Giáo viên bộ môn có những nhiệm vụ sau đây: a Dạy học và giáo dục theo chơng trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài; dạy thực hành thí nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm,
Trang 1Đề cương thi nhận thức GV năm 2010 Câu 1:
MỘT SỐ VĂN BẢNPHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÍ VÀ DẠY HỌC CỦA CÁN BỘ QUẢN LÍ
VÀ GIÁO VIÊN BẬC TRUNG HỌC NĂM HỌC 2009 – 2010
1 Luật giáo dục (do Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành theo quyết định số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005)
2 Điều lệ Trường trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học (Ban hành theo quyết định số 07/2007 ngày 02 tháng 4 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT)
3 Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông ban hành theo quyết định
số 40/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
4 Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Trung học phổ thông chuyên
Ban hành kèm theo quyết định số 82/2008/QĐ-BGDĐT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục
và đào tạo (Đối với cán bộ quản lí và giáo viên trường chuyên)
5 Quy chế thi tốt nghiệp Trung học phổ thông ban hành kèm theo Thông tư số 04/TT-BGDĐT, ngày 12 tháng 3 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (đối với giáo viên Trung học phổ thông)
6 Chỉ thị số 40/2008 ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
7 Chỉ thị số 4899/ CT-BGD&ĐT ngày 04 tháng 8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo về nhiệm vụ trọng tâm của Giáo dục Mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2009-2010
8 Chỉ thị 07/CT-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2009 của UBND Tỉnh về việc các nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành Giáo dục và đào tạo năm học 2009-2010
9 Quyết định số 1400/QĐ-UBND ngày 30 tháng 7 năm 2009 của UBND Tỉnh Lạng Sơn về kế hoạch, thời gian năm học 2009-2010
10 Công văn số 7394/BGD&ĐT- GDTrH hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2009-2010
11 Công văn số 684/BGD&ĐT- GDDT ngày 12 tháng 8 năm 2009 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn thực hiện nhiệm
vụ giáo dục trung học năm 2009-2010
12 Số: 1290/SGDĐT-KT&KĐ: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2009-2010 đối với KT&KĐ CLGD
13 Số: 30/2009/TT-BGDĐT Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2009 THÔNG TƯ Ban hành Quy định Chuẩn
nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông
Các công văn hướng dẫn cụ thể về các lĩnh vực công tác, kế hoạch đổi mới phương pháp dạy học, hướng dẫn sử dụng hồ sơ chuyên môn…
Câu 2:
Ðiều 27 Mục tiêu của giáo dục phổ thông
1 Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở
3 Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học;
có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
4 Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp,
có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Câu 3: Ðiều 70 Nhà giáo
1 Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác
2 Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Ðạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Ðủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d) Lý lịch bản thân rõ ràng
Trang 23 Nhà giỏo giảng dạy ở cơ sở giỏo dục mầm non, giỏo dục phổ thụng, giỏo dục nghề nghiệp gọi là giỏo
viờn; ở cơ sở giỏo dục đại học gọi là giảng viờn
Cõu 4 : éiều 72 Nhiệm vụ của nhà giỏo
Nhà giỏo cú những nhiệm vụ sau đõy:
1 Giỏo dục, giảng dạy theo mục tiờu, nguyờn lý giỏo dục, thực hiện đầy đủ và cú chất lượng chương trỡnh
giỏo dục;
2 Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ cụng dõn, cỏc quy định của phỏp luật và điều lệ nhà trường;
3 Giữ gỡn phẩm chất, uy tớn, danh dự của nhà giỏo; tụn trọng nhõn cỏch của người học, đối xử cụng bằng với người học, bảo vệ cỏc quyền, lợi ớch chớnh đỏng của người học;
4 Khụng ngừng học tập, rốn luyện để nõng cao phẩm chất đạo đức, trỡnh độ chớnh trị, chuyờn mụn, nghiệp
vụ, đổi mới phương phỏp giảng dạy, nờu gương tốt cho người học;
5 Cỏc nhiệm vụ khỏc theo quy định của phỏp luật
éiều 73 Quyền của nhà giỏo
Nhà giỏo cú những quyền sau đõy:
1 éược giảng dạy theo chuyờn ngành đào tạo;
2 éược đào tạo nõng cao trỡnh độ, bồi dưỡng chuyờn mụn, nghiệp vụ;
3 éược hợp đồng thỉnh giảng và nghiờn cứu khoa học tại cỏc trường, cơ sở giỏo dục khỏc và cơ sở nghiờn cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy đủ nhiệm vụ nơi mỡnh cụng tỏc;
4 éược bảo vệ nhõn phẩm, danh dự;
5 éược nghỉ hố, nghỉ Tết õm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giỏo dục và éào tạo và cỏc ngày
nghỉ khỏc theo quy định của Bộ luật lao động
éiều 75 Cỏc hành vi nhà giỏo khụng được làm
Nhà giỏo khụng được cú cỏc hành vi sau đõy:
1 Xỳc phạm danh dự, nhõn phẩm, xõm phạm thõn thể của người học;
2 Gian lận trong tuyển sinh, thi cử, cố ý đỏnh giỏ sai kết quả học tập, rốn luyện của người học;
3 Xuyờn tạc nội dung giỏo dục;
4 ẫp buộc học sinh học thờm để thu tiền
Cõu 5:
Điều 31 Nhiệm vụ của giáo viên trờng trung học
1 Giáo viên bộ môn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Dạy học và giáo dục theo chơng trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài; dạy thực hành thí nghiệm, kiểm tra,
đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ, quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trờng tổ chức, tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn;
b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phơng;
c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lợng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
d) Thực hiện Điều lệ nhà trờng; thực hiện quyết định của Hiệu trởng, chịu sự kiểm tra của Hiệu trởng và các cấp quản lý giáo dục;
đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gơng mẫu trớc học sinh, thơng yêu, tôn trọng học sinh,
đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp;
e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
2 Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 của Điều này, còn có những nhiệm vụ sau
Trang 3c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thởng và kỷ luật học sinh,
đề nghị danh sách học sinh đợc lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ
hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ học sinh;
d) Báo cáo thờng kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trởng
3 Giáo viên thỉnh giảng cũng phải thực hiện các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này
4 Giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là giáo viên THPT đợc bồi dỡng về công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động của Đoàn ở nhà trờng và tham gia các hoạt động với địa phơng
5 Giáo viên làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là giáo viên THCS đợc bồi dỡng về công tác Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động của Đội ở nhà trờng và phối hợp hoạt động với địa phơng
Điều 32 Quyền của giáo viên
1 Giáo viên có những quyền sau đây:
a) Đợc nhà trờng tạo điều kiện để giảng dạy và giáo dục học sinh;
b) Đợc hởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và đợc chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;
c) Đợc trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trờng;
d) Đợc hởng lơng và phụ cấp (nếu có) khi đợc cử đi học để đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành;
đ) Đợc hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trờng và cơ sở giáo dục khác nếu đợc sự đồng ý của Hiệu trởng và thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quy định tại Điều 31 của Điều lệ này;
e) Đợc bảo vệ nhân phẩm, danh dự;
g) Đợc hởng các quyền khác theo quy định của pháp luật
2 Giáo viên chủ nhiệm ngoài các quyền quy định tại khoản 1 của Điều này, còn có những quyền sau đây:a) Đợc dự các giờ học, hoạt động giáo dục khác của học sinh lớp mình;
b) Đợc dự các cuộc họp của Hội đồng khen thởng và Hội đồng kỷ luật khi giải quyết những vấn đề có liên quan đến học sinh của lớp mình;
c) Đợc dự các lớp bồi dỡng, hội nghị chuyên đề về công tác chủ nhiệm;
d) Đợc quyền cho phép cá nhân học sinh nghỉ học không quá 3 ngày;
đ) Đợc giảm giờ lên lớp hàng tuần theo quy định khi làm chủ nhiệm lớp
3 Giáo viên làm công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh đợc hởng các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành
Cõu 6:
Điều 28 Đánh giá kết quả học tập của học sinh ( Điều lệ trường TH)
1 Học sinh đợc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo Quy chế đánh giá và xếp loại học sinh của
Bộ Giáo dục và Đào tạo
2 Việc ra đề kiểm tra phải căn cứ vào các yêu cầu về nội dung và phơng pháp giáo dục theo chơng trình giáo dục và sách giáo khoa
3 Việc đánh giá học sinh phải bảo đảm yêu cầu công khai, công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện Kết quả đánh giá và xếp loại học sinh phải đợc thông báo cho gia đình vào cuối học kỳ và cuối năm học
4 Học sinh tiểu học trờng phổ thông có nhiều cấp học học hết chơng trình tiểu học, có đủ điều kiện theo quy
định của Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì đợc Hiệu trởng trờng phổ thông có nhiều cấp học xác nhận trong học bạ việc hoàn thành chơng trình tiểu học
5 Học sinh học hết chơng trình THCS, có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì đợc Trởng phòng giáo dục và đào tạo cấp huyện cấp bằng tốt nghiệp THCS
6 Học sinh học hết chơng trình THPT, có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì đợc dự thi tốt nghiệp và nếu đạt yêu cầu thì đợc Giám đốc sở giáo dục và đào tạo cấp bằng tốt nghiệp THPT
Trang 4Chương II ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI HẠNH KIỂM Điều 3 Căn cứ đánh giá, xếp loại và các loại hạnh kiểm
1 Đánh giá hạnh kiểm của học sinh phải căn cứ vào biểu hiện cụ thể về thái độ và hành vi đạo đức; ứng xử trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo, với bạn bè và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập; kết quả tham gia lao động, hoạt động tập thể của lớp, của trường và hoạt động xã hội; rèn luyện thân thể, giữ gìn
vệ sinh và bảo vệ môi trường
2 Hạnh kiểm được xếp thành 4 loại: tốt (viết tắt: T), khá (viết tắt: K), trung bình (viết tắt: Tb), yếu (viết tắt: Y) sau khi kết thúc học kỳ, năm học Việc xếp loại hạnh kiểm cả năm học chủ yếu căn cứ kết quả xếp loại hạnh kiểm học kỳ 2
Điều 4 Tiêu chuẩn xếp loại hạnh kiểm
1 Loại tốt:
a) Luôn kính trọng người trên, thầy giáo, cô giáo, cán bộ và nhân viên nhà trường; thương yêu và giúp đỡ các em nhỏ tuổi; có ý thức xây dựng tập thể, đoàn kết với các bạn, được các bạn tin yêu;
b) Tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức, có lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, khiêm tốn;
c) Hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ học tập, cố gắng vươn lên trong học tập;
d) Thực hiện nghiêm túc nội quy nhà trường; chấp hành tốt luật pháp, quy định về trật tự, an toàn xã hội,
an toàn giao thông; tích cực tham gia đấu tranh, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội và tiêu cực trong học tập, kiểm tra, thi cử;
đ) Tích cực rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường;
e) Tham gia đầy đủ các hoạt động giáo dục quy định trong Kế hoạch giáo dục, các hoạt động chính trị, xã hội do nhà trường tổ chức; tích cực tham gia các hoạt động của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; chăm lo giúp đỡ gia đình
2 Loại khá: thực hiện được những quy định tại khoản 1 Điều này nhưng chưa đạt đến mức của loại tốt; đôi khi có thiếu sót nhưng sửa chữa ngay khi thầy giáo, cô giáo và các bạn góp ý
3 Loại trung bình: có một số khuyết điểm trong việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này nhưng mức độ chưa nghiêm trọng; sau khi được nhắc nhở, giáo dục đã tiếp thu sửa chữa nhưng tiến bộ còn chậm
4 Loại yếu: nếu có một trong những khuyết điểm sau đây:
a) Có sai phạm với tính chất nghiêm trọng hoặc lặp lại nhiều lần trong việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, được giáo dục nhưng chưa sửa chữa;
b) Vô lễ, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể của giáo viên, nhân viên nhà trường;
c) Gian lận trong học tập, kiểm tra, thi cử;
d) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn hoặc của người khác; đánh nhau, gây rối trật tự, trị an trong nhà trường hoặc ngoài xã hội;
đ) Đánh bạc; vận chuyển, tàng trữ, sử dụng ma tuý, vũ khí, chất nổ, chất độc hại; lưu hành văn hoá phẩm độc hại, đồi truỵ hoặc tham gia tệ nạn xã hội
Chương III ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI HỌC LỰC Điều 5 Căn cứ đánh giá, xếp loại và các loại học lực
1 Căn cứ đánh giá học lực của học sinh:
a) Hoàn thành chương trình các môn học trong Kế hoạch giáo dục của cấp THCS, cấp THPT;
b) Kết quả đạt được của các bài kiểm tra;
2 Học lực được xếp thành 5 loại: loại giỏi (viết tắt: G), loại khá (viết tắt: K), loại trung bình (viết tắt: Tb), loại yếu (viết tắt: Y), loại kém (viết là: Kém)
