Trong giao tiếp phi lời, cử chỉ ñiệu bộ của tay và nét mặt ñóng vai trò quan trọng hơn cả, bởi chúng có tấn số xuất hiện cao, giá trị thông báo lớn hơn nhiều so với các bộ phận khác trên
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Việc thực hiện và hoàn thành niên luận ñối với mỗi sinh viên là vô cùng
quan trọng Để hoàn thành niên luận này, trước hết em xin chân thành cảm ơn sự
dạy dỗ tận tình của các thầy cô giáo trong Khoa Ngôn ngữ Đặc biệt em xin chân
thành cảm ơn sự chỉ bảo và giúp ñỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn: Thầy
Nguyễn Văn Khang, người ñã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành niên luận này
Do hạn chế về thời gian và giới hạn về kiến thức, niên luận này không
tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận ñược những ý kiến nhận
xét, ñóng góp của các thấy cô giáo và các bạn ñể niên luận ñược hoàn chỉnh
hơn
Trang 2Hàng ngàn năm qua, ngôn ngữ ñã trở thành công cụ tư duy và phương
tiện giao tiếp ñặc biệt quan trọng, giúp con người biểu ñạt nội dung thông tin,
chia sẻ suy nghĩ, tình cảm…Vì thế, quan niệm truyền thống luôn coi ngôn ngữ
ñóng vai trò ñộc tôn trong giao tiếp mà lãng quên vai trò của cử chỉ, ñiệu bộ
(ngôn ngữ phi lời) Tuy nhiên, thực tế cho thấy thông ñiệp mà người nói chuyển
tải bằng ngôn từ chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ, trong khi giao tiếp bằng ngôn ngữ
không lời chiếm tỉ lớn hơn nhiêù Càng quan tâm ñến vấn ñề giao tiếp, người ta
càng thấy là không thể bỏ qua vai trò của cử chỉ, ñiệu bộ Sự hiểu biết thấu ñáo
về ngôn ngữ cử chỉ rất cần thiết cho việc giao tiếp trong ñời sống cộng ñồng
Với muôn vàn tình huống khác nhau trong sinh hoạt ñời thường, không phải ai
và không phải bất cứ lúc nào người ta cũng biết cách sử dụng cử chỉ ñiệu bộ
ñúng mực và hợp phong cách Biết biểu hiện bằng ngôn ngữ cử chỉ ñiệu bộ ñúng
lúc, ñúng tình huống sẽ nâng cao hiệu quả giao tiếp, có khi còn hơn cả ngôn ngữ
có lời
Trong giao tiếp phi lời, cử chỉ ñiệu bộ của tay và nét mặt ñóng vai trò
quan trọng hơn cả, bởi chúng có tấn số xuất hiện cao, giá trị thông báo lớn hơn
nhiều so với các bộ phận khác trên cơ thể Đó là những hành vi quen thuộc, gần
gũi xung quanh, dễ dàng bắt gặp tuy nhiên lại ít khi ñược mọi người lưu tâm mà
thường chỉ coi chúng như bản năng tự nhiên Vì niềm hứng thú tìm hiểu của bản
thân và nhận thấy vị trí quan trọng của cử chỉ, ñiệu bộ tay và nét mặt trong giao
tiếp, chúng tôi ñã nảy ra ý ñịnh thực hiện ñề tài nghiên cứu: “Giá trị thông báo
của tay và nét mặt trong hệ thống giao tiếp phi lời ở người Việt”
2 Lịch sử nghiên cứu
Ngược lại lịch sử xa xưa của loài người, ta thấy vai trò của cử chỉ ñiệu bộ
trong giao tiếp là vô cùng to lớn Bởi vì, trước khi “ngôn ngữ thính giác” bắt ñầu
ñược hình thành (khoảng 5000 hay 4000 năm trước công nguyên) thì cử chỉ ñiệu
bộ chính là ngôn ngữ cổ xưa nhất của loài người Những khai quật khảo cổ học
ñã chứng minh ñiều ñó Ở Mêhicô, người ta ñã tìm thấy những bức tranh tường,
Trang 3những ñồ gốm, trên ñó, có thể hình dung ñược cách ñây hàng ngàn năm, những
người Indien Maia ñã “nói với nhau bằng ñiệu bộ”như thế nào:ngón trỏ của tay
phải chỉ ra phía trước ñể hỏi “mấy?”.Bàn tay trái chỉ vào tai ñể bảo “hãy cẩn
thận”, “hãy chú ý” hoặc là “hãy nghe”.Tuy nhiên, ngôn ngữ cử chỉ khi ấy chưa
thực sự ñược nghiên cứu Một nhà nghiên cứu ngôn ngữ cử chỉ sửng sốt nhận ra
rằng: “Tưởng chừng như vô lý là trong một triệu năm tiến hóa của loài người,
vấn ñề giao tiếp không lời chỉ mới bắt ñầu ñược nghiên cứu nghiêm túc, mang
tính hệ thống, khoa học từ ñầu những năm sáu mươi (của thế kỉ này), và “Thậm
chí ngày nay, số ñông vẫn còn chưa biết ñến sự tồn tại của ngôn ngữ cử chỉ, dù
nó rất quan trọng ñối với ñời sống của họ”.Vì thế, người ta cùng không khỏi
ngạc nhiên về “sự phát triển bỗng nhiên” của những nghiên cứu dành cho vấn ñề
này trong những năm gần ñây
Ở Việt Nam, ngôn ngữ phi lời mới ñược một số ít người nghiên cứu như:
Nguyễn Quang, Phi Tuyết Hinh, Đỗ Thanh, Mai Xuân Huy, Thục Khánh…Phần
lớn là những bài viết mang tính khái quát, ñăng trên các tạp chí, chưa ñi vào
nghiên cứu một cách cụ thể, chuyên sâu
3 Đối tượng nghiên cứu
Cử chỉ ñiệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp phi lời ở người Việt
4 Phạm vi nghiên cứu
Ngôn ngữ phi lời bao gồm các phương tiện giao tiếp không dùng ñến âm
thanh (không ñược tiếp nhận qua thính giác) như: cử chỉ, ñiệu bộ, ánh mắt, ñiệu
mặt (gọi chung là ngôn ngữ cử chỉ hay ngôn ngữ thân thể), như khoảng cách
trong giao tiếp, các tín hiệu màu sắc, mùi vị…
Như vậy, ngôn ngữ phi lời là phạm trù rộng Trong phạm vi bài niên luận
này, chúng tôi chỉ ñề cập ñến một phần của ngôn ngữ thân thể là cử chỉ ñiệu bộ
của tay và nét mặt
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện ñề tài nghiên cứu này, chúng tôi ñã sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Quan sát các hành vi cử chỉ, ñiệu bộ của tay và nét mặt trong thực tế
Trang 4- Nghiên cứu tài liệu liên quan
- Ghi chép, thu thập, thống kê, phân loại (theo hình thức, giá trị biểu
ñạt…) các cử chỉ ñiệu bộ của tay và nét mặt cả trong thực tế và trong tài liệu
- Miêu tả, so sánh các cử chỉ ñiệu bộ ñã thu thập
- Phân tích, ñánh giá ý nghĩa thông báo của từng cử chỉ ñó, xem xét trong
thực tiễn hoạt ñộng giao tiếp
Trang 51.1 Quan niệm về ngôn ngữ cử chỉ
Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi cử chỉ, ñiệu bộ của chúng ta ñều mang
theo nó một vài nét của tâm lý cá nhân, ñó là sự thể hiện ra bên ngoài những tình
cảm bên trong Loại giao tiếp phi văn tự này có tên là “ngôn ngữ cơ thể” hay
“ngôn ngữ cử chỉ, ñiệu bộ” (gọi tắt là ngôn ngữ cử chỉ)
Qua các nghiên cứu của về loại ngôn ngữ cử chỉ này, các nhà tâm lý coi
cơ thể con người như là một “trạm thu phát thông tin”, nó “phát ñi” các ñộng
tác, cử chỉ, nét mặt và các loaị ngôn ngữ vô thanh khác, thường có tác dụng rất
lớn trong việc bổ sung ý nghĩa cho ngôn ngữ của âm thanh, hoặc bộc lộ rõ
những ý ñồ giả tạo, không trung thực Điều này cho chúng ta diễn ñạt chính xác
và hoàn chỉnh tư tưởng của mình, ñồng thời hiểu rõ ñược người khác Có nhà
nghiên cứu ñã ñánh giá một cách hình ảnh rằng: “Thân thể của con người là một
quyển sách của tâm hồn và quyển sách ấy ñã lật ra, chỉ còn việc nhìn vào ñấy”,
“Tiếng nói của thân thể bao giờ cũng là tiếng nói thật, dù cho người nào ñó có
khéo léo che ñậy sự thật bản chất của mình, thì trước sau người ñó cũng bị lật
tẩy qua những trang sách thân thể của mình”( Nguyễn Văn Lê, [3], tr 144, 145)
Trong tất cả các bài phát biểu và khoa học tâm lý, khái niệm mà người ta
thường ñược gán cho ngôn ngữ cử chỉ là những hành vi vô thức của cơ thể, biểu
hiện một dạng thông ñiệp Mặc dù sự phân cách giữa hai loại: ngôn cử chỉ vô
thức và có ý thức vẫn còn ñang tranh cãi (Chẳng hạn, một nụ cười có thể tạo ra
một các có chủ ñịnh hoặc không)
Có thể hiểu một cách chung nhất, ngôn ngữ cử chỉ là sự pha trộn của các
cử chỉ, ñiệu bộ, ñộng tác, tư thế, dáng ñiệu và ngữ ñiệu giọng nói Đây là một
dạng giao tiếp sử dụng cử chỉ, ñiệu bộ của cơ thể ñể thay cho âm thanh, tiếng
nói và các dạng giao tiếp khác
Ngôn ngữ cử chỉ là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ giao tiếp phi
lời, nó bao gồm ngôn ngữ của ñầu, mặt , mày , chân, tay,…Và cũng có thể nói
hầu hết các bộ phận trên cơ thể chúng ta ñều có khả năng truyền tải thông tin
Trang 6Trong giới hạn bài niên luận này, chúng tôi chỉ ñi vào tìm hiểu giá trị
thông báo của cử chỉ tay và nét mặt
1.2 Cơ sở chung về ngôn ngữ cử chỉ
Vào thế kỉ XIX và ñầu thế kỉ XX, “Thuyết ngôn ngữ cử chỉ” trở nên thịnh
hành Những người chủ trương thuyết này cho rằng ban ñầu con người chưa có
ngôn ngữ thành tiếng, ñể giao tiếp với nhau, người ta dùng tư thế của thân thể và
của tay Vuntơ (thế kỉ XIX) cho rằng ñiệu bộ về nguyên tắc cũng giống như âm
thanh, dù là ñiệu bộ tay hay âm thanh cũng là ñộng tác biểu hiện Marr (Đầu thế
kỉ XX) khẳng ñịnh ngôn ngữ cử chỉ tồn tại cách ñây 1 triệu ñến 1 triệu rưỡi năm
còn ngôn ngữ âm thanh chỉ tồn tại cách ñây 5 vạn ñến 50 vạn năm Theo ông,
ngôn ngữ cử chỉ có thể biểu thị tư tưởng, khái niệm hình tượng hoá, có thể dùng
làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trong cùng một bộ lạc, với các bộ lạc
khác, có thể dùng làm công cụ phát triển khái nịêm của mình
Phải ñến thế kỉ XX giao tiếp phi ngôn ngữ mới ñược quan tâm một cách
thực sự Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua các cử chỉ hoạt ñộng của
cơ thể như nét mặt, cách nhìn, ñiệu bộ và khoảng cách giao tiếp Có rất nhiều
học thuyết nghiên cứu về loại hình giao tiếp này nhưng nổi bật nhất vẫn là “Học
thuyết tâm lý tinh thần” và “Học thuyết hành vi cư xử”
Trong “Học thuyết tâm lý tinh thần”, các nhà nghiên cứu ñã chỉ ra rằng
con người dù ở bất cứ một nền văn hoá nào cũng ñều có sáu trạng thái tâm lý (
hạnh phúc, buồn khổ, giận giữ, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên ) và tất cả các trạng thái
tâm lý ñó do sự chi phối của não tạo ra những thay ñổi trên mặt nhưng theo hai
dạng là tự nhiên và xã giao có mục ñích Trong một thử nghiệm về ảnh hưởng
