Điều đó cho thấy cần phải có sự nghiên cứu sâu về vấn đề chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đặc biệt chia tài sản chung để vợ chồng sản xuất kinh doanh riêng, phát hiện n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TỐNG THỊ Lí
Chia tài sản chung CủA vợ chồng
để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TỐNG THỊ Lí
Chia tài sản chung CủA vợ chồng
để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Chuyờn ngành: Luật dõn sự và tố tụng dõn sự
Mó số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHƯƠNG LAN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn này chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
NGƯỜI CAM ĐOAN
Tống Thị Lý
Trang 4CHUNG VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN 8 1.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân 8 1.2 Các nguyên tắc cơ bản của việc chia tài sản chung vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân 12 1.3 Sự cần thiết của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân để sản xuất kinh doanh riêng 18 Chương 2: CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG
THỜI KỲ HÔN NHÂN ĐỂ VỢ HOẶC CHỒNG SẢN XUẤT KINH DOANH RIÊNG 24 2.1 Quyền yêu cầu chia 24 2.2 Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng của vợ hoặc chồng 29 2.3 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ
hôn nhân để vợ hoặc chồng sản xuất kinh doanh riêng 32
2.3.1 Quan hệ nhân thân 33 2.3.2 Quan hệ tài sản 35
Trang 52.3.3 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con chung và đời sống
chung của gia đình sau khi chia tài sản chung 40 2.3.4 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba khi chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để một bên sản xuất, kinh doanh riêng 44
2.4 Vấn đề chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân với mục đích sản xuất kinh doanh riêng 46 Chương 3: NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TRONG VIỆC ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG ĐỂ TIẾN HÀNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 48 3.1 Một số vướng mắc, bất cập khi áp dụng pháp luật về chia tài
sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để vợ hoặc chồng sản xuất kinh doanh riêng 48
3.1.1 Quyền yêu cầu chia tài sản chung để một bên vợ hoặc chồng sản
xuất kinh doanh riêng 48 3.1.2 Hình thức chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 49 3.1.3 Về hiệu lực của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân 50 3.1.4 Về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung khi một bên vợ
hoặc chồng đầu tư kinh doanh riêng trong thời kỳ hôn nhân 51 3.1.5 Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung
chưa được pháp luật quy định 53
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với mục đích đầu tư kinh doanh riêng 55
3.2.1 Về quyền yêu cầu chia tài sản chung để một bên đầu tư kinh
Trang 63.2.2 Về hình thức của việc chia tài sản chung để một bên đầu tư kinh
doanh riêng 57 3.2.3 Về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung vợ chồng 58 3.2.4 Về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân để một bên vợ, chồng sản xuất kinh doanh riêng 59 3.2.5 Về các trường hợp chia tài sản chung bị coi là vô hiệu 60 3.2.6 Về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân 61
KẾT LUẬN 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày
31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày
03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000
Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày
23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Nghị quyết số 35/2000/QH10 Nghị quyết số 35/2000/QH ngày
09/06/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hôn nhân là cơ sở của gia đình, hai người đến với nhau bằng tình yêu
và cùng nhau xây dựng một mái ấm, tạo nên gia đình hạnh phúc Gia đình luôn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, nó được coi như
những “tế bào” của xã hội, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi
trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách mỗi người, gia đình
có tốt thì xã hội cũng mới phát triển Một trong những chức năng cơ bản của gia đình đó là chức năng kinh tế mà nội dung của nó là sự tham gia của các thành viên vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra của cải vật chất, tinh thần bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của gia đình
Gia đình là một “tế bào” xã hội thực hiện chức năng kinh tế, vì thế giữa
các thành viên gia đình luôn tồn tại những mối quan hệ liên quan đến tài sản Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tính chất của mối quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình cũng có nhiều thay đổi Vì vậy các quy định điều chỉnh chế độ tài sản của vợ chồng luôn được các nhà làm luật quan tâm và xây dựng để trở thành một trong những chế định quan trọng nhất của pháp luật Hôn nhân và gia đình
Trong Luật HN&GĐ năm 2014 chế độ tài sản chung của vợ chồng được quy định tại Điều 28, vợ chồng có thể lựa chọn áp dụng chế độ tài sản pháp định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận Về nguyên tắc khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại Tuy nhiên trên thực tế hiện nay
có rất nhiều cặp vợ chồng có nhu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân xuất phát từ nhiều lý do khác nhau Trong quá trình chung sống vợ chồng luôn tham gia vào các giao dịch dân sự, thương mại khác nhau để phát triển kinh tế gia đình, đảm bảo các nhu cầu về vật chất cũng như tinh thần của
Trang 9gia đình Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì nhu cầu kinh doanh của các cá nhân trong xã hội là rất cao Với mục đích để sản xuất kinh doanh riêng không ít các cặp vợ chồng đã thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để sản xuất kinh doanh riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Một mặt nó đáp ứng nhu cầu chính đáng của vợ hoặc chồng trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của pháp luật hiện hành Việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
để sản xuất kinh doanh riêng vừa để đảm bảo nhu cầu về sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh vừa để ngăn chặn những hậu quả rủi ro từ hoạt động sản xuất kinh doanh đó đối với gia đình, đảm bảo cho lợi ích của gia đình
Hiện nay việc chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm tạo điều kiện cho một bên vợ hoặc chồng sản xuất kinh doanh riêng được tiến hành không ít ở các vùng đô thị, thành phố lớn Bên cạnh những tác động tích cực của các quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
để sản xuất kinh doanh thì thực tiễn thực hiện những quy định trên cũng bộc
lộ những bất cập Đặc biệt là những trường hợp lợi dụng những quy định của pháp luật về vấn đề này để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với người thứ ba hay việc giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng Điều đó cho thấy cần phải có sự nghiên cứu sâu về vấn đề chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đặc biệt chia tài sản chung để vợ chồng sản xuất kinh doanh riêng, phát hiện những bất cