1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

yếu tố hình học lớp 3

34 2K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu Tố Hình Học Lớp 3
Trường học Trường Tiểu Học
Chuyên ngành Toán Học
Thể loại Đề Tài Nghiên Cứu
Năm xuất bản 2002-2008
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 206 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luận văn về yếu tố hình học lớp 3

Trang 1

I - lý do chon đề tài

1/ Xuất phát từ mục tiêu của môn toán ở trờng tiểu học:

- Môn toán ở tiểu học nhằm giúp cho học sinh:

Có những kiến thức cơ bản về yếu tố hình học và cách hình thành phép nhân chia trong bảng

- Hình thành các kỹ năng thực hành, tính toán, giải toán có lời văn và các dạng bài toán nhân chia trong bảng và các bài toán có ứng dụng thiết thực trong cuộc sống

- Góp phần bớc đầu phát triển năng lực t duy, phát triển khả năng suy luận, hợp lý của diễn đạt đúng Biết cách giải quyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống, kích thích trí tởng tợng gây hứng thú trong học toán cho học sinh

- Môn toán tiểu học góp phần bớc đầu hình thành phơng pháp học toán, làm việc

có kế hoạch, khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo cho học sinh

2/ Xuất phát từ chơng trình của Bộ GD - ĐT về đổi mới chơng trình sách giáo khoa, theo hớng dạy học mới, nhằm góp phần giúp giáo viên và học sinh có một cách dạy và cách học mới Trong thực tiễn cuộc sống

- Nếu nh các em học sinh, yếu về kỹ năng thực hành2 phép tính nhân, chia không

đợc giúp đỡ, không đợc quan tâm giúp đỡ thì các em sẻ không có khả năng tối thiểu khi học chơng trình toán lớp 3 Nh vậy các em sẻ gặp nhiều khó khăn khi giải các bài toán

có liên quan đến 2 phép tính nhân, chia

- Mặt khác nếu các em học sinh yếu không thực hiện đợc các bài toán về 2 phép tính, không khắc phục đợc những sai lầm trong phần toán học này, trong khi các em khác lại làm tốt, thì các em sẻ chán nản và bi quan, lực học của các em lại càng yếu

- Xuất phát từ những thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện chơng trình và sách giáo khoa tiểu học mới ở địa phơng, ở trờng sở tại

- Hiện nay trong trờng tiểu học chỉ quan tâm đến học sinh giỏi và có nhiều biện pháp để bồi dỡng học sinh giỏi, còn các em học sinh yếu kém ít đợc quan tâm hơn, có chăng cũng là chỉ là các buổi phụ đạo ít ỏi, không có tài liệu, chơng trình cụ thể, sách tham khảo dành cho những em học sinh yếu kém cũnh không có

17

Trang 2

Với nhận thức nh vậy bản thân tôi thấy vấn đề giúp đỡ học sinh yếu kém là vấn

đề cần đợc quan tâm nhiều hơn, nhằm để nâng cao chất lợng cho học sinh

Nhng trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ đợc phép chọn một mảng kiến thức toán học và tôi đã chọn “Vấn đề giúp đỡ học sinh yếu kém Khắc phục khó khăn khi thực hành 2 phép tính nhân, chia trong bảng cho học sinh lớp 3” Hy vọng với đề tài này tôi cũng nh các đồng nghiệp những ai quan tâm đến vấn đề này sẻ góp phần giúp đỡ học sinh yếu kém học tốt hơn môn toán ở bậc tiểu học

Hiện nay các trờng tiểu học đã triển khai và thực hiện chơng trình tiểu học năm

2000 và chơng trình này đợc áp dụng thống nhất trong cả nớc từ năm học năm học 2002

- 2008 Nên giáo viên đã chủ động nắm bắt đợc nội dung và phơng pháp dạy học mới Trong các tiết dạy, giáo viên đã thiết kế bài dạy theo đúng tinh thần đổi mới: Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm, tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh Sử dụng phối hợp phơng pháp dạy học truyền thống với phơng pháp hiện đại và thay đổi hình thức học tập của học sinh nhằm nâng cao vai trò của học sinh trong quá trình học tập Giáo viên chỉ là ngời tổ chức, hớng dẫn, giúp học sinh huy động vốn hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân để tự học sinh chiếm lĩnh tri thức mới, vận dụng các tri thức đó vào thực hành và thực tiễn đời sống

b Về phía học sinh:

Qua tìm hiểu tôi nhận thấy: Học sinh rất thích học chơng trình toán thực nghiệm năm 2000 Bởi các em là chủ thể nhận thức, chính bản thân các em đợc chủ động, độc lập suy nghĩ, khám phá để tìm ra kiến thức mới Các em tiếp cận với bài học và nắm bắt kiến thức rất nhanh

* Khó khăn:

Tuy nhiên, do nhiều năm đã dạy chơng trình cũ nên một bộ phận giáo viên cha

đầu t thời gian để nghiên cứu chơng trình SGK Toán 3 năm 2000 và cha nắm bắt đợc quy trình phơng pháp dạy theo sách giáo khoa mới Giáo viên cha chủ động thiết kế bài dạy, còn phụ thuộc nhiều vào tài liệu hớng dẫn hoặc nếu có chú ý soạn giảng thì giáo viên mới chỉ tập trung vào việc hình thành kiến thức mới cho học sinh mà cha đi sâu vào phần thực hành để rèn luyện kỹ năng cho học sinh Mặt khác nhiều giáo viên lên

18

Trang 3

lớp cha sử dụng đồ dùng dạy học hoặc sử dụng nhng mang lại hiệu quả thấp Giáo viên làm việc còn máy móc, rập khuôn ít có nhu cầu và cơ hội để phát huy khả năng sáng tạo của nghề dạy học Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học cha đảm bảo, các lớp còn phải học chung phòng theo 2 ca, đây cũng là một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hởng đến hoạt động dạy học của cô và trò Từ việc dạy học của thầy mà học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động Các biểu tợng hình hình học giáo viên đa ra học sinh phải ghi nhớ một cách máy móc Chính vì học sinh nắm bắt bài học không vững vàng, không sâu, chỉ áp dụng rập khuôn nên các em dễ học trớc quên sau

2 Đối với sách giáo khoa Toán 3 chơng trình Tiểu học mới:

a Thuận lợi:

Chơng trình sách giáo khoa Tiểu học mới nói chung, mạch yếu tố hình học Toán

3 nói riêng có nhiều hình ảnh trực quan đẹp, trình bày rõ ràng Hệ thống bài tập có nhiều cách thể hiện mới, nhiều bài tập đợc tổ chức dới dạng trò chơi phù hợp với khả năng nhận thức và tâm lý lứa tuổi của học sinh Tiểu học

b Những khó khăn thờng gặp trong việc dạy học mạch yếu tố hình học Toán 3:

Đối với mạch kiến thức này, chính vì học sinh ghi nhớ các biểu tợng hình hình học một cách máy móc cho nên học sinh còn có sự nhầm lẫn giữa biểu tợng hình này với biểu tợng hình khác Chẳng hạn, nhiều em còn nhầm lẫn giữa chu vi và diện tích Các kỹ năng vẽ hình, xếp ghép hình học sinh còn lúng túng và thao tác chậm Đặc biệt

là dạy toán đếm hình học sinh hay đếm sót Bởi đây là một dạng toán đòi hỏi học sinh phải biết: “Phân tích, tổng hợp” hình Do vậy, đây là một điểm khó đối với học sinh khi giải loại toán này

Xuất phát từ thực tế đó tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp để dạy tốt mạch yếu tố hình học Toán 3 Nhằm giúp học sinh phát triển năng lực t duy, khả năng sáng tạo trong học tập

Chơng V Một số giải pháp để dạy tốt mạch yếu tố hình học

19

Trang 4

toán 3 chơng trình Tiểu học mới

Khi dạy mạch kiến thức này giáo viên cần khai thác tính đặc trng của việc hình thành và khám phá kiến thức về nội dung yếu tố hình học đối với học sinh lớp 3 là thông qua con đờng “Thực nghiệm” bằng quan sát và đo đạc, so sánh, phân tích đơn giản rồi quy nạp, khái quát hoá Trên cơ sở đó giáo viên cần lựa chọn cách dạy học…phù hợp, tạo ra những hoạt động học tập của học sinh đảm bảo tính tích cực cho từng