Điều 6 Hình thức đánh giá, các điểm trung bình và thang điểm
Trang 51 Hình thức đánh giá, các loại điểm trung bình:
a) Kiểm tra và cho điểm các bài kiểm tra;
b) Tính điểm trung bình môn học và tính điểm trung bình các môn học sau một học kỳ, một năm học
2 Cho điểm theo thang điểm từ điểm 0 đến điểm 10, nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm này khi ghi kết quả đánh giá, xếp loại
Điều 7 Hình thức kiểm tra, loại bài kiểm tra, hệ số điểm bài kiểm tra
1 Hình thức kiểm tra: kiểm tra miệng (kiểm tra bằng hỏi đáp), kiểm tra viết và kiểm tra thực hành
2 Các loại bài kiểm tra:
a) Kiểm tra thường xuyên (KTtx) gồm: kiểm tra miệng; kiểm tra viết dưới 1 tiết; kiểm tra thực hành dưới 1 tiết;
b) Kiểm tra định kỳ (KTđk) gồm: kiểm tra viết từ 1 tiết trở lên; kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên; kiểm tra học kỳ (KThk)
3 Hệ số điểm kiểm tra:
a) Hệ số 1: điểm kiểm tra thường xuyên;
b) Hệ số 2: điểm kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên;
c) Hệ số 3: điểm kiểm tra học kỳ
Điều 8 Số lần kiểm tra và cách cho điểm
1 Số lần KTđk được quy định trong phân phối chương trình từng môn học, bao gồm cả kiểm tra các loại chủ đề tự chọn
2 Số lần KTtx: trong mỗi học kỳ một học sinh phải có số lần KTtx của từng môn học, bao gồm cả kiểm tra các loại chủ đề tự chọn, như sau:
a) Môn học có từ 1 tiết trở xuống trong 1 tuần: ít nhất 2 lần;
b) Môn học có từ trên 1 tiết đến dưới 3 tiết trong 1 tuần: ít nhất 3 lần;
c) Môn học có từ 3 tiết trở lên trong 1 tuần: ít nhất 4 lần
3 Số lần kiểm tra đối với môn chuyên: ngoài số lần kiểm tra quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, hiệu trưởng trường THPT chuyên có thể quy định thêm một số bài kiểm tra cho môn chuyên
4 Điểm các bài KTtx theo hình thức tự luận cho điểm số nguyên; điểm KTtx theo hình thức trắc nghiệm hoặc có phần trắc nghiệm và điểm KTđk được lấy đến một chữ số thập phân sau khi đã làm tròn số
5 Những học sinh không có đủ số bài kiểm tra theo quy định thì phải được kiểm tra bù Bài kiểm tra bù phải có hình thức, mức độ kiến thức, kỹ năng và thời lượng tương đương với bài kiểm tra bị thiếu Học sinh không dự kiểm tra bù thì bị điểm 0 Thời điểm tiến hành kiểm tra bù được quy định như sau:
a) Nếu thiếu bài KTtx môn nào thì giáo viên môn học đó phải bố trí cho học sinh kiểm tra bù kịp thời; b) Nếu thiếu bài kiểm tra viết, bài kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên của môn học ở học kỳ nào thì kiểm tra bù trước khi kiểm tra học kỳ môn học đó;
c) Nếu thiếu bài KThk của học kỳ nào thì tiến hành kiểm tra bù ngay sau khi kiểm tra học kỳ đó
Điều 9 Hệ số điểm môn học khi tham gia tính điểm trung bình các môn học kỳ và cả năm học
1 Đối với THCS:
a) Hệ số 2: môn Toán, môn Ngữ Văn
b) Hệ số 1: các môn còn lại
2 Đối với THPT:
a) Ban Khoa học tự nhiên (KHTN):
- Hệ số 2: các môn Toán, Vật lý, Hoá học, Sinh học;
Trang 6- Hệ số 1: các môn còn lại.
b) Ban Khoa học xã hội và Nhân văn (KHXH-NV):
- Hệ số 2: các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ thứ nhất;
- Hệ số 1: các môn còn lại
c) Ban Cơ bản:
- Hệ số 2 tính theo quy định dưới đây:
Nếu học 3 hoặc 2 môn học nâng cao (học theo sách giáo khoa nâng cao hoặc theo sách giáo khoa biên soạn theo chương trình chuẩn cùng với chủ đề tự chọn nâng cao của môn học đó) thì tính cho cả 3 hoặc 2 môn học nâng cao đó;
Nếu chỉ học 1 môn nâng cao là Toán hoặc Ngữ văn thì tính thêm cho môn còn lại trong 2 môn Toán, Ngữ văn; nếu học 1 môn nâng cao mà môn đó không phải là Toán hoặc Ngữ văn thì tính thêm cho 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn;
Nếu không học môn nâng cao nào thì tính cho 2 môn Toán và Ngữ văn
Điều 10 Kiểm tra, cho điểm môn học tự chọn và chủ đề tự chọn thuộc các môn học
1 Môn học tự chọn: việc kiểm tra, cho điểm, tính điểm trung bình môn học và tham gia tính điểm trung bình các môn học đối với môn học tự chọn thực hiện như môn học khác
2 Chủ đề tự chọn thuộc các môn học:
a) Các loại chủ đề tự chọn của môn nào thì kiểm tra và cho điểm trong quá trình học tập môn đó;
b) Điểm kiểm tra các loại chủ đề tự chọn của môn học nào thì tham gia tính điểm trung bình của môn học
đó
Điều 11 Điểm trung bình môn học
1 Điểm trung bình môn học kỳ (ĐTBmhk) là trung bình cộng của điểm các bài KTtx, KTđk và KThk với các
hệ số quy định tại Điều 7 của Quy chế này:
ĐTBmhk =
ĐKTtx + 2 x ĐKTđk + 3 x ĐKThk –––––––––––––––––––––––––––
Điều 12 Điểm trung bình các môn học kỳ, cả năm học
1 Điểm trung bình các môn học kỳ (ĐTBhk) là trung bình cộng của điểm trung bình môn học kỳ của tất cả các môn với hệ số (a, b ) của từng môn học:
ĐTBhk = –––––––––––––––––––––––––––––––––a x ĐTBmhk Toán + b x ĐTBmhk Vật lí +
Tổng các hệ số
Trang 72 Điểm trung bình các môn cả năm (ĐTBcn) là trung bình cộng của điểm trung bình cả năm của tất cả các môn học, với hệ số (a, b ) của từng môn học:
b) Hồ sơ xin miễn học gồm có: đơn xin miễn học của học sinh và bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tật do bệnh viện từ cấp huyện trở lên cấp;
c) Việc cho phép miễn học đối với các trường hợp do bị ốm đau hoặc tai nạn chỉ áp dụng trong năm học; các trường hợp bị bệnh mạn tính, khuyết tật bẩm sinh hoặc thương tật lâu dài được áp dụng cho cả năm học hoặc
cả cấp học;
d) Hiệu trưởng cho phép học sinh được miễn học môn Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật, phần thực hành môn GDQP-AN trong 1 học kỳ hoặc cả năm học Nếu được miễn học cả năm học thì môn học này không tham gia đánh giá, xếp loại học lực của học kỳ và cả năm học; nếu chỉ được miễn học 1 học kỳ thì lấy kết quả đánh giá, xếp loại của học kỳ đã học để đánh giá, xếp loại học lực cả năm;
đ) Đối với môn Giáo dục Quốc phòng và An ninh: nếu học sinh được miễn học phần thực hành thì điểm trung bình môn học được tính căn cứ vào điểm kiểm tra phần lý thuyết
Điều 13 Tiêu chuẩn xếp loại học kỳ và xếp loại cả năm
1 Loại giỏi, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 8,0 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 8,0 trở lên;
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 6,5
2 Loại khá, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 6,5 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 6,5 trở lên;
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 5,0
3 Loại trung bình, nếu có đủ các tiêu chuẩn dưới đây:
a) Điểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó: đối với học sinh THPT chuyên thì điểm môn chuyên từ 5,0 trở lên; đối với học sinh THCS và THPT không chuyên thì có 1 trong 2 môn Toán, Ngữ văn từ 5,0 trở lên;
b) Không có môn học nào điểm trung bình dưới 3,5
4 Loại yếu: điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên và không có môn học nào điểm trung bình dưới 2,0
5 Loại kém: các trường hợp còn lại
6 Nếu ĐTBhk hoặc ĐTBcn đạt mức quy định cho từng loại nói tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều này, nhưng
do ĐTB của 1 môn học thấp hơn mức quy định cho loại đó nên học lực bị xếp thấp xuống thì được điều chỉnh như
Trang 81 Học sinh có đủ các điều kiện dưới đây thì được lên lớp:
a) Hạnh kiểm và học lực từ trung bình trở lên;
b) Nghỉ không quá 45 buổi học trong một năm học (nghỉ có phép hoặc không phép, nghỉ liên tục hoặc nghỉ nhiều lần cộng lại)
2 Học sinh thuộc 1 trong các trường hợp dưới đây thì không được lên lớp:
a) Nghỉ quá 45 buổi học trong năm học (nghỉ có phép hoặc không phép, nghỉ liên tục hoặc nghỉ nhiều lần cộng lại);
b) Học lực cả năm loại kém hoặc học lực và hạnh kiểm cả năm loại yếu;
c) Sau khi đã được kiểm tra lại một số môn học có điểm trung bình dưới 5,0 để xếp loại lại học lực cả năm nhưng vẫn không đạt loại trung bình;
d) Hạnh kiểm cả năm xếp loại yếu, nhưng không hoàn thành nhiệm vụ rèn luyện trong kỳ nghỉ hè nên vẫn không được xếp loại lại về hạnh kiểm
Điều 15 Kiểm tra lại các môn học
Học sinh xếp loại hạnh kiểm cả năm học từ trung bình trở lên nhưng học lực cả năm học loại yếu, được lựa chọn một số trong các môn học có điểm trung bình cả năm học dưới 5,0 để kiểm tra lại Điểm kiểm tra lại thay cho điểm trung bình cả năm học của môn học đó để tính lại điểm trung bình các môn học cả năm học và xếp loại lại về học lực; nếu đạt loại trung bình thì được lên lớp
Điều 16 Rèn luyện hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè
Học sinh xếp loại học lực cả năm từ trung bình trở lên nhưng hạnh kiểm cả năm học xếp loại yếu thì phải rèn luyện thêm hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, hình thức rèn luyện do hiệu trưởng quy định Nhiệm vụ rèn luyện trong kỳ nghỉ hè được thông báo đến chính quyền, đoàn thể xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) nơi học sinh cư trú Cuối kỳ nghỉ hè, nếu được Uỷ ban nhân dân cấp xã công nhận đã hoàn thành nhiệm vụ thì giáo viên chủ nhiệm đề nghị hiệu trưởng cho xếp loại lại về hạnh kiểm; nếu đạt loại trung bình thì được lên lớp
Điều 17 Xét công nhận học sinh giỏi, học sinh tiên tiến
1 Công nhận đạt danh hiệu học sinh giỏi học kỳ hoặc cả năm học, nếu đạt hạnh kiểm loại tốt và học lực loại giỏi
2 Công nhận đạt danh hiệu học sinh tiên tiến học kỳ hoặc cả năm học, nếu đạt hạnh kiểm từ loại khá trở lên và học lực từ loại khá trở lên
Trang 93 Nội dung
a) Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn
- Bảo đảm trường an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn, lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế hợp lứa tuổi học sinh
- Tổ chức để học sinh trồng cây vào dịp đầu xuân và chăm sóc cây thường xuyên
- Có đủ nhà vệ sinh được đặt ở vị trí phù hợp với cảnh quan trường học, được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ
- Học sinh tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ vệ sinh các công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cá nhân
b) Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập
- Thầy, cô giáo tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh
- Học sinh được khuyến khích đề xuất sáng kiến và cùng các thầy cô giáo thực hiện các giải pháp để việc dạy và học có hiệu quả ngày càng cao
c) Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm
- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội
d) Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh
- Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh
- Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của học sinh
đ) Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương
- Mỗi trường đều nhận chăm sóc một di tích lịch sử, văn hóa hoặc di tích cách mạng ở địa phương, góp phần làm cho di tích ngày một sạch đẹp hơn, hấp dẫn hơn; tuyên truyền, giới thiệu các công trình, di tích của địa phương với bạn bè
- Mỗi trường có kế hoạch và tổ chức giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và tinh thần cách mạng một cách hiệu quả cho tất cả học sinh; phối hợp với chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương phát huy giá trị của các di tích lịch sử, văn hóa và cách mạng cho cuộc sống của cộng đồng ở địa phương và khách du lịch
Câu 11:
bài viết về tác dụng của hoạt động ngoại khóa (tham khảo)
Trang 10Hiệu quả của hoạt động ngoại khóa văn học dân gian trong
nhà trường
Giảng dạy bộ môn Văn học, người dạy cũng như người học trước hết phải có niềm say mê, yêu thích văn chương,
có tâm hồn nhạy cảm, giàu cảm xúc, thêm vào đó là một vốn tri thức phong phú, vốn tiếng Việt dồi dào
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Văn học, gần đây, trên các diễn đàn nghiên cứu, các hội nghị, hội thảo, người ta đã bàn nhiều đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Mối quan tâm bức xúc đối với những người trực tiếp giảng dạy văn học ở nhà trường phổ thông là làm thế nào để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ, khơi gợi niềm say mê hứng thú học tập bộ môn Văn học trong tình hình hiện nay
Giải quyết thực trạng trên, cần phải kết hợp đổi mới phương pháp giảng dạy cả giờ chính khoá lẫn hoạt động ngoại khoá, mà trước hết là phải có một quan niệm đúng về tầm quan trọng, ý nghĩa của những hoạt động ngoại khoá Văn học
Theo dõi quá trình đổi mới phương pháp dạy học Văn - tiếng Việt ở nhà trường phổ thông trong những năm gần đây, nội dung đổi mới thường tập trung vào giờ chính khoá, còn hình thức ngoại khóa thì ít được chú trọng triển khai Phải chăng hoạt động ngoài giờ của học sinh là không quan trọng, không đóng vai trò trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập bộ môn? Đã đến lúc cần xác định lại vị trí, vai trò của hoạt động ngoại khoá, phát huy cao độ tính năng động sáng tạo, niềm hứng thú của học sinh
