chia tài sản chung của vợ chồng
Trang 1Lời nói đầu
Xã hội loài ngời đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau Gia đình
là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xãhội Các điều kiện kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định lànhân tố quyết định tính chất và kết cấu của gia đình Do vậy gia đình là hình ảnhthu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội Quan điểm này đã đợc Ph.Angghennhấn mạnh nh một nguyên lý của nội dung lý luận Macxit về hôn nhân và gia
đình trong tác phẩm nổi tiếng “ Nguồn gốc của gia đình, của chế độ t hữu và củaNhà nớc.”(1884)
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia
đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình đợcxây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi d-ỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình
Nhận định đợc vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nớc ta luônchú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Biểu hiện
ở việc, Nhà nớc ban hành các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân
và gia đình cho phù hợp với sự phát triển của xã hội
Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thơng lẫnnhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợchồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong những tiền đề giúp cho
vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chấttinh thần cho gia đình
Xuất phát từ bản chất của quan hệ hôn nhân và gia đình là các yếu tố nhânthân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và không cótính đền bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa
vụ pháp lý giữa họ với nhau mà chia tài sản chung của vợ chồng là một vấn đềkhông thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia đình
Không phải là quy định mới trong Luật HN&GĐ năm 2000 nhng trên cơ
sở sự kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18), quy định này đã dần có nhữngbớc thay đổi tích cực cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Kể từ khi LuậtHN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng
đã từng bớc đi vào cuộc sống, phát huy đợc hiệu quả điều chỉnh, góp phần xâydựng củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt đợc thì việc áp dụng các quy
định trên vào thực tiễn không tránh khỏi những vớng mắc, khó khăn trong việcgiải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản ở các cấp Tòa án Do vậy, việc
Trang 2nghiên cứu vấn đề “ chia tài sản chung của vợ chồng” có ý nghĩa lý luận và thựctiễn sâu sắc nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống.
Là sinh viên sau 4 năm đợc học tập tại trờng, với mong muốn góp mộtphần nhỏ vào việc làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn của việc chia tài sản chung
của vợ chồng; em đã mạnh dạn chọn đề tài Chia tài sản chung của vợ chồng“
theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Trong phạm vi một khóa luận tốt nghiệp, đề tài chỉ tập trung nghiên cứulàm sáng tỏ những vấn đề lý luận của các quy định pháp luật về tài sản chung,chia tài sản chung và hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồngtheo Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành Đồng thời qua thựctiễn áp dụng Luật, phát hiện những bất cập và đa ra những kiến nghị nhằm bổsung hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này
Cơ sở phơng pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là dựa trên phép biệnchứng của lý luận khoa học Mac – Một số vấn đề lý luận và thực LeNin và t tởng Hồ Chí Minh, các quan
điểm của Đảng và Nhà nớc ta trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình Ngoài ra, đềtài còn sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu khác nh so sánh, phân tích, tổnghợp…
Kết cấu của khóa luận bao gồm:
Chơng 1: Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng và chia tài sản chung của vợ chồng theo hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Chơng 2: Các trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000.
Chơng 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng
và một số kiến nghị.
Trong phạm vi khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp, với trình độ chuyênmôn và nhận thức còn hạn chế, cùng nguồn tài liệu nghiên cứu còn cha nhiều, dovậy khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Rất mong đợc
sự góp ý, chỉ bảo của các thầy,cô giáo và các bạn quan tâm đến vấn đề này
Trang 3Chơng I Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng và chia tài sản chung của vợ chồng theo hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình việt nam
1 Khái niệm chung về chế độ tài sản của vợ chồng
1.1 Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Nhận thức rõ
điều này Đảng và Nhà nớc ta luôn chú trọng quan tâm, bảo hộ hôn nhân và gia
đình
Để cho gia đình tồn tại và phát triển, cần phải có các điều kiện vật chất- cơ
sở kinh tế nuôi sống gia đình Do vậy, chế độ tài sản của vợ chồng luôn đợc nhàlàm luật quan tâm nh là một trong những chế định cơ bản, quan trọng nhất củapháp luật về hôn nhân và gia đình
Trong quan hệ hôn nhân, quan hệ nhân thân là chủ yếu nhng quan hệ tàisản của vợ chồng cũng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một trong nhữngtiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhucầu về vật chất, tinh thần cho gia đình mình
Hôn nhân và gia đình là những hiện tợng xã hội mang tính giai cấp sâusắc Trong quan hệ hôn nhân không chỉ có ý nghĩa riêng t giữa hai vợ chồng màcòn tồn tại lợi ích của nhà nớc và xã hội Chính vì vậy giai cấp thống trị đềuthông qua Nhà nớc, bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình
Trang 4phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Chế độ tài sản chung của vợ chồng đợchầu hết các quốc gia ghi nhận, song tùy thuộc vào chế độ chính trị – Một số vấn đề lý luận và thực xã hội,phong tục, tập quán của mỗi nớc mà quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ tàisản của vợ chồng cũng khác nhau.
Pháp luật Việt Nam dựa trên cơ sở nền tảng là pháp luật Xã hội chủ nghĩathể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Do bản chất củaquan hệ hôn nhân xã hội chủ nghĩa tài sản không có ý nghĩa quyết định trongviệc xác lập quan hệ vợ chồng Việc thiết lập và xây dựng quan hệ hôn nhân gia
đình đều dựa trên cơ sở tình cảm Tài sản là biện pháp, phơng tiện để ổn địnhquan hệ gia đình, tạo điều kiện để gia đình thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụcủa mình
Trong pháp luật của Nhà nớc ta, cho đến nay vẫn cha có một khái niệm vềchế độ tài sản của vợ chồng đợc quy định trong một văn bản cụ thể của cơ quanNhà nớc có thẩm quyền Chế độ tài sản của vợ chồng đợc quy định trong phápluật nh là một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vợchồng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội
Từ những phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm về chia tài sản của vợ
chồng nh sau : Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp“
luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng ”
1.2 Nội dung chế độ tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam năm 2000
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Vậy nhà nớc
sẽ làm gì để “ bảo hộ hôn nhân và gia đình” ? Có rất nhiều biện pháp mà mộtbiện pháp không thể thiếu đợc là việc Nhà nớc ban hành các quy phạm pháp luật
điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình Trong gia đình Xã hội chủ nghĩa, vợchồng cùng nhau nhau chăm lo gánh vác công việc gia đình, do đó tài sản của vợchồng không chỉ để phục vụ cho bản thân mà còn cho cả các thành viên kháctrong gia đình Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở xem xét mối liên hệ của tàisản và cuộc sống vợ chồng từ thực tiễn đã quy định vợ chồng có tài sản chung
1.2.1 Căn cứ xác định tài sản chung
Tài sản chung của vợ chồng là toàn bộ những quy định của pháp luật vềviệc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng và quyền nghĩa vụ của vợ chồng
đối với tài sản ấy.Trong chế độ xã hội chủ nghĩa nam nữ kết hôn với nhau trên cơ
sở tình yêu chân chính, bình đẳng và tự nguyện Khi trở thành vợ chồng tính chấtcộng đồng tài sản giữa họ đợc xác lập
Theo quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000:
Trang 5“ 1.Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồngtrong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng đợc thừa kế chung hoặc tặng chochung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đợc là tài sản chung của vợ chồng.Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đợc trớc khi két hôn, đợc thừa kế riêng chỉ làtài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất
2 Trong trờng hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luậtquy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữuphải ghi tên của cả vợ chồng
3 Trong trờng hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng
đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”
Nh vậy ngoài việc dự liệu nguồn gốc, căn cứ thành phần các loại tài sảnthuộc sở hữu chung của vợ chồng, thì nhà làm luật còn căn cứ vào nguyên tắcsuy đoán để xác định những tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng đang có tranhchấp, nhng không đủ cơ sở để xác định tài sản riêng của vợ chồng thì coi là tàisản chung Đây là quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000, nó xuất phát từthực tiễn cuộc sống, thông qua công tác xét xử và nhằm hớng tới việc đảm bảocao nhất quyền và lợi ích của các bên
Căn cứ pháp lý để xác định khối tài sản chung của vợ chồng là sự ra đời vàtồn tại của quan hệ vợ chồng Luật quy định, những tài sản đợc vợ chồng tạo ra
“trong thời kỳ hôn nhân” mới đuợc coi là tài sản chung của vợ chồng
“Thời kỳ hôn nhân” là thời gian quan hệ vợ chồng tồn tại Thời kỳ hônnhân bắt đầu từ khi kết hôn và chấm dứt khi một bên chết hoặc ly hôn Tuynhiên trong thực tế có nhiều trờng hợp vợ chồng lấy nhau không có đăng ký kếthôn, khi phát sinh mâu thuẫn thì đa nhau ra toà xin ly hôn và phân chia tài sản
Để giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế còn tồn đọng từ trớc, khi xem xét hậuquả của việc chia tài sản chung của vợ chồng theo hôn nhân thực tế sẽ theo quy
định tại Nghị quyết số 35/2000/QH 10 của Quốc hội ngày 9/6/2000, Nghị quyết
số 02/2000/NQ-HĐTP của TANDTC ngày 23/12/2000
Nh vậy căn cứ để xác lập tài sản chung của vợ chồng, trớc hết phải dựatrên cơ sở “thời kỳ hôn nhân” của vợ chồng Toàn bộ tài sản do vợ chồng tạo ratrong thời kỳ hôn nhân này đợc coi thuộc khối tài sản chung của vợ chồng
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuấtkinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hônnhân
Đây là tài sản chủ yếu quan trọng đối với khối tài sản đợc coi là tài sảnchung của vợ chồng, bởi bản chất của cuộc sống chung giữa vợ chồng là cùng
Trang 6nhau chung vai gánh vác mọi công việc gia đình, tạo ra tài sản để đáp ứng mọinhu cầu tinh thần, vật chất của gia đình mình.
Do tính chất của cuộc sống chung vợ chồng, tài sản chung của vợ chồngkhông nhất thiết phải là tài sản do cả hai vợ chồng cùng tạo ra trong thời kỳ hônnhân, mà chỉ cần vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân cũng sẽ là tài sảnchung của vợ chồng
Tài sản do vợ, chồng tạo ta có thể là tài sản tự tay vợ hoặc chồng tạo raphục vụ cho nhu cầu của gia đình, thể hiện dới dạng vật chất cụ thể nh nhà cửa,
xe cộ, vật dụng trong gia đình… Hiểu theo nghĩa rộng tài sản do vợ chồng tạo rakhông chỉ là những tài sản do chính tay vợ hoặc chồng tạo ra, mà còn là nhữngtài sản mà vợ hoặc chồng bỏ tiền vàng, công sức để tạo ra Vì lẽ đó, chúng taphải hiểu tài sản do vợ, chồng tạo ra theo cả hai nghĩa nh thế mới thấu suốt đợctinh thần điều luật
Trong cuộc sống vợ, chồng có thể tham gia lao động, sản xuất kinh doanh
để tạo ra tài sản, nhng đó phải là những lao động hợp pháp Thu nhập từ lao động
là thu nhập cơ bản, chính đáng chủ yếu của ngời lao động Trong xã hội ta, lao
động vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân Quyền tự do sản xuấtkinh doanh của cá nhân đợc Nhà nớc ghi nhận là một quyền hiến định, Nhà nớcluôn khuyến khích và tạo điều kiện cho các cá nhân có điều kiện mở rộng sảnxuất kinh doanh Bởi nó một mặt vừa mang lại tài sản để duy trì ổn định và pháttriển của gia đình, mặt khác góp phần thúc đẩy sự phát triển cũng nh làm giàucho xã hội
Việc các bên thu nhập nhiều hay ít, cao hay thấp không phải là căn cứ đểluật phân định công sức đóng góp của các bên vợ chồng Nh vậy dù vợ chồng ởnhiều ngành nghề khác nhau, mức thu nhập khác nhau, song mọi thu nhập từ lao
động nghề nghiệp, sản xuất kinh doanh theo quy định của Luật HN&GĐ năm
2000 đều là tài sản chung
- Các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Theo hớng dẫn tại điểm a, mục 3 Nghị quyết số 02/2000/HĐTP thì
“những thu nhập hợp pháp khác” của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn cóthể là tiền lơng, tiền trợ cấp, tiền trúng thởng xổ số… mà vợ chồng có đợc hoặctài sản mà vợ chồng đợc xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS năm
2005 tại các Điều 240 (xác lập quyền sở hữu đối với vật bị chôn giấu, chìm đắm
đợc tìm thấy), Điều 239 (xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác
định đợc ai là chủ sở hữu), Điều 243 (xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bịthất lạc), Điều 244 ( xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dới nớc), Điều 242( xác lập quyền sở hữu đối với gia súc bị thất lạc)
Trang 7Nh vậy, chỉ nhng tài sản có nguồn gốc hợp pháp do vợ chồng cùng tạo rahoặc đợc xác lập quyền sở hữu trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung của
vợ chồng
- Tài sản chung của vợ chồng đợc thừa kế chung hoặc đợc tặng cho chung
là tài sản chung của vợ chồng
Đây là loại tài sản chung của vợ chồng có nguồn gốc đặc biệt là “tặngcho” Tài sản này thờng không nhiều bởi vì khi xây dựng gia đình vợ chồng baogiờ cũng mong muốn cùng nhau tạo lập tài sản để phát triển kinh tế gia đình.Tuy vậy nó lại mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, thể hiện sự đùm bọc, che chở yêuthơng giữa những ngời thân và bạn bè
Ngoài ra vợ chồng còn đợc nhận di sản thừa kế, trừ thừa kế theo di chúc,
vợ chồng có quyền lợi ngang nhau trong việc hởng phần di sản bằng nhau khithừa kế theo pháp luật
Tài sản chung của vợ chồng còn đợc tạo lập bởi sự thoả thuận của vợchồng, bao gồm tài sản mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung và tài sản do vợchồng nhập từ tài sản riêng vào thành tài sản chung Việc nhập tài sản riêng củamột bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sảncủa một bên thì vô hiệu Đây là quy định rất mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo vệquyền lợi của ngời thứ ba tham gia vào quan hệ tài sản đối với vợ hoặc chồng
Đối với tài sản không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đangtranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó cũng là tài sản chung ở đâynhà làm luật đã áp dụng nguyên tắc suy đoán để giải quyết tranh chấp về tài sảnchung của vợ chồng Đây chính là điểm mới của Luật HN&GĐ năm 2000
Điều 5 Nghị định số 70/2000/NĐ- CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy
định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi đăng ký quyền sở hữu phảighi tên cả vợ và chồng nh : nhà ở, quyền sử dụng đất… Với quy định này đã thểhiện sự bình đẳng giữa vợ chồng trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạttài sản chung
Nh vậy Lụât HN&GĐ năm 2000 đã quy định các căn cứ xác lập tài sảnchung của vợ chồng, dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc các loại tài sản,
đảm bảo cho quyền lợi của vợ chồng đối với tài sản chung Đồng thời tạo cơ sởpháp lý cho các Toà án nhanh chóng giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợchồng
1.2.2 Nội dung quyền sở hữu tài sản
Theo quy định tại Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 : “ Vợ, chồng đều cóquyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Tàisản chung của vợ chồng đợc chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thựchiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng”
Trang 8Nh vậy về mặt nguyên tắc vợ, chồng có quyền nghĩa vụ ngang nhau trongviệc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, nó xuất phát từ quyền bình
đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung Khoản 3 Điều 28 Luật HN&GĐ năm
2000 còn quy định: “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liênquan đến tài sản chung có giá trị lớn, hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình,việc dùng tài sản chung để đầu t kinh doanh phải đợc vợ chồng bàn bạc, thoảthuận, trừ tài sản chung đã đợc chia để đầu t kinh doanh riêng theo quy định tạikhoản 1 Điều 29” Cụ thể hoá quy định trên Luật HN&GĐ đã có hớng dẫn chitiết tại Điều 4 Nghị đinh số 70/2000/NĐ- CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ
Nh vậy, so với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy
định khá cụ thể và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sảnchung
Bên cạnh việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng, Luật HN&GĐnăm 2000 còn quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Quy định này gópphần làm lành mạnh hoá các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở để xâydựng những gia đình hoà thuận, hạnh phúc
2 Khái lợc vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam
2.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng
Mục đích của kết hôn là nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc, cùngnhau chung sống suốt đời nhng cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng “êm
đềm”.Trong quan hệ vợ chồng, yếu tố tình cảm thờng đợc đa lên vị trí hàng đầu,không có sự phân biệt rạch ròi nguồn gốc tài sản và tài sản của ai, nhng cuộcsống gia đình không tránh khỏi việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng quan
điểm trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung Chỉ đến khi mâuthuẫn trong gia đình phát sinh, lúc đó các tranh chấp về tài sản mới đựơc đặt ra,tuỳ theo mức độ khác nhau mà họ có thể yêu cầu ly hôn hay xin chia tài sảnchung mà không yêu cầu ly hôn
Chính vì vậy việc quy định chế định chia tài sản chung của vợ chồng trởthành một nhu cầu tất yếu đáp ứng đợc nhu cầu thực tế đặt ra Một mặt giải toả
đợc những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các cá nhân tự phát huy
đợc các khả năng của mình trong xã hội Mặt khác giúp cho các Toà án giảiquyết nhanh chóng các vụ việc
Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa LuậtHN&GĐ năm 1986 đã tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng Trongnhiều năm qua chế định này đã từng bớc đi vào cuộc sống phát huy đợc hiệu quả
điều chỉnh, góp phần xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam
Trang 9Vậy chia tài sản chung của vợ chồng là gì? Từ những phân tích trên ta cóthể đa ra khái niệm về chế định chia tài sản chung của vợ chồng nh sau:
Chia tài sản chung của vợ chồng là việc vợ chồng tự thoả thuận hoặc“
yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng dựa trên những
điều kiện nhất định, nhằm bảo đảm cho các bên tự chủ trong việc sử dụng, định
đoạt, tài sản của mình trong khối tài sản chung ”
2.2 Sơ lợc các trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
2.2.1 Cổ luật Phong kiến
ở thời kỳ này quan hệ gia đình mang nặng tính chất gia trởng, quyền uy,phục tùng trong đó ngời vợ phụ thuộc tuyệt đối vào ngời chồng Chế độ sở hữuchung của vợ chồng cũng đợc xác lập nhng vẫn còn hạn chế
Tiêu biểu ở giai đoạn này là hai bộ luật : Quốc Triều Hình Luật (QTHL)dới triều Lê và bộ Hoàng Việt Luật Lệ dới thời nhà Nguyễn Cả hai bộ luật này
đều ghi nhận sự tồn tại chế độ sở hữu chung về tài sản của vợ chồng, đấy chính
là “tần tảo điền sản”
Về vấn đề chia tài sản chung cổ luật phong kiến Việt Nam quy định hai ờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng : khi một bên chết trớc và chia tài sảnchung của vợ chồng khi ly hôn
tr-QTHL quy định khi vợ hoặc chồng chết thì điền sản đều đợc chia đôi mỗingời một phần Đây là một quy định tiến bộ thể hiện sự bình đẳng của ngời vợ
đối với ngời chồng trong quan hệ tài sản Tuy nhiên do hạn chế của xã hội bấygiờ nên quyền lợi của ngời vợ cũng cha thực sự đợc đảm bảo, thể hiện ở chỗ:
“nếu ngời vợ còn sống mà cải giá thì phải trả lại điền sản đã đợc chia”
Trờng hợp vợ chồng ly hôn, việc phân chia tài sản chung đợc quy địnhtrong QTHL nh sau : Nếu ly hôn mà có con thì tài sản chung không đợc chia;nếu vợ chồng không có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng đợc chia
đôi cho hai ngời Trờng hợp ngời vợ “phạm gian” mà ly hôn thì không nhữngkhông đợc chia tài sản chung, mà còn không lấy lại đợc tài sản riêng
Nh vậy luật Phong kiến do vẫn còn mang nặng t tởng lễ giáo, gia trởng, đềcao coi trọng vị trí, vai trò của ngời chồng trong gia đình, ngời đàn ông trong xãhội, nên quyền lợi của ngời phụ nữ vẫn cha đợc bình đẳng và cha đợc bảo đảm
2.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc
Sau khi hoàn tất tiến trình xâm lợc, để đảm bảo và duy trì nền móng cai trịthực dân ở nớc ta, thực dân Pháp đã chia nớc ta ra làm 3 miền với ba chế độ để
dễ bề cai trị ở mỗi miền áp dụng các Bộ luật Dân sự riêng, trong đó quy định
điều chỉnh các quan hệ về hôn nhân và gia đình
- Tại Bắc kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1931
Trang 10- Tại Trung kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật năm 1936.
- Tại Nam kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật Giản yếu năm 1883.Pháp luật thời kỳ này vẫn duy trì hai trờng hợp chia tài sản chung của vợchồng nh cổ luật là chia khi một bên chết trớc và chia tài sản chung khi ly hôn
Đối với trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn BDLBK quy
định, nếu vợ chồng có con mà ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng sẽ không
đ-ợc chia theo nguyên tắc chia đôi mà ngời vợ chỉ đđ-ợc chia một phần trong tài sảnchung tuỳ theo kỷ phần mà ngời vợ đã đóng góp Nếu “phạm gian” mà ly hôn thìphần mà ngời vợ đợc chia sẽ bị bớt đi một nửa Nếu ngời vợ ly hôn mà không cócon thì sẽ đợc lấy lại kỷ phần của mình và một nửa tài sản chung
Trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc, bộDLBK quy định không chia mà giữ nguyên, chỉ đặt ra vấn đề chia khi ngời vợcòn sống mà cải giá
Trong bộ dân luật Giản yếu 1883 không thừa nhận chế độ cộng đồng tạosản, toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của ngời chồng Do đókhông đặt ra vấn đề chia tài sản
Nh vậy chế độ hôn nhân của nớc ta ở thời kỳ Pháp thuộc là công cụ pháp
lý của giai cấp thống trị nhằm củng cố và bảo vệ lợi ích của mình Thời kỳ nàyquyền lợi của ngời phụ nữ, ngời vợ hầu nh không đơc pháp luật xem xét, coitrọng
2.2.3 Thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay
Cách mạng Tháng Tám thành công, nhà nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời Dù còn bận chống thù trong giặc ngoài, nhng Đảng và Nhà nớc ta vẫn chútrọng tới việc soạn thảo xây dựng hệ thống pháp luật nhằm củng cố và bảo vệthành quả của Cách mạng
Năm 1950 Nhà nớc ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về hôn nhân gia
đình là : Sắc lệnh số 97-SL và sắc lệnh số 159-SL Sắc lệnh vẫn duy trì các tr ờnghợp chia tài sản chung của luật cũ, tuy nhiên việc quy định về vấn đề chia tài sảncòn rất chung chung, Sắc lệnh cha quy định rõ về cách thức chia, nguyên tắcchia cũng nh hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung
ở thời kỳ này Nhà nớc ta cha ban hành bộ luật Dân sự mới, thay vào đó làviệc duy trì áp dụng BDLBK và BDLTK trên cơ sở có chọn lọc các yếu tố tiến
bộ, xóa bỏ các quy định hủ tục, lạc hậu Mà theo các bộ dân luật này quy định,chế độ tài sản chung của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản Do đó việc Sắcluật chỉ quy định các trờng hợp chia mà cha dự liệu nguyên tắc chia thì vẫn ápdụng nguyên tắc chia đôi
Năm 1959, lần đầu tiên Luật hôn nhân và gia đình đợc ra đời, hay còn gọi
là Đạo luật số 13 Theo Luật HN&GĐ năm 1959 tài sản chung của vợ chồng là
Trang 11tài sản chung hợp nhất, tức mọi tài sản mà vợ chồng có trớc và sau khi kết hôn
đều là tài sản chung của vợ chồng, luật không thừa nhận tài sản riêng Luật quy
định hai trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng là:chia tài sản chung của vợchồng khi một bên chết trớc và chia khi ly hôn
Trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc (Điều16) thì sẽ chia nh khi ly hôn Còn khi ly hôn việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự
đóng góp về công sức của mỗi bên, tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia
đình…
Luật HN&GĐ năm 1959 đã khắc phục đợc những hạn chế của hai sắclệnh khi quy định rõ nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng Đồng thờikhẳng định đợc bản chất pháp luật xã hội chủ nghĩa, là công cụ pháp lý của Nhànớc, phục vụ nhân dân lao động, là nền móng để từng bớc xây dựng nghành luậthôn nhân và gia đình trong hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa của Nhà nớc ta
Luật HN&GĐ năm 1986 đợc Nhà nớc ban hành vào những năm đầu củathời kỳ đổi mới
Về quy định chia tài sản chung của vợ chồng so với Luật HN&GĐ năm
1959 có điểm tiến bộ hơn, đó là quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong
ba trờng hợp : Chia khi ly hôn, chia khi một bên chết trớc và chia trong thời kỳhôn nhân.Về nguyên tắc chia tài sản khi một bên chết trớc và chia trong thời kỳhôn nhân sẽ chia nh khi ly hôn, đồng thời áp dụng cả pháp luật về thừa kế theothông t số 81/1988 Còn khi ly hôn sẽ theo nguyên tắc chia đôi
Kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy địnhviệc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong ba trờng hợp trên
Nh vậy trong từng thời kỳ, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử và thực tế lúcbấy giờ mà việc quy định về chia tài sản chung của vợ chồng có khác nhau LuậtHôn nhân và gia đình Việt Nam đang ngày một củng cố và hoàn thiện, góp phần
điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình ngày một tốt hơn Đồng thời thúc
đẩy xã hội ngày một tiến lên, xây dựng đất nớc ngày càng vững mạnh
Trang 12Chơng ii Các trờng hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo
luật hôn nhân và gia đình việt nam năm 2000
1 Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.1 Mục đích quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000cũng quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại
Điều 29 và quy định hậu quả chia tài sản chung của vợ chồng tại Điều 30
Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại,chế độ tài sản này chỉ chấm dứt về mặt pháp lý nh : ly hôn, một bên vợ hoặcchồng chết hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết Nhng các nhà làm luật vẫn đặt ravấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân, là xuất phát từthực tiễn đời sống xã hội, của các quan hệ hôn nhân và gia đình trong nhữngnăm vừa qua
Một số trờng hợp vợ chồng dù có mâu thuẫn sâu sắc, tình cảm không còn,nhng vì lý do nào đó nh : sợ ảnh hởng tới hòa khí trong gia đình, ảnh hởng tớicon cái, hàng xóm chê cời, tới danh dự uy tín của nhau… mà họ không yêu cầu
ly hôn, chỉ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng Chính vì vậy, việc chia tàisản chung khi hôn nhân tồn tại trở thành một nhu cầu tất yếu, đáp ứng đợc thực
tế đặt ra cho các cá nhân tự phát huy các khả năng của mình trong xã hội Mặtkhác, vừa giảm thiểu một tỷ lệ lớn các cặp vợ chồng xin ly hôn, hạn chế thấpnhất các tranh chấp phát sinh giữa vợ và chồng
Ngoài ra, việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hônnhân cũng thể hiện đợc t tởng lập pháp tiến bộ của nhà nớc ta, đó là quan tâm
đến lợi ích của từng cá nhân trong gia đình và trong các mối quan hệ ngoài xãhội.Với việc quy định vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hônnhân sẽ là cơ sở pháp lý để Tòa án giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợchồng
Sự vận động không ngừng của các quan hệ xã hội đòi hỏi việc ban hànhpháp luật phải kịp thời, do đó việc đặt ra chế định chia tài sản chung của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân là hết sức cần thiết, phù hợp với cuộc sống và tâm
lý nguyện vọng của nhân dân
1.2 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trang 13Theo quy định tại Điều 29, khoản 1 Luật HN&GĐ năm 2000 thì : “Khihôn nhân tồn tại, trong trờng hợp vợ chồng đầu t kinh doanh riêng, thực hiệnnghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lí do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏathuận chia tài sản chung”
Nh vậy, để đảm bảo đợc mục đích của việc chia tài sản chung của vợchồng trong thời kỳ hôn nhân thì cần phải đáp ứng các điều kiện sau :
- Vợ chồng đầu t kinh doanh riêng
- Vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
- Vợ chồng có lý do chính đáng khác
1.2.1 Chia tài sản chung khi vợ chồng đầu t kinh doanh riêng
Xuất phát từ quy định tại Điều 57 Hiến pháp năm 1992 “công dân cóquyền tự do kinh doanh theo pháp luật” Việc ghi nhận quyền chia tài sản chungcủa vợ chồng để đầu t kinh doanh riêng là sự cụ thể hóa một trong những quyềnhiến định của công dân
Chia tài sản chung của vợ chồng trong trờng hợp vợ chồng đầu t kinhdoanh riêng, xuất phát từ việc tôn trọng quyền tự do của cá nhân, nếu một tronghai vợ chồng muốn đầu t kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung của vợchồng
Nhà nớc ta ngày càng mở cửa thị trờng đã tạo ra nhiều cơ hội cho các chủthể tham gia vào hoạt động đầu t kinh doanh Bên cạnh những “cơ hội làm giàu”thì nền kinh tế thị truờng cũng đặt ra không ít thử thách, đòi hỏi các chủ thể kinhdoanh phải luôn nhạy bén, tỉnh táo để nắm bắt tốt “ thời cơ ” và điều quan trọng
là phải chủ động về vốn Cho nên nhiều khi chỉ ví một lý do nào đó mà vợ chồngkhông thống nhất đợc với nhau trong việc sử dụng tài sản chung vào việc đầu tkinh doanh nên để “lỡ mất cơ hội”
Quy định này một mặt tạo điều kiện cho vợ, chồng có tài sản riêng làmvốn đầu t kinh doanh hoặc “chớp thời cơ” khi tài sản riêng của một bên không
đủ, mà bên kia lại không đồng ý sử dụng vào công việc kinh doanh, buôn bán
đó Mặt khác quy định này còn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, bảo đảm cuộcsống ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi những ảnh hởng tiêucực, hạn chế rủi ro do hoạt đồng đầu t kinh doanh gây ra
1.2.2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng
Đây là trờng hợp vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nh : trớckhi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân, ngời vợ hoặc ngời chồng đó đã vay nợ
sử dụng vào nhu cầu riêng, nghĩa vụ bồi thờng thiệt hại do hành vi trái pháp luậtgây ra, nghĩa vụ cấp dỡng, nuôi dỡng ngời khác… Nếu tài sản riêng không cóhoặc không đủ mà vợ chồng không thỏa thuận đợc về việc lấy tài sản chung để
Trang 14thực hiện nghĩa vụ riêng cho một bên thì vợ, chồng có quyền yêu cầu chia tài sảnchung trong thời kỳ hôn nhân để ngời vợ, chồng lấy phần tài sản của mình trongkhối tài sản chung của vợ chồng nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng của mìnhmột cách độc lập mà không làm ảnh hởng tới quyền lợi của phía bên kia.
1.2.3 Chia tài sản chung của vợ chồng khi có lý do chính đáng khác
ở đây hiểu thế nào là “có lý do chính đáng khác”của vợ, chồng để chia tàisản chung khi hôn nhân còn tồn tại, cho đến nay dù đã có hai văn bản hớng dẫn
là Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của HĐTPTANDTC hớngdẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số70/2001/NQ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành LuậtHN&GĐ năm 2000 nhng vẫn cha có một hớng dẫn đề cập vấn đề này
Việc cha có hớng dẫn cụ thể về “có lý do chính đáng khác” nên trong thựctiễn áp dụng luật còn gặp nhiều vớng mắc Sự tùy tiện nhiều khi mang đậm màusắc chủ quan của các thẩm phán khi xét xử trong việc công nhận có hay không
có lý do chính đáng sẽ dẫn đến tình trạng thiếu sự thống nhất trong cách thứcgiải quyết của Tòa án, Tòa án này thì cho một vụ việc cụ thể nào đó là có lý dochính đáng nhng Tòa án khác thì lại cho rằng đó không phải là lý do chính đáng
và không cho chia tài sản chung của vợ chồng
Theo em, pháp luật cần phải cụ thể hơn thế nào là có lý do chính đáng, tạo
sự đồng bộ trong cách hiểu và áp dụng pháp luật của các cấp xét xử Có thể coi
là có lý do chính đáng khi thuộc một trong các trờng hợp sau:
+ Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích theo quyết định đã có hiệulực pháp luật của Tòa án
+ Vợ chồng tính tình không hợp nhau nhng con cái đã lớn hoặc là ngời có
địa vị trong xã hội, có bằng cấp họ có mâu thuẫn với nhau nhng không muốn lyhôn vì sợ ảnh hởng đến danh dự, uy tín
+ Một bên vợ chồng có hành vi phá tán tài sản của gia đình nh rợu chè, cờbạc, nghiện hút… thì bên kia có thể yêu cầu chia tài sản chung khi hôn nhân tồntại
+ Do mâu thuẫn giữa con chung và con riêng hoặc mâu thuẫn trong cáchquản lý, sử dụng tài sản vì nhu cầu của gia đình
Nh vậy với việc quy định cụ thể, rõ ràng về lý do chính đáng sẽ tạo điềukiện thuận lợi, dễ dàng cho việc áp dụng của các Tòa án
Ngoài ra Luật HN&GĐ năm 2000 còn quy định việc chia tài sản chungcủa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải lập thành văn bản Trong trờng hợp vợchồng không thỏa thuận đợc về việc chia tài sản chung thì có quyền yêu cầu Tòa
án giải quyết Vấn đề đặt ra là “bản thỏa thuận” về chia tài sản chung của vợchồng khi hôn nhân tồn tại, nên chăng cần phải đợc sự công nhận của Tòa án
Trang 15hay một cơ quan nhà nớc có thẩm quyền và sự “can thiệp” của Tòa án chỉ đặt rakhi vợ chồng không thỏa thuận đợc việc chia tài sản chung? Thiết nghĩ cần phải
có các văn bản hớng dẫn cụ thể về vấn đề này, để tránh tình trạng vợ chồng dựavào các lý do không chính đáng để chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Để hạn chế các cặp vợ chồng trong thực tế lạm dụng quyền trong việc chiatài sản chung nhằm mu cầu lợi ích trái pháp luật, xâm phạm tới quyền lợi củangời khác, khoản 2 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định : “Việc chiatài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không
đợc pháp luật công nhận” Cụ thể hóa điều này, Điều 11 Nghị định số70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ có hớng dẫn các trờng hợp đợccoi là “ trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản” nh sau:
“1.Nghĩa vụ nuôi dỡng, cấp dỡng ngời khấc theo quy định của pháp luật
2 Nghĩa vụ bồi thờng thiệt hại
3 Nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp
4 Nghĩa vụ nộp thuế và nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nớc
5 Nghĩa vụ trả nợ cho ngời khác
6 Các nghĩa vụ về tài sản khác theo quy định của pháp luật.”
Nh vậy, nếu phát hiện việc vợ chồng có yêu cầu chia tài sản chung “nhằmtrốn tránh nghĩa vụ về tài sản” thì phán quyết của Tòa án phải bị hủy bỏ
Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân tồn tại khôngphải gián tiếp quy định về chế độ ly thân Theo các bộ luật dân sự cũ thì ly thân
đợc hiểu là trờng hợp vợ chồng sống cách biệt nhau trong một thời gian nhất
định và tài sản của vợ chồng đợc thực hiện theo chế độ biệt sản Nghĩa là phầntài sản của mỗi ngời đợc chia trong khối tài sản chung và mọi tài sản mà mỗibên tạo ra khi sống ly thân là tài sản riêng của mỗi ngời Theo Ph.Angghen, lythân có nguồn gốc từ tôn giáo và đợc giải quyết dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng.Nhà làm luật t sản cho rằng ly thân là một giải pháp nhằm giải tỏa xung độttrong quan hệ vợ, chồng; mặt khác, thời hạn mà vợ chồng ly thân do Tòa ánquyết định sẽ tạo cơ hội để vợ chồng suy xét lại, nhằm hàn gắn mâu thuẫn giữa
vợ chồng, vợ chồng chung sống đoàn tụ không phải ly hôn [18,tr 120] Hay nóicách khác đi chia tài sản khi hôn nhân tồn tại chủ yếu xuất phát từ những lý do
về mặt tài sản, còn với trờng hợp ly thân bao giờ cũng xuất phát từ yếu tố tìnhcảm
Nh vậy Luật HN&GĐ của Nhà nớc ta không quy định về vấn đề ly thân,
điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của hôn nhân đợc xác lập dới chế độXã hội chủ nghĩa
1.3 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trang 16Về phơng diện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân,Luật HN&GĐ năm 2000 cho phép vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chungbằng văn bản hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.3.1 Nguyên tắc tự thỏa thuận của vợ chồng
Trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sảnchung, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia tàisản chung trong thời kỳ hôn nhân Đây chính là điểm mới của Luật HN&GĐnăm 2000 so với Luật HN&GĐ năm 1986
Để tránh việc “thỏa thuận” của vợ chồng nhằm mục đích tẩu tán, trốntránh nghĩa vụ tài sản, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định việc thỏa thuận của vợchồng phải lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung nh : lý do chia tài sản, phầntài sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm có hiệu lực củaviệc chia tài sản chung và những nội dung khác nếu có Văn bản thỏa thuận cóthể có ngời làm chứng hoặc đợc công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ,chồng hoặc theo quy định của pháp luật (Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CPngày 3/10/2001 của Chính phủ ) Nếu việc thỏa thuận này nhằm mục đích trốntránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không đợc pháp luật công nhận
Thực tiễn xét xử cho thấy, nếu các đơng sự thỏa thuận đợc với nhau về cácvấn đề đang có tranh chấp sẽ là biện pháp hữu hiệu hơn cả, tránh đợc những mâuthuẫn bất đồng khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Vợ chồng có thể thỏa thuận về hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia
là sở hữu riêng của mỗi ngời hay là tài sản chung hoặc có thể thỏa thuận về thunhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp phápkhác của một bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng hayvẫn là tài sản chung ( Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 củaChính phủ )
Nh vậy Luật HN&GĐ năm 2000 rất đề cao nguyên tắc tự thỏa thuận khichia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.Tuy nhiên ở đây đòi hỏi
sự thỏa thuận của vợ chồng phải trung thực, tự nguyện, không đợc lừa dối, cỡng
ép, có nh vậy mới đảm bảo đợc quyền lợi của các bên vợ chồng
1.3.2 Nguyên tắc vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
Trờng hợp vợ, chồng không thỏa thuận đợc việc chia tài sản chung thì cảhai bên hoặc một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.Tuy nhiên Luật lạikhông quy định rõ nguyên tắc chia nh thế nào, dẫn đến thực tế áp dụng ở cácTòa án hiện nay gặp rất nhiều vớng mắc
Luật HN&GĐ năm 1986, tại Điều 18 có quy định việc chia tài sản chungcủa vợ chồng khi hôn nhân tồn tại nh chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Trang 17Nên chăng Luật HN&GĐ năm 2000 cũng nên quy định nh vậy! Vì vậy theo emcần phải có văn bản hớng dẫn quy định cụ thể về vấn đề này tạo cơ sở pháp lýcho các Tòa án khi giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhântồn tại.
1.4.Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.4.1 Hậu quả pháp lý về nhân thân
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan
hệ vợ chồng trớc pháp luật, giữa hai bên vẫn tồn tại mọi quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng nh nghĩa vụ chăm sóc, giúp dỡ lẫn nhau; nghĩa vụ chung thủy, cóquyền lựa chọn nghề nghiệp chính đáng , quyền lựa chọn nơi c trú, quyền thừa
kế tài sản của nhau khi một bên chết trớc… Việc vợ chồng ở chung hay ở riêngvới nhau sau khi chia tài sản chung là tùy thuộc vào thực tế đời sống cụ thể của
vợ chồng, điều này không làm hạn chế các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ
và chồng theo quy định của pháp luật.Vì vậy, việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân không có nghĩa là quy định về chế độ ly thân Do quan hệ hôn nhânvẫn đang tồn tại nên trên cơ sở tính chất cộng đồng của hôn nhân, khối tài sảnchung của vợ chồng phát sinh sau khi chia tài sản chung về nguyên tắc vẫn là sởhữu chung hợp nhất, trừ trờng hợp các bên có thỏa thuận khác
1.4.2 Hậu quả pháp lý về tài sản
Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Hoa lợi, lợi tức phát sinh từtài sản đã đợc chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi ngời; phần tài sản còn lạikhông chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng” Nh vậy, nếu vợ chồng thỏathuận chia một phần tài sản chung thì phần đã chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từphần tài sản đã chia đó thuộc sở hữu riêng của vợ chồng; phần tài sản chung cònlại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng
Vấn đề đặt ra là, trờng hợp vợ chồng yêu cầu chia toàn bộ tài sản chungthì không còn căn cứ phát sinh tài sản chung nữa, nh vậy việc chi dùng trong gia
đình và các nghĩa vụ chung của vợ chồng sẽ đợc giải quyết nh thế nào? Tráchnhiệm của các bên trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của gia đình sẽ đợcgiải quyết ra sao? Vô hình chung quy định này có thể làm ảnh hởng tới sự ổn
định của gia đình, mất đi bản chất, chức năng của gia đình xã hội chủ nghĩa! Bởivậy nhà làm luật cần phải có những quy định chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo cuộcsống ổn định của gia đình
Mặt khác Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chínhphủ còn quy định: “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh vànhững thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sảnriêng của vợ, chồng, trừ trờng hợp vợ chồng có thỏa thuận khác” Theo quy định
Trang 18này thì sau khi chia tài sản chung, mọi thu nhập mà mỗi bên có đợc sẽ khôngthuộc sở hữu chung hợp nhất nữa Điều này có nghĩa là kể từ khi chia tài sảnchung của vợ chồng, chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng sẽ chấm dứt
Quy định này là mâu thuẫn với khoản 1 Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000vì xuất phát từ tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân, thì tài sản do vợ chồng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng, không phân biệtmức đóng góp, thu nhập của mỗi bên, không đòi hỏi phải do cả hai bên cùng trựctiếp tạo ra, do đó cần kịp thời có sửa đổi quy định này Hơn nữa với quy định này
sẽ tao ra “lỗ hổng pháp luật” cho việc “trốn tránh” trách nhiệm đóng góp của vợchồng vào đời sống chung của gia đình.Vì vậy theo em, cần phải có quy định cụthể về trách nhiệm của vợ chồng đối với đời sống chung của gia đình khi chia tàisản chung
Qua phân tích trên cho thấy, quy đinh về hậu quả pháp lý của việc chia tàisản chung trong thời kỳ hôn nhân là cha đầy đủ, cha hợp lý và chính xác LuậtHN&GĐ cần quy định rõ hơn trách nhiệm của các bên đối việc duy trì sự ổn
định và phát triển của gia đình sau khi chia tài sản chung Và quy định rõ nhữngtài sản mà vợ chồng có đợc sau khi chia tài sản chung do đợc thừa kế chung,tặng cho chung là tài sản chung của vợ chồng, trừ trờng hợp ngời để lại di sảnthừa kế, ngời tặng cho tài sản đã có sự phân định rõ quyền của mỗi bên vợ,chồng trong khối tài sản đó
Sau khi chia tài sản, vợ chồng có thể khôi phục lại chế độ tài sản chung,trên cơ sở có văn bản thỏa thuận giữa vợ chồng về việc khôi phục tài sản chung
và có ngời làm chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc theo quy
định của pháp luật.( Điều 9 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 củaChính phủ)
Với điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện nay, việc quy định chia tài sảnchung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là rất cần thiết, đáp ứng đợc xu thếphát triển của xã hội và nhu cầu của thực tiễn Tuy nhiên để đảm bảo hiệu quả
điều chỉnh của pháp luật, giải quyết tốt các tranh chấp có thể xảy ra thì pháp luậtcần quy định về vấn đề này một cách chặt chẽ, logic và hợp lý hơn
2 Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc hoặc bị tòa án tuyên bố là đã chết
2.1 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Nếu kết hôn là sự kiện làm gắn kết những “cá nhân” độc lập để trở thànhmột “thực thể” mới – Một số vấn đề lý luận và thực gia đình, nhằm mục đích chung sống với nhau suốt đời,xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, thì chết lại là sự kiện làm chấm dứt quan
hệ hôn nhân giữa vợ chồng Việc một bên chết trớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là
Trang 19đã chết sẽ làm chấm dứt hoàn toàn quan hệ nhân thân cũng nh quan hệ tài sảngiữa các bên Do vậy để đảm bảo quyền lợi cho bên còn sống và quyền lợi củanhững ngời thừa kế tài sản khác, pháp luật HN&GĐ có đặt ra vấn đề chia tài sảnchung của vợ chồng khi một bên chết trớc và việc thừa kế tài sản giữa vợ chồng.
Khoản 1 Điều 31 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : “Vợ chồng cóquyền thừa kế tài sản của nhau theo quy định của pháp luật về thừa kế ”Hay nóicách khác vợ, chồng có thể thừa kế tài sản của nhau theo di chúc hoặc theo phápluật
2.1.1.Thừa kế theo pháp luật
Thừa kế theo pháp luật đợc đặt ra khi một bên vợ hoặc chồng có di sảnthừa kế chết đi, nhng không lập di chúc hoặc có di chúc nhng di chúc không hợppháp
Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng, điều kiện và trình tự thừa kế
do pháp luật quy định, tại điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 quy định: vợ,chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với cha mẹ đẻ (nuôi) và con đẻ (nuôi)của ngời chết
Điều kiện để vợ, chồng đợc hởng di sản thừa kế của nhau theo luật là giữa
họ phải tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp, tức đó là quan hệ hôn nhân có
đăng ký kết hôn, không vi phạm các trờng hợp cấm kết hôn và tuân thủ đầy đủcác điều kiện kết hôn Ngoài ra, quan hệ “hôn nhân thực tế” cũng đợc coi là cógiá trị pháp lý khi thỏa mãn các quy định của pháp luật
Theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X
về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tại mục 3 điểm a, b có hớngdẫn về “ hôn nhân thực tế ”nh sau:
a) Trong trờng hợp quan hệ vợ chồng đợc xác lập trớc ngày 03 tháng 01năm 1987, ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực, mà cha đăng
ký kết hôn thì đợc khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trờng hợp có yêu cầu lyhôn thì đợc Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000;
b) Nam và nữ sống chung với nhau nh vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm
1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy địnhcủa Luật này thì có nghiã vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ nàyLuật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà
họ không đăng ký kết hôn, nhng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy
định về ly hôn của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì phápluật không công nhận họ là vợ chồng;”
Trang 20Nh vậy trên đây là các trờng hợp đã đợc pháp luật cộng nhận là quan hệ
“hôn nhân thực tế ”, do đó đến trớc ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ vẫn cha
đăng ký kết hôn nhng có một bên vợ hoặc chồng chết thì bên còn sống vẫn cóquyền thừa kế tài sản của bên đã chết
Trờng hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc hồi năm 1954, đã có
vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ hoặc lấy chồng ở miền Bắc thì theo hóngdẫn của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 tại mục 2 điểm d3,thì vẫn xử lý theo Thông t số 60 TATC ngày 22/2/1978 của TANDTC Theo tinhthần của thông t, thì đây là trờng hợp ngoại lệ, là hậu quả của chiến tranh, vì vậycuộc hôn nhân sau của cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc vẫn là cuộc hôn nhânhợp pháp Trừ khi có căn cứ cho rằng ngời vợ hoặc ngời chồng tập kết đã có vợhoặc chồng ở miền Nam nhng lại nói dối là cha có nay ngời vợ hoặc chồng saucho rằng mình bị lừa dối nên xin hủy việc kết hôn của họ, thì Tòa án xử hủy việckết hôn Bởi vậy nếu một bên vợ hoặc chồng chết thì ngời vợ hoặc chồng sau vẫn
có quyền thừa kế tài sản của ngời đã chết
Ngoài ra, Điều 680 BLDS năm 2005 còn quy định việc thừa kế trong trờnghợp vợ, chồng đã chia tài sản chung, đang xin ly hôn hoặc đã kết hôn với ngờikhác nh sau:
“1.Trong trờng hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồntại mà sau đó một ngời chết thì ngời còn sống vẫn đợc thừa kế di sản” Mặc dù
có chia tài sản chung nhng về bản chất mối quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại chonên quyền thừa kế của các bên là đơng nhiên
“2 Trong trờng hợp vợ, chồng xin ly hôn mà cha đợc hoặc đã đợc Tòa áncho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định cha có hiệu lực pháp luật, nếu một ngờichết thì ngời còn sống vẫn đợc thừa kế di sản.” Quan hệ hôn nhân chỉ thực sựchấm dứt khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa có hiệu lực pháp luật Haynói cách khác quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại nên một bên vợ hoặc chồng vẫn
có quyền hởng di sản thừa kế khi một bên chết trớc
“3 Ngời đang là vợ hoặc chồng của một ngời tại thời điểm ngời đó chếtthì dù sau đó đã kết hôn với ngời khác vẫn đợc thừa kế di sản.” Đây là trờng hợp
mà tại thời điểm một bên vợ hoặc chồng chết, thì quan hệ hôn nhân giữa họ vớingời còn sống vẫn còn tồn tại do đó để bảo vệ quyền thừa kế của ngời còn sốngnên ngay cả khi họ đã kết hôn với ngời khác thì pháp luật vẫn cho họ đợc thừa kế
di sản của ngời đã chết Mặt khác xóa bỏ triệt để ảnh hởng của pháp luật phongkiến về quan hệ bất bình đẳng giữa vợ chồng trong quan hệ thừa kế
2.1.2 Thừa kế theo di chúc
Trờng hợp một bên vợ hoặc chồng có di sản thừa kế trớc khi chết có để lại
di chúc (di chúc hợp lệ), quy định rõ những chủ thể nào đợc hởng di sản, “kỷ
Trang 21phần” bao nhiêu, thời điểm chia lúc nào… thì phải chia theo di chúc Tuy nhiên
để đảm bảo quyền lợi cho bên còn sống đủ điều kiện đợc hởng di sản thừa kế,nhng vì một lý do nào đó mà bị ngời lập di chúc truất quyền thừa kế, tại Điều
669 BLDS năm 2005 quy định : trờng hợp bên vợ hoặc chồng còn sống không
đ-ợc ngời lập di chúc cho hởng tài sản hoặc chỉ cho hởng phần di sản ít hơn haiphần ba suất của một ngời thừa kế theo pháp luật thì họ vẫn đợc hởng một kỷphần bằng hai phần ba của một suất chia theo luật, trừ trờng hợp họ từ chối
Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi của bên vợ hoặc chồng còn sống, giúp họ
ổn định và duy trì cuộc sống bình thờng, Luật HN&GĐ năm 2000 tại khoản 3
Điều 31 còn quy định việc hạn chế quyền yêu cầu chia di sản thừa kế : “Trongtrờng hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hởng nghiêm trọng
đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống cóquyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những ngời thừa kế đợc hởng nh-
ng cha cho chia di sản trong một thời hạn nhất định; nếu hết thời hạn do Tòa ánxác định hoặc bên còn sống đã kết hôn với ngời khác thì những ngời thừa kếkhác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế ”
Vậy thế nào là “ảnh hỏng nghiêm trọng đến đời sống”? và thế nào là “thờihạn nhất định”? Theo hớng dẫn tại mục 4 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP và
Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ thì : thờihạn cha cho chia di sản thừa kế theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Luật HN&GĐnăm 2000 là không quá ba năm Việc chia di sản ảnh hởng nghiêm trọng đến đờisống của bên còn sống và gia đình là trờng hợp nếu chia di sản thì bên còn sống
và gia đình không thể duy trì cuộc sống bình thờng do không có chỗ ở, mất t liệusản xuất duy nhất để tạo thu nhập hoặc vì lý do chính đáng khác Trong thời gianTòa án cha cho chia di sản, bên còn sống chỉ có quyền sử dụng, khai thác để h-ởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản và phải giữ gìn, bảo quản di sản, không đ-
ợc thực hiện các giao dịch liên quan đến việc định đoạt di sản, nếu không đợc sự
đồng ý của những ngời thừa kế khác
Đây là một quy định mới của Luật HN&GĐ năm 2000, nó xuất phát từ
đời sống thực tiễn của xã hội và nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên vợ, chồng vàgia đình
Nh vậy trên đây là những điều kiện để chia tài sản chung của vợ chồng khimột bên chết trớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
2.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
Luật HN&GĐ năm 2000 không dự liệu nguyên tắc chia tài sản chung của
vợ chồng khi một bên chết trớc, dẫn tới những cách hiểu không thống nhất khi
áp dụng luật trong từng trờng hợp cụ thể này
Trang 22Trớc đây theo quy định tại Điều 17 Luật HN&GĐ năm 1986 thì khi mộtbên vợ, chồng chết trớc, nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng “ thì chia đôi”,phần tài sản của ngời chết đợc chia theo quy định của pháp luật về thừa kế Theo
em đây là một quy định hợp lý, bởi quan hệ tài sản của vợ chồng là quan hệ sởhữu chung hợp nhất ; mọi tài sản do vợ chồng lao động , sản xuất kinh doanh vànhững thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân;những tài sản mà vợ chồng đợc thừa kế chung , tặng cho chung đều là tài sảnchung của vợ chồng Vợ chồng có quyền sở hữu ngang nhau đối với khối tài sảnchung mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên vào việc xâydựng và phát triển vào khối tài sản chung nhiều hay ít
Cho nên Luật HN&GĐ năm 2000 cần phải bổ sung vào quy định tại Điều
31 về nguyên tắc chia tài sản chung, tạo cơ sở pháp lý khi giải quyết việc phânchia tài sản, tránh việc tùy tiện khi áp dụng của các Tòa án
Tuy nhiên thực tế cuộc sống vẫn phải tiếp diễn, không thể “ ngồi chờ” sựhớng dẫn, chỉ đạo từ trên thì mới giải quyết yêu cầu Bởi vậy trên thực tế, trongcác trờng hợp cần phải chia tài sản chung của vợ chồng thì nguyên tắc chia đôitài sản chung của vợ chồng luôn đợc Tòa án áp dụng trớc tiên Thông thờng vấn
đề chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc chỉ đợc đặt ra nếu ngời
để lại di chúc yêu cầu chia di sản thừa kế hoặc những ngời thừa kế có yêu cầuchia di sản thừa kế Trong trờng hợp này là chia “bình quân”, áp dụng cho tất cảcác cặp vợ chồng trong thực tiễn, không phải căn cứ vào công sức đóng góp của
vợ, chồng trong việc tạo dựng tài sản chung
Nh vậy, dựa trên bản chất của quan hệ hôn nhân và tính chất sở hữu chunghợp nhất về tài sản của vợ chồng, việc phân chia tài sản chung của vợ chồng khimột bên chết trớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết theo nguyên tắc chia đôi làhoàn toàn phù hợp về mặt lý luận cũng nh thực tiễn cuộc sống
2.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
2.3.1 Quan hệ nhân thân
Nếu việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khônglàm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, thì việc chia tài sản chungcủa vợ chồng do một bên chết trớc hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết sẽ làmchấm dứt hoàn toàn quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng Ngời vợ hoặc ngòichồng còn lại có thể “ở vậy” nuôi con hoặc “đi tiếp bớc nữa” Xuất phát từ bảnchất của pháp luật hôn nhân Xã hội chủ nghĩa là hớng tới con ngời, pháp luậthoàn toàn không can thiệp vào “quyết định” của họ Bên vợ hoặc chồng còn sốngkhông phải thực hiện nghĩa vụ chung thủy mà có quyền kết hôn với ngời kháctheo nguyên tắc tự do hôn nhân phù hợp với quy định của pháp luật về điều kiện
Trang 23kết hôn và cấm kết hôn mà không bị ràng buộc bởi thời kỳ “c tang” hay các quanniệm, hủ tục phong kiến lạc hậu khác.
2.3.2 Quan hệ tài sản
Sau khi bản án hoặc quyết định của Tòa án, về phân chia tài sản chung của
vợ chồng khi một bên chết trớc, có hiệu lực pháp luật thì quan hệ tài sản giữa vợchồng cũng hoàn toàn chấm dứt
Một vấn đề đặt ra là, trờng hợp một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố
là đã chết nay quay trở về Vấn đề sẽ chẳng có gì nếu ngời vợ hoặc ngời chồng
“còn sống” cha kết hôn với ngời khác, trờng hợp họ đã kết hôn với ngời khác thìquan hệ nhân nhân và quan hệ tài sản giữa họ với ngời bị tuyên bố là đã chết sẽgiải quyết nh thế nào? Quan hệ hôn nhân sau có đợc pháp luật thừa nhận không?Vấn đề tài sản của ngời bị tuyên bố là đã chết sẽ giải quyết ra sao?
Theo quy định tại Điều 83 BLDS năm 2005 thì ngời bị Tòa án tuyên bố là
đã chết hoặc ngời có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết
định hủy bỏ quyết định tuyên bố ngời đố là đã chết Trờng hợp vợ hoặc chồngcủa ngòi bị tuyên bố là đã chết đã kết hôn với ngời khác thì quan hệ hôn nhânsau vẫn đợc thừa nhận, còn quan hệ hôn nhân trớc sẽ không đợc phục hồi Ngời
bị tuyên bố là đã chết mà còn sống có quyền yêu cầu những ngời đã nhận tài sảnthừa kế trả lại tài sản, giá trị tài sản hiện còn
Việc Tòa án tuyên bố một ngời đã chết, thì cái chết “pháp lý” này cũng cógiá trị ngang bằng với cái chết sinh học thông thờng Cho nên khi bản án hoặcquyết định này của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân giữa bêncòn sống với bên đã chết hoàn toàn chấm dứt Điều này cũng đồng nghĩa vớiviệc quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu chung hợp nhất về tài sản cũng chấmdứt Tuy nhiên Điều 83 BLDS năm 2005 và Điều 26 Luật HN&GĐ năm 2000 lạiquy định: “khi toà án ra quyết định huỷ bỏ tuyên bố một ngời là đã chết theo quy
định tại Điều 83 của BLDS năm 2005 mà vợ hoặc chồng của ngời đó cha kết hônvới ngời khác thì quan hệ hôn nhân đơng nhiên đợc khôi phục”
Quy định này liệu có hợp lý và mâu thuẫn không? khi mà thời điểm đểxác định sở hữu chung hợp nhất đợc khôi phục không rõ ràng; tài sản mà ngờicòn sống làm ra đợc kể từ khi ngời bị tuyên bố là đã chết trở về là sở hữu chunghay sở hữu riêng? Thực tế cho thấy đây còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi, do đócần phải có văn bản hớng dẫn quy định cụ thể về vấn đề này, nhằm mục đích
đảm bảo quyền lợi cho các bên vợ, chồng, đồng thời tạo ra việc thống nhất trongviệc áp dụng pháp luật giữa các Tòa án
3 Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
3.1 Căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Trang 24“Ngời ta không thể là một ngời dân chủ và xã hội chủ nghĩa nếu ngay từbây giờ, không đòi quyền hoàn toàn tự do ly hôn, vì thiếu quyền tự do ấy là một
sự ức hiếp lớn đối với giới bị áp bức, đối với phụ nữ, tuy hoàn toàn chẳng khókhăn gì mà không hiểu đợc rằng khi ta thừa nhận cho phụ nữ đợc tự do bỏ chồng,thì không phải là ta khuyên tất cả họ bỏ chồng” [13 ,tr163]
Xuất phát từ tình yêu đôi lứa, nhằm mục đích xây dựng một mái ấm gia
đình, cùng chung tay vun đắp cuộc sống chung mà quan hệ hôn nhân đợc xáclập Tuy nhiên, trong cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng “ xuôi chèomát mái” đợc, “sóng gió” là điều không thể tránh khỏi Và khi đời sống chungcủa vợ chồng đã đến mức “rạn nứt” sâu sắc, họ không còn đủ sức để “chèo láicon thuyền gia đình” đi đến “bến bờ hạnh phúc” nữa thì vấn đề ly hôn đợc đặt ra
nh một giải pháp để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏimâu thuẫn gia đình
Nếu kết hôn là hiện tợng bình thờng nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì lyhôn là hiện tợng bất bình thờng, là mặt trái của hôn nhân, nhng là mặt không thểthiếu đợc khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, thực chất quan hệ vợ chồng đãhoàn toàn mất hết ý nghĩa
Phụ thuộc vào ý chí của giai cấp thống trị mỗi nhà nớc khác nhau thì quy
định về chế độ ly hôn khác nhau ở nhà nớc Phong kiến và nhà nớc T bản quy
định giải quyết ly hôn là dựa vào cơ sở lỗi của vợ chồng Nhà nớc t bản coi hônnhân nh hợp đồng dân sự nên chấm dứt hôn nhân cũng nh chấm dứt hợp đồng làdựa vào lỗi của các bên Pháp luật hôn nhân và gia đình Xã hội chủ nghĩa xuấtphát từ nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, nam nữ đợc tự do kết hôn cũng nh đợc tự
do ly hôn trong khuôn khổ cho phép của pháp luật; việc giải quyết ly hôn khôngdựa vào lỗi của vợ chồng mà giải quyết theo đúng thực chất của quan hệ hônnhân, đó là tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đíchcủa hôn nhân không đạt đợc
Trong những năm gần đây, các vụ án ly hôn có chiều hớng gia tăng, đặcbiệt là những án kiện về việc giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng chiếm tỉ
lệ khá cao, gây trở ngại cho sự nghiệp phát triển chung của xã hội, làm tổn hạitrực tiếp tới mỗi con ngời Do đó cần có sự điều chỉnh một cách chính xác, hợp
lý, hợp tình của các chế định pháp luật, mà cụ thể là Luật HN&GĐ tạo cơ sởpháp lý vững chắc cho Tòa án khi giải quyết việc phân chia tài sản chung của vợchồng khi ly hôn
So với Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định vấn đềchia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tơng đối cụ thể, rõ ràng Bên cạnhviệc quy định nguyên tắc chung về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ở
Điều 95 còn quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong một số trờng