luận văn về Giá trị thông báo của cử chỉ tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời ở người việt
Trang 1Giá trị thông báo của cử chỉ tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời
ở người việt
LỜI NÓI ĐẦU
Việc thực hiện và hoàn thành niên luận đối với mỗi sinh viên là vô cùngquan trọng Để hoàn thành niên luận này, trước hết em xin chân thành cảm ơn sựdạy dỗ tận tình của các thầy cô giáo trong Khoa Ngôn ngữ Đặc biệt em xin chânthành cảm ơn sự chỉ bảo và giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn: ThầyNguyễn Văn Khang, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành niên luận này
Do hạn chế về thời gian và giới hạn về kiến thức, niên luận này khôngtránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến nhậnxét, đóng góp của các thấy cô giáo và các bạn để niên luận được hoàn chỉnhhơn
Trang 2I MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Hàng ngàn năm qua, ngôn ngữ đã trở thành công cụ tư duy và phươngtiện giao tiếp đặc biệt quan trọng, giúp con người biểu đạt nội dung thông tin,chia sẻ suy nghĩ, tình cảm…Vì thế, quan niệm truyền thống luôn coi ngôn ngữđóng vai trò độc tôn trong giao tiếp mà lãng quên vai trò của cử chỉ, điệu bộ(ngôn ngữ phi lời) Tuy nhiên, thực tế cho thấy thông điệp mà người nói chuyểntải bằng ngôn từ chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, trong khi giao tiếp bằng ngôn ngữkhông lời chiếm tỉ lớn hơn nhiêù Càng quan tâm đến vấn đề giao tiếp, người tacàng thấy là không thể bỏ qua vai trò của cử chỉ, điệu bộ Sự hiểu biết thấu đáo
về ngôn ngữ cử chỉ rất cần thiết cho việc giao tiếp trong đời sống cộng đồng.Với muôn vàn tình huống khác nhau trong sinh hoạt đời thường, không phải ai
và không phải bất cứ lúc nào người ta cũng biết cách sử dụng cử chỉ điệu bộđúng mực và hợp phong cách Biết biểu hiện bằng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ đúnglúc, đúng tình huống sẽ nâng cao hiệu quả giao tiếp, có khi còn hơn cả ngôn ngữ
có lời
Trong giao tiếp phi lời, cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt đóng vai tròquan trọng hơn cả, bởi chúng có tấn số xuất hiện cao, giá trị thông báo lớn hơnnhiều so với các bộ phận khác trên cơ thể Đó là những hành vi quen thuộc, gầngũi xung quanh, dễ dàng bắt gặp tuy nhiên lại ít khi được mọi người lưu tâm màthường chỉ coi chúng như bản năng tự nhiên Vì niềm hứng thú tìm hiểu của bảnthân và nhận thấy vị trí quan trọng của cử chỉ, điệu bộ tay và nét mặt trong giaotiếp, chúng tôi đã nảy ra ý định thực hiện đề tài nghiên cứu: “Giá trị thông báocủa tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời ở người Việt”
2 Lịch sử nghiên cứu
Ngược lại lịch sử xa xưa của loài người, ta thấy vai trò của cử chỉ điệu bộtrong giao tiếp là vô cùng to lớn Bởi vì, trước khi “ngôn ngữ thính giác” bắt đầuđược hình thành (khoảng 5000 hay 4000 năm trước công nguyên) thì cử chỉ điệu
bộ chính là ngôn ngữ cổ xưa nhất của loài người Những khai quật khảo cổ học
đã chứng minh điều đó Ở Mêhicô, người ta đã tìm thấy những bức tranh tường,
Trang 3những đồ gốm, trên đó, có thể hình dung được cách đây hàng ngàn năm, nhữngngười Indien Maia đã “nói với nhau bằng điệu bộ”như thế nào:ngón trỏ của tayphải chỉ ra phía trước để hỏi “mấy?”.Bàn tay trái chỉ vào tai để bảo “hãy cẩnthận”, “hãy chú ý” hoặc là “hãy nghe”.Tuy nhiên, ngôn ngữ cử chỉ khi ấy chưathực sự được nghiên cứu Một nhà nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ sửng sốt nhận rarằng: “Tưởng chừng như vô lý là trong một triệu năm tiến hóa của loài người,vấn đề giao tiếp không lời chỉ mới bắt đầu được nghiên cứu nghiêm túc, mangtính hệ thống, khoa học từ đầu những năm sáu mươi (của thế kỉ này), và “Thậmchí ngày nay, số đông vẫn còn chưa biết đến sự tồn tại của ngôn ngữ cử chỉ, dù