của não ñến các nét mặt của con người, thực nghiệm ñã cho thấy khi các nét mặt
bị tê liệt, người ta không thể cười có mục ñích (như ñể tạo ra sự thân mật )
nhưng vẫn có thể cười một cách tự nhiên khi có ñiều làm họ bất ngờ Và ngược
lại cũng có trường hợp, một người có thể cười một cách xã giao nhưng lại không
thể cười một cách thoải mái ñược Tuy nhiên, học thuyết này lại lại nêu ra nhiều
ñiều tranh cãi Ngôn ngữ cử chỉ là những từ ngữ ñược quy ước ñể chỉ các trạng
thái tâm lý, bản thân các trạng thái tâm lý này lại không ñược ñịnh nghĩa một
Trang 7cách rõ ràng, chính thức thông qua bất cứ loại hình sách vở nào
Trong “Học thuyết hành vi cư xử”, các nhà khoa học lại cho thấy không
có mối cảm xúc cơ bản cũng như không có biểu hiện cơ bản mà ñơn giản chỉ là
các hành vi cư xử mang mục ñích xã hội Nét mặt chính là biểu hiện của những
việc chúng ta muốn làm hay có ý ñịnh làm Có thể lấy ví dụ trạng thái tức giận
(như Học thuyết tâm lý tinh thần ñã nêu ) chính là sự mô tả về hành vi sẵn sàng
ñể tấn công ñối thủ Nhưng nói một cách khác, không phải lúc nào cử chỉ của
con người cúng mang thông ñiệp hay chủ ñích như vậy Giả sử như chúng ta
ngáp, ñiều này lại khiến cho ban tổ chức nghĩ rằng chúng ta cảm thấy chán,
buồn ngủ với nội dung chương trình
Có rất nhiều ý kiến cho rằng ngôn ngữ cơ thể bắt nguồn từ giao tiếp ñộng
vật Mối liên quan giữa ngôn ngữ cơ thể và sự giao tiếp của ñộng vật ñã ñược
bàn ñến từ lâu Ngôn ngữ cơ thể là sản phẩm của cả gen (Những ñứa trẻ mù
cũng mỉm cười và cười to ngay cả khi chúng không bao giờ biết ñến nụ cười )
và ảnh hưởng của môi trường Nhà phong tục học người Iran, Eibl-Eibesfeldt
khẳng ñịnh rằng một trong số yếu tố cơ bản của loại ngôn ngữ này là ñặc ñiểm
chung của nền văn hoá và vì thế gắn với những hành ñộng bản năng Một số
dạng ngôn ngữ cơ thể người có tính kế thừa từ cử chỉ giao tiếp của các loài linh
trưởng khác, mặc dù thường mang những thay ñổi về ý nghĩa Nhiều cử chỉ tinh
tế hơn thay ñổi theo các nền văn hoá (chẳng hạn ñiệu bộ diễn tả “Có” hoặc
“Không” ) bắt buộc phải ñược học hoặc thay ñổi trong quá trình học hỏi, thường
do quan sát vô thức từ môi trường
2 Hệ thống cử chỉ, ñiệu bộ của tay và nét mặt trong giao tiếp ở người Việt
2.1 Phân loại
Trong giao tiếp, do bị chi phối bởi các yếu tố tâm lý, dân tộc, xã hội nên
những biểu hiện cụ thể của cử chỉ, ñiệu bộ rất phong phú ña dạng Tuy nhiên có
thể quy lại và phân thành 4 loại chính:
1 Cử chỉ mô phỏng
2 Cử chỉ tượng trưng
3 Cử chỉ thuyết minh
Trang 8Là cử chỉ ñi kèm với các hành vi lời nói biểu thị sự khẳng ñịnh, phủ ñịnh,
ngạc nhiên, nghi ngờ, giễu cợt… Loại cử chỉ này làm nên sức biểu hiện của nội
dung ñược thông báo bằng lời Tuy vậy, khi viết trên văn bản, nếu loại ra các
yếu tố cử chỉ, ñiệu bộ thuyết minh thì nội dung từng lời nói vẫn ñược ñảm bảo,
sự nối kết vẫn ñược duy trì Như vậy, loại cử chỉ thuyết minh này không có giá
trị liên kết lời nói mà chỉ có giá trị bổ sung, làm rõ ý nghĩa và sắc thái cho ngôn
từ
VD: - (Xua tay) Không phải nói nữa, tôi biết hết rồi!
