu phúc trước khi hành kinh,người mệt mỏi; Chất lưỡi đỏ, có khi thấy nốt tím trên lưỡi Mạch tế sác

- Bài thuốc:

Xuyên khung 12g Xuyên quy 12g Bạch thược 12g Sinh địa 16g Cam thảo 6g Đào nhân 8gHồng hoa 8g Hương phụ 10g Ô dược 12g Huyền hồ sách 8g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

* Đàm trệ: Kinh nguyệt ra sau kỳ, sắc kinh nhợt, có khi lẫn máu cục, lượng ít, ngực bụngđầy tức, ậm ạch buồn nôn hoặc nôn mửa ra đàm, ăn uống kém, người mệt mỏi uể oải, khó chịu,thường gặp ở người béo bệu Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, dính nhớt Mạch họat

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

Kinh sau kỳ (kinh muộn, kinh sụt)

* Do hàn tà ảnh hưởng đến kinh huyết: Kinh nguyệt ra sau kỳ, sắc kinh đỏ sẫm, có khi lẫnmáu cục, lượng ít, hay đau bụng vùng thiểu phúc trước khi hành kinh, đau âm ỉ, người mệt mỏi,chân tay lạnh, hay đầy bụng, ăn kém tiêu Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng Mạch trầm trì

- Bài thuốc:

Xuyên khung 12g Xuyên quy 12g Bạch thược 12g Đảng sâm 12g Quế chi 10g Ngô thù du8g Đan bì 10g Cam thảo 6g Bán hạ 10g Mạch môn 10g Sinh khương 8g Ô dược 12g Huyền hồ sách8g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

* Huyết hư: Kinh nguyệt ra sau kỳ, sắc kinh đỏ nhợt, có khi lẫn máu cục, lượng ít, lưng đau,bụng trướng, vùng thiểu phúc, người mệt mỏi, chân tay mềm nhẽo có khi phù thũng, hay đầy bụng,

ăn uống kém tiêu Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng Mạch hư nhược

Bạch thược 12g Đương quy 12g Xuyên khung 12g Sinh địa 16g Hương phụ 12g Hoàng liên6g

- Cách dùng:

Trang 31

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần.

- Châm cứu:

Ôn câm, Khí hải, Trung cực, Đới mạch, Thận du, Tam âm giao, Thái xung

Kinh nguyệt rối loạn không định kỳ

* Triệu chứng lâm sàng: Kinh nguyệt rối loạn trước hoặc sau kỳ, sắc kinh nhợt, da xanhvàng, môi nhợt, ăn uống kém, hay đầy bụng, sôi bụng, ỉa lỏng, người mệt mỏi, chân tay mềm nhẽo.Chất lưỡi nhợt Mạch hư nhược

- Bài thuốc:

Bạch truật 12g Phục thần 12g Hoàng kỳ 12g Long nhãn 12g Toan táo nhân 12g Nhân sâm 8gMộc hương 4g Cam thảo 8g Đương quy 10g Viễn chí 8g Đào nhân 8g Hồng hoa 8g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

* Thận hư: Kinh nguyệt rối loạn trước hoặc sau kỳ, sắc kinh nhợt loãng, sắc mặt tối sạm, đầuchoáng tai ù, lưng đau mỏi, tiểu tiện nhiều về đêm, ăn uống kém, hay đầy bụng, sôi bụng, ngườimệt mỏi Chất lưỡi nhợt Mạch tế sác

- Bài thuốc:

Đảng sâm 12g Thục địa 16g Hoài sơn 12g Sơn thù 16g Viễn chí 10g Thỏ ty tử 10g Ngũ vị tử8g Đào nhân 8g Hồng hoa 8g Hương phụ 12g Cam thảo 6g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

* Khí uất: Kinh nguyệt rối loạn trước hoặc sau kỳ, sắp đến kỳ hành kinh đầy trướng ngựcbụng, kinh nguyệt khó ra, sắc kinh khi đỏ khi nhợt, tính khí thất thường, hay đầy bụng, sôi bụng,người mệt mỏi, chất lưỡi hồng, nhợt Mạch sác

- Bài thuốc:

Đương quy 16g Bạch thược 12g Thục địa 16g Hoài sơn 12g Phục linh 16g Sài hồ 12g Kinhgiới tuệ 10g Bạch truật 12g Thỏ ty tử 10g Trạch lan diệp 8g Đào nhân 8g Hồng hoa 8g Hương phụ12g Cam thảo 6g Ô dược 12g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, uống chia đều 3 lần

* Hư hàn: Bụng dưới lạnh ngắt hay có những cơn đau bụng dữ dội, kinh nguyệt thường sụtngày, màu kinh nhợt, lượng kinh ít, mạch trầm trì Nếu kiêm thận hư thì đau lưng mỏi gối, ù tai,tiểu tiện nhiều, lãnh đạm tình dục, lượng kinh ít, chất lưỡi nhợt Mạch trầm trì vô lực Chân dươngkhông sung túc thì lưng đau như gãy, sắc mặt vàng xám, thiểu phúc lạnh, chân tay lạnh, bủn rủn,nhức mỏi, miệng nhạt, thích ăn đồ cay ấm, kinh nguyệt chậm kỳ kèm theo khí hư bạch đới, đái rắthoặc đái nhiều không cầm được Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, nhớt Mạch trầm nhược

- Bài thuốc:

Ngải cứu 16g Đương quy 16g Bạch thược 12g Hoàng kỳ 12g Ngô thù du 8g Hương phụ 20gXuyên khung 12g Sinh địa hoàng 16g Tục đoạn 12g Quan quế 4g

- Cách dùng:

Ngày sắc 1 thang, chia 3 lần, uống ấm

* Huyết hư: Da mặt vàng sạm, tinh thần uể oải, đầu choáng mắt mờ, người gày yếu, kinhnguyệt lượng ra ít, màu nhợt, không đúng kỳ Chất lưỡi nhợt, bệu, rêu lưỡi mỏng; Mạch hư sác

- Bài thuốc:

Đại thục địa 40g Đương quy 20g

Bạch thược 20g Sơn thù nhục 20g

- Cách dùng:

Trang 32

Ngày uống 1 thang chia đều 3 lần uống trong ngày.

* Đàm thấp: Người béo bệu, ậm ạch, buồn nôn, đầu choáng, hay hồi hộp đánh trống ngực, ranhiều khí hư

trắng đặc dính, kinh nguyệt không đều, lượng kinh nhiều; Mạch họat

- Bài thuốc:

Bán hạ chế 20g Hương phụ 20g Trần bì 12g Xuyên khung 16g Thần khúc 12g Phục linh 12g

- Cách dùng:

Ngày uống 1 thang chia đều 3 lần uống trong ngày

* Can uất: Tinh thần không thư thái, căng thẳng, hay cáu giận, uất ức không vui, đầy tức 2mạng sườn hoặc trướng bụng mê sảng Kinh nguyệt không đều, rêu lưỡi vàng mỏng; Mạch huyềnsác

- Bài thuốc:

Đương quy 20g Bạch truật 20g Mẫu đơn bì 12g Hương phụ 20g Bạch thược 40g Thiên hoaphấn 12g Phục linh 12g

- Cách dùng:

Ngày uống 1 thang chia đều 3 lần uống trong ngày

* Huyết nhiệt: Mặt đỏ, môi khô hồng, trước khi hành kinh thường nhức đầu, hoa mắt chóngmặt, họng khô miệng đắng, ngũ tâm phiền nhiệt, kinh nguyệt trước kỳ, chất kinh đỏ, nhiều; Mạchsác

- Bài thuốc:

Bạch truật 16g Mẫu đơn bì 12g Thạch hộc 10g Ngũ vị tử 4g Sa sâm 20g

- Cách dùng:

Ngày uống 1 thang, chia đều 3 lần

3.THỐNG KINH (ĐAU BỤNG KINH)

Bình thường khi phụ nữ sắp có hành kinh phần lớn thấy mỏi lưng hoặc hơi đau bụng vùngthiểu phúc, đau lưng, sau đó ra kinh nguyệt Nhưng cũng có những trường hợp đau dữ dội một vàingày khiến người phụ nữ không thể làm việc được thậm chí bỏ cả ăn uống, người mệt mỏi làm chongười phụ nữ kinh sợ mỗi kỳ hành kinh

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Có nhiều nguyên nhân và cơ chế gây ra rối loạn kinh nguyệt Chúng tôi xin giới thiệu một sốnguyên nhân chính thường gặp trên lâm sàng:

- Khí trệ: Do lo nghĩ quá, hoặc tư tưởng không thoải mái, uất ức quá làm cho khí trệ huyết ứảnh hưởng đến can, đởm mà can huyết lại liên quan đến hai mạch Xung, Nhâm chủ đạo về đườngkinh thủy làm rối loạn kinh nguyệt gây đau

- Huyết ứ: Do nhiều tác nhân có thể nguyên nhân tại chỗ hoặc toàn thân, nhưng đều làm chohuyết ứ, huyết ngưng mà con đường kinh thủy bị rối loạn, khi ít, khi nhiều khi ra quá sớm, khi quámuộn…Một số trường hợp sau đẻ hoặc sau sảy thai, kinh nguyệt rối loạn, thậm chí hàng vài banăm không thấy kinh, do huyết dịch theo đường kinh thủy bị ứ trệ bế tắc không được khơi thông,gây đau…

- Hàn tà (thực hàn): Do ăn quá nhiều đồ sống lạnh, hoặc cảm nhiễm hàn tà quá mạnh làm tổnthương trực tiếp vào hai mạch Xung, Nhâm làm bế tắc vận hành kinh huyết gây đau

- Huyết hư: Có nhiều nguyên nhân gây ra huyết hư: có thể do tiên thiên bất túc hoặc sau đợt

ốm nặng mà ảnh hưởng trực tiếp đến cơ quan tạo huyết hoặc do tỳ thận dương hư quá mức làm chochức năng tiêu hóa, hấp thu tinh hoa của ngũ cốc không được…Và những yếu tố làm huyết khôkiệt, ảnh hưởng tới hai mạch Xung, Nhâm, bào cung không được nuôi dưỡng gây đau

Trang 33

- Thận hư: Theo lý luận của Đông y thận chủ phần âm, phần thủy trong cơ thể Khi thận âm

hư phần âm huyết không đủ để nuôi dưỡng can mộc, làm cho công năng sơ tiết điều đạt của can bịảnh hưởng gây ra đau

- Hư hàn: Do bẩm tố người bệnh vốn có dương hư là điều kiện thuận lợi để sinh hàn, sinhthấp; hàn thấp làm cho khí huyết uất trệ không thông gây đau

* Huyết ứ: Đau bụng từng cơn mặt mày xanh tái, có

khi choáng, bụng trướng căng ở vùng thiểu phúc, đau cự án, đau trước hành kinh Khi kinhnguyệt ra được đỡ đau ngay Mạch nhu, hoãn

- Bài thuốc:

Xuyên khung 16g Xuyên quy 24g Thược dược 24g Địa hoàng 32g Đào nhân 10g Hồng hoa8g Huyền hồ 8g

Sắc uống ngày 1 thang Uống ấm chia đều 3 lần trong ngày

* Thực hàn: Đau bụng, bụng rắn cứng vùng thiểu phúc, đau gò người, đau rũ rượi, mỗi khihành kinh ra được thì đỡ đau, chân tay lạnh, rêu lưỡi trắng Mạch trì

- Bài thuốc:

Đương quy 16g Nhục quế 10g Cao bản 12g Ngô thù du 10g Can khương 8g Phục linh 12gBán hạ 12g Mạch môn 12g Phòng phong 10g Cam thảo 6g Mộc hương quảng 4g

Sắc ngày 1 thang, uống ấm chia đều 3 lần trong ngày

* Huyết hư: Đau bụng âm ỉ, liên miên từ khi hành kinh đến khi hết hành kinh vẫn đau ê ẩm,kèm theo kinh loãng, nhợt màu, người mệt mỏi lưỡi bệu, da xanh Mạch hư nhược

- Bài thuốc:

Xuyên khung 12g Xuyên quy 16g

Thược dược 12g Địa hoàng 24g Nhân sâm 12g Bạch linh 12g Bạch truật 12g Cam thảo 8gĐào nhân 10g Hồng hoa 8g Hương phụ 12g Ô dược 12g Đại táo 7 quả

Sắc 1 thang, uống ấm chia đều 3 lần trong ngày

- Châm cứu: Châm bổ: Tam âm giao, đới mạch, thận du, nội quan, huyết hải

* Can thận hư: Đau bụng âm ỉ, liên miên, đau sau khi hành kinh kèm theo người gầy, da khô,chân tay mềm yếu, lưng đau, mỏi gối, nhức đầu, hoa mắt chóng mặt Mạch tế sác

- Bài thuốc:

Mộc hương 4g Sơn thù nhục 24g Bạch thược 24g Đương quy 24g Ba kích 16g Hoài sơn 16gCam thảo 8g A giao 16g

Sắc uống ngày 1 thang Uống ấm, chia đều 3 lần trong ngày

* Hư hàn: Đau bụng âm ỉ, thỉnh thoảng như dùi đâm, xoa day ấn thì dễ chịu, người mệt mỏi

ăn uống kém, đầy bụng, sôi bụng Bệnh nặng có triệu chứng ngũ canh tả Mạch trầm tế vô lực

- Bài thuốc:

Ngô thù du 10g Quế chi 12g

Xuyên khung 12g Đương quy 16g

Bạch thược 16g Nhân sâm 12g Cam thảo 8g Đan bì 12g A giao 12g Bán hạ 12g Mạch môn12g Sinh khương 12g

Sắc uống ngày 1 thang Uống ấm, chia đều 3 lần trong ngày

Trang 34

4 KINH BẾ

Kinh bế là nữ giới sau khi đã có hành kinh một thời gian theo chu kỳ nhất định, nay tự nhiênkhông thấy có kinh nguyệt hàng tháng hoặc như trước nữa (mặc dù không có quan hệ tình dục,hoặc không có dấu hiệu có thai…)

Kinh bế còn gọi là “Bật kinh” hay “Trần huyết” Một số trường hợp sau sinh đẻ hoặc ốmnặng không thấy hành kinh trở lại cũng thuộc phạm vi bế kinh

Bế kinh do nhiều nguyên nhân phụ thuộc từng cơ thể người bệnh cần phải được xem xét chitiết mới có phép chữa thích hợp

Một số trường hợp đặc biệt: Tinh nguyệt, cự kinh, tỵ niên…nếu vượt quá 3 lịch kỳ cũngthuộc kinh bế

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Có nhiều nguyên nhân và cơ chế gây ra bế kinh Chúng tôi xin giới thiệu một số nguyênnhân chính thường gặp trong lâm sàng:

- Khí uất: Do tình chí uất ức quá tổn thương đến can khí, chức năng sơ tiết điều đạt của can

bị ảnh hưởng, can huyết lại liên quan đến hai mạch Xung, Nhâm Khi khí uất quá độ mất khả năng

tự điều chỉnh gây ra bế kinh

- Đàm thấp: Do đàm thấp đình tích trong cơ thể ảnh hưởng tới sự lưu thông khí cơ Trong,ngoài, trên, dưới: Đàm thấp tác động đến Xung Nhâm hoặc bào cung ảnh hưởng đến vân hành bàitiết kinh huyết gây ra bế kinh

- Huyết ứ: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến huyết ứ, nếu huyết ứ tại chỗ hoặc toàn thân màảnh hưởng đến mối tương quan - Xung - Nhâm - Đốc và kinh Túc dương minh Vị làm cản trở đếnvận hành kinh huyết gây ra bế kính

- Ngoại cảm phong hàn: Do ngoại tà phong hàn xâm nhập vào cơ thể trước hết tác động trựctiếp đến kinh Đốc mà kinh Đốc lại có mối liên quan đến các kinh mạch: Xung - Nhâm làm nhiệm

vụ điều hòa, vận hành kinh thủy, hoặc nếu đang thời kỳ hành kinh bị phong hàn xâm nhập trực tiếpvào bào cung làm cho công năng bị ảnh hưởng gây ra bế kinh

- Huyết hư: Các nguyên nhân gây ra huyết hư, huyết thiểu trước hết làm giảm lượng kinhhuyết, nếu lâu ngày không được bù đắp sẽ gây ra khô kiệt huyết dịch sẽ ảnh hưởng tới việc điềuhòa, vận hành kinh thủy gây ra bế kinh

- Tỳ hư: Tỳ hư không có khả năng tiêu hóa hấp thu tinh hoa của ngũ cốc, Tỳ hư làm cho mốiliên quan tạng phủ giữa Tỳ - Vị bị ảnh hưởng, chất thanh không được thăng, chất trọc không đượcgiáng, vị khí kém làm cho huyết hải thiếu, không nuôi dưỡng được mạch Xung - Nhâm gây ra bếkinh

- Hư lao: Do lo nghĩ quá mức, tâm huyết hao tổn dần, tâm hỏa nung đốt ở trong, Tâm khíkhông đạt xuống dưới làm cho tâm thận không giao nhau (ký tế) hoặc khí huyết quá hư suy làm choXung, Nhâm khô kiệt gây ra bế kinh

- Vị hư nhiệt: Vị là cơ quan tiếp thu thủy cốc mang nguồn tinh hoa của ngũ cốc để nuôidưỡng tứ chi cơ nhục, ngũ tạng, lục phủ, bổ sung huyết dịch cho huyết hải, giúp cho Xung, Nhâmvận hành kinh huyết…Khi vị tích nhiệt lâu ngày chưng đốt tân dịch làm cho tân dịch khô kiệt,Xung, Nhâm hư suy gây ra bế kinh

Điều trị

Thực chứng

* Khí uất: Kinh bế, người bệnh sắc mặt xanh, vàng, tinh thần mệt mỏi uất ức, buồn bực, vật

vã, tính tình nóng nảy, đầu choáng, mắt hoa, tai ù, ngực sườn đầy tức, ăn kém, thỉnh thoảng ợi hơi,rêu lưỡi vàng dày Mạch huyền

- Bài thuốc:

Trang 35

Nhân sâm 12g Phục linh 10g Thương truật 12g Sài hồ 12g Khương họat 8g Địa cốt bì 12gChi tử 12g Trần bì 6g Cam thảo 8g Ô dược 8g Đại táo 12g Bán hạ 10g Sinh khương 6g

Sắc uống ngày 1 thang, uống ấm, chia đều ngày uống 4 lần

* Đàm thấp: Kinh bế, người béo mập, ậm ạch khó chịu, đầy tức ngực sườn, khạc nhiều đờm,lợm giọng buồn nôn, miệng nhạt không muốn ăn Rêu lưỡi trắng nhớt Mạch họat

- Bài thuốc:

Thương truật 16g Hương phụ 16g Nam tinh 12g Bán hạ 12g Trần bì 12g Bạch linh 14g Chỉxác 10g Cam thảo 8g Sinh khương 6g

Sắc uống ngày 1 thang, chia đều 3 lần

* Huyết ứ: Kinh bế, mặt xanh tím, bụng dưới căng cứng đau, cự án, miệng khô, không muốnuống, đại tiện táo kết, chất lưỡi đỏ tươi hoặc có điểm xuất huyết Mạch trầm sác

Uống ngày 12g chia đều làm 3 lần

* Phong hàn: Kinh bế, người bệnh da xanh, bụng dưới lạnh, chân tay lạnh, đôi khi tức ngực,lợm giọng buồn nôn Rêu lưỡi trắng Mạch trì

- Bài thuốc:

Xuyên khung 16g Xuyên quy 16g

Bạch thược 16g Nhân sâm 10g

Ngưu tất 12g Nga truật 16g Mẫu đơn bì 16g Cam thảo 8g Quế tâm 12g

Sắc uống ngày 1 thang, uống ấm, chia đều ngày 4 lần

Hư chứng

* Huyết hư: Kinh nguyệt nhiều tháng không thấy, da trắng bệch, môi nhợt, người mệt mỏi,hay hoa mắt chóng mặt nhức đầu, hơi thở ngắn, hồi hộp, đánh trống ngực, ngủ hay mơ mộng, tinhthần uể oải chậm chạp Chất lưỡi bệu Mạch vi tế, vô lực

- Bài thuốc:

Đan bì 12g Xuyên khung 12g Xuyên quy 16g Thược dược 16g Sinh địa hoàng 16g Trần bì8g Bạch truật 12g Hương phụ 12g Sài hồ 12g Hoàng kỳ 10g Cam thảo 6g

Sắc uống ngày 1 thang, uống ấm chia đều ngày 4 lần

* Tỳ hư: Kinh nguyệt không thấy nhiều tháng, da vàng nhợt, môi nhợt to mất khía, ăn uốngkém tiêu, sôi bụng đầy bụng, chân tay mềm nhẽo, hoặc phù thũng, đại tiện phân lỏng nát, miệngnhạt Rêu lưỡi trắng nhớt Mạch hư nhược

- Bài thuốc:

Nhân sâm 12g Hoàng kỳ 16g Xuyên quy 16g Bạch truật 16g Thăng ma 12g Sài hồ 12g

Trần bì 10g Cam thảo 10g Hương phụ 12g Ngải diệp 12g Hồng hoa 6g Đại táo 5 quả

Sắc uống ngày 1 thang, uống ấm, chia đều ngày 4 lần

* Hư lao: Kinh nguyệt sáu, bảy tháng không thấy; có khi cả năm cũng chỉ thấy một lần hoặckhông thấy lần nào, kèm theo các triệu chứng toàn thân như người mệt mỏi gày sút, ngũ tâm phiềnnhiệt, buồn phiền không yên…Lưỡi đỏ nhợt, rêu lưỡi mỏng hơi vàng khô Mạch tế sác

- Bài thuốc:

Bạch thược 16g Hoàng kỳ 16g Phục linh 12g Cam thảo 10g Bán hạ 12g Đương quy 16g Ngũ

vị tử 10g A giao 12g Sa sâm 16g Thục địa 20g

Sắc uống ngày 1 thang Uống ấm, chia đều 4 lần trong ngày

Trang 36

* Vị hư nhiệt: Kinh bế, da mặt vàng khô, hai gò má đỏ, trong bụng buồn bực, khó chịu, đêmngười nóng, mình nóng, miệng đắng, họng khô, ăn chóng đói, khát thích uống nước mát người gàycòm Tiểu tiện vàng sẻn, đại tiện táo Chất lưỡi đỏ thẫm, khô; rêu lưỡi vàng Mạch tế sác.

có khi thâm đen không nhất định

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Thường do 2 loại nguyên nhân:

- Nguyên nhân toàn thân do Xung, Nhâm, Đốc, Đới và các tạng phủ mất điều hòa hoặc hưtổn

- Nguyên nhân tại chỗ do bào cung bị thương tổn hoặc bào cung có huyết ứ, có u cục…Điều trị

* Do Xung - Nhâm bất cố: Âm đạo thỉnh thoảng lại ra huyết một vài ngày rồi lại tự hết,không có biểu hiện các chứng trạng giống kinh nguyệt hoặc kinh nguyệt ra đã sạch rồi lại ra máu rỉ

rả, đặc điểm là máu đỏ tươi Người gày yếu, mệt mỏi, khó chịu Mạch tế sác

- Bài thuốc:

Đương quy 12g Xuyên khung 12g Bạch thược 12g Thục địa hoàng 16g A giao 16g Ngảidiệp 10g Hoàng cầm 8g

Sắc uống ngày 1 thang, uống ấm, chia đều ngày 4 lần

* Do bào cung thương tổn: Âm đạo thỉnh thoảng lại ra huyết một vài ngày rồi lại tự hết,không biểu hiện các chứng trạng giống kinh nguyệt, hoặc kinh nguyệt ra đã sạch rồi lại ra máu rỉ rả,đặc điểm là máu đỏ lẫn máu cục màu thâm đen Vùng thiểu phúc hơi trướng, có u cục rắn, kèmtheo rối loạn đại tiện, người mệt mỏi, khó chịu, thỉnh thoảng phát nhiệt; Mạch trầm hữu lực

- Bài thuốc:

Hương phụ mễ 400g Ngải diệp 80

Đương quy 80g Xuyên khung 40g Xích thược 40g Sinh địa hoàng 80g Đào nhân 40g Hồnghoa 40g Tam lăng 40g Nga truật 40g Can tất 40g

Tất cả các vị sao vàng, tán bột min, bảo quản trong lọ lớn

Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15g, với nước muối nhạt

6 BĂNG LẬU

Phụ nữ kinh nguyệt không đều theo chu kỳ mà cơ thể đã ấn định, do huyết bị tích trệ, bị ứ lạilâu ngày thành lậu hạ khi huyết đã ứ nhiều, hoặc cơ thể hư suy hoặc gặp các yếu tố thuận lợi gây ra

ác huyết băng lậu…

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân do ăn uống không điều độ, lao quyện tổn thương hoặc bẩm tố tâm hỏa thừa Tỳ,hoặc do các nguyên nhân nội thương các tạng phủ, Xung, Nhâm, Đốc, Đới mất điều hòa…làm chokinh sự không bài xuất mà gây ra Theo nội kinh: “Tỳ vị vi hậu thiên chi bản sinh khí chi nguyên,

tứ chi cơ mục câu hệ vu tỳ - tỳ hư không sinh được khí, không thống nhiếp được huyết, không tưvinh được toàn thân; Tâm bào thừa hư gây ra cố lậu lâu ngày thành băng

Trang 37

Điều trị

* Do Xung - Nhâm thất điều, uất kết: Kinh thủy bế đã qua 3 kỳ đau bụng, trướng bụng, ấmách, khó chịu, băng kinh nhiều, kinh màu đỏ sẫm, lẫn máu cục, người mệt mỏi, tinh thần bất rất,mất ổn định; chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng Mạch huyền sác

- Bài thuốc:

Đương quy 12g Hoàng kỳ 12g Thương truật 12g Sài hồ 12g Thăng ma 12g Cao bản 12gPhòng phong 10g Khương họat 10g Độc họat 10g Màn kinh 10g Cam thảo 8g

Sắc uống ngày 1 thang Uống ấm, chia đều ngày 4 lần

* Do tỳ hư: Kinh thủy bế đã quá 3 đến 4 kỳ đau bụng, thiện án, trướng bụng nhẹ, ăn uốngkém, hay rối loạn tiêu hóa, băng kinh nhiều, kinh thủy màu đỏ nhợt, lẫn máu cục, khó cầm, ngườimệt mỏi, môi nhợt; Chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, nhớt Mạch hư nhược

- Bài thuốc:

Đương quy 10g Hoàng kỳ 12g

Bạch truật 12g Nhân sâm 12g Thăng ma 10g Thần khúc 12g Hoàng cầm 10g Sài hồ 10gCam thảo 6g Trần bì 10g

Sắc uống ngày 1 thang Uống ấm, chia đều ngày 4 lần

* Do thấp nhiệt: Kinh thủy bế đã qua 3, 4 kỳ đau bụng từng cơn cự án, bụng trướng, háokhát, thích ăn thức ăn mát, băng kinh nhiều, kinh thủy màu đỏ tươi, lẫn máu cục, máu ra nhiều,người mệt mỏi, đại tiện táo, tiểu tiện vàng sẻn, môi đỏ, khô; chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng Mạch tếsác

- Bài thuốc:

Thung căn bì 10g Bạch thược 16g Hoàng cầm 18g Hoàng bá 10g Quy bản 18g Hương phụ16g Thục địa hoàng 10g Xuyên khung 10g Cam thảo 6g A giao 10g Ngải diệp 10g Đương quy 12g

Sắc uống ngày 1 thang Uống ấm, chia đều ngày 4 lần

Chương 2: Bệnh khí hư đới hạ

Khí hư, đới hạ là một chất cần thiết trong suốt quá trình hoạt động sinh lý Vừa làm nhiệm

vụ bôi trơn cơ quan sinh dục, vừa làm nhiệm vụ môi trường bảo vệ, tiếp nhận tinh sinh dục giúpquá trình thụ thai Khi số lượng khí hư ra quá nhiều hoặc màu sắc bất thường như: vàng, xanh,nâu… hoặc có mùi hôi, tanh nồng khó chịu….là biểu hiện bệnh lý

Bệnh lý khí hư, đới hạ bao gồm: Khí hư hoàng đới; Xích đới; Khí hư bạch đới; Khí hư xíchbạch đới; Khí hư thanh đới; Khí hư hắc đới; Khí hư ngũ sắc đới

Trong thực tế lâm sàng thường gặp nhiều là: Khí hư bạch đới và khí hư xích bạch đới

1 Khí hư bạch đới

Khí hư bạch đới là một chứng bệnh hay gặp ở phụ nữ Bệnh do nhiều nguyên nhân ở nhiềutạng phủ, kinh mạch nhưng chúng đều gây ra chứng trạng chung là ra khí hư nhiều, màu trắng,trong, loãng hoặc đặc….Bệnh nặng có thể kèm theo các triệu chứng toàn thân như: Người mệt mỏi,gày sút kém ăn, lưng đau, mỏi gối, suy kiệt…

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

- Thấp nhiệt: Thấp và nhiệt xâm nhập vào cơ thể, có thể lưu trú ở các tạng phủ, khí huyếtlàm cho Nhâm và Đới mạch bị tổn thương hoặc do thấp nội sinh từ trong cơ thể, cũng có thể thấpnhiệt tác động trực tiếp vào cơ quan sinh dục…Tất cả những yếu tố trên làm ảnh hưởng đến côngnăng vận hoá bình thường của Nhâm và Đới làm cho khí hư ra nhiều màu trắng đục hơi vàng, mùihôi…

- Đàm thấp: Đàm được sinh ra do nhiều nguyên nhân có thể do tỳ hư, phế hư, thận dươnghư…Kết hợp với cảm nhiễm thấp tà hoặc nội thấp trên cơ thể người vốn có đàm thấp….Đàm và

Trang 38

thấp hiệp lại bó quyện với nhau làm bế tắc vận hành của các kinh mạch: Xung, Nhâm, Đốc, Đới,làm cho khí hư ra nhiều, màu trắng nhớt như đờm.