nó rất quan trọng đối với đời sống của họ”.Vì thế, người ta cùng không khỏingạc nhiên về “sự phát triển bỗng nhiên” của những nghiên cứu dành cho vấn đềnày trong những năm gần đây
Ở Việt Nam, ngôn ngữ phi lời mới được một số ít người nghiên cứu như:Nguyễn Quang, Phi Tuyết Hinh, Đỗ Thanh, Mai Xuân Huy, Thục Khánh…Phầnlớn là những bài viết mang tính khái quát, đăng trên các tạp chí, chưa đi vàonghiên cứu một cách cụ thể, chuyên sâu
3 Đối tượng nghiên cứu
Cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp phi lời ở người Việt
4 Phạm vi nghiên cứu
Ngôn ngữ phi lời bao gồm các phương tiện giao tiếp không dùng đến âmthanh (không được tiếp nhận qua thính giác) như: cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, điệumặt (gọi chung là ngôn ngữ cử chỉ hay ngôn ngữ thân thể), như khoảng cáchtrong giao tiếp, các tín hiệu màu sắc, mùi vị…
Như vậy, ngôn ngữ phi lời là phạm trù rộng Trong phạm vi bài niên luậnnày, chúng tôi chỉ đề cập đến một phần của ngôn ngữ thân thể là cử chỉ điệu bộcủa tay và nét mặt
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:
- Quan sát các hành vi cử chỉ, điệu bộ của tay và nét mặt trong thực tế
Trang 4- Nghiên cứu tài liệu liên quan
- Ghi chép, thu thập, thống kê, phân loại (theo hình thức, giá trị biểuđạt…) các cử chỉ điệu bộ của tay và nét mặt cả trong thực tế và trong tài liệu
- Miêu tả, so sánh các cử chỉ điệu bộ đã thu thập
- Phân tích, đánh giá ý nghĩa thông báo của từng cử chỉ đó, xem xét trongthực tiễn hoạt động giao tiếp
Trang 5II NỘI DUNG
1 Tổng quan về ngôn ngữ cử chỉ
1.1 Quan niệm về ngôn ngữ cử chỉ
Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi cử chỉ, điệu bộ của chúng ta đều mangtheo nó một vài nét của tâm lý cá nhân, đó là sự thể hiện ra bên ngoài những tìnhcảm bên trong Loại giao tiếp phi văn tự này có tên là “ngôn ngữ cơ thể” hay
“ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ” (gọi tắt là ngôn ngữ cử chỉ)
Qua các nghiên cứu của về loại ngôn ngữ cử chỉ này, các nhà tâm lý coi
cơ thể con người như là một “trạm thu phát thông tin”, nó “phát đi” các độngtác, cử chỉ, nét mặt và các loaị ngôn ngữ vô thanh khác, thường có tác dụng rấtlớn trong việc bổ sung ý nghĩa cho ngôn ngữ của âm thanh, hoặc bộc lộ rõnhững ý đồ giả tạo, không trung thực Điều này cho chúng ta diễn đạt chính xác
và hoàn chỉnh tư tưởng của mình, đồng thời hiểu rõ được người khác Có nhànghiên cứu đã đánh giá một cách hình ảnh rằng: “Thân thể của con người là mộtquyển sách của tâm hồn và quyển sách ấy đã lật ra, chỉ còn việc nhìn vào đấy”,
“Tiếng nói của thân thể bao giờ cũng là tiếng nói thật, dù cho người nào đó cókhéo léo che đậy sự thật bản chất của mình, thì trước sau người đó cũng bị lậttẩy qua những trang sách thân thể của mình”( Nguyễn Văn Lê, [3], tr 144, 145)
Trong tất cả các bài phát biểu và khoa học tâm lý, khái niệm mà người tathường được gán cho ngôn ngữ cử chỉ là những hành vi vô thức của cơ thể, biểuhiện một dạng thông điệp Mặc dù sự phân cách giữa hai loại: ngôn cử chỉ vôthức và có ý thức vẫn còn đang tranh cãi (Chẳng hạn, một nụ cười có thể tạo ramột các có chủ định hoặc không)
Có thể hiểu một cách chung nhất, ngôn ngữ cử chỉ là sự pha trộn của các
cử chỉ, điệu bộ, động tác, tư thế, dáng điệu và ngữ điệu giọng nói Đây là một dạng giao tiếp sử dụng cử chỉ, điệu bộ của cơ thể để thay cho âm thanh, tiếng nói và các dạng giao tiếp khác.
Ngôn ngữ cử chỉ là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ giao tiếp philời, nó bao gồm ngôn ngữ của đầu, mặt , mày , chân, tay,…Và cũng có thể nóihầu hết các bộ phận trên cơ thể chúng ta đều có khả năng truyền tải thông tin
Trang 6Trong giới hạn bài niên luận này, chúng tôi chỉ đi vào tìm hiểu giá trịthông báo của cử chỉ tay và nét mặt.
1.2 Cơ sở chung về ngôn ngữ cử chỉ
Vào thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, “Thuyết ngôn ngữ cử chỉ” trở nên thịnhhành Những người chủ trương thuyết này cho rằng ban đầu con người chưa cóngôn ngữ thành tiếng, để giao tiếp với nhau, người ta dùng tư thế của thân thể vàcủa tay Vuntơ (thế kỉ XIX) cho rằng điệu bộ về nguyên tắc cũng giống như âmthanh, dù là điệu bộ tay hay âm thanh cũng là động tác biểu hiện Marr (Đầu thế
kỉ XX) khẳng định ngôn ngữ cử chỉ tồn tại cách đây 1 triệu đến 1 triệu rưỡi nămcòn ngôn ngữ âm thanh chỉ tồn tại cách đây 5 vạn đến 50 vạn năm Theo ông,ngôn ngữ cử chỉ có thể biểu thị tư tưởng, khái niệm hình tượng hoá, có thể dùnglàm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong cùng một bộ lạc, với các bộ lạckhác, có thể dùng làm công cụ phát triển khái nịêm của mình
Phải đến thế kỉ XX giao tiếp phi ngôn ngữ mới được quan tâm một cáchthực sự Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua các cử chỉ hoạt động của
cơ thể như nét mặt, cách nhìn, điệu bộ và khoảng cách giao tiếp Có rất nhiềuhọc thuyết nghiên cứu về loại hình giao tiếp này nhưng nổi bật nhất vẫn là “Họcthuyết tâm lý tinh thần” và “Học thuyết hành vi cư xử”
Trong “Học thuyết tâm lý tinh thần”, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằngcon người dù ở bất cứ một nền văn hoá nào cũng đều có sáu trạng thái tâm lý( hạnh phúc, buồn khổ, giận giữ, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên ) và tất cả các trạngthái tâm lý đó do sự chi phối của não tạo ra những thay đổi trên mặt nhưng theohai dạng là tự nhiên và xã giao có mục đích Trong một thử nghiệm về ảnhhưởng của não đến các nét mặt của con người, thực nghiệm đã cho thấy khi cácnét mặt bị tê liệt, người ta không thể cười có mục đích (như để tạo ra sự thânmật ) nhưng vẫn có thể cười một cách tự nhiên khi có điều làm họ bất ngờ Vàngược lại cũng có trường hợp, một người có thể cười một cách xã giao nhưng lạikhông thể cười một cách thoải mái được Tuy nhiên, học thuyết này lại lại nêu ranhiều điều tranh cãi Ngôn ngữ cử chỉ là những từ ngữ được quy ước để chỉ cáctrạng thái tâm lý, bản thân các trạng thái tâm lý này lại không được định nghĩa
Trang 7một cách rõ ràng, chính thức thông qua bất cứ loại hình sách vở nào.
Trong “Học thuyết hành vi cư xử”, các nhà khoa học lại cho thấy không
có mối cảm xúc cơ bản cũng như không có biểu hiện cơ bản mà đơn giản chỉ làcác hành vi cư xử mang mục đích xã hội Nét mặt chính là biểu hiện của nhữngviệc chúng ta muốn làm hay có ý định làm Có thể lấy ví dụ trạng thái tức giận(như Học thuyết tâm lý tinh thần đã nêu ) chính là sự mô tả về hành vi sẵn sàng
để tấn công đối thủ Nhưng nói một cách khác, không phải lúc nào cử chỉ củacon người cúng mang thông điệp hay chủ đích như vậy Giả sử như chúng tangáp, điều này lại khiến cho ban tổ chức nghĩ rằng chúng ta cảm thấy chán,buồn ngủ với nội dung chương trình
Có rất nhiều ý kiến cho rằng ngôn ngữ cơ thể bắt nguồn từ giao tiếp độngvật Mối liên quan giữa ngôn ngữ cơ thể và sự giao tiếp của động vật đã đượcbàn đến từ lâu Ngôn ngữ cơ thể là sản phẩm của cả gen (Những đứa trẻ mùcũng mỉm cười và cười to ngay cả khi chúng không bao giờ biết đến nụ cười )
và ảnh hưởng của môi trường Nhà phong tục học người Iran, Eibl-Eibesfeldtkhẳng định rằng một trong số yếu tố cơ bản của loại ngôn ngữ này là đặc điểmchung của nền văn hoá và vì thế gắn với những hành động bản năng Một sốdạng ngôn ngữ cơ thể người có tính kế thừa từ cử chỉ giao tiếp của các loài linhtrưởng khác, mặc dù thường mang những thay đổi về ý nghĩa Nhiều cử chỉ tinh
tế hơn thay đổi theo các nền văn hoá (chẳng hạn điệu bộ diễn tả “Có” hoặc
“Không” ) bắt buộc phải được học hoặc thay đổi trong quá trình học hỏi, thường
do quan sát vô thức từ môi trường
2 Hệ thống cử chỉ, điệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp ở người Việt
2.1 Phân loại
Trong giao tiếp, do bị chi phối bởi các yếu tố tâm lý, dân tộc, xã hội nênnhững biểu hiện cụ thể của cử chỉ, điệu bộ rất phong phú đa dạng Tuy nhiên cóthể quy lại và phân thành 4 loại chính:
1 Cử chỉ mô phỏng
2 Cử chỉ tượng trưng
3 Cử chỉ thuyết minh
Trang 8sự nối kết vẫn được duy trì Như vậy, loại cử chỉ thuyết minh này không có giátrị liên kết lời nói mà chỉ có giá trị bổ sung, làm rõ ý nghĩa và sắc thái cho ngôntừ.
VD: - (Xua tay) Không phải nói nữa, tôi biết hết rồi!
- (Bẻ đốt ngón tay) Em… em không biết ạ.
- (Lắc đầu) không, không phải nó.
- (Bĩu môi) Gớm, tôi chả thiết
bộ tương ứng đó là người kia hiểu được giá trị bằng lời
Trên cơ sở chức năng và hoạt động của loại cử chỉ này có thể chia làm baloại:
a, Loại cử chỉ biểu thị hành vi tiếp nhận giao tiếp
VD: Trong giờ học, An gọi Bình:
- Này Bình
Bình ngồi bàn trên, quay đầu lại
An thì thầm:
Trang 9- Chiều nay học xong đi đá bóng nhé!
b Loại cử chỉ tương ứng với một hàm ý.
Trong giao tiếp, hàm ý là một hiện tượng thường gặp Ở một số trườnghợp, cùng với tiền giả định, nó trở thành phương tiện liên kết hàm ngôn giữa cáclời nói Tuy nhiên, do là phương tiện hàm ngôn nên nội dung của nó không phảilúc nào cũng được hiển ngôn một cách đúng đắn, chính xác
VD1 : A – Tối nay đi chơi nhé ?
B- Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi
Lời nói của B chứa hàm ý, muốn hiểu được A phải suy luận:
Sáng mai B phải nộp bài tiểu luận B vẫn chưa làm xong B không cóthời gian B không thể đi chơi vào chiều nay được
Tuy nhiên, nếu đi kèm với lời nói của B một cử chỉ thì quá trình lý giải sẽđơn giản hơn:
A: Tối nay đi chơi nhé ?
B: ( Lắc đầu ) Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi.
Ở ví dụ trên, cử chỉ của B mang thông tin chính trả lời trực tiếp cho lời đềnghị của A, còn lời nói thêm của B mang tính chất giải thích
VD2: A : Dạo này cậu vẫn ăn cơm ở quán, không tự nấu à ?
B : ( Gật đầu ) Nhưng dạo này giá cơm tăng cao lắm, không như trước
đâu
Trang 10Trong lời B, từ nối “ nhưng ’’ biểu đạt một quan hệ ngữ nghĩa hoặc vớimột phát ngôn nào đó trước nó hoặc với một bộ phận trong cùng nột phát ngônnhưng bị tỉnh lược đi theo cấu trúc : “ Tuy … nhưng …” Vế trước trong lời nóicủa B không được hiển ngôn mà được thay thế bằng một cử chỉ có ý nghĩa
c Loại cử chỉ tương ứng với một hành vi giao tiếp độc lập.
Các cử chỉ này tồn tại độc lập, hoàn toàn giữ vai trò là một phản ứng,không cần phải kèm thêm lời nói Loại cử chỉ này được thể hiện cả trong hoàncảnh giao tiếp đặc biệt cả trong hoàn cảnh giao tiếp bình thường Chúng thườngkhông có chức năng lên kết, ví dụ :
- Nó về chưa?
- (Lắc đầu)
Trong một số trường hợp, các cử chỉ điệu bộ này vừa tương ứng với mộthành vi giao tiếp độc lập vừa tồn tại như một yếu tố nối kết giữa hai lời nói củacùng một chủ thể, ví dụ:
- Mày đi thăm lăng Bác chưa? Tao tưởng lên đây chúng mày phải đến đórồi chứ?
Lời nói thứ nhất là câu hỏi khi chưa biết người được hỏi đã đi thăm lăngBác chưa Lời nói thứ hai “Tưởng A” với tiền giả định: A không đúng nên cónghĩa là : “Bọn mày chưa đi lăng Bác”
Nếu tình huống này tồn tại cử chỉ điệu bộ (Lắc đầu) của người đối thoai
thay cho hành vi trả lời thì sự tồn tại của hai phát ngôn này phi logic
Ngoài ra người ta còn có thể phân chia thành hai loại:
* Cử chỉ tán đồng: gật đầu, cười, vỗ tay, vỗ vai…
*Cử chỉ không tán đồng: lắc đầu, bĩu môi, lè lưỡi…
Trang 11Tuy nhiên, cách phân chia này tỏ ra hạn chế trong những trường hợp màcùng một cử chỉ nhưng laị biểu lộ hai ý nghĩa trái ngược
2.2 Bảng giá trị thông báo của tay và nét mặt
Cho đến nay các nhà ngôn ngữ học chưa thống kê hết xem có bao nhiêu
cử chỉ ngôn ngữ trên thế giới cũng như chưa phân biệt được hết các ý nghĩa củachúng, bởi lẽ, mỗi dân tộc, mỗi tộc người đều có một hệ thống ngôn ngữ cử chỉcùng ý nghĩa riêng của họ Và ở Việt Nam cũng vậy, ngôn ngữ cử chỉ cũng rấtphong phú và đa dạng Dưới đây, chúng tôi xin trình bày kết quả thống kê những
cử chỉ thường gặp ở tay và nét mặt trong giao tiếp của người Việt
2.2.1 Giá trị thông báo của tay
đáng để ý hoặc buộc phải đồng ý
2 Vẫy tay (các ngón hướng về
phía người nói)
tay hướng ra ngoài hất hất)
Thể hiện phá bỏ ý kiến của ngườikhác, tất cả vẫn như trước, bày tỏ sứcmạnh và sự kiên quyết
7
Chặt tay (bàn tay để thẳng, các
ngón tay khép chặt với nhau
như một chiếc búa đang chém
xuống)
Thể hiện sự quyết đoán, kiên quyết,nhanh chóng gỡ rối mọi việc
8
Lật tay (lòng bàn tay hướng
xuống dưới, ngón tay cái xoè
ra, các ngón còn lại hơi cong
cong)
-Tư thế nhắc nhở người nói cẩn thận,cần kiềm chế tình cảm nhằm mụcđích khống chế cuộc nói chuyện
-Tư thế phủ nhận, phản đối …
9 Ngửa tay (lòng bàn tay hướng - Khen ngợi, xin xỏ, khẩn cầu (giơ
Trang 12lên trên, ngón tay cái xoè ra,
các ngón còn lại hơi cong
cong)
tay cao)
- Động tác ăn xin thể hiện chân thànhlắng nghe ý kiến của mọi người,giành được sử ủng hộ (tay để ngang)-Không biết phải làm sao (tay hạthấp)
10 Nắm tay (năm ngón khép chăt,
bàn tay nắm chắc)
-Thể hiện tình cảm bị kích động, uyquyền, báo thù
-Thể hiện thái độ kiên quyết, nguyệnvọng muốn thực hiện điều gì đó …
11 Hai tay nắm vào nhau Ý chí, niềm tin
12 Hai tay đan vào nhau
-Thể hiện tinh thần lo lắng, sốt ruột -Thể hiện sự trịnh trọng hoặc muốnđiều khiển cuộc đàm phán
13 Các ngón tay chạm vào nhau
thành hình tháp
Thể hiện sự tự tin
14 Khoanh tay
-Thể hiện sự chào hỏi, thưa gửi (ở trẻ
em, nhất là ngày xưa)-Trạng thái trầm tư, suy nghĩ-Tư thế chờ đợi trong sự nhàn rỗi, sốtruột, bất lực
-Tư thế cô lập, phòng ngự, khônghoà nhập hoặc không đồng tình
-Thách thức, đương đầu
15 Bàn tay xoè năm ngón -Người nói cảm thấy hồ nghi
-Thể hiện sự thẳng thắn, chân thành
16 Tay bắt chéo lên ngực Phản ánh sự tự vệ
18 Lấy tay che miệng Ngượng ngùng e thẹn thiếu tự tin
pháp hoặc không có ý kiến
Trang 1322 Vặn vẹo bàn tay Lúng túng, bối rối
26 Vò nát hoặc xé nhỏ cái gì đó
27
Đưa ngón tay trỏ thẳngn lên
môi (thường kèm tiếng
34 Đứng chống tay vào hông Đã sẵn sàng, thể hiện sự hung hăng
-Thể hiện sự chán ngán
36 Sờ hoặc xoa nhẹ tay lên mũi
-Phản đối, nghi ngại, nối dối-Không muốn đề cập đến chủ đề đónữa
37 Đấm vào lòng bàn tay Biểu kộ cảm xúc vui, mừng rỡ khi
hoàn thành một công việc nào đó
38 Xoa tay vào nhau
- Chuẩn bị làm việc gì đó-Chứng tỏ biết cách giải quyết việc gìđó
39 Hai tay quàng sau gáy(Hoặc
hai tay vòng ra sau đầu)
-Tự tạo cảm giác thoải mái khi mệtmỏi
-Tư thế suy nghĩ một điều gì đó
Trang 14-Phản ứng lại vấn đề đang bàn tới
41 Tay gõ gõ thành nhịp (trên mặt
42 Tay cầm điếu thuốc run run Căng thẳng, hưng phấn
43 Vung tay (động tác mạnh) Sự dứt khoát không chấp nhận,
45 Vô tình phủi bụi trên quần áo
hoặc cậy móng tay… Lơ đãng, không chú ý.