đối tợng học sinh của lớp Cụ thể là:

1 Đối với bài học về khái niệm, biểu tợng hoặc nhận dạng các hình hình học mới

có thể tiến hành hoạt động dạy học mà trong đó:

Khai thác từ tính trực quan tổng thể đến trực quan cụ thể chi tiết giúp học sinh nắm vững và sâu kiến thức mới Cho học sinh liên hệ các khái niệm đã học để chuyển sang khái niệm mới (nếu khái niệm đã học có liên quan đến khái niệm mới)

Trong mạch yếu tố hình học, nội dung dạy học: “Góc vuông, góc không vuông”, chủ yếu giới thiệu để học sinh biết thế nào là “góc vuông” và góc không vuông” cha yêu cầu có khái niệm về “góc” Tuy nhiên, trớc khi làm quen với: “Góc vuông, góc không vuông” sách toán 3 có nêu hình ảnh 2 kim đồng hồ tạo thành góc Điều đó chỉ nhằm giúp học sinh có biểu tợng ban đầu về góc (hình ảnh 2 kim là hình ảnh 2 “cạnh” của góc, hình ảnh điểm chung của 2 kim là hình ảnh “đỉnh” của góc từ đó dẫn ra hình

ảnh (biểu tợng) về “Góc vuông, góc không vuông” đợc “tự nhiên” hơn) Khi dạy về

“Góc vuông, góc không vuông” giáo viên cần giới thiệu một cách tổng thể, xem nh là một hình hình học có dạng nh thế gọi là “góc vuông” hoặc “Góc không vuông” Giáo viên cần lu ý góc không vuông thì nói là không vuông không đợc nói là góc nhọn, góc

tù Giáo viên vẽ góc vuông và cho học sinh biết: Đây là góc vuông, giáo viên chỉ ra

đỉnh góc vuông là điểm nào, hai cạnh góc vuông là 2 cạnh nào rồi nêu tên góc vuông Chẳng hạn: Góc vuông đỉnh O, cạnh OA, OB Cũng giới tơng tự đối với góc không vuông Việc dùng ê ke để kiểm tra góc nào đó có là góc vuông hay không chỉ đợc thực hiện sau khi học sinh đã học (đã có biểu tợng) về góc vuông, góc không vuông Đồng thời yêu cầu tất cả các em phải có êke để học ở lớp 3 cha nên cho học sinh tìm hiểu

20

Trang 5

ở lớp 1, 2 học sinh đã biết các hình (hình tròn, hình tam giác, hình vuông ) d…

-ới dạng “tổng thể” (Chủ yếu quan sát “toàn thể” hình dạng rồi nêu tên hình Đến lớp 3 khi dạy khái niệm hình hình học mới (Hình chữ nhật, hình vuông) ngoài việc xét “tổng thể” học sinh đã biết dựa vào các đặc điểm về yếu tố cạnh, góc, đỉnh của hình để nhận

21

A

B

Trang 6

Cần lấy những hình có tính chất “Phản ví dụ” để học sinh nhận biết sâu hơn hình dạng các hình đang học.

Chẳng hạn: Khi dạy khái niệm hình chữ nhật, giáo viên có thể cho học sinh quan sát tập hợp gồm nhiều hình rồi yêu cầu các em tô màu cao hình chữ nhật

Trong mạch yếu tố hình học ngoài nhận dạng hình chữ nhật, hình vuông học sinh lớp 3 còn đợc học về khái niệm hình tròn ở lớp 1, 2 học sinh đã biết đợc hình tròn qua hình ảnh mặt đồng hồ, cái đĩa, bánh xe học sinh có đ… ợc biểu tợng về “hình tròn”

Đến lớp 3, học sinh đợc biết “hình tròn” nh là một hình với đặc điểm về các yếu tố: Tâm, đờng kính, bán kính của hình tròn Trớc khi học sinh hình tròn học sinh đã đợc giới thiệu về trung điểm của đoạn thẳng Cần cho học sinh liên hệ kiến thức bài “trung

điểm” để biết đợc tâm 0 của hình tròn là trung điểm của đờng kính, bán kính = 1/2 ờng kính

