1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn đại học sư phạm Những nội dung cơ bản của đề tài hình tượng con người trong điêu khắc, trang trí đình làng Việt

21 1,3K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 132,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài: Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam, từ lõu đã in vào tâm khảm của mỗi con người và tỏa sáng trong những ángthơ văn: "Hôm qua tát nước đầu

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài:

Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam,

từ lõu đã in vào tâm khảm của mỗi con người và tỏa sáng trong những ángthơ văn:

"Hôm qua tát nước đầu đình

Để quên chiếc ỏo trờn cành hoa sen…"

Trong những ngụi đỡnh làng Việt, điờu khắc, trang trí là một phần rấtquan trọng, nó làm tăng giá trị của mỗi công trình kiến trúc dân gian truyềnthống Trong dòng chảy chung của nền mỹ thuật Việt đậm chất dân dã, mỗigiai đoạn lịch sử, mỗi đề tài trang trí lại để lại một dấu ấn riêng

Nhưng phải chăng điêu khắc đình làng đang bị lãng quên? Qua mộtthời gian dài trong đời sống mĩ thuật của chúng ta, không khí ngạc nhiên, vồvập trong cỏc phũng triển lãm điêu khắc cổ xưa phải chăng là vì lẽ đó Tahiểu đây là chuyện thường xảy ra đối với những cá tính nghệ thuật mạnh mẽ,những cá tính thà tạm bị lãng quên chứ không chịu hòa lẫn với mọi thời Điêukhắc đình làng mang cái tinh thần như thế Trong điêu khắc đình làng, hìnhảnh con người là trung tâm, mang cái hồn của người dân Việt Và cỏi khỏc ởđây lại chính là cái chất bình dân, bộc bạch, nô đùa,nhạo báng, khinh bỉ, vừahóm lại vừa thụ…Mĩ thuật Việt Nam trước kia hầu như nằm gọn trong taymột nhóm người nước ngoài ở viện nghiên cứu Viễn đông của Phỏp.Và hầuhết họ mang nhận thức tiêu cực và bảo thủ trong nhận thức nghệ thuật, theocái nghĩa kìm hãm lại những yếu tố chân chính và tiến bộ Mà trong điêukhắc đình làng, cụ thể là ở trong hình tượng con người lại luôn mang trongmình yếu tố dân chủ và xã hội Ở Pháp, cũng như ở Châu Âu bấy giờ nghệthuật Hi-La vẫn là thước đo của mọi nghệ thuật trên đời, nghệ thuật nàokhông ướm vừa cái khuôn khổ cố định đú thỡ bị họ gạt ra ngoài Dễ thươngkhông có thứ điêu khắc nao đáng chiêm ngưỡng ngoài điêu khắc Hi Lạp cổ

Trang 2

đại Dễ thường không còn cách nào khác để diễn tả hình ảnh con ngườingoài sự ứng dụng dăm dắp luật viễn cận, và cách giải phẫu sinh lý nhưLeona -dvanhxi đã làm.

Vì vậy việc nghiên cứu điêu khắc đình làng nói chung và nghiên cứuhình tượng con người trong nền điêu khắc đó nói riêng là vô cung cần thiết

Là để trả lại vị trí xứng đáng của nó trong nền mĩ thuật nước nhà

2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu:

- “Xác định các dạng thức miêu tả hình tượng con người trong đìnhlàng Việt cùng biểu tượng, ý nghĩa lịch sử, văn hóa của nú.”

- Làm nổi bật giá trị nội dung, nghệ thuật mà nghệ sĩ dân gian dã gửigắm qua hình tượng con người trong điêu khắc đình làng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Hình tượng con người trong điêu khắc, trang trí một số ngụi đỡnh làngViệt tiêu biểu thế kỷ XVI, XVII Đặc biệt cuối thế kỷ XVII là giai đoạn pháttriển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc kiến trúc đình làng Việt và nhiều ngụiđỡnh nổi tiếng xuất hiện trong giai đoạn này như: đình So, đình Chu Quyến(Hà Tõy), đỡnh Kiền Bái (Hải Phũng), đỡnh Diềm (Bắc Ninh)…

4 Phương pháp nghiên cứu:

Sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản như : liệt kê, phõn tích, sosánh, tổng hợp Đồng thời kết hợp linh hoạt một số phương pháp khác

5 Dự kiến những đóng góp của đề tài

Việc nghiên cứu, phân tích về điêu khắc, trang trí làm hình tượng trênkiến trỳc đình làng Việt thế kỷ XVI, XVII là bước đầu cho việc tìm hiểu mộtcách kỹ càng về nghệ thuật điêu khắc, trang trí trên kiến trúc dân gian truyềnthống của Việt Nam, từ đó làm cơ sở định hình được một phương pháp khoahọc cho việc xác định liên đại khởi dựng cũng như lịch sử tồn tại, phát triểncủa mỗi di tích phục vụ cho nghiên cứu và bảo tồn trùng tu di tích sau này

Trang 3

B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1 Sự ra đời, bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, XVII

Điêu khắc đình làng Việt Nam là một di sản nghệ thuật bất hủ cùng vớithành tựu đáng tự hào về kiến trúc của tổ tiên ta.Trong suốt 4 thế kỷ (XVI -XIX) ngụi đình là sản phẩm thuần khiết gắn với văn hoá làng, hội tụ biểutượng cao độ về đời sống vật chất và tinh thần của làng Giá trị bất hủ của nónằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc Việt Nam, ở đú đã kế thừa và pháttriển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống

Xuất phát từ nhu cầu nghệ thuật ngày càng cao của con người, đặc biệtđình làng lại là nơi hội họp, tập trung của mọi người trong làng, những ngườinghệ nhân dân gian đã tạo ra những bức chạm khắc nhằm trang trí cho ngụiđỡnh Phần lớn là hình tượng con người với những hoạt động đời thường vừanói lên thị hiếu thẩm mĩ, vừa nói lên mong ước, khát vọng của người dân laođộng Theo các nhà nghiên cứu, đình làng có thể ra đời từ trong lòng xã hội

Lê sơ, song hình mẫu hoàn chỉnh đạt giá trị kiến trúc nghệ thuật và còn để lạiđến nay từ sớm nhất là thời Mạc mà nổi bật là đỡnh Tõy Đằng (Hà Tõy),đỡnh Lỗ Hạnh (Bắc Giang) Khoảng chuyển của 2 thế kỷ XV - XVII cú đìnhPhù Lưu (Bắc Ninh) và nở rộ đạt tới đỉnh cao ở cuối thế kỷ XVII, tiêu biểuvới cỏc đỡnh: Phự

Lão, Thổ Hà (Bắc Giang); Diềm (Bắc Ninh); Chu Quyến, Võn Đỡnh(Hà Tây); Thổ Tang, Ngọc Canh (Vĩnh Phúc); Xốm (Phú Thọ); Hương Lộc(Nam Định); Chẩy (Hà Nam); Trà Cổ (Quảng Ninh); Kiền Bái (Hải Phòng) Sang thế kỷ XVIII - XIX đình làng xây dựng thưa thớt hơn, song cũng cúđỡnh được xây mới ở Thạch Lỗi (Hải Dương), Hồi Quan, Đình Bảng (BắcNinh); Hoành Sơn, Trung Cần (Nghệ An)

Trang 4

Trở lại với lịch sử Việt Nam , giai đoạn thế kỉ XVI cũng là giai đoạnvới những cuộc nội chiến liên miên, mà cốt lõi chính là mâu thuẫn trong hệ

tư tưởng và lí thuyết chính trị của Nho giáo Đối với tư tưởng ”trung quõn”thỡ hiên tượng “đó có vua lại còn cú chỳa” thực sự là điều báng bổ vớichuẩn mực Nho giáo Điều này dễ nảy sinh ra hiện tượng ”phộp vua thua lệlàng”, và bằng những tư tưởng Phật giáo đã và đang phát triển trở lại, trởthành cái phin lọc để cho những gì thích hợp với tâm thức dân gian được dunhập.Do vậy những tư tưởng định chế, qui chuẩn khắt khe với người phụ nữ

là “tam tòng tứ đức ““cụng dung ngôn hạnh “, trong quan hệ nam nữ “thụ thụbất thõn”của Nho giáo cũng bớt phần cực đoan hơn,con người được tự dohơn trong cách nghĩ, người nghệ sĩ được mặc sức thả hồn mình vào những đềtài mà trước kia tưởng chừng như cấm kị.Từ giờ con người trở thành trungtâm của nghệ thuật, là hình tượng chủ đạo trong các chạm khắc đình làng,đặc biệt là hình ảnh các chàng trai, cô gái đươngrực rỡ tuổi xuân cũng đượcđưa ra nhằm giảm bớt tính khô cứng nặng nề của cỏc ngụi đỡnh bị ảnh hưởngbởi tư tưởng Nho giáo chính thống Thấm nhuần tư tưởng đú cỏc điêu khắcgia dân gian đã thổi hồn cho nhũng khối gỗ có thêm sức sống vừa là đồ ántrang trí cho đình làng – một dạng tiểu triều đình

2 Những vấn đề chung, cơ sở có liên quan đến việc phân tích hình tượng con người trong điêu khắc đình làng:

Để cảm nhận rõ hơn về hình tượng con người trong điêu khắc đìnhlàng, ta hãy xem những cách diễn tả hình ảnh con người trong những loạihình nghệ thuật khác, những thời kỡ khỏc Và đặc biệt là thái độ của chínhnhững con người đang làm công việc bảo tồn nền nghệ thuật này Thế kỷXVIII, XIX, mĩ thuật Việt Nam dưới sự ảnh hưởng của nền nghệ thuật Pháp.Đối với họ, đề tài nghệ thuật phải là những đề tài cao quý chốn cung đình,tôn giáo, thần thoại Phải là bút pháp gia trưởng, chính thống của nghệ thuật

“đàn anh” Phải là thứ trật tự bình ổn, cố định, không đột biến, không hăngsay,vì đối với họ đột biến và hăng say có thể là hiệu cũi bỏo đọng đáng sợ ở

Trang 5

một chỗ khác, ở chỗ quyền thống trị xã hội do họ cầm đầu bị xúc phạm Vìthế mà họ rất giống phong kiến Việt Nam ở chỗ không chịu nổi chất bìnhdân, nô đùa ở những bức chạm khắc về con người ở đình làng, những bứctắm sen, trai gái vui đựa…Hơn nữa cái họ không chấp nhận được không chỉ

là đề tài mà còn là ở cái lối tạo hình bướng bỉnh, ngang phè, là phi cổ điển,phi Hi-La

Một số tác giả Việt Nam, khi viết về nghệ thuật nước nhà, ban đầu chỉthích ở chùa Tây Phương, Bút Tháp với những bức tượng quan âm ít nhiều đãmang sẵn những thông tin thẩm mỹ quen thuộc Bởi nếu đến với hỡnh ảnhcon người ở điêu khắc đình làng, họ buộc lòng phải coi thường những phéptắc quyền quý của khoa học, lối diễn tả lịch thiệp của nhà trường, phải hạthấp những “tỉ lệ kinh điển”, “đường trục”, “thấu thị”…vốn là sản phẩm củađầu óc duy lý kiểu Châu Âu

Trang 6

CHƯƠNG 2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG ĐIÊU KHẮC, TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG VIỆT Nam

Có hiểu được những cảnh sinh hoạt trong thôn làng Việt Nam ngàyxưa và có thấy được những công việc làm ăn của nhà nông thì mới thấu hiểuđược tầm quan trọng của những ngày lễ hội đình đám, để đồng cảm với sảnphẩm vô giá của các nghệ nhân làng Chúng ta tìm thấy trên bức chạm tínhcách của họ, tâm sự của họ, thấy vang vọng tiếng nói của quá khứ muônmàu.Trong điêu khắc trang trí trên kiến trúc đình làng giai đoạn này, hìnhtượng con người nổi lên như một hình ảnh trung tâm, một điểm nhấn độcđáo Đặc biệt là con người lao động luôn được khắc hoạ với dáng vẻ hồnnhiên, yêu đời: Trai gái yêu đương đàng hoàng tình tự (Đình Hương Lộc,Đỡnh Phự Lóo, Đỡnh Phựng, Đỡnh Đụng Viờn ); cảnh đi săn sảng khoáisinh động (Đình Giang Xỏ, Đỡnh Liên Hiệp, Đình Hương Canh ); nhữngcảnh đấu vật, bơi thuyền trong hội làng hào hứng (Đình Hoàng Xỏ, ĐỡnhTõy Đằng, Đình Liên Hiệp ); hay những tiên nữ mềm mại uyển chuyểntrong điệu múa cổ (Đình Liên Hiệp, Đỡnh Tõy Đằng, Đình Giang Xá) Tất cảđều mang bản sắc Việt Nam truyền thống Hình chạm không cầu kỳ nhưngđầy sức sống Dáng vẻ cốt cách tâm hồn của người Việt chuyển động, tàng ẩntrong từng nét chạm đục mạnh mẽ và tinh tế Nghệ thuật phát triển lên mộttrình độ mới, thể hiện ý thức về cuộc sống tinh thần của người dân đươngthời Hình tượng con người không những phong phú về chủ đề, ý tưởng màcòn đa dạng về thủ pháp nghệ thuật diễn đạt và chiếm một vị trí trang trọngtrong đình Có thể chia theo hai nội dung chính:

- Hình tượng con người mang yếu tố thần thoại, ước lệ

-Hình tượng con người phản ánh cuộc sống xã hội đương thời

Trang 7

1 Hình tượng con người mang yếu tố thần thoại, ước lệ

1.1 Nội dung:

Hình tượng con người mang yếu tố thần thoại, ước lệ được thể hiện ởnhững mảng trạm khắc theo các chủ đề: “Vũ nữ thiên thần” “người cưỡirồng, phượng, hạc”, “tỏng mả Hàm Rồng” “Người cưỡi hổ” Nhưng ngay cảnhững đề tài mang tính chất chính thống cũng được dân gian hóa Hình tượngtiên hay rồng đều được thể hiện theo suy nghĩ, cách cảm của người dân laođộng, tất cả trở nên bình thường, gần gũi và hòa vào trong cuộc sống của

người dân lao động (Hình (1)).Hãy xem hình tượng cụ tiờn, nhân vật thường

xuất hiện trong huyền thoại và chuyện cổ tích, nếu các tiên nữ dược chạm nổichẳng hạn trờn cỏn bia đá chùa Keo (Nam Định) hoặc trên bức cốn gỗ chựaThỏi Lạc (Hưng Yên) là những công nương đĩnh đạc thì nàng tiên trờn vỏnnong hay lỏ giú ở đình làng, dự cú cưỡi rồng cũng sẵn sàng hở vai,mặc yếm

sơ sài như gỏi quờ trần tục xốc vác, nhiều cô không quên đeo theo một túinhỏ đựng trầu cau (đình Hưng Lộc, Ngọc Than) Có điều là theo truyềnthuyết xa xưa, dân tộc Việt Nam vốn thuộc dòng dõi “con rồng chỏu tiờn”nờn sự hiện diện thưa thớt của tiên ở đây xem ra cũng bí ẩn So với hình rồng

có mặt khắp nơi khắp chốn, hình tượng cụ Tiờn chuyển từ những công nươngdiêm dúa, tế nhị sang những vũ nữ ăn mặc bình dân, họa hoãn lắm mới bắtgặp những nàng tiên Việt Nam có cánh

1.2 Cách khắc họa:

Về cách khắc họa hình tượng con người mang yếu tố thần thoại nổi bậtvới những hình tượng vũ nữ thiên thần có cánh và không có cánh, ở vị trí vỏngiú cánh gà thường chạm chính diện với khuôn mặt trái xoan, mũi thấp, môimỏng, cổ cao thanh tú, đôi khi thể hiện rõ cả 3 ngấn (Đình Diềm – BắcNinh) Có khi tượng vũ nữ lại có những đặc điểm chung là ngực nở bụng

thon, cánh tay dài với những ngón tay búp măng mềm mại.(Hình 2) Trong

đình, tượng tạc hỡnh tiờn cũng thường nhỏ chỉ cao vài gang tay được ghộplờn mấy cầu kiệm kiến trúc trên cao (như ở Tây Đằng) Tiên cũng được chạm

Trang 8

ghép vào các bố cục khác trong tư thế cưỡi rồng, đứng trên đầu rồng(đìnhHưng Lộc), múa với rồng (đình Liên Hiệp) Đỡnh Tây Đăng có mấy vỏn lỏgiú với phù điêu nhỏ, trong đó có chạm hỡnh tiờn mỳa có cánh và tay cầmhoa sen Sự diễn tả còn là sự kết hợp hai yếu tố của cõi huyền và cõi thựcthông qua thủ pháp kết hợp trang trí và tả thực vào trong một bố cục, tạo nênđặc trưng độc đáo của điêu khắc đình làng Ngay từ những chạm khắc củanhững ngụi đỡnh từ thế kỷ XVI đã thể hiện rõ tư duy này Hai cụ tiờn cócánh, tay cầm hoa sen đứng (hay là bay) hai bên, ở giữa có hai người cầmquạt ngồi; những vân xoắn lớn đầy chất trang trí như những đám mây thiờng,trựm phía trên, phía dưới có người mẹ gánh hai đứa con dường như đang vội

vã đi chợ

2 Hình tượng con người phản ánh cuộc sống xã hội đương thời

2.1 Đề tài sinh hoạt dân gian:

- Với hình tượng con người phản ánh cuộc sống xã hội đương thờiđược thể hiện ở cảnh ”Đấu vật”, “uống rượu”; “đỏnh cờ”; “cưỡi ngựa”, “chọi

gà, lễ hội”, “đi săn”, “chốo thuyền” (Hình (3); hình (4)).Bên cạnh đú cũn

rất nhiều hình tượng con người khác như những đạo sĩ ngồi bó gối trầm tư(đình Hạ Hiệp), người bắt lợn (đình Hạ Hiệp, đình Hương Canh ), chồng nụ,chồng hoa; đỏ cầu (đình Hạ Hiệp, đình Hương Canh), cưỡi ngựa, cưỡi voi,

quản tượng (Hình (5); hình (6)) Với hàng trăm con người đã vẽ lên bức

tranh làng quê xưa: có điều thiện và tội ác, có hạnh phúc và khổ đau, có nụcười và nước mắt, có khát vọng, lạc quan và bi luỵ, đau thương Tuỳ từng đềtài mà cách diễn đạt, mô tả, nhấn mạnh từng đặc điểm khác nhau Đạo sĩthường có khuôn mặt đăm chiêu (đình Hạ Hiệp), cảnh đấu vật, đi săn thìnhấn mạnh các bắp thịt cuồn cuộn của nhân vật chính (đình Hạ Hiệp, ĐạiPhùng, Hoàng Xá),; Người nông dân thường có đặc điểm: đầu tròn, to, cạotrọc; đàn bà thường có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, để tóc dài, xoã hoặc búithành búi lớn trên đỉnh Nói chung hình ảnh con người đa phần đều mangnhững nét cơ bản của người bản địa, thuộc chủng tộc Nam á, với những đặc

Trang 9

điểm: người thấp, đậm, mặt tròn, mũi to, sống mũi thấp, môi dày, mắt to…Cũng có một vài mảng chạm người đàn ông có vóc dáng khá cao lớn, mũicao, và đặc biệt dựa vào trang phục (áo dài, chân đi ủng, đầu đội mũ phớtrộng vành ), có thể đó là những người phương Tây đến nước ta buôn bántrong giai đoạn này; Những bức chạm mô tả người đàn ông trong các cảnhđấu vật, đi săn, táng mả hàm rồng thường có thân hình vạm vỡ, ngực nở,đôi khi các cơ bắp được phóng đại lên quá mức Nhìn chung, hình tượng conngười trong điêu khắc kiến trúc đình làng thế kỷ XVII thường có tỷ lệ giữađầu và thân mang tính ước lệ, chỉ bằng 1/3 Ở đỡnh Tõy Đằng (Hà Tây) đểdiễn tả đời sống thường nhật, có cảnh chèo thuyền hái hoa, chèo thuyền uốngrượu, làm xiếc, gánh con, nhổ cây đẽo gỗ, đõm thỳ Ở chựa Cúi cú cảnh dắtngựa, cưỡi hổ báo Tất cả đều biểu hiện giá trị điêu khắc đậm nét với cáckhối được diễn tả no căng, hình thức giản dị, khái quát cao Ý nghĩa của đềtài, động tác và nghệ thuật đã vượt qua những phi lý của hình thể mang tínhcách điệu nghệ thuật cao Quan điểm tạo hình dân gian ấy cũng được thể hiện

rõ nét qua tác phẩm “Đánh cờ” – đình Ngọc Canh, với bàn cờ hình vuông,bốn người đánh cờ ngồi bốn góc và đều quay ra ngoài Người gần thì nhỏ,

người xa nhất lại dược diễn tả với tỉ lệ lớn nhất (Hình 7) Trong hoạt cảnh

của đời sống xã hội đã mang hình thức tượng trưng với tỉ lệ không theochuẩn mực có sẵn, tuy vậy vẫn thể hiện được bố cục sống động Cách chạm

tự nhiên thoải mái, rõ ràng đã tạo được một phong cách, không biểu lộ bài

bản định sẵn mà vẫn giàu hơi thở cuộc sống (Hình 8).

Hãy tìm hiểu kĩ một số bức chạm tiêu biểu về đề tài này để thấy đượcgiá trị nội dung cũng như nghệ thuật mà tác giả dân gian dã gửi gắm vào đó.Bức “uống rượu ở đình Ngọc Canh thể hiện cuộc rượu với một tinh thần nhonhã.Đường nét mềm mại, hình khối nhẹ nhàng Toàn bộ tác phẩm được bốcục chặt chẽ trong hình chữ nhật, hai bên chạm hai hình giống như bông hoasen càng gợi cho người xem về tinh thần nhẹ nhàng, thanh tao của cuộc rượu

Kĩ thuật chạm nổi kết hợp với chạm thủng làm nổi rõ chân dung của hai

Trang 10

nhân vật Phần đầu chiếm tỉ lệ khá lớn so với toàn thân,nhưng không làmgiảm vẻ đẹp cân đối hài hòa của tác phẩm, ngược lại nú đó tạo nên điểm

trọng tâm gợi sự chú ý của người xem.(Hình 9)

Bức “Chuốc rượu” ở đình Hoàng Xá- Hà Tây lại cho chúng ta một sự

thưởng thức sâu sắc và dí dỏm hơn (Hình 10) Cũng là hai nhân vật uống

rượu song bằng cách diễn tả sự say sưa hiện rừ trờn hai nét mặt, hai thân hìnhnghiêng ngả Ở người mời rượu, đầu và tay tạo thành một đường thẳng vớinét chạm sắc sảo, dứt khoát đã thể hiện sự mạnh mẽ của động tác chuốc rượu.Người kia cũng từ chối một cách quyết liệt không kém Anh ta từ chối với cảsức lực của mình Bàn tay được các nghệ nhân cách điệu cong gập về phíasau đã thể hiện sự từ chối kiên quyết đó Hai người, người mời, người chối từ

ở trong tình trạng đã say Tất cả tạo ra cái thần cho tác phẩm, nói cách kháctác phẩm đã được tạo nên từ cảm xúc chân thực, tràn đầy của người nghệ sĩ.Cảm xúc đã dẫn dắt đôi bàn tay tạo nên hình tượng nghệ thuật một cách sâusắc và biểu cảm Ở những tác phẩm chạm khắc đình làng ta không tìm thấy

vẻ đẹp ngoại hình một cách cân đối về tỉ lệ chi tiết Tuy vậy toàn bộ tác phẩmlại là một sự cân đối, hài hòa và hợp lí của bố cục, của hình, khối, đường nét,của tất cả các yếu tố ngôn ngữ tạo hình Chính điều này đã tạo nên vẻ đẹp độcđáo và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm chạm khắc đình làng

2.2 Đề tài tình cảm:

Phù điêu trang trí đình làng là bài ca về cuộc sống và con người Tínhtrữ tình và biểu cảm tràn ngập trong các bức chạm khắc Việt Nam là đấtnước đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng bản chất trọng tìnhcảm đã khiến trong các tác phẩm điêu khắc của những người nghệ sỹ-nụngdõn hầu như không có đề tài chiến tranh, chủ yếu là những đề tài ca ngợi tìnhcảm đằm thắm của con người với con người, con người với thiên nhiên,muông thú Đặc biệt, hình tượng người phụ nữ được thể hiện khá phong phú

Tư tưởng Nho giáo coi phụ nữ là “phụ nhân nan húa”, “thập nữ viết vụ”;phong bế dục vọng, nam nữ “thụ thụ bất thõn” thỡ trong điêu khắc đình

Ngày đăng: 23/04/2015, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w