Hoạt động ngoại khoá Văn học theo quan niệm đổi mới phương pháp dạy học là một hình thức tự học tích cực, bổ ích và có hiệu quả, nối liền bục giảng với thực tiễn đời sống, mở rộng, kéo dài trường suy tưởng - thẩm định về bài học cho học sinh; phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học, kiểm tra lại chất lượng dạy học trong giờ chính khoá Hoạt động ngoại khoá Văn học, vì thế, vừa là hoạt động giáo dục, vừa là hoạt động thẩm mỹ, "góp phần tạo ra lối sống văn hoá và khả năng hưởng thụ văn hoá nghệ thuật cho học sinh Qua hoạt động ngoại khoá Văn học, học sinh được phát triển cân đối về trí tuệ, đạo đức, thể dục và mĩ dục" (Phan Trọng luận, Phương pháp dạy văn, Nxb Đại học Quốc gia 1996, Tr 381)
Hoạt động ngoại khoá Văn học càng cần thiết và bổ ích khi được áp dụng vào quá trình dạy học phần Văn học dân gian ở THPT vì những lí do sau:
Ngoại khoá Văn học dân gian góp phần làm sáng tỏ những đặc trưng cơ bản của Văn học dân gian (tính tập thể, tính truyền miệng, tính dị bản, gắn với sinh hoạt xã hội ) - điều mà giáo viên và học sinh rất khó thực hiện trong giờ chính khoá do hạn chế về điều kiện và thời gian giảng dạy Ví dụ, để làm rõ đặc điểm gắn với sinh hoạt xã hội của Văn học dân gian, người dạy phải lý giải về hoàn cảnh nảy sinh và môi trường diễn xướng của nó; Làm sáng
tỏ tính dị bản thì cần phải so sánh nhiều văn bản khác nhau Những thao tác này khó có thể thực hiện được trong giờ chính khoá
Ngoại khoá văn học dân gian cho phép chúng ta khai thác tác phẩm Văn học dân gian ở nhiều góc độ, thoả mãn nhu cầu làm "sống lại" tác phẩm Văn học dân gian trong môi trường diễn xướng, thông qua các hình thức trình diễn bằng lời - nhạc - vũ, làm sáng lên những vẻ đẹp độc đáo của Văn học dân gian
Ngoại khoá Văn học dân gian cho phép người dạy khắc phục được những bất cập trong chương trình giữa thời gian cho phép và khối lượng kiến thức cần phải truyền đạt; có thể mở rộng và đào sâu những nội dung quan trọng,
bổ sung những vấn đề chưa được đặt ra trong chương trình chính khoá
Ngoại khoá Văn học dân gian còn tăng cường tính thời sự, tính xã hội cho nội dung bài học Qua hoạt động ngoại khoá Văn học dân gian, học sinh có thể hiểu sâu hơn về những giá trị văn hoá dân gian của quê hương, đất nước Thế nhưng, lâu nay trong nhà trường phổ thông, hoạt động ngoại khoá Văn học được hiểu là hoạt động ngoài giờ học, là một hoạt động phụ, nằm ngoài quản lý chuyên môn Việc tổ chức ngoại khoá Văn học tuỳ thuộc vào quỹ thời gian vốn rất hẹp hòi, vào năng lực và nhiệt tình của người dạy và nhu cầu, hứng thú của người học Nó được coi là một hoạt động giải trí, tổ chức theo hình thức một chương trình văn nghệ (ca - múa - nhạc), thiếu nhất quán
về chủ đề, sơ sài, phiến diện về mặt nội dung Sở dĩ có tình trạng như vậy vì chương trình nội khoá lâu nay chỉ chú trọng cung cấp kiến thức về mặt số lượng, coi nhẹ việc rèn luyện kĩ năng, tách rời lý thuyết với thực hành Mọi yêu cầu mục đích của môn học coi như đã được giải quyết triệt để khi bài giảng trên lớp chấm dứt Theo chúng tôi, quan niệm về hoạt động ngoại khoá văn học như trên là chưa thoả đáng, chưa quan tâm đúng mức đến lợi ích của hoạt động này trong quá trình giảng dạy và học tập bộ môn
Tổ chức hoạt động ngoại khoá Văn học dân gian là một công việc vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa có ý nghĩa khoa học Tuy nhiên, để tổ chức tốt hoạt động này cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về khâu tổ chức và nghiên cứu kĩ
về chương trình (xem chi tiết tại http://phanthanhvan.vnweblogs.com/post/8200/197284)
Trong nỗ lực tìm kiếm và đổi mới PPDH nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và góp phần khắc phục tình trạng học sinh thiếu hứng thú học văn, tổ chức các hoạt động ngoại khoá Văn học là một xu hướng khả dĩ đáp ứng tốt những yêu cầu đổi mới PPDH theo hướng lấy người học làm trung tâm
Hoạt động ngoại khoá văn học, đặc biệt phần Văn học dân gian không chỉ góp phần nâng cao khả năng tư duy độc
Trang 11lập, tăng cường khả năng sáng tạo trong học tập, kích thích lòng ham muốn tìm tòi, khám phá những kiến thức mới của người học mà còn góp phần hoàn thiện khả năng chuyên môn và kỹ năng sư phạm của người thầy trong quá trình chuẩn bị và "đồng hành" với người học khám phá kiến thức mới
Với những điều trình bày trên đây, để góp phần cải thiện thực trạng ngại học văn của học sinh hiện nay, thiết nghĩ hoạt động ngoại khoá Văn học trong trường Phổ thông là một hoạt động chuyên môn bổ ích, lý thú và có tính khả thi Hoạt động ngoại khoá Văn học vì thế cần được Bộ giáo dục đưa vào phân phối chương trình và đặc biệt hoạt động này cần được xem là một hoạt động nằm trong sự quản lý chuyên môn ở nhà trường Phổ thông Có như vậy hoạt động ngoại khoá Văn học trong trường Phổ thông mới được duy trì một cách thường xuyên và có hiệu quả
Câu 12: Bài viết tham khảo
1 Đặt vấn đề
Hồ Chí Minh - một trong những nhà tư tưởng, nhà lãnh đạo cách mạng quan tâm nhiều đến vấn đề giáo dục,
đặc biệt là giáo dục đạo đức và có nhiều cống hiến vào việc phát triển những tư tưởng đạo đức mới Ngay từ
những ngày đầu lập nước, dù bộn bề công việc , Người vẫn đặc biệt chú ý đến mục tiêu của giáo dục Người nhấn
mạnh: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Người coi dốt cũng là một thứ giặc, cùng với giặc đói và giặc ngoại
xâm Cho nên, để làm cách mạng, mà trước hết là để diệt giặc dốt, thì cần phải học Người khẳng định, “học để sửa chữa tư tưởng, hăng hái theo cách mạng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng; học để tin tưởng vào đoàn thể;
học để hành” (1) Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã sáng lập ra một hệ thống giáo dục xã hội hoàn toàn mới về chất
Hệ thống đó lấy toàn dân làm đối tượng, kết hợp giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội Tính khoa học kết hợp với tính nhân đạo là nét nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về một hệ thống giáo dục mới, trong đó có giáo dục đạo đức
2 Nội dung
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm “vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì
phải trồng người” Điều đó đã lý giải vì sao trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến giáo dục và đào tạo con người Người đã phân tích một cách đơn giản và dễ hiểu rằng, “không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa” (2) Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đạo
đức và luôn quan tâm đến việc giáo dục đạo đức trong hoạt động giáo dục và đào tạo Người luôn cho rằng, “hiền
dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” Đối với Người, việc quan tâm đến giáo dục là vì muốn
“đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà” (3) Những công dân tốt, những cán bộ tốt đó, đương nhiên phải có đủ cả đức lẫn tài.
Giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng, chính là phương thức chuyển văn hóa đạo đức của xã hội
thành văn hóa đạo đức của cá nhân Nói cách khác, đó là phương thức và quá trình chuyển những nguyên tắc,
những chuẩn mực, những quan điểm và lý tưởng đạo đức của xã hội thành những phẩm chất đạo đức cá nhân,
thành nhu cầu và tình cảm đạo đức, thành niềm tin và tri thức, thành trách nhiệm và nghĩa vụ, thành ý chí và
động cơ cá nhân, thành năng lực sáng tạo và đánh giá đạo đức của mỗi con người Đối với Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Người cho rằng, công việc này phải tiến hành thường xuyên, phải “rèn luyện bền bỉ hàng ngày”, phải coi đây là công việc của tất cả mọi người và diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi Đây cũng là một công việc hết sức khó khăn,
nó đòi hỏi một sự nỗ lực, tính tự kiềm chế và cả đức tính kiên trì Một con người hôm nay là tốt nhưng chưa có gì
có thể đảm bảo chắc chắn rằng, ngày mai, ngày kia anh ta cũng vẫn là người tốt Cho nên, mỗi con người, trong suốt cuộc đời của mình, cần phải nỗ lực rèn luyện liên tục để khẳng định và vươn tới cái thiện, chống lại cái ác trong cuộc sống và ngay cả trong chính bản thân mình
Công cuộc đổi mới ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề giáo dục đạo đức Có thể nói, chưa bao giờ sự nghiệp giáo dục của nước ta lại phải chịu nhiều tác động bởi cơ chế thị trường và quá trình toàn cầu
hóa như hiện nay Cho nên, việc tăng cường, đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức vừa là yêu cầu của công cuộc đổi mới về kinh tế - xã hội, vừa là đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp phát triển con người và xây dựng một môi trường đạo đức lành mạnh của xã hội Trên cơ sở phân tích thực trạng của đất nước trong bối
cảnh sự nghiệp đổi mới, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII đã định hướng cho chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là: Giữ vững mục tiêu xã hội
chủ nghĩa trong giáo dục; coi giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân; phát
triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ; thực hiện
công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hóa
Trang 12các loại hình giáo dục đào tạo (4) Đối với giáo dục đạo đức, nó không chỉ đòi hỏi ở khía cạnh thời gian, không gian mà đòi hỏi ở tất cả mọi môi trường, gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó giáo dục gia đình và nhà trường chiếm vị trí đặc biệt quan trọng.
Gia đình là nơi con người sinh ra và lớn lên, là môi trường đầu tiên và cũng là tiểu môi trường trọn đời của mỗi
con người Trước đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã
hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình” (5) Gia đình không những là môi trường đầu tiên mà còn là môi trường quan trọng trong việc giáo dục nếp sống và hình thành
nhân cách cho mỗi con người Nói cách khác, gia đình là môi trường không thể thiếu và cũng không thể thay thế được đối với sự phát triển của mỗi con người Bởi, “gia đình là trường học đầu tiên” trước khi con người đến với trường đời Một nhà nghiên cứu đã rất có lý khi cho rằng: “Tình cảm nhân hậu, phong độ xúc cảm là trung tâm của nhân tính Nếu tình cảm nhân hậu không được giáo dục từ thời ấu thơ thì bạn sẽ không bao giờ giáo dục
được nữa, bởi vì chất người chân chính đó chỉ được định hình trong tâm hồn con người đồng thời với việc nhận
thức những chân lý đầu tiên và quan trọng nhất…” (6) Ai cũng biết, ngay từ đầu, sự phát triển của mỗi chúng ta
đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của giáo dục đạo đức gia đình, của “nếp nhà”, của “gia phong” Thi hào Gớt đã nói
rằng, ai tìm được sự bình an trong tổ ấm gia đình, thì đó là người hạnh phúc nhất Cho nên, gia đình là môi
trường quan trọng bậc nhất trong giáo dục đạo đức Bởi giáo dục gia đình là nền tảng có tác động vô cùng to lớn
đến sự phát triển của cá nhân và cả cộng đồng Điều đó đã lý giải vì sao Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc xây
dựng gia đình văn hóa mới là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, phát triển
con người Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Xây dựng gia đình no ấm, bình
đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người (7) Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế thị trường cùng với quá trình toàn cầu hóa đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự
ổn định và bền vững của gia đình Để tồn tại và phát triển, đòi hỏi mỗi gia đình phải tìm cách thích ứng, điều
chỉnh các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và ngoài xã hội Trên thực tế, nhiều gia đình không những