46 Cử chỉ đưa tay vẽ một mặt
phẳng nằm ngang
Dấu hiệu thẻ hiện sự kiên quyết, chắcchắn, tập trung
tay múa chân)
48 Cánh tay gập căng lại (ở mức
ngang vai), bàn tay nắm chặt
Cử chỉ khen ngợi, bày tỏ sự ủng hộ,đoàn kết, tán thưởng
49 Siết chặt tay người khác (tay
cao quá đầu)
Bày tỏ niềm tin, tình đoàn kết
50 Bàn tay nắm lấy một bàn tay
-Niềm tin tưởng vào đối phương, tìnhbạn
-Tìng cảm thương yêu, trìu mến, cảmthông, chia sẻ, an ủi, khích lệ…
51 Tay vuốt râu
-Thể hiện sự đắc chí, lão luyện, kinhnghiệm
-Thư thái, thoải mái
52 Giơ một ngón tay cái lên Khen ngợi, tin tưởng
53 Giơ ngón trỏ và ngón giữa lên
hình chữ V
Thể hiện sự chiến thắng
54 Đưa ngón tay cái chống dưới
cằm
Biểu lộ thái độ chỉ trích, tiêu cực
Trang 15hành vi nào đó-Khen ngợi, khích lệ
59 Đặt lòng bàn tay lên ngực Biểu thị cảm xúc thật thà, chân thật
61 Xua tay -Không đồng ý,ra hiệu cho đối tác
không cần tiếp tục nói nữa
62 Tay nghịch tóc (vuốt tóc) -Biểu thị sự bối rối, suy nghĩ vẩn vơ
-Sự làm dáng (thường ở nữ giới)
2.2.2 Giá trị thông báo của mặt
-Sự cảm thông, thương cảm trước mộttình cảnh mà mình đành chịu bất lực,không biết làm gì
-Tâm trạng buồn chán, thất vọng, biquan
trên với dưới
Trang 169 Mặt hầm hầm Tức giận, tình cảm bị dồn nén
đó
15 Cằm ngửa cao Kiêu ngạo, cho mình giỏi, lòng tự trọng
cao
tiếp nhận hành vi và gián tiếp thể hiệntính bề trên của người phát ngôn
-Nhắc nhở phải giữ kín điều gì đó
-Lúng túng, xấu hổ-Không đồng ý hẳn-Ngạc nhiên, thán phục, kinh sợ
-Tự kiểm điểm, chế giễu, trách móc bảnthân
người khác biết hoặc khi nói dối điều gìhay trong lòng có sự dao động
22 Phát ra tiếng “xì”ở mũi -Coi thường người khác
-Thở dài ngao ngán
hoặc đắc ý
25 Lỗ mũi hướng về đối
phương
Thể hiện sự coi thường
26 Một bên lông mày dương
lên
Sự không hiểu hoặc nghi ngờ
27 Hai lông mày nhướn lên -Hứng thú, vui vẻ, phấn khởi, ngạc
Trang 17(dương mày) nhiên
-Cố nhìn rõ mọi vật xung quanh khinguy cơ đe doạ giảm xuống
28 Nhún mày (lông mày
dương lên rồi ngừng một
lát sau đố hạ xuống)
-Ngạc nhiên-Buồn phiền
29 Lông mày giữ thẳng Biểu lộ thái độ nghiêm túc, thận trọng
hoặc bàng quan
30 Nhíu mày (chau mày) Sốt ruột, khó chịu, tức giận, băn khoăn,
suy nghĩ, không đồng tình, hoài nghi
31 Lông mày dựng nghiêng
(một bên hạ xuống, một
bên dương lên)
-Tâm lý nghi ngờ-Sự phấn khích, nỗi lo sợ
32 Lông mày lay động
(dương lên rồi nhanh
chóng hạ xuống)
-Bày tỏ sự chào đón thân thiện-Nhấn mạnh giọng điệu
35 Đồng tử mắt mở to Thái độ yêu quý, chăm chú
36 Đồng tử mắt thu nhỏ Tức giận, chán ghét, lạnh nhạt
37 Mắt nhìn ngó lung tung,
không nhìn trực diện vào
người đối diện
-Sốt ruột-Suy nghĩ phức tạp
-Sự lừa dối-Lúng túng, băn khoăn-Không quan tâm-Nhút nhát, khép kín
38 Mắt nhìn ngang ngửa khi
nói
Nóng ruột, bất an, không tập trung
39 Mắt chăm chăm nhìn xa Không chú ý tới lời người khác nói,
trong lòng đang tính toán việc khác
Trang 1844 Mắt thẫn thờ Đang suy nghĩ hoặc mệt mỏi.
-Ra hiệu cho người khác đồng ý vớimình,đứng về phía mình để cùng thựchiện một điều gì đó
-Ra hiệu (thường kèm cử chỉ hất hàm)
để chỉ cho một người về ai đó
47 Mắt long sòng sọc Hăm doạ, tức giận, hung hãn
48 Mắt long lanh Hạnh phúc, chân thành, nhạy bén, nhiệt
54 Ánh mắt ngời sáng Người có tấm lòng ngay thẳng
55 Ánh mắt trìu mến Tình cảm thân thiết, gần gũi
56 Ánh mắt tinh nghịch Người vui tươi, nhí nhảnh
57 Ánh mắt thiết tha Tình cảm chan chứa, cháy bỏng
58 Ánh mắt tập trung, không
chuyển dời
Sự kiên định, quan tâm tới vấn đề đangđược đề cập tới, hoặc quan tâm tớingười đối diện
60 Mắt lơ đãng, nhìn chỗ
khác
-Chán ngán-Bối rối-Sợ sệt
Trang 19mạnh hoặc ánh sáng quá yếu.
65 Một mắt nhắm chặt, một
mắt mở
Tập trung nhìn
67 Giọng hơi dài, nũng nịu Sự vòi vĩnh, yêu chiều
68 Giọng nhỏ nhẹ -Người tính dịu hiền, hoà nhã, dễ gần
-Nhắc nhở, động viên, an ủi ai-Mong muốn, yêu cầu ai làm điêù gìđó…
69 Giọng căng, đanh, to -Người quyết đoán, cá tính mạnh
-Cãi cọ, tức giận-Thuyết phục
lòng-Cảm giác thân thiết, vui vẻ
qua loa, thiếu cảm xúc chân thật
74 Cười khiêu khích Tỏ thái độ khích bác người khác
75 Cười đắc thắng Mãn nguyện khi đạt được một điều gì đó
77 Cười tinh nghịch Sự hồn nhiên nhí nhảnh
80 Cười thương hại Người tỏ vẻ ban ơn, thương hại,nhưng
thực ra là độ coi thường
3 Một vài nhận xét, đánh giá về ngôn ngữ cử chỉ của tay và nét mặt
3.1 Đặc điểm ngôn ngữ cử chỉ của tay và nét mặt
3.1.1 Ngôn ngữ cử chỉ của tay và nét mặt được tiếp nhận qua thị giác
Lời nói được tiếp nhận chủ yếu qua kênh thính giác còn cử chỉ , điệu bộcủa một người lại được tiếp nhận chủ yếu qua kênh thị giác VÍ dụ: cử chỉ giơtay ra hiệu, bắt tay, phẩy tay, nháy mắt, gật đầu, bĩu môi,…đếu được người tham
Trang 20gia đối thoại tiếp nhận nhờ việc quan sát hành vi của người kia.
Thực tế cho thấy, khi giao tiếp trực diện, không một người nào lại chỉ sửdụng hoặc yếu tố ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ cử chỉ (trong điều kiện bình thường).Nếu họ chỉ sử dụng một trong hai loại thì hiệu quả giao tiếp sẽ thấp hơn nhiều sovới việc kết hợp cả hai
3.1.2 Ngôn ngữ cử chỉ mang tính đa nghĩa
Bản thân mỗi cử chỉ, điệu bộ của tay và nét mặt thường bao gồm nhiềunghĩa khác nhau
Ví dụ 1: Hành vi “lắc đầu” của một người có thể biểu thị các ý nghĩa sau:
1.Tỏ ý phủ nhận, không tán đồng2.Tỏ ý chê trách, phê phán, không hài lòng
3 Tỏ vẻ kinh hãi hoặc thán phục trước một sự việc ngoài sức tưởng tượng
4 Thể hiện sự cảm thông, thương cảm trước một tình cảnh mà mình bấtlực đành chịu không biết làm gì
5 Thể hiện tâm trạng buồn chán, thất vọng, bi quan
Ví dụ 2: Hành vi “khoanh tay” của một người có thể biểu thị các ý nghĩasau:
1 Chào hỏi, thưa gửi (ở trẻ em, nhất là ngày xưa)
2 Trạng thái trầm tư, suy nghĩ
3 Tư thế chờ đợi trong sự nhàn rỗi, sốt ruột, bất lực
4 Tự cô lập, phòng ngự, không hoà nhập hoặc không đồng tình
Ví dụ 2: Khi hai người A và B đang nói chuyện với nhau về một vấn đề