đ-ở lớp 3 cha dạy đến khái niệm “đờng tròn” do vậy giáo viên không nên cho học sinh phân biệt “hình tròn” với “đờng tròn”

Mặt khác, khi dạy bài: “Điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng” Giáo viên cần

lu ý không nhất thiết phải lấy đoạn thẳng dài 2cm nh đoạn thẳng ở sách giáo khoa, giáo viên vẽ ở bảng có thể lấy đơn vị là dm ở phần này học sinh dựa trên cơ sở trực quan là chính, trong khi dạy giáo viên không đợc nói “bên trái, bên phải” Vì khi dạy bài này,

22

Trang 7

trung điểm của đoạn thẳng là duy nhất, còn điểm ở giữa thì có nhiều điểm, cho nên khi học sinh nhận biết trung điểm giáo viên lấy thêm điểm ở giữa thì khó đối với học sinh Khi dạy phần này, yêu cầu học sinh nhìn vào hình vẽ nêu đúng điểm ở giữa, nêu đúng trung điểm

là đợc không yêu cầu các em phải giải thích tại sao

ở lớp 3 cha yêu cầu học sinh nắm đợc “khái niệm” điểm điểm của đoạn thẳng với “định nghĩa” chính xác “khái niệm” đó Trong sách Toán 3 mới chỉ là giới thiệu trung điểm của đoạn thẳng nhằm giúp học sinh nhận biết một điểm có điều kiện nh thế nào đợc gọi là trung điểm của đoạn thẳng, từ đó xác định trung điểm của đoạn thẳng

nh sách Toán 3 đã thực hiện Học sinh xác định trung điểm của đoạn thẳng (trên cơ sở

đo độ dài của đoạn thẳng rồi chia đôi đoạn thẳng đó) Trong sách giáo khoa, trùn điểm của đoạn thẳng đợc giới thiệu trên cơ sở học sinh đợc biết thế nào là “điểm ở giữa” hai

điểm đã cho Chẳng hạn, M là điểm ở giữa A và B (Xem hình vẽ)

Từ đó giới thiệu điểm M là trung điểm của đoạn thẳng AB khi điểm M thoả mãn

2 điều kiện

- M là điểm ở giữa điểm A và điểm B

- Độ dài đoạn thẳng AM bằng độ dài đoạn thẳng MB (AM = MB = 3cm)

Từ 2 điều kiện trên cần cho học sinh đa ra hai điều kiện tơng đơng để nhanạ biết hoặc xác định: “Trung điểm của đoạn thẳng” Chẳng hạn, M là trung điểm của đoạn thẳng AB khi

- Ba điểm A, M, B theo thứ tự là 3 điểm thẳng hàng

- Độ dài đoạn thẳng AM bằng độ dài đoạn thẳng MB (Am = MB)

(A, M, B theo thứ tự là 3 điểm thẳng hàng cùng hiểu: M là điểm giữa điểm A và B).Chẳng hạn, vận dụng các dấu hiệu trên và trung điểm của đoạn thẳng, ta có thể giải thích cho mỗi trờng hợp sau (bài 2 trang 18 - Toán 3)

1/ O là trung điểm của đoạn thẳng AB vì có O, A, B

là 3 điểm thẳng hàng và AO = OB (cùng bằng 2cm)

23

M

Trang 8

2/ M không là trung điểm của đoạn thẳng CD vì C, M

D là 3 điểm không thẳng hàng

3/ H không là trung điểm của đoạn thẳng EG vì

độ dài đoạn thẳng EH (2cm) không bằng độ dài

đoạn thẳng HG (3cm)

Qua phần nêu trên ta nhận thấy dạy bài hình tròn phải xác định với kiến thức của bài trung điểm của đoạn thẳng Cho nên giáo viên cần thực hiện đợc ý đồ đó và giúp học sinh thấy rõ: Tâm là trung điểm của đờng kính bán kính =1/2 đờng kính …

Trở lại vấn đề dạy khái niệm đờng tròn, để giúp các em khắc sâu kiến thức thì

“vẽ trang trí hình tròn ” là một nội dung dạy học hấp dẫn học sinh Tiểu học nhữngcũng

có ngời cho rằng nội dung đó còn “khó” đối với đối với học sinh lớp 3 (ở đây là khó vẽ các đờng nét trang trí hình tròn) Bởi vậy, giáo viên cần thống nhất về ý nghĩa và mức