- (Bẻ ñốt ngón tay) Em… em không biết ạ
- …
Là cử chỉ có khả năng tồn tại ñộc lập trong giao tiếp và có giá trị tương
ñương với một hành vi bằng lời
Cử chỉ hàm chỉ bắt ñầu từ cử chỉ kèm lời Sau ñó dẫn ñến thiết lập một
mối quan hệ ổn ñịnh giữa hành vi lời nói và các kiểu cử chỉ ñi kèm Đến một lúc
nào ñó, trong những tình huống cụ thể, người này chỉ cần thể hiện cử chỉ, ñiệu
bộ tương ứng ñó là người kia hiểu ñược giá trị bằng lời
Trên cơ sở chức năng và hoạt ñộng của loại cử chỉ này có thể chia làm ba
loại:
a, Loại cử chỉ biểu thị hành vi tiếp nhận giao tiếp
VD: Trong giờ học, An gọi Bình:
- Này Bình
Bình ngồi bàn trên, quay ñầu lại
An thì thầm:
Trang 9Ở các trường hợp loại trên, cử chỉ: quay ñầu lại, ngẩng ñầu lên, dừng
thể hiện rằng người nghe ñã chuẩn bị một thế giao tiếp mới, sẵn sàng ñón nhận
thông tin mới Có thể thể hiện hiển ngôn hoá các cử chỉ trên bằng các phát ngôn:
“ gì thế ? ’’ , “ có chuyện gì ñấy ? ’’, … Người phát tin hiểu ñược ý nghĩa của
các cử chỉ của người kia sẽ tiếp tục thực hiện hành vi nói của họ
b Loại cử chỉ tương ứng với một hàm ý
Trong giao tiếp, hàm ý là một hiện tượng thường gặp Ở một số trường
hợp, cùng với tiền giả ñịnh, nó trở thành phương tiện liên kết hàm ngôn giữa các
lời nói Tuy nhiên, do là phương tiện hàm ngôn nên nội dung của nó không phải
lúc nào cũng ñược hiển ngôn một cách ñúng ñắn, chính xác
VD1 : A – Tối nay ñi chơi nhé ?
B- Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi
Lời nói của B chứa hàm ý, muốn hiểu ñược A phải suy luận:
Sáng mai B phải nộp bài tiểu luận B vẫn chưa làm xong B không có
thời gian B không thể ñi chơi vào chiều nay ñược
Tuy nhiên, nếu ñi kèm với lời nói của B một cử chỉ thì quá trình lý giải sẽ
ñơn giản hơn:
A: Tối nay ñi chơi nhé ?
B: ( Lắc ñầu ) Sáng mai tớ phải nộp bài tiểu luận rồi
Ở ví dụ trên, cử chỉ của B mang thông tin chính trả lời trực tiếp cho lời ñề
nghị của A, còn lời nói thêm của B mang tính chất giải thích
VD2: A : Dạo này cậu vẫn ăn cơm ở quán, không tự nấu à ?