- Can khí uất kết: Can khi có nhiệm vụ sơ tiết điều đạt; Khi tình chí bị uất ức lâu ngày làmcho can khí uất kết, hoá hoả thiêu đốt chân âm, can huyết cũng bị tiêu hao theo…ảnh hưởng đếncông năng vận hành khí cơ của hai mạch: Nhâm và Đới mà khí hư ra nhiều, thất thường cả về sốlượng và màu sắc…

- Tỳ hư: Tỳ chủ vận hoá thuỷ thấp, có nhiệm vụ thăng thanh giáng trọc Tỳ hư vận hoá kém,khí thanh dương không được thăng tác động đến đới mạch làm cho khí hư ra nhiều, màu trắngtrong…

- Thận hư:

Thận âm hư: Thận âm hư, thận thuỷ suy kiệt không chế ước được hoả, làm cho mệnh mônhoả bốc lên, tâm hoả không giáng xuống….ảnh hưởng tới bể huyết và mạch Xung, mạch Đới màgây ra

Thận dương hư: Thận dương hư lâu ngày làm cho phần dương khí trong cơ thể bị suy giảm,ảnh hưởng đến các tạng phủ và Đốc mạch; mà các mạch Xung, Nhâm, Đốc, Đới có mối quan hệkhăng khít với nhau trong: Kinh, đới, thai, sản Khi thận dương hư đới mạch suy thì khí hư ranhiều, loãng dây dưa không dứt

Điều trị

* Thấp nhiệt: Bạch đới chất nhờn đục, tanh hôi, màu trắng đục hơi vàng có khi như mủ, dính

và hôi, ngứa trong âm hộ, ngực sườn đầy tức miệng đắng, họng khô, ăn uống kém, đau tức bụngdưới, tiểu tiện ngắn và đỏ; chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng bẩn Mạch hư sác

- Cách bào chế: Sinh địa hoàng, đương quy, bạch thược và xuyên khung tẩm nước (đồng tiện

2 phần + rượu trắng 1 phần) tẩm để 1 đêm sau đó sao giòn tán bột mịn tinh Các vị: Hoài sơn, Bakích nhục, Sơn thù du, Xuyên luyện tử nhục, hoàng kỳ tẩm mật sao, Tiểu hồi hương, Liên nhục,

Trang 39

Mộc qua, Nhân sâm, Bổ cốt, chỉ tẩm nước muối nhạt vi sao tất cả các vị trên nấu thành cao lỏng.Cho cao Ban long quấy tan đều cho thuốc bột trên vào hoàn viên.

- Cách dùng: Ngày uống 60g, chia đều 3 lần

2 Khí hư xích bạch đới

Khí hư đới hạ ra nhiều màu trắng lẫn màu đỏ hoặc màu trong suốt lổn nhổn lẫn màu trắng vàmàu đỏ; mùi tanh, hôi Bệnh do nhiều nguyên nhân, thường gặp ở những người có tính tình nóngnảy hay lo nghĩ, uất giận, hoặc người bệnh có kèm theo trưng hà, tích báng…

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

- Thấp nhiệt: Thấp và nhiệt xâm phạm vào cơ thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào cáckinh mạch Xung, Nhâm, Đới hoặc do chế độ vệ sinh, môi trường, hủ tục của địa phương….làm chothấp và nhiệt phối hợp với nhau tương bác mà gây ra

- Huyết ứ: Huyết ứ làm cho tân huyết không được sinh, làm cho Xung Nhâm không đủhuyết, trong khi đó huyết hư lại không thoát ra ngoài được, tạo thành một vòng luẩn quẩn, chínhkhí trong cơ thể buộc phải tìm cách đẩy huyết hư ra; lâu ngày Xung, Nhâm Đới đều hư mà gây ra

- Khí uất: Bình thường ở phụ nữ khối lượng huyết được bổ sung và thay đổi về chất liên tụctheo chu kỳ hành kinh hàng tháng, thời kỳ bắt đầu có kinh nguyệt và thời kỳ tiền mãn kinh Đặcbiệt, sau khi chửa đẻ hoặc sảy thai là một biến động lớn tới toàn bộ cơ thể, ngũ tạng, lục phủ… Ởnhững giai đoạn này mà tinh thần không được thanh thản rất dễ gây ra khí uất Khí uất lưu chú ởkinh mạch xung yếu như Nhâm, Đới… mà gây ra

- Hư hàn: Dương khí hư sinh nội hàn, làm giảm công năng chống đỡ ngoại tà, nội hàn phốihợp với ngoại hàn làm bế tắc các kinh mạch Xung, Nhâm, Đới…mà gây ra