độ yêu cầu của nội dung dạy học “vẽ trang trí hình tròn” ở lớp 3

“Vẽ trang trí hình tròn” không những góp phần củng cố các kiến thức đã học về hình tròn (nhận biết hình tròn: Tâm, bán kính, đờng kính; kỹ năng vẽ hình tròn bằng com pa ) mà còn góp phần giáo dục thẩm mĩ cho học sinh thông qua cái đẹp của hình…trang trí, sự phối hợp các đờng nét, tạo dạng các hình trang trí phù hợp với sự tởng tợng, khái quát của học sinh

Chẳng hạn, các hình nh dới đây:Viên gạch hoa Hình hoa thị

Hình cánh hoaTuy nhiên, ở lớp 3 nội dung dạy học về “vẽ trang trí hình tròn” là giúp học sinh vẽ đ-

ợc những hình trang trí đơn giản và từ đó gợi ý ra cho học sinh hứng thú tìm tòi, tự vẽ đợc những hình thức phức tạp hơn, tuỳ theo năng lực phát triển của mỗi học sinh

Chẳng hạn, bài “vẽ trang trí hình tròn” ở sách toán 3 trang 112, yêu cầu học sinh hoàn thành hình trang trí nh hình mẫu

Để vẽ đợc hình mẫu này giáo viên cần hớng dẫn học sinh thực hiện theo 3 bớc

24

C

H

D

Trang 9

Tuy nhiên, việc hình thành “quy tắc” tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông đợc thực hiện theo ý tởng chung là thông qua việc tính chu vi hình chữ nhật, hình vuông có

độ dài các cạnh cho trớc (với số đo cụ thể) rồi lhái quát thành “quy tắc” tính chu vi các hình đó Chẳng hạn, tính chu vi hình chữ nhật ABCD với kích thớc đã cho theo hình vẽ

Giáo viên có thể hớng dẫn học sinh làm theo các bớc:

Trang 10

- Bớc 3: Dựa vào (2) để có thể khái quát thành quy tắc tính chu vi hình chữ nhật:

“Muốn tìm chi vi hình chữ nhật ta lấy chiều dài cộng với chiều rộng rồi nhân với 2”

Việc hình thành quy tắc tính chu vi hình vuông thực hiện tơng tự nh trên Tuy nhiên “chuyển” từ 3 + 3 + 3 + 3 = 12 (cm)

Thành: 3 x 4 = 12(cm) là hoàn toàn biến đổi đợc từ ý nghĩa của phép nhân

Lu ý: Sách giáo khoa Toán 3 cha có “ý định” xây dựng quy tắc tính chu vi, diện tích hình vuông dựa vào quy tắc tính chu vi, diện tích hình chữ nhật (với việc coi hình vuông là hình chữ nhật đặc biệt)

Mặt khác, khi dạy học về tính chu vi, diện tích hình vuông, hình chữ nhật giáo viên có gặp mâu thuẩn: Vừa muốn vẽ “phóng to” hình trong sách giáo khoa trên vảng vừa không muốn học sinh hiểu sai biểu tợng về độ lớn của đơn vị đo độ dài (xăng ti mét) hoặc đơn vị đo diện tích (xăng ti mét vuông) Đây là vấn đề đang đợc trao đổi nhiều trong thực tế dạy học của giáo viên Tiểu học hiện nay Trong trờng hợp này theo tôi là chúng ta không nên “phóng to” hình trong sách giáo khoa lên bảng (mà vẫn giữ

26

Trang 11

nguyên các đơn vị đo) Bởi vì ở giai đoạn đầu khi học sinh làm quen với biểu tợng về

đơn vị đo độ dài hoặc diện tích thì hình vẽ trong sách giáo khoa với kích thớc thờng là

đúng với số đo thực Khi học sinh làm quen với đơn vị đo “lớn” hơn (không thể vẽ trong sách giáo khoa hoặc trên bảng) các em có đợc biểu tợng về các đơn vị đo đó thông qua các hình ảnh thực tế (nh chiều dài bảng lớp, chiều cao của cây, khoảng cách

đờng đi giữa 2 tỉnh ) khi đó học sinh đ… ợc làm quen với các hình vẽ (thờng đợc vẽ) là hình vẽ “sơ đồ” với kích thớc hoặc “phóng to” lên hoặc “thu nhỏ” lại, nhng vẫn đảm bảo tỷ lệ giữa các kích thớc của hình đó

Xét trờng hợp cụ thể ở phần chu vi, diện tích hình chữ nhật, hình vuông trong sách toán 2, ta có thể giải quyết theo cách sau:

Khi xây dựng quy tắc tính chu vi hình chữ nhật, thay vì vẽ hình chữ nhật với kích thớng 3cm x 4cm (đơn vị cm) ở sách toán 3, giáo viên có thể vẽ đúng một hình chữ nhật

có kích thớc 3dm x 4dm (đơn vị dm) lên bảng để trình bày cũng đợc Khi đó, chu vi hình chữ nhật đợc tính theo đơn vị dm

Khi xây dựng quy tắc tính diện tích hình chữ nhật vì học sinh mới làm quen với dơn vị xăng - ti - mét vuông (cm2) và chỉ biết có đơn vị đó thôi nên không thể vẽ phóng

to xăng - ti - mét vuông lên bảng mà trình bày đợc Giáo viên cần cho học sinh quan sát hình vẽ thật trong sách giáo khoa để dạy hoc (lấy việc đảm bảo biểu tợng “xăng ti mét vuông” (cm2) ở giai đoạn ban đầu là chủ yếu, học sinh thấy đợc “12cm2”) là diện tích của hình chữ nhật trong sách giáo khoa nh là diện tích của 1 nhãn vỡ có kích thớc 3cm

x 5cm Nếu có vẽ hình trên bảng thì chỉ nhằm giúp học sinh đếm đ… ợc số ô vuông của hình chữ nhật: 3 x 4 = 12 (ô vuông) và thấy đợc diện tích hình chữ nhật bằng 12 ô vuông (cha nói đến cm2) thì cũng đợc Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu cần phải dùng hình

vẽ trong sách giáo khoa để xây dựng quy tắc tính diện tích hình chữ nhật

Tuy nhiên, trớc khi học phần “diện tích các hình” sách giáo khoa Toán 3 đã có nhiều nội dung chuẩn bị cho học sinh làm quen với “diện tích và cách đo diện tích” bằng cách

đếm số ô vuông trong các hình Chẳng hạn, mỗi hình sau có bao nhiều ô vuông?

(Trang 32, 60, 116 sách giáo khoa Toán 3)

27

Trang 12

Khi học sinh làm quen về biểu tợng diện tích (chủ yếu thông qua so sánh diện tích các hình) học sinh đợc tiếp cận với cách tính diện tích các hình bằng chia mỗi hình thành các ô vuông, coi mỗi ô vuông là đơn vị đo diện tích, rồi đếm số ô vuông trong hình đó Trong sách Toán 3, ở giai đoạn đầu học sinh đợc biết tính diện tích các hình theo cách đếm số ô vuông 1cm2 có trong hình đó, sau đó học sinh đợc biết cách tính diện tích một số hình “đặc biệt” (nh hình chữ nhật, hình vuông) theo các quy tắc vừa có tính khái quát hơn, vừa thuận lợi trong cách tính số đo diện tích

Chẳng hạn: Tính diện tích hình chữ nhật có chiều dài 8cm, chiều rộng 5cm Học sinh không phải kẻ chia hình chữ nhật thành “các ô vuông 1cm2” ròi đếm số ô vuông đó

để tính diện tích, học sinh chỉ cần vận dụng quy tắc để tính ngay diện tích hình chữ nhật là: 8 x 5 = 40 (cm2)

Giáo viên cần lu ý, khi dạy bài diện tích hình chữ nhật, hình vuông học sinh đã rút ra đợc quy tắc tính chu vi các hình Sau mỗi bài học tính chu vi hay diện tích hình chữ nhật, hình vuông giáo viên cần cho học sinh liên hệ thực tế