B : ( Gật ñầu ) Nhưng dạo này giá cơm tăng cao lắm, không như trước
ñâu
Trang 10Trong lời B, từ nối “ nhưng ’’ biểu ñạt một quan hệ ngữ nghĩa hoặc với
một phát ngôn nào ñó trước nó hoặc với một bộ phận trong cùng nột phát ngôn
nhưng bị tỉnh lược ñi theo cấu trúc : “ Tuy … nhưng …” Vế trước trong lời nói
của B không ñược hiển ngôn mà ñược thay thế bằng một cử chỉ có ý nghĩa
tương ứng ( “ gật ñầu ” = “ ừ ” )
Hiển ngôn cử chỉ câu trả lời của B sẽ là: “ Ừ.Nhưng dạo này giá cơm tăng
cao lắm, không như trước ñâu ”
Cử chỉ lúc này ñóng vai trò quan trọng, ñảm bảo sự tồn tại lời nói của B,
làm lời nói của B tương ứng với câu hỏi của A Nếu bỏ các cử chỉ ñi kèm thì
mối quan hệ giữa các lời nói sẽ trở nên rời rạc
c Loại cử chỉ tương ứng với một hành vi giao tiếp ñộc lập
Các cử chỉ này tồn tại ñộc lập, hoàn toàn giữ vai trò là một phản ứng,
không cần phải kèm thêm lời nói Loại cử chỉ này ñược thể hiện cả trong hoàn
cảnh giao tiếp ñặc biệt cả trong hoàn cảnh giao tiếp bình thường Chúng thường
không có chức năng lên kết, ví dụ :
- Nó về chưa?
- (Lắc ñầu)
Trong một số trường hợp, các cử chỉ ñiệu bộ này vừa tương ứng với một
hành vi giao tiếp ñộc lập vừa tồn tại như một yếu tố nối kết giữa hai lời nói của
cùng một chủ thể, ví dụ:
- Mày ñi thăm lăng Bác chưa? Tao tưởng lên ñây chúng mày phải ñến ñó
rồi chứ?
Lời nói thứ nhất là câu hỏi khi chưa biết người ñược hỏi ñã ñi thăm lăng
Bác chưa Lời nói thứ hai “Tưởng A” với tiền giả ñịnh: A không ñúng nên có
nghĩa là : “Bọn mày chưa ñi lăng Bác”
Nếu tình huống này tồn tại cử chỉ ñiệu bộ (Lắc ñầu) của người ñối thoai
thay cho hành vi trả lời thì sự tồn tại của hai phát ngôn này phi logic
Ngoài ra người ta còn có thể phân chia thành hai loại:
* Cử chỉ tán ñồng: gật ñầu, cười, vỗ tay, vỗ vai…
*Cử chỉ không tán ñồng: lắc ñầu, bĩu môi, lè lưỡi…
Trang 11Tuy nhiên, cách phân chia này tỏ ra hạn chế trong những trường hợp mà
cùng một cử chỉ nhưng laị biểu lộ hai ý nghĩa trái ngược
2.2 Bảng giá trị thông báo của tay và nét mặt
Cho ñến nay các nhà ngôn ngữ học chưa thống kê hết xem có bao nhiêu
cử chỉ ngôn ngữ trên thế giới cũng như chưa phân biệt ñược hết các ý nghĩa của
chúng, bởi lẽ, mỗi dân tộc, mỗi tộc người ñều có một hệ thống ngôn ngữ cử chỉ
cùng ý nghĩa riêng của họ Và ở Việt Nam cũng vậy, ngôn ngữ cử chỉ cũng rất
phong phú và ña dạng Dưới ñây, chúng tôi xin trình bày kết quả thống kê những
cử chỉ thường gặp ở tay và nét mặt trong giao tiếp của người Việt
2.2.1 Giá trị thông báo của tay
ñáng ñể ý hoặc buộc phải ñồng ý
2 Vẫy tay (các ngón hướng về
phía người nói)
tay hướng ra ngoài hất hất)
Thể hiện phá bỏ ý kiến của người khác, tất cả vẫn như trước, bày tỏ sức mạnh và sự kiên quyết
7