- Hư nhiệt: Huyết hư, âm hư sinh nội nhiệt, làm cho huyết hải khô kiệt mạch Xung thiếu,nguồn kinh huyết không đủ, thất điều, làm cho mối tương quan Xung - Nhâm - Đới bị ảnhhưởng….mà gây ra

- Cách dùng: Ngày uống 30g, chia đều làm 3 lần với nước chín

* Huyết ứ: Khí hư đới hạ màu đỏ trắng lẫn lộn, mùi tanh; bụng dưới đầy đau, hành kinhkhông đều hoặc kinh đến trước kỳ hoặc 1 tháng 2 lần; người mệt mỏi bứt rứt khó chịu Mạch trầm

- Bài thuốc:

Đào nhân 10g Bán hạ 12g Đương quy 16g Ngưu tất 12g Sinh địa 18g Quế tâm 10g Nhânsâm 10g Bồ hoàng 10g Mẫu đơn 12g Xuyên khung 12g Trạch lan diệp 10g Xích thược 16g Camthảo 10g

- Cách dùng: Thuốc sắc, uống ấm, chia đều ngày 3 lần

* Khí uất: Ngực sườn đầy tức, ăn uống không ngon, hay cáu giận Khí hư đới hạ xích bạch ranhiều, thất thường Mạch huyền

Trang 40

- Cách dùng: Ngày uống 60g, chia đều 3 lần với nước.

* Hư hàn: Khí hư đới hạ xích bạch lâu ngày không dứt, tay chân lạnh, da xanh nhợt, ngạihoạt động, thích nằm; đại tiện lỏng, tiểu tiện trong dài, người cảm giác lạnh, sợ lạnh Rêu lưỡi trắngnhớt, chất lưỡi nhợt bệu Mạch trầm trì

- Bài thuốc:

Đương quy 20g Bào phụ tử 10g Long cốt 20g Ngô thù du 10g Mẫu lệ 15g Ngải diệp 10gXích thạch chi 20g Thán khương 10g

- Cách bào chế: Tất cả các vị trên tán bột làm viên với hồ giấm

- Cách dùng: Ngày uống 45g, chia đều 3 lần với nước sắc Ô mai

* Hư nhiệt: Khí hư xích bạch đới hạ nhiều, ngũ tâm phiền nhiệt, khát nước, hai gò má đỏ, đạitiện táo; Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng Mạch tế sác

- Bài thuốc:

Bạch truật 10g Mao truật 10g Bạch thược 10g A giao 10g Địa du 10g Phục linh 10g Thungcăn bì 12g Hoàng bá 12g Thục địa 16g Đương quy 16g Hương phụ 16g Xuyên khung 12g Nhânsâm 12g

- Cách dùng: Ngày uống 45g, chia đều 3 lần uống với nước

3 Khí hư hoàng đới

Khí hư đới hạ màu vàng, đặc, nhớt, cũng có khi loãng như nước chè đậm, mùi hôi Khi khí

hư đới hạ ra quá nhiều còn được gọi là hoàng băng

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt xâm phạm vào Xung, Nhâm, Đốc, Đới, hoặc Nhâmmạch trúng phải thấp độc không hoá được, nung nấu tân dịch lâu ngày mà gây ra

Nhâm mạch chứa thấp, thấp nhiều cản trở không sinh tinh hoá khí được cũng gây ra

Lo nghĩ quá độ lâu ngày tổn thương đến tỳ làm cho công năng vận hoá thuỷ thấp không đượcthực hiện lâu ngày tích tụ lại gây ra

Điều trị

* Thấp nhiệt: Chứng đới hạ mới phát sinh màu vàng, tanh hôi nồng nặc hoặc sưng đau trong

âm hộ, âm đạo Lúc này bệnh mới phát, nên sức khoẻ bệnh nhân còn tốt

- Bài thuốc:

Hoàng liên 12g Hoàng cầm 18g Đại hoàng 12g Quế tâm 12g Giá trùng 10g Can địa hoàng32g

- Cách dùng: Sắc uống ấm chia đều ngày 3 lần

* Tỳ khí hư: Đới hạ vàng trắng lai dai không dứt, trung khí hao tổn dần, yếu sức, đoản hơi,ngại nói, không muốn vận động; Chất lưỡi nhớt bệu, rêu lưỡi trắng Mạch hư nhược hoặc trầmnhược

- Phương pháp điều trị Bổ tỳ, chỉ đới

- Bài thuốc: Bổ trung ích khí thang gia giảm

Đảng sâm 16g Hoàng kỳ 16g

Bạch truật 20g Đương quy 16g

Thăng ma 16g Sài hồ 16g Cam thảo 12g Trần bì 12g Mẫu lệ 12g Thạch liên nhục 10g

- Cách bào chế: Các vị trên + nước 1900ml sắc lọc bỏ bã lấy 200ml

- Cách dùng: Sắc uống ấm chia đều ngày 3 lần

4 Khí hư thanh đới

Khí hư đới hạ màu xanh lam hoặc như nước đậu màu hơi xanh nhớt, đặc dính; mùi hôi Sốngười bị khí hư thanh đới tỷ lệ thấp

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh

Ngày đăng: 17/05/2015, 20:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w