vẫn giữ gìn được nền nếp gia phong, làm tốt chức năng giáo dục con cái mà còn biết phát huy tính chủ động của
các thành viên trong việc phát triển kinh tế, góp phần vào sự phồn vinh của xã hội Những gia đình như vậy thực
sự là những tổ ấm mang lại giá trị hạnh phúc cho con người Tuy nhiên, bên cạnh đó, đang có những biểu hiện
của sự sút kém, đặc biệt là “sự sút kém vai trò và hiệu quả của giáo dục gia đình, là một trong những lý do chủ
yếu dẫn đến nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội mà gia đình không ngăn chặn được ngay từ đầu” Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng gia đình văn hóa luôn gắn liền với tăng cường trách nhiệm của gia đình
trong việc giáo dục đạo đức theo những chuẩn mực tốt đẹp của dân tộc, để mỗi con người được lớn lên trong tình
cảm, trong sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Làm được như vậy, gia đình trở thành nơi có đủ sức mạnh đề kháng, chống lại mọi sự ô nhiễm từ bên ngoài, ngăn chặn mọi tiêu cực từ phía xã hội, giúp con người có khả năng phát triển tốt hơn Đây không chỉ là biện pháp quan trọng để củng cố và phát triển gia đình, để gia đình thực sự trở
thành “hạt nhân của xã hội” mà đây còn là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước Bên cạnh giáo
dục gia đình, giáo dục đạo đức trong nhà trường không chỉ là sự tiếp tục của giáo dục gia đình mà còn là môi
trường đào tạo cho con người có trình độ năng lực, có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhằm phát triển toàn diện con người Giáo dục nhà trường là giáo dục có bài bản, có hệ thống và kết hợp với nhiều loại
hình giáo dục khác Cho nên, giáo dục nhà trường có một ý nghĩa độc đáo và quan trọng trong việc hình thành
ý thức và nhân cách đạo đức Đáng tiếc là ở nước ta, cả một thời gian khá dài, nhà trường hoặc bỏ quên hoặc
quá xem nhẹ môn học đạo đức Gần đây, tình trạng này đã có những bước cải thiện đáng kể Tuy nhiên, giáo dục
đạo đức còn mang tính hình thức, thậm chí sơ sài, lý thuyết suông nên chưa mang lại hiệu quả Thực tế đó đã có ảnh hưởng không nhỏ, nếu không nói là ảnh hưởng xấu, đến việc giáo dục đạo đức trong nhà trường Những yếu
kém này, xét từ góc độ đạo đức cũng là nhân tố liên quan đến sự suy thoái, sự xuống cấp về nhân cách đạo đức của con người và xã hội
Nhìn một cách khái quát thì giáo dục đạo đức chưa tương xứng với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội Để
đảm bảo hiệu quả cho công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường, đòi hỏi cần phải đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm của học sinh, sinh viên với bản thân, gia đình, trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước Phải coi đạo đức học là một ngành khoa học
thực sự và không thể thiếu trong chương trình giáo dục và đào tạo Trước đây, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng mong muốn: “Đạo đức học cần phải trở nên một ngành khoa học xã hội mà những người có trách
nhiệm phải đi sâu nghiên cứu chuyên cần hơn nữa Nó cũng phải trở thành một môn khoa học không thể thiếu
được trong các trường đại học và giáo dục phổ thông” (8) Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc học không chỉ là để “tu dưỡng đạo đức cách mạng” mà còn “học để hành” Cho nên, giáo dục đạo đức không chỉ là học đạo đức trong
Trang 13nhà trường mà phải gắn học với hành, gắn lý luận với thực tiễn Thực tiễn bao giờ cũng là môi trường rèn luyện,
thể hiện và thử thách những phẩm chất đạo đức của con người Vì vậy, “Chúng ta không tin vào việc rèn luyện, giáo dục và học tập nếu những việc đó chỉ đóng khung trong các nhà trường và bị tách rời cuộc sống sôi nổi” (9)
Để đảm bảo có hiệu quả cao, giáo dục đạo đức không chỉ là làm cho mọi người học thuộc lòng những nguyên tắc,
chuẩn mực đạo đức mà phải làm cho người học nhận thức sâu sắc nội dung, ý nghĩa của nó và lấy đó làm cơ sở định hướng cho hành vi của mình Trước đây, V.I.Lênin cũng đã từng nhấn mạnh rằng, giáo dục đạo đức cho con
người không phải chỉ đơn giản là “nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay những phép tắc đạo đức” Bởi
vì, nếu học nhiều và đọc nhiều nhưng không có khả năng kết hợp những kiến thức đã học vào hoạt động và những
hành động của mình thì cũng chỉ là “những tên mọt sách hay những kẻ khoác lác” mà thôi Chủ tịch Hồ Chí Minh
nhiều lần nhấn mạnh, “học phải đi đôi với hành”, “lý luận đi đôi với thực tiễn”, lời nói phải đi đôi với việc làm; lý luận không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng Chính bản thân Người
là bằng chứng sinh động và đầy thuyết phục của sự kết hợp tuyệt vời đó.
Cùng với giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội là sự tiếp tục quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện ý thức đạo đức và năng lực thực hiện hành vi đạo đức cho con người Giáo dục xã hội là môi trường góp phần làm phong phú thêm cho những điều con người học được trong gia đình và trong nhà trường
Có thể nói rằng, cả ba môi trường này là sự kết hợp liên tục, kế tiếp nhau của quá trình giáo dục đạo đức Bởi vì,
“không phải chỉ ở tại nhà trường, có lên lớp, mới học tập tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạo được Trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều có thể và đều phải học tập” (10) Môi trường xã hội còn là nơi diễn ra mọi hoạt động đa dạng của con người, đồng thời cũng là nơi thử thách ý chí, bản lĩnh và năng lực thực hành đạo đức của từng cá nhân Cho nên, trong sự nghiệp giáo dục đạo đức, nếu lơ là hay buông lỏng một môi trường nào thì chắc chắn sẽ dẫn đến sự thiếu hụt những giá trị nhân văn, sự trống rỗng, thậm chí xuống cấp về đời sống đạo đức của
xã hội Vì vậy, “Sự xem nhẹ giáo dục đạo đức và lối sống, việc xã hội xem nhẹ vấn đề đời sống gia đình, tình
trạng suy thoái của nền giáo dục học đường cũng như xu hướng thương mại hóa các hoạt động văn hóa - xã hội
bao gồm cả giáo dục y tế… dẫn tới sự thiếu hụt chất lượng nhân văn… phải được coi là những dấu hiệu nguy hiểm đe doạ sự phát triển bền vững của xã hội” (11) Ai cũng biết thế hệ trẻ chuẩn bị hành trang vào đời cần phải
tích luỹ các kiến thức khoa học, công nghệ, ngoại ngữ, tin học… nhưng nếu chỉ chừng đó thôi mà không lưu tâm hoặc bỏ qua việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, ý thức pháp
luật thì rất dễ dẫn đến sự phát triển lệch lạc, phiến diện Đó là con đường dẫn tới sự thiếu hụt những giá trị nhân
văn trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người Sự thiếu hụt đó là nguy cơ làm suy thoái, thậm chí biến dạng quá trình phát triển của cá nhân và cộng đồng Đã đến lúc chúng ta cần phải ý thức được
rằng, giáo dục đạo đức, thực chất là giáo dục nhân cách, hình thành và phát triển hài hòa, toàn diện nhân cách của con người nhằm đáp ứng cho yêu cầu của sự nghiệp đổi mới Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện ý thức đạo đức cũng như năng lực thực hiện hành vi đạo đức của mỗi cá nhân Đây cũng là quá trình giúp cho cá nhân không chỉ hình thành mà còn góp phần củng cố những nhu cầu đạo đức, đặc biệt là
hình thành và nuôi dưỡng những tình cảm, niềm tin và lý tưởng đạo đức Trên cơ sở đó, giúp cho mỗi cá nhân
có thể nhận diện được các mặt tích cực và tiêu cực trong hoạt động của con người và xã hội Từ đó con người sẽ
có ý thức trách nhiệm hơn, dám vì mình, vì mọi người và vì những giá trị đạo đức đích thực Tất cả sẽ tạo thành
động lực thúc đẩy cá nhân thực hiện hành vi đạo đức, đồng thời sáng tạo ra những giá trị đạo đức mới, phù hợp
với giai đoạn lịch sử mới
3 Kết luận
Hiện thực xã hội những năm vừa qua, đôi lúc làm chúng ta thực sự lúng túng Tuy nhiên, không phải vì thực
trạng đó mà đổ lỗi cho khách quan, cho nền kinh tế thị trường Mỗi chúng ta cần phải nhận diện các hiện tượng
đó với những mặt tích cực và tiêu cực để kiểm soát và điều chỉnh hành vi của chính mình Nghĩa là phải có cái nhìn khách quan, phải có sự đánh giá nghiêm túc trước những diễn biến của đời sống đạo đức xã hội những năm
vừa qua Đảng ta cũng đã từng thừa nhận là “thiếu sự chuẩn bị đầy đủ”, “chưa chú ý đúng mức vấn đề giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị và đạo đức” Chính vì quá xem nhẹ hay chưa chú ý đúng mức việc giáo dục đạo
đức nên cả xã hội đã phải chứng kiến quá nhiều những hành vi vô đạo đức, phản luân lý Vì vậy, hơn lúc nào hết,
cùng với việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc chú trọng công tác giáo dục đạo đức với nhiều nội dung,
bằng nhiều hình thức phù hợp, thiết thực, sẽ giúp mỗi người Việt Nam, đặc biệt là giúp cho thế hệ trẻ biết vươn
lên với tinh thần, tình cảm và trách nhiệm của mình, làm chủ được một cách đúng đắn tri thức hiện đại, trở thành
những con người có đầy tâm, đủ tài, biết “đau với nỗi đau của đất nước, biết lo với nỗi lo chung của đất nước” Nói cách khác, trong giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi mỗi cá nhân phải biết tự “xoá đói về thông tin, về trí tuệ”, phải biết tự “xoá nghèo về nhân cách và đạo đức làm người” (12), để thực sự trở thành những công dân vừa
“hồng” vừa “chuyên” nhằm xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ đã từng mong đợi
Trang 14Số: 4718/BGDĐT-GDTrH
V/v: Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Hà Nội, ngày 11tháng 8 năm 2010
GDTrH năm học 2010-2011
Kính gửi: Các Sở Giáo dục và Đào tạo
Căn cứ Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm
non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2010-2011, Bộ GDĐT
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2010-2011 như sau:
2 Tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục:
2.1 Tiếp tục tập trung chỉ đạo và thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, dạy học phân hoá trên cơ sở chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông; tạo ra sự chuyển biến cơ bản về đổi mới kiểm tra đánh giá thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục.
2.2 Tổ chức đánh giá một năm triển khai thực hiện chủ trương “Mỗi giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục thực hiện một đổi mới trong phương pháp dạy học và quản lý Mỗi trường có một kế hoạch cụ thể về đổi mới phương pháp dạy học Mỗi tỉnh có một chương trình đổi mới phương pháp dạy học” đối với từng cấp học; Xây
dựng và nhân rộng mô hình nhà trường đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá tích cực và hiệu quả ở từng cấp học, từng địa phương
2.3 Tiếp tục tăng cường kỷ cương, nền nếp trong quản lý dạy học, kiểm tra đánh giá, thi cử T ăng cường vai trò của các sở GDĐT, phòng GDĐT, trường THCS, THPT trong việc quản lý việc thực hiện chương trình giáo dục, chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá.
2.4 Tiếp tục đổi mới phương thức giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp theo tinh thần lồng ghép và tích hợp; chú trọng giáo dục giá trị, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
3 Triển khai có hiệu quả việc đánh giá cán bộ quản lý các trường học theo chuẩn hiệu trưởng; đánh giá giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên Xây dựng kế hoạch và lộ trình bồi dưỡng ở mỗi cấp quản lý và mỗi cơ sở trường học để cán bộ quản lý, giáo viên trung học phấn đấu đạt chuẩn mức độ cao
4 Tích cực triển khai thực hiện Đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010 - 2015, tạo sự chuyển biến nhận thức về mục đích phát triển trường chuyên, chuyển biến về kết quả phát hiện và bồi dưỡng học sinh năng khiếu, tạo nguồn bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
B CÁC NHIỆM VỤ CỤ THỂ
I Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động và các phong trào thi đua của Ngành
- Các cấp quản lý và các cơ sở giáo dục trung học tiếp tục triển khai tích cực và hiệu quả cuộc vận động
"Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"; cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” theo
hướng dẫn tại Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ GDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2010-2011 bằng những nội dung, hình thức
thiết thực, hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của cấp học và điều kiện từng địa phương, từng cơ sở trường học với phương châm lồng ghép và tích hợp nội dung, giải pháp các cuộc vận động và các phong trào thi đua nhằm huy động nhiều nguồn lực, nâng cao hiệu quả các hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường
- Tổ chức đánh giá kết quả 4 năm thực hiện cuộc vận động “Hai Không”; đưa hoạt động này thành hoạt động thường xuyên trong các cơ quan quản lý và các cơ sở giáo dục trung học
- Gắn việc thực hiện các cuộc vận động và các phong trào thi đua với việc rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tại mỗi cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục trung học, tạo sự chuyển biến tích cực và rõ nét về chất lượng giáo dục trung học