Chặt tay (bàn tay ñể thẳng, các
ngón tay khép chặt với nhau
như một chiếc búa ñang chém
Trang 12xuống dưới, ngón tay cái xoè
ra, các ngón còn lại hơi cong
cong)
cần kiềm chế tình cảm nhằm mục ñích khống chế cuộc nói chuyện
-Tư thế phủ nhận, phản ñối …
9
Ngửa tay (lòng bàn tay hướng
lên trên, ngón tay cái xoè ra,
các ngón còn lại hơi cong
10 Nắm tay (năm ngón khép chăt,
bàn tay nắm chắc)
-Thể hiện tình cảm bị kích ñộng, uy quyền, báo thù
-Thể hiện thái ñộ kiên quyết, nguyện vọng muốn thực hiện ñiều gì ñó …
12 Hai tay ñan vào nhau
-Thể hiện tinh thần lo lắng, sốt ruột
-Thể hiện sự trịnh trọng hoặc muốn ñiều khiển cuộc ñàm phán
13 Các ngón tay chạm vào nhau
thành hình tháp
Thể hiện sự tự tin
14 Khoanh tay
-Thể hiện sự chào hỏi, thưa gửi (ở trẻ
em, nhất là ngày xưa) -Trạng thái trầm tư, suy nghĩ -Tư thế chờ ñợi trong sự nhàn rỗi, sốt ruột, bất lực
-Tư thế cô lập, phòng ngự, không hoà nhập hoặc không ñồng tình -Thách thức, ñương ñầu
Trang 1316 Tay bắt chéo lên ngực Phản ánh sự tự vệ
18 Lấy tay che miệng Ngượng ngùng e thẹn thiếu tự tin
pháp hoặc không có ý kiến
26 Vò nát hoặc xé nhỏ cái gì ñó
27
Đưa ngón tay trỏ thẳngn lên
môi (thường kèm tiếng
Trang 1434 Đứng chống tay vào hông Đã sẵn sàng, thể hiện sự hung hăng
-Thể hiện sự chán ngán
36 Sờ hoặc xoa nhẹ tay lên mũi
-Phản ñối, nghi ngại, nối dối -Không muốn ñề cập ñến chủ ñề ñó nữa
37 Đấm vào lòng bàn tay Biểu kộ cảm xúc vui, mừng rỡ khi
hoàn thành một công việc nào ñó
38 Xoa tay vào nhau
- Chuẩn bị làm việc gì ñó -Chứng tỏ biết cách giải quyết việc
gì ñó
39 Hai tay quàng sau gáy(Hoặc
hai tay vòng ra sau ñầu)
-Tự tạo cảm giác thoải mái khi mệt mỏi
-Tư thế suy nghĩ một ñiều gì ñó
-Phản ứng lại vấn ñề ñang bàn tới
41 Tay gõ gõ thành nhịp (trên mặt
42 Tay cầm ñiếu thuốc run run Căng thẳng, hưng phấn
43 Vung tay (ñộng tác mạnh) Sự dứt khoát không chấp nhận,
45 Vô tình phủi bụi trên quần áo
46 Cử chỉ ñưa tay vẽ một mặt Dấu hiệu thẻ hiện sự kiên quyết, chắc
Trang 15tay múa chân)
48 Cánh tay gập căng lại (ở mức
ngang vai), bàn tay nắm chặt
Cử chỉ khen ngợi, bày tỏ sự ủng hộ, đồn kết, tán thưởng
49 Siết chặt tay người khác (tay
cao quá đầu)
Bày tỏ niềm tin, tình đồn kết
50 Bàn tay nắm lấy một bàn tay
-Niềm tin tưởng vào đối phương, tình bạn
-Tìng cảm thương yêu, trìu mến, cảm thơng, chia sẻ, an ủi, khích lệ…
51 Tay vuốt râu
-Thể hiện sự đắc chí, lão luyện, kinh nghiệm
-Thư thái, thoải mái
52 Giơ một ngĩn tay cái lên Khen ngợi, tin tưởng
53 Giơ ngĩn trỏ và ngĩn giữa lên
hình chữ V
Thể hiện sự chiến thắng
54 Đưa ngĩn tay cái chống dưới
cằm
Biểu lộ thái độ chỉ trích, tiêu cực
56 Vỗ tay
-Tán đồng, tâm đắc một ý kiến, một hành vi nào đĩ
-Khen ngợi, khích lệ
59 Đặt lịng bàn tay lên ngực Biểu thị cảm xúc thật thà, chân thật
khơng cần tiếp tục nĩi nữa
Trang 162.2.2 Giá trị thông báo của mặt
-Sự cảm thông, thương cảm trước một tình cảnh mà mình ñành chịu bất lực, không biết làm gì
-Tâm trạng buồn chán, thất vọng, bi quan
3 Xoa ñầu Hành vi thân thiện, biểu thị thái ñộ bề
trên với dưới
Trang 1713 Ngẩng ñầu Sẵn sàng lắng nghe, tiếp nhận ñiêu gì
ñó
cao
tiếp nhận hành vi và gián tiếp thể hiện tính bề trên của người phát ngôn
-Nhắc nhở phải giữ kín ñiều gì ñó
-Lúng túng, xấu hổ -Không ñồng ý hẳn -Ngạc nhiên, thán phục, kinh sợ
-Tự kiểm ñiểm, chế giễu, trách móc bản thân
người khác biết hoặc khi nói dối ñiều gì hay trong lòng có sự dao ñộng
22 Phát ra tiếng “xì”ở mũi -Coi thường người khác
Trang 18Thể hiện sự coi thường
26 Một bên lông mày dương
lên
Sự không hiểu hoặc nghi ngờ
27 Hai lông mày nhướn lên
(dương mày)
-Hứng thú, vui vẻ, phấn khởi, ngạc nhiên
-Cố nhìn rõ mọi vật xung quanh khi nguy cơ ñe doạ giảm xuống
dương lên rồi ngừng một
lát sau ñố hạ xuống)
-Ngạc nhiên -Buồn phiền
29 Lông mày giữ thẳng Biểu lộ thái ñộ nghiêm túc, thận trọng
hoặc bàng quan
30 Nhíu mày (chau mày) Sốt ruột, khó chịu, tức giận, băn khoăn,
suy nghĩ, không ñồng tình, hoài nghi
31 Lông mày dựng nghiêng
(một bên hạ xuống, một
bên dương lên)
-Tâm lý nghi ngờ -Sự phấn khích, nỗi lo sợ
(dương lên rồi nhanh
chóng hạ xuống)
-Bày tỏ sự chào ñón thân thiện -Nhấn mạnh giọng ñiệu
35 Đồng tử mắt mở to Thái ñộ yêu quý, chăm chú
36 Đồng tử mắt thu nhỏ Tức giận, chán ghét, lạnh nhạt
37 Mắt nhìn ngó lung tung,
không nhìn trực diện vào
người ñối diện
-Sốt ruột -Suy nghĩ phức tạp
-Sự lừa dối -Lúng túng, băn khoăn
Trang 19Nóng ruột, bất an, không tập trung
39 Mắt chăm chăm nhìn xa Không chú ý tới lời người khác nói,
trong lòng ñang tính toán việc khác
40 Mắt nhìn chằm chằm Tập trung chú ý, hứng thú
41 Chớp chớp mắt Dồn nén tình cảm, lúng túng, bối rối
-Vui sướng, cảm ñộng
-Ra hiệu cho người khác ñồng ý với mình,ñứng về phía mình ñể cùng thực hiện một ñiều gì ñó
-Ra hiệu (thường kèm cử chỉ hất hàm)
ñể chỉ cho một người về ai ñó
47 Mắt long sòng sọc Hăm doạ, tức giận, hung hãn
Trang 2054 Ánh mắt ngời sáng Người có tấm lòng ngay thẳng
55 Ánh mắt trìu mến Tình cảm thân thiết, gần gũi
56 Ánh mắt tinh nghịch Người vui tươi, nhí nhảnh
57 Ánh mắt thiết tha Tình cảm chan chứa, cháy bỏng
58 Ánh mắt tập trung, không
chuyển dời
Sự kiên ñịnh, quan tâm tới vấn ñề ñang ñược ñề cập tới, hoặc quan tâm tới người ñối diện
60 Mắt lơ ñãng, nhìn chỗ
khác
-Chán ngán -Bối rối -Sợ sệt
mạnh hoặc ánh sáng quá yếu
65 Một mắt nhắm chặt, một
mắt mở
Tập trung nhìn
67 Giọng hơi dài, nũng nịu Sự vòi vĩnh, yêu chiều
-Nhắc nhở, ñộng viên, an ủi ai -Mong muốn, yêu cầu ai làm ñiêù gì ñó…