Nguyễn Phương Lan * iều 30 Luật hôn nhân và gia đình HN&GĐ năm 2000 quy định: "Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đ được chia thuộ
Trang 1ThS Nguyễn Phương Lan * iều 30 Luật hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ) năm 2000 quy định: "Trong
trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng
thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đ
được chia thuộc sở hữu của mỗi người; phần
tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu
chung của vợ chồng" Quy định trên tuy có
cụ thể hơn so với Điều 18 Luật HN&GĐ
năm 1986 song vẫn còn tồn tại một số vấn đề
vướng mắc cần có quan điểm thống nhất về
lí luận cũng như trong thực tiễn xét xử Đó là
các vấn đề sau:
1 Quan hệ nhân thân
Việc chia tài sản chung trong thời kì hôn
nhân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng
trước pháp luật, do đó giữa hai bên vẫn tồn
tại mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng như
nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa
vụ chung thuỷ, quyền chung sống với nhau
tại một nơi, quyền thừa kế tài sản của nhau
khi một bên chết trước Vì vậy, việc chia tài
sản chung trong thời kì hôn nhân không có
nghĩa là quy định về li thân Sau khi chia tài
sản chung, vợ chồng có ở riêng hay không là
tuỳ thộc vào thực tế đời sống cụ thể của vợ
chồng, vào ý muốn của vợ chồng, do vợ
chồng quyết định Nếu sau khi chia tài sản
chung mà vợ chồng có ở riêng thì đó cũng
chỉ là trường hợp cá biệt, không phổ biến
Trong đa số các trường hợp, sau khi chia tài
sản chung, vợ chồng vẫn chung sống bình thường với nhau, cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình phù hợp với tình cảm và nguyện vọng của bản thân Do quan
hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại nên trên cơ sở tính chất cộng đồng của hôn nhân, khối tài sản chung của vợ chồng phát sinh sau khi đd chia tài sản chung về nguyên tắc vẫn là sở hữu chung hợp nhất, trừ trường hợp các bên
có thỏa thuận khác
2 Quan hệ tài sản Theo quy định tại Điều 29 và 30 Luật HN&GĐ năm 2000, chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân có thể chia toàn bộ hoặc chia một phần tài sản chung tuỳ theo sự thoả thuận của vợ chồng Nếu vợ chồng không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết Đây là điểm khác so với Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 quy định: "Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên có yêu cầu và có lí do chính
đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này", tức là chia tài sản như khi li hôn Vì vậy, "sau khi chia tài sản chung theo Điều 18 thì nên hiểu chế độ tài sản chung của vợ chồng sẽ chấm dứt kể từ thời điểm phán
Đ
* Giảng viên chính Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2quyết của tòa án có hiệu lực pháp luật".(1) So
với Điều 18 Luật HN&GĐ năm1986 thì quy
định tại Điều 29 và 30 Luật HN&GĐ năm
2000 là hợp lí hơn Việc chia một phần tài
sản chung có ý nghĩa thiết thực, phù hợp với
thực tiễn đời sống chung của vợ chồng, bảo
đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ về tài sản
của vợ (chồng) đồng thời vẫn bảo đảm được
lợi ích chung của gia đình
Về phía các bên vợ chồng, yêu cầu chia
toàn bộ tài sản chung chỉ đặt ra trong những
hoàn cảnh đặc biệt như phải thực hiện nghĩa
vụ tài sản quá lớn mà nếu chia một phần tài
sản chung thì không đủ hoặc một bên có yêu
cầu chia khi bên kia có hành vi phá tán tài
sản, nghiện hút, cờ bạc Việc chia một phần
tài sản chung khác với chia toàn bộ tài sản
chung ở chỗ nó không gây ra những ảnh lớn
đến đời sống chung của gia đình, không làm
mất ổn định cuộc sống chung Ngoài phần tài
sản được chia riêng cho mỗi bên vợ, chồng
thì phần tài sản chung còn lại không chia sẽ
bảo đảm đời sống chung của gia đình
Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn
nhân sẽ phát sinh những hậu quả pháp lí về
tài sản như sau:
2.1 Quyền sở hữu riêng của vợ, chồng
đối với phần tài sản được chia
Theo quy định tại Điều 29 và 30 Luật
HN&GĐ năm 2000 thì vợ, chồng có quyền
sở hữu riêng đối với phần tài sản đd được
chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài
sản đd được chia
Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
cũng quy định: "Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ
tài sản đ được chia thì thuộc sở hữu riêng
của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có
thoả thuận khác” Ví dụ: Hai vợ chồng có ba ngôi nhà là tài sản chung, họ thoả thuận chia mỗi người được sở hữu riêng một ngôi nhà, còn một nhà được dùng làm chỗ ở chung của gia đình Sau khi chia, vợ hoặc chồng có thể
độc lập quyết định việc dùng ngôi nhà đd
được chia đó để cho thuê, bán mà không phụ thuộc vào ý chí của người kia Tiền thuê nhà là tài sản riêng của mỗi bên Đối với những tài sản này vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt theo quy định tại
Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000 Vậy trong trường hợp này, vợ (chồng) có tài sản riêng
có bị hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng
đó theo quy định tại khoản 5 Điều 33 Luật HN&GĐ không? Theo quan điểm của chúng tôi thì trong trường hợp này vợ, chồng không
bị ràng buộc bởi quy định tại khoản 5 Điều
33 khi định đoạt tài sản riêng của mình vì vợ, chồng đd có sự thoả thuận trước về việc chia tài sản đó
2.2 Quyền sở hữu chung của vợ chồng
đối với phần tài sản chung
Điều 30 Luật HN&GĐ quy định: " phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng" Điều 8 Nghị định
số 70/2001/NĐ-CP quy định rõ thêm: "Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng"
Đối với phần tài sản chung này, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng không thay đổi, chế
độ sở hữu chung của vợ chồng chưa chấm dứt, nó vẫn đương nhiên tồn tại và là sở hữu chung hợp nhất Sở hữu chung hợp nhất của
vợ chồng sau khi chia một phần tài sản chung sẽ bao gồm:
- Phần tài sản chung của vợ chồng chưa chia
Trang 3- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ những tài
sản này
- Tài sản mà vợ chồng được tặng cho
chung, được thừa kế chung sau khi chia tài
sản chung Vì quan hệ hôn nhân vẫn đang
tồn tại nên tài sản mà vợ chồng được tặng
cho chung, được thừa kế chung là tài sản
thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
- Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có
được sau khi chia tài sản chung Ví dụ: Đất
được Nhà nước giao, giao khoán, đất mà vợ
chồng thuê của Nhà nước, được chuyển
nhượng, được thừa kế chung, cho chung
Trong những trường hợp này, quyền sử dụng
đất vẫn là tài sản chung của vợ chồng vì theo
quy định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000
thì “quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được
sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng”
- Quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ hoặc
chồng có được sau khi chia tài sản chung do
được Nhà nước giao, giao khoán, hoặc được
thuê của Nhà nước Theo quy định tại Điều
27 Luật HN&GĐ năm 2000 và các Điều 24,
25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì đây là
tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, sau
khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
thì quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ hoặc
chồng có được chỉ là tài sản chung của vợ
chồng nếu nó không liên quan đến lí do chia
tài sản chung của vợ chồng Ví dụ: Sau khi
chia tài sản chung, vợ hoặc chồng thuê đất
hoặc được giao đất để đầu tư kinh doanh
riêng hoặc nuôi trồng thuỷ sản thì quyền sử
dụng đất đó là tài sản riêng của mỗi người
Ngược lại, nếu vợ, chồng yêu cầu chia một
phần tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ
riêng về tài sản của mỗi bên như nghĩa vụ
đền bù thiệt hại, nghĩa vụ trả nợ mà sau đó
vợ hoặc chồng được giao đất, thuê đất thì quyền sử dụng đất đó là tài sản chung của vợ chồng Đây là những trường hợp đặc biệt cần
được quy định cụ thể khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân Theo quan điểm của chúng tôi, trong trường hợp này cần quy định theo hướng: Quyền sử dụng đất mà vợ chồng hoặc mỗi bên vợ hoặc chồng có được sau khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân vẫn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp quyền sử dụng
đất đó có được xuất phát từ việc chia tài sản chung để đầu tư kinh doanh riêng
- Một vấn đề rất quan trọng là tài sản mà
vợ, chồng làm ra sau khi chia tài sản chung như tiền lương, tiền công lao động là tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của mỗi bên? Về vấn đề này, Luật HN&GĐ năm 2000 không có quy định cụ thể nhưng trong Nghị định số 70/2001/NĐ-CP có quy
định tại khoản 2 Điều 8 như sau: "Thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh
và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng
có thoả thuận khác" Theo quan điểm của chúng tôi thì quy định này là không hợp lí cả
về lí luận và thực tiễn Quy định này bộc lộ một số điểm bất cập và mâu thuẫn sau: + Thứ nhất, theo quy định tại Điều 27 thì tài sản do bất cứ ai, vợ hay chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân đều là tài sản chung của vợ chồng, không phân biệt mức đóng góp, mức thu nhập của mỗi bên, không đòi hỏi phải do cả hai vợ chồng cùng trực tiếp tạo ra Khi chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân, vì hôn nhân vẫn đang tồn tại và do
Trang 4tính chất cộng đồng của hôn nhân chi phối
nên thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của mỗi bên vợ, chồng về nguyên tắc vẫn là
tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp
vợ chồng có thoả thuận khác Nhưng theo
quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP thì cần phải hiểu rằng sau
khi chia tài sản chung, mọi tài sản mà vợ
hoặc chồng tạo ra cũng như mọi thu nhập từ
lao động của mỗi bên vợ hoặc chồng sẽ
không còn là tài sản thuộc sở hữu chung hợp
nhất nữa bất kể từ nguồn gốc nào Và như
vậy đương nhiên sẽ dẫn đến tình trạng
không còn tồn tại chế độ sở hữu chung hợp
nhất nữa vì sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng cơ bản có được từ lao động của mỗi
bên vợ, chồng Điều này hoàn toàn mâu
thuẫn với quy định tại Điều 27 Luật
HN&GĐ năm 2000, do đó, cần kịp thời có
sự sửa đổi quy định này
+ Thứ hai, quy định trên cũng không phù
hợp với ý chí và mong muốn của vợ chồng
bởi vì khi có yêu cầu chia tài sản chung, vợ
hoặc chồng chỉ mong muốn chia tài sản để
có điều kiện thực hiện các nghĩa vụ riêng về
tài sản hoặc đầu tư kinh doanh riêng mà
không muốn chấm dứt chế độ sở hữu chung
Ngay trong trường hợp chia tài sản chung để
đầu tư kinh doanh riêng nhưng trong đời
sống vợ chồng nhiều khi các bên vợ chồng
cũng tự nguyện nhập hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh vào tài
sản chung Vì vậy, nếu không có thoả thuận
khác thì thu nhập do lao động, hoạt động sản
xuất kinh doanh phát sinh từ phần tài sản đd
được chia là tài sản riêng của mỗi bên vợ,
chồng Việc chia tài sản chung để đầu tư kinh doanh riêng một mặt tạo điều kiện cho
đương sự có vốn cần thiết để sản xuất kinh doanh nhưng lí do khác quan trọng hơn là vì lợi ích chung của gia đình, xuất phát từ ý chí của đương sự là không muốn những rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến gia đình, tránh tình trạng “khuynh gia bại sản” Khi chia tài sản chung với mục
đích để đầu tư kinh doanh riêng cần phân biệt hai loại thu nhập phát sinh sau khi chia tài sản chung là: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đd được chia do chính hoạt động sản xuất kinh doanh đó (loại thu nhập này là tài sản riêng của vợ, chồng nếu không có thoả thuận khác) và những thu nhập khác của
vợ, chồng không liên quan đến phần tài sản
đd được chia như: Tiền lương, tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền đền bù giá trị quyền sử dụng
đất khi giải phóng mặt bằng cũng như những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng như tiền trúng xổ số vì hôn nhân vẫn còn tồn tại nên về nguyên tắc tất cả những tài sản này vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng chứ không thể là tài sản riêng của mỗi bên Vì vậy, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung chỉ là tài sản riêng của vợ chồng nếu những thu nhập đó có được gắn liền với phần tài sản được chia, ngược lại, những thu nhập đó là tài sản chung của vợ chồng nếu
nó có được không liên quan đến phần tài sản
đd được chia Do vậy, quy định như khoản 2
Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP là không chính xác
+ Thứ ba, sau khi chia tài sản chung, đa
Trang 5số các cặp vợ chồng vẫn sống chung, chỉ
trong những hoàn cảnh đặc biệt họ mới sống
riêng Việc chia tài sản chung trong thời kì
hôn nhân không phải là quy định về li thân
nên không đương nhiên dẫn đến chế độ biệt
sản Sau khi chia tài sản chung (dù chia một
phần hay chia toàn bộ) vợ chồng vẫn sống
chung nên việc duy trì đời sống chung là
trách nhiệm của cả hai vợ chồng, không phân
biệt mức độ thu nhập của mỗi bên Nếu một
bên không có thu nhập, không có tài sản thì
bên kia vẫn phải chăm lo đời sống chung của
gia đình Tuy nhiên, trách nhiệm đóng góp
của vợ chồng vào đời sống chung của gia
đình như thế nào thì lại chưa có quy định,
trong khi đó theo quy định tại khoản 2 Điều
8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì toàn bộ
thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài
sản riêng của vợ, chồng Như vậy, trong
trường hợp vợ chồng chia hết (chia toàn bộ
tài sản chung) mà sau đó không có tài sản
chung nào khác như không có tài sản thừa
kế, không được tặng cho chung tài sản thì
đời sống chung của gia đình sẽ được bảo
đảm như thế nào? Rõ ràng là về vấn đề này,
quy định trên đd thể hiện sự không đầy đủ,
thiếu chặt chẽ và logic Trong pháp luật các
nước, vợ chồng có thể thoả thuận về tài sản
trước khi kết hôn, có thể phân chia tài sản
chung và bất cứ tài sản nào mà vợ hoặc
chồng có được sau khi chia tài sản chung sẽ
là tài sản riêng của người đó Đối với tài sản
mà vợ chồng được thừa kế hoặc được tặng
cho sau khi chia tài sản chung sẽ trở thành
tài sản riêng chia đều cho cả vợ và chồng.(2)
Trách nhiệm của vợ, chồng đối với đời sống
chung của gia đình sau khi chia tài sản
chung cũng được quy định rõ ràng như: " cả hai vợ chồng phải chịu trách nhiệm thanh toán những chi tiêu của gia đình theo tỉ lệ tương ứng với số tài sản riêng của mỗi người”.(3) Vì vậy, theo chúng tôi, nếu đd quy
định như khoản 2 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì cần phải có quy định cụ thể về trách nhiệm của vợ chồng đối với đời sống chung của gia đình sau khi chia tài sản chung
Qua những phân tích trên cho thấy quy
định về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là chưa đầy đủ, chưa hợp lí và chính xác Theo chúng tôi, cần quy định cụ thể hơn về hậu quả pháp lí của việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân theo hướng sau:
- Cần quy định rõ những tài sản mà vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung do
được thừa kế chung, tặng cho chung là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp người để lại tài sản thừa kế, người tặng cho tài sản đd có sự phân định rõ phần quyền của mỗi bên vợ, chồng trong khối tài sản đó
- Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung
là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp
vợ chồng có thoả thuận khác
- Cần có quy định về việc niêm yết hoặc công bố công khai về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân tại nơi vợ chồng cư trú để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba giao dịch với vợ chồng
2.3 Vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung
Trong Luật HN&GĐ năm 2000 không có quy định nào về việc khôi phục chế độ tài
Trang 6sản chung sau khi chia tài sản chung Tuy
nhiên, trong Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
tại Điều 9 và 10 lại có quy định về vấn đề
này Xét về hiệu lực pháp lí, các quy định
của nghị định phải phù hợp với quy định
trong luật vì luật có hiệu lực pháp lí cao hơn,
nghị định chỉ có thể quy định chi tiết việc thi
hành luật mà không thể quy định trái với
luật Hơn nữa, quy định về việc khôi phục
chế độ tài sản chung của vợ chồng trong nghị
định cũng còn thể hiện một số điểm không
hợp lí Cụ thể là:
Thứ nhất, việc khôi phục chế độ tài sản
chung chỉ có thể đặt ra khi đd chia hết tài sản
chung nhưng không phải trong trường hợp
chia tài sản chung nào trong thời kì hôn nhân
cũng chia hết tài sản chung như đd phân tích
ở trên, vì vậy, nếu chưa chia hết tài sản
chung thì chế độ tài sản chung vẫn đương
nhiên tồn tại mà không phụ thuộc vào thoả
thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ
chồng Ngay trong quy định tại điểm c khoản
1 Điều 9 của Nghị định cũng đd thể hiện rõ
mâu thuẫn này
- Thứ hai, việc khôi phục chế độ tài sản
chung sẽ là cần thiết, có ý nghĩa và logic nếu
có quy định rằng việc chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân sẽ làm chấm dứt hoàn
toàn chế độ sở hữu chung của vợ chồng, bất
cứ tài sản nào mà vợ chồng có được sau khi
chia tài sản chung đều là tài sản riêng của
mỗi bên vợ, chồng, kể cả những tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho
chung sẽ được chia đều cho mỗi bên và là tài
sản riêng của vợ, chồng Nói cách khác, việc
khôi phục chế độ tài sản chung sẽ là hợp lí
nếu thừa nhận rằng việc chia tài sản chung
trong thời kì hôn nhân sẽ dẫn đến chế độ biệt
sản Với các quy định trong Nghị định số
70/2001/NĐ-CP thì có thể dẫn tới cách hiểu này Song điều đó rõ ràng không phải là ý muốn của các nhà lập pháp
- Thứ ba, việc quy định về khôi phục chế
độ tài sản chung theo chúng tôi là không cần thiết bởi vì, theo quy định tại khoản 2 Điều
32 Luật HN&GĐ năm 2000 thì "vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung" Vì pháp luật nước ta không quy định vợ chồng có quyền lập hôn
ước nên khi nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì khối tài sản chung đó sẽ tuân theo chế độ tài sản pháp định, tức là chế độ
sở hữu chung hợp nhất Việc khôi phục chế
độ tài sản chung thực chất là đem phần tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng góp vào tài sản chung và như vậy chế độ sở hữu chung của vợ chồng sẽ không còn là sở hữu chung hợp nhất nữa mà phải là sở hữu chung theo phần Điều đó là mâu thuẫn với các quy định
về chế độ sở hữu tài sản của vợ chồng trong pháp luật nước ta, làm phức tạp thêm các mối quan hệ của vợ chồng về tài sản đồng thời không bảo vệ được lợi ích chung của gia
đình một cách có hiệu quả nhất
Với điều kiện kinh tế hiện nay ở nước ta, việc quy định chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Song để giải quyết tốt nhất các tranh chấp có thể xảy ra, bảo đảm hiệu quả
điều chỉnh của pháp luật thì các quy định của pháp luật về vấn đề này cần được quy
định một cách chặt chẽ, thống nhất và hợp
lí hơn./
(1) Xem: Nguyễn Văn Cừ, “Một số suy nghĩ về Điều
18 Luật HN&GĐ Việt Nam 1986”, Tạp chí luật học,
số 1/1995, tr 24
(2), (3) Xem: Điều 1492, 1493 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan