1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

chuyen de BT nhan biet chat

6 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước đây, điều kiện hóa chất dụng cụ còn thiếu thốn, chúng ta - những người giảng dạy môn hóa học, chưa phát huy được hết vai trò của dạng bài tập định tính "Nhận biết các chất" trong m

Trang 1

PHỊNG GD - ĐT CHÂU THÀNH

TRƯỜNG THCS LONG ĐỊNH

==========

Chuyên đề

NHẬN BIẾT CÁC CHẤT TRONG MƠN HĨA Ở TRƯỜNG THCS

  

GV : Nguyễn Anh Dũng

Chuyên đề Năm học : 2009- 2010 Năm học : 2009- 2010

Trang 2

BÀI TẬP NHẬN BIẾT CÁC CHẤT TRONG MÔN HÓA

Ở TRƯỜNG THCS

A/ Lí do chọn chuyên đề :

Lứa tuổi học sinh ở trường Trung học cơ sở có nhiều ý tưởng, thích tìm tòi nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên trong đó có môn Hóa học

Trước đây, điều kiện hóa chất dụng cụ còn thiếu thốn, chúng ta - những người giảng dạy

môn hóa học, chưa phát huy được hết vai trò của dạng bài tập định tính "Nhận biết các chất" trong môn Hóa của trường Trung học cơ sở vào việc ôn tập, hệ thống hóa những kiến

thức cơ bản của nội dung chương trình đồng thời chưa phát huy tính sáng tạo bồi dưỡng năng lực tư duy của học sinh

Bài tập định tính " Nhận biết các chất " trong môn hóa của trường Trung học cơ sở

trong các đề kiểm tra chỉ ở dạng đơn giản vì thời gian của tiết kiểm tra có giới hạn Do đó chưa tìm tòi, phát huy hết những năng lực đặc biệt của học sinh mà có kế hoạch bồi dưỡng nhằm phát triển những học sinh có năng khiếu hóa học sau này

Xuất phát từ thực tế đó, chuyên đề "bài tập nhận biết các chất trong môn hóa học ở trường THCS" được đưa ra, cùng trao đổi bàn bạc với các đồng nghiệp về vai trò, yêu cầu,

hình thức và các dạng bài tập về nhận biết các chất nhằm góp một phần nhỏ vào việc giảng dạy bài tập này được tốt hơn

I.Vai trò của dạng bài tập định tính "NHẬN BIẾT CÁC CHẤT" trong môn hóa của trường THCS :

• Ôn tập những kiến thức đã học

• Rèn luyện tư duy, tính nhạy bén và khả năng nắm vững kiến thức của học sinh

• Giúp học sinh vận dụng những kiến thức của mình về tính chất vật lí cũng như về tính chất hóa học của các chất để nhận biết

• Gắn kết giữa lí thuyết và thực hành, giúp cho học sinh khỏi lúng túng khi giải quyết vấn đề nào đó trong cuộc sống liên quan đến việc nhận biết các chất

II.Yêu cầu của dạng bài tập định tính "NHẬN BIẾT CÁC CHẤT" trong môn hóa của trường THCS :

Để đánh giá đúng kết quả học tập về lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng thực hành

cho học sinh , các dạng bài tập định tính " Nhận biết các chất " trong môn hóa của trường

THCS cần phải đạt được những yêu cầu sau :

+ Đáp ứng yêu cầu đổi mới trong phương pháp dạy và học hóa học ở trường THCS là trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản phù hợp với xu hướng phát triển của thời đại, tiếp cận với kiến thức hiện đại để có vốn hiểu biết làm tiền đề cho việc học bộ môn hóa phân tích sau này và cũng nhằm giúp cho học sinh làm quen với việc nghiên cứu các chất trong đời sống hàng ngày để các em có thể góp phần vào việc bảo vệ môi trường

Ví dụ : Giáo viên có thể cho học sinh nhân biết tính axit hoặc kiềm trong một mẫu nước

tự nhiên (nước thải công nghiệp, nước ao hồ bị ô nhiễm …) và đề ra biện pháp xử lí thích hợp (lớp 9)

+ Bám sát vào nội dung chương trình để có những bài tập phù hợp với trình độ học sinh, tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt vấn đề một cách nhanh chóng nhằm giúp cho học sinh hiểu rõ và nhớ sâu hơn những kiến thức đã học, đồng thời cũng cố những bài tập khó dành cho học sinh khá và giỏi để phát triển, nâng cao kiến thức của học sinh

Trang 3

Ví dụ : Với học sinh trung bình ở lớp 8 khi học chương 5 có thể cho bài tập " Nhận

biết dung dịch các chất sau đựng trong các lọ mất nhãn : NaCl, HCl, H2O"

Để phát hiện học sinh khá và giỏi có khả năng tư duy quan sát, tổng hợp tốt, từ bài

tập trên ta có thể phát triển thành bài tập sau : Nhận biết dung dịch các chất sau đựng

trong các lọ mất nhãn : NaCl, HCl, H2O, NaCl

- Bài tập cần có nhiều hình thức, nhiều dạng để kích thích học sinh tìm tòi, nghiên cứu nhằm phát triển năng lực tư duy và tạo hứng thú trong quá trình học tập của học sinh (xem phần các dạng bài tập và hình thức thực hiện các bài tập)

- Khi trình bày bài tập " Nhận biết các chất " bằng phương pháp thực hành cần giáo

dục cho học sinh ý thức tiết kiệm, không gây lãng phí và làm hỏng hóa chất cũng như phải bảo đảm vệ sinh nơi thực hành và an toàn cho con người khi sử dụng hóa chất

II.Các dạng bài tập định tính "NHẬN BIẾT CÁC CHẤT " trong môn hóa của trường THCS :

Xét về hình thức ra đề , bài tập định tính tập " Nhận biết` các chất "trong môn hóa ở

trường THCS có hai dạng

1.Dạng bài tập trắc nghiệm khách quan :

Hình thức được sử dụng phổ biến nhất là chọn phương án đúng, sai từ các phương án đã cho của đề bài Dạng này lại có 2 kiểu :

- Kiểu 1 : Khoanh tròn vào chữ cái đầu câu của câu trả lời đúng nhất

Ví dụ 1: Có 3 lọ đựng 3 dung dịch HCl, H2SO4 và Na2SO4, có thể nhận biết dung dịch trong mỗi lọ bằng cách nào sau

a) Dùng quì tím b) Dùng dung dịch AgNO3

c) Dùng dung dịch BaCl2 d) Dùng quì tím và dung dịch BaCl2

Ví dụ 2: Dùng thuốc thử nào sau đây để nhận biết các chất chứa trong các ống

nghiệm bị mất nhãn sau : NaOH, NaCl, H2SO4 và NaNO3

a) Dùng quì tím và dung dịch BaCl2

b) Dùng dung dịch phenolphtalein và dung dịch AgNO3

c) Dùng quì tím và dung dịch AgNO3

d) b và c đúng

- Kiểu 2: Điền chữ Đ (đúng) hoặc S (sai) vào ô trống ở sau mỗi câu mà em cho là

đúng

Ví dụ : Dung dịch NaOH có thể dùng để phân biệt hai muối có trong mỗi cặp

dung dịch sau :

a) FeSO4 và Fe2(SO4)3 b) Na2SO4 và CuSO4 c) NaCl và CaCl2

2.Dạng bài tập tự luận :

Bài tập nhận biết các chất ra theo kiểu tự luận thường được tập trung vào 2 dạng chính sau :

a) Dạng bài tập không hạn chế thuốc thử hoặc phương pháp sử dụng :

Học sinh được quyền sử dụng bất kì phương pháp nào và bao nhiêu loại thuốc thử cũng được, miễn là giải quyết được vấn đề mà đề bài yêu cầu

Ví dụ 1 : Hãy nhận biết 5 lọ mất nhãn đựng 5 dung dịch sau : NaCl, NaOH, Na2CO3 ,

Na2SO4, NaNO3 ( lớp 9 )

Ví dụ 2: Hãy nhận biết 3 lọ mất nhãn đựng 3 chất khí sau : CH4, C2H4, CO2 (bài tập dành cho HS trung bình lớp 9 )

Trang 4

Ví dụ 3 : Có 3 chất rắn màu trắng đựng trong 3 lọ mất nhãn riêng biệt là NaCl ,

Na2CO3 , và hỗn hợp NaCl với Na2CO3

b)Dạng bài tập hạn chế thuốc thử hoặc phương pháp sử dụng :

Đây là dạng bài tập yêu cầu HS phải giải quyết vấn đề của bài tập theo một điều kiện nhất định

Ví dụ 1 : Dựa vào tính chất vật lí, hãy nhận biết 3 lọ mất nhãn đựng 3 chất bột sau: bột sắt ,

bột lưu huỳnh, bột than (lớp 8)

Ví dụ 2 : Dựa vào tính chất vật lí , nhận biết 3 lọ mất nhãn đựng 3 chất khí sau: khí Clo, khí

cacbonddioxit và khí hiđrosunfua (lớp 9)

Ví dụ 3 : Chỉ dùng thêm quì tím , hãy nhận biết 4 dung dịch đựng trong các lọ mất nhãn sau

: NaOH , Ba(OH)2 , KCl và K2SO4 (lớp 9)

Ví dụ 4 : Chỉ dùng thêm một chất thử duy nhất (tự chọn) hãy nhận biết 4 dung dịch đựng

trong các lọ mất nhãn sau: Na2CO3 , Na2SO4 , H2SO4 và BaCl2

Ví dụ 5 : Không dùng thêm thuốc thử nào khác hãy nhận biết các lọ mất nhãn đựng các

dung dịch sau: HCl , NaCl , Na2CO3 và MgCl2

Ngoài các ví dụ trên đây, dạng bài tập định tính nhận biết các chất còn ở mức độ khó hơn dành cho HS khá giỏi Đó là dạng bài nhận biết sự có mặt của các chất có trong hỗn hợp

Ví dụ 1 : Có một hỗn hợp gồm 3 khí Cl2, CO, CO2 Bằng phương pháp hóa học hãy chứng minh sự có mặt của 3 chất khí trên trong hỗn hợp

Ví dụ 2: Có một hỗn hợp gồm 3 axit HCl, HNO3 , H2SO4 Hãy chứng minh sự có mặt của 3 axit trên có trong hỗn hợp

B/ Phương pháp chung :

+ Với loại bài tập phân biệt và nhận biết các chất ta sử dụng phương pháp chung là dùng các phản ứng đặc trưng của các chất để nhận ra chúng, cụ thể là những phản ứng gây

ra các hiện tượng mà ta thấy được như kết tủa, màu, khí sinh ra có mùi đặc trưng

Ví dụ: - Cu(OH)2: kết tủa xanh lam

- NH3: mùi khai

- H2S: mùi trứng thối

- Cl2: màu vàng lục

- NO : màu nâu , mùi hắc Với dạng bài tập hạn chế thuốc thử phải tuân theo nguyên tắc: dùng thuốc thử mà đề bài đã cho để nhận biết ít nhất một trong các chất cần nhận biết Sau đó dùng hóa chất vừa mới nhận biết được để nhân biết ít nhất một trong các chất còn lại …

Ví dụ: Chỉ được dùng thêm một chất thử là kim loại, hãy nhận biết 4 lọ mất nhãn chứa 4

dung dịch : Na2SO4 , HCl , Na2CO3 và Ba(NO3)2

Học sinh có thể sử dụng sắt để nhận biết HCl (có bọt khí thoát ra), sau đó dùng HCl nhận biết Na2CO3 ( có bọt khí thoát ra), rồi dùng Na2CO3 nhận biết Ba(NO3)2 (có kết tủa trắng), chất còn lại là Na2SO4

+ Với dạng bài tập không dùng bất kì thuốc thử nào ta phải lập bảng để nhận biết

Ví dụ: Không dùng hóa chất nào khác , hãy nhận biết 3 lọ mất nhãn chứa

riêng biệt 3 dung dịch: HCl, Na2CO3 và BaCl2 Học sinh có thể kẻ bảng sau :

HCl Na2CO3 BaCl2

Trang 5

BaCl2 -

-Dựa vào kết quả của bảng ta có thể nhận biết HCl (1 dấu hiệu sủi bọt khí )

Na2CO3(1 dấu hiệu sủi bọt khí và một dấu hiệu kết tủa) và BaCl2 (1 dấu hiệu kết tủa)

1) Trình bày yêu cầu của bài tập bằng lí thuyết: Có thể cho HS làm bài bằng cách

Trả lời miệng : Khi có ít thời gian trong quá trình kiểm tra hoặc trước khi thực hành

cần ôn lại kiến thức cũ

Ví dụ: Trước khi tiến hành thực hành thí nghiệm 3 của bài "Tính chất hóa học của oxit và

axit" (lớp 9): Có 3 lọ không nhãn, mỗi lọ đựng một trong 3 dung dịch Na2SO4, H2SO4 loãng và HCl Hãy tiến hành những thí nghiệm nhận biết dung dịch các chất đựng trong mỗi lọ

Giáo viên có thể đặt câu hỏi trước cho HS trả lời miệng : "Em hãy nêu cách nhận biết 3 dung dịch là Na2SO4, H2SO4 loãng và HCl đựng trong 3 lọ mất nhãn " để ôn lại kiến thức cho HS trước khi tiến hành thực hành

Làm bằng giấy : Cho HS thực hiện yêu cầu của bài tập trên giấy khi kiểm tra 15 phút

, 45 phút hoặc thi học kì …

2) Thực hiện yêu cầu của bài tập bằng phương pháp thực hành:

Đây là hình thức kiểm tra mà người giáo viên phải chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hóa chất và đòi hỏi phải có nhiều thời gian Bù lại với hình thức kiểm tra này sẽ tạo cho HS niềm say mê hứng thú học tập, tạo điều kiện cho các em có niềm tin vào khoa học

Lưu ý : Đôi lúc trong thực tế giảng dạy lại xảy ra trường hợp thực hiện của yêu cầu bài tập lí thuyết và kiểm chứng lại bằng phương pháp thực hành Lúc đó, người giáo viên phải định hướng cho HS các trường hợp mà lí thuyết đưa ra ( trình bày nhiều mà trong quá trình thực hành lại làm rất ngắn gọn )

Ví dụ : Bằng phương pháp hóa học và chỉ dùng thêm thuốc thử là quì tím, hãy nhận biết các dung dịch là Na2SO4 , K2CO3, BaCl2 và HCl đựng trong các lọ mất nhãn

Khi cho quì tím vào có thể rơi vào trường hợp ngẫu nhiên đã nhận biết HCl (làm quì tím hóa đỏ), K2CO3 (làm quì tím hóa xanh) mà không cần phải cho quì tím vào tất cả các

lọ III.Hướng dẫn và trình bày bài tập :

Về mặt lí thuyết cần hướng dẫn cho HS phân loại các chất cần nhận biết, xem thử những chất cần nhận biết đó thuộc loại chất nào ? bài tâp đã cho thuộc dạng bài tập nào ?

Từ đó nhớ lại những phản ứng đặc trưng của từng loại chất Từ những phản ứng dặc trưng

đó nên vân dụng và nhận biết loại chất nào trước Người thầy giáo phải hướng dẫn cho HS con đường nhận biết ngắn nhất, đúng đắn nhất để HS tự lập được sơ đồ nhận biết các chất

Ví dụ: Nhận biết 4 lọ mất nhãn, mỗi lọ đựng một trong 4 dung dịch sau NaOH ,

Na2SO4 , H2SO4 loãng và HCl

• Giáo viên có thể đặt một số câu hỏi sau :

- Hãy đọc tên và phân loại các chất trên ( thuộc loại chất vô cơ nào đã học ) ?

- Những phản ứng đặc trưng nào để nhận biết dung dịch axit ?

- Những phản ứng đặc trưng nào để nhận biết dung dịch bazơ ?

- Dung dịch muối Na2SO4 có làm đổi màu chất chỉ thị (quì tím) hay không ?

• Sau đó học sinh lên bảng trình bày sơ đồ nhận biết của mình Giáo viên cho nhận xét bổ sung

NaOH , Na2SO4 , H2SO4 , HCl

+ quì tím

Trang 6

Màu đỏ Màu xanh Màu tím

H2SO4 , HCl NaOH Na2SO4

+ dd BaCl2

H2SO4 (có kết tủa trắng) HCl (không có kết tủa)

• Học sinh trình bày bài của mình vào vở sao cho rõ ràng, mạch lạc, ngắn gọn

mà đầy đủ, sao cho người đọc hiểu được cách làm của HS

- Lấy mỗi lọ một ít cho vào 4 ống nghiệm khác nhau

- Lần lượt cho quì tím vào từng ống nghiệm Ống nghiệm nào làm quì tím hóa xanh là dung dịch NaOH, ống nghiệm không làm đổi màu quì tím là dung dịch Na2SO4, 2 ống nghiệm làm quì tím hóa đỏ là 2 dung dịch H2SO4 và HCl

- Nhỏ vài giọt BaCl2 vào 2 ống nghiệm đựng 2 axit H2SO4 và HCl Ống nghiệm nào có kết tủa trắng là H2SO4 Chất còn lại là HCl

- Phương trình phản ứng : H2SO4 + BaCl2  BaSO4  + 2HCl

C/ Kết luận :

Xây dựng một trong các dạng toán riêng biệt để kích thích học sinh học tập một cách say mê và hứng thú, đồng thời vận dụng những hiểu biết của mình vào cuộc sống, đòi hỏi người giảng dạy ra đề cho học sinh làm bài tập phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có

sự hiểu biết sâu sắc bao quát hết toàn bộ nội dung chương trình hóa học của trường THCS

và trình độ của từng lớp học sinh trong trường học Tôi - người viết chuyên đề này, với khả năng còn hạn chế và kinh nghiệm cần phải học hỏi thêm, khi trình bày dạng bài tập này theo hình thức một chuyên đề, rõ ràng không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong được sự nhận xét, góp ý chân thành của quí thầy cô giáo trong tổ và ban chỉ đạo chuyên môn của nhà trường để chuyên đề được hoàn thiện hơn, nhằm phục vụ tốt hơn cho việc giảng dạy bộ môn hóa học ở trường Trung học cơ sở

Xin chân thành cảm ơn !

Long định ngày 10 tháng 10 năm 200

Người thực hiện

NGUYỄN ANH DŨNG

Ngày đăng: 04/05/2015, 02:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w