28

Trang 13

Ví dụ: Học xong bài: “Chu vi hình chữ nhật” giáo viên yêu cầu: Các con về đo

và tính chu vi cái sân của nhà mình bằng bao nhiêu cm Hoặc bài “diện tích hình chữ nhật” giáo viên cũng yêu cầu tơng tự: Các con đo và tính xem diện tích cái sân nhà mình có diện tích là bao nhiêu cm2 Nh vậy, chắc chắn về nhà các em sẽ thực hành ngay, đây cũng là việc làm nhằm khắc sâu kiến thức cho học sinh Cũng có thể cho học sinh tính diện tích vờn của nhà mình (nếu các em không có thớc dài thì bố mẹ có thể cung cấp số liệu) Từ đó giúp học sinh biết đợc thực tế đo đạc Chẳng lẻ, nếu chúng ta không làm việc này thì khi hỏi các em diện tích cái sân, mảnh vờn của các con là bao nhiêu cm2 thì các em đành chịu Chúng ta không nên thu hẹp sự sáng tạo của các em là sau nội dung bài học về chu vi, diện tích của hình chữ nhật, các em chỉ biết tính mỗi…

số liệu cho trớc trong sách giáo khoa

Trong thực tế về dạy học yếu tố hình học nh trên đã nói nhiều học sinh còn có sự nhầm lẫn giữa chu vi và diện tích Khi dạy phần này, bản thân tôi đã áp dụng và tơng

đối thành công bằng một vài biện pháp sau:

Học sinh nhận biết khá dễ dàng (một đại lợng hình học cơ bản) hơn nữa nội dung này còn đợc củng cố khi học sinh về độ dài đờng gấp khúc, chu vi của 1 hình Nhng đối với “diện tích” thì trừu tợng hơn rất nhiều Vì vậy, khiến các em dễ nhầm lẫn về chu vi

và diện tích

Ví dụ: Khi yêu cầu các em tính chu vi và diện tích của hình vuông có cạnh dài 4cm, nhiều em sẽ cho rằng chu vi, diện tích hình vuông này bằng nhau

Trờng hợp này, giáo viên cần chỉ rõ: Chu vi là đại lợng độ dài (có đơn vị đo là

cm2) Giáo viên có thể tạo tình huống cho học sinh so sánh, đối chiếu chu vi và diện tích Từ đó khắc sâu thêm biểu tợng về diện tích và tránh sai lầm nói trên

VD: Hai hình (1) và (2) sau có cùng diện tích (đều gồm 6 ô vuông đơn vị diện tích) nhng có chu vi khác nhau (xem hình vẽ)

29

Trang 14

2/ Khi dạy các bài có tính chất luyện tập, thực hành:

Giáo viên cần tổ chức cho các em đợc tự do hoạt động Hiện nay, ở một số trờng thuộc vùng khó khăn, giáo viên thờng sợ hết giờ nên lo lắng, gợi ý một cách quá tờng minh Vì vậy, theo tôi chúng ta cần để các em tự do vẽ, xếp ghép hình, đợc tự do tính toán bằng suy nghĩ của mình để tìm ra kết quả Giáo viên không nên làm thay hoặc h-ớng dẫn quá kỹ cho các em Có nh vậy, mới khắc sâu đợc kiến thức cho học sinh Bởi kết quả tìm ra đợc chính là “sản phẩm” của cá nhân các em dới sự hớng dân, tổ chức hoạt động của thây, cô giáo Dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên học sinh hoạt động

t phát hiện, và tự giải quyết nhiệm vụ của bài đề tự chiếm lĩnh kiến thức mới, đồng thời thiết lập đợc mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học

3/ Sử dụng kết hợp các phơng pháp hình thức dạy học một cách linh hoạt, hợp lý phù hợp với mục tiêu và phơng pháp dạy học:

Trong dạy học, không có một phơng pháp nào đợc coi là vạn năng Mỗi phơng pháp đều có những u điểm và mặt hạn chế nhất định Vì vậy, trong dạy học giáo viên cần phối hợp các phơng pháp dạy học tích cực phù hợp với nội dung dạy học Bởi ph-

ơng pháp dạy học gắn liền với nội dung dạy học nhằm mang lại hiệu quả cao của giờ học, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, t duy sáng tạo của học sinh Bồi dỡng năng lực tự học cho các em Các kỹ năng không thể hình thành bằng con đờng truyền giảng thụ động Học sinh chỉ làm chủ đợc kiến thức khi các em tự chiếm lĩnh chúng bằng chính hoạt động có ý thức của mình Đó chính là lý do cắt nghĩa sự ra đời của ph-

ơng pháp dạy học mới Đây là phơng pháp dạy học lấy ngời học làm trung tâm; trong

đó thầy, cô đóng vai rò là ngời tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều đợc hoạt động, đều đợc bộc lộ mình là phát triển Dạy học trên cơ sở tổ chức và hớng dẫn các hoạt động học tậo tích cực, chủ động, sáng tạo là định hớng chung của phơng pháp dạy học Toán 3 Ngoài ra giáo viên cần thay đổi hình thức dạy học, phù hợp để tránh gây sự nhàm chán cho các em, nhằm tăng thêm hứng thú học tập và đạt hiệu quả cao

30

Trang 15

- Xuất phát từ việc tìm hiểu thực trạng dạy và học của giáo viên và học sinh từ đó

đa ra một số giải pháp để dạy tốt mạch yếu tố hình học trong sách giáo khoa Toán 4

ch-ơng trình tiểu học mới

Tôi đã tiến hành 2 tiết thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của việc đề xuất một

số giải pháp để dạy tốt mạch yếu tố hình học lớp 3 mới

II- Nội dung thực nghiệm

Do thời gian có hạn nên tôi chỉ tiến hành thực nghiệm 2 tiết:

5 Phơng pháp kiểm tra đánh giá.

IV- Thời gian và địa điểm tiến hành thực nghiệm:

Tiết 1 thực nghiệm ở lớp 3A ngày tháng năm 2008.… …

Tiết 2 thực nghiệm ở lớp 3B ngày tháng năm 2008.… …

Tại Trờng Tiểu học Nghĩa Minh - Huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An

VI- Nội dung bài soạn thực nghiệm:

31

Trang 16

II - Đồ dùng dạy học:

- Vẽ sẵn 1 hình chữ nhật có kích thớc 3dm x 4dm

III - Hoạt động dạy học:

Hoạt động dạy của giáo viên Hoạt động học của học sinh

1/ Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ

- Goi1 học sinh lên bảng nêu đặc điểm

của hình chữ nhật

- Học sinh nêu: Hình chữ nhật có 4 góc vuông có 2 cạnh dài bằng nhau và 2 cạnh ngắn bằng nhau

- Yêu cầu cả lớp lắng nghe và nhận xét - Lớp theo dõi nhận xét

- Giáo viên đánh giá cho điểm

2/ Hoạt động 2: Bài mới

2.1/ Giới thiệu bài

ở lớp 2 các con đã biết tính chu vi hình

tam giác, tự giác Các con hãy nhớ lại và

vận dung vào bài học hôm nay để tính

"Chu vi hình chữ nhật"

- Giáo viên ghi mục bài lên bảng

2.2/ Xây dựng quy tắc tính chu vi hình

Trang 17

- Lấy số đo các cạnh cộng lại với nhau

Từ đó, giúp học sinh liên hệ sang bài toán:

- Giáo viên vẽ hình chữ nhật nh sách giáo

khoa: Cho hình chữ nhật ABCD có chiều

dài 4dm, chiều rộng 3dm Tính chu vi

và chiều rộng nên chu vi hình chữ nhật ABCD là:

(4 + 3) x 2 = 14 (dm)

Ghi chú: Hình vẽ trên bảng nên lấy

bảng nên lấy đơn vị đo là đề xi - mét,

33

M

N 2dm

4dm

3dm

5dm

Ngày đăng: 05/04/2013, 21:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình vẽ sau. Tính chu vi hình tứ - yếu tố hình học lớp 3
Hình v ẽ sau. Tính chu vi hình tứ (Trang 16)
Hình chữ nhật đó. - yếu tố hình học lớp 3
Hình ch ữ nhật đó (Trang 17)
Hình học) Cho nên yêu cầu học sinh tự - yếu tố hình học lớp 3
Hình h ọc) Cho nên yêu cầu học sinh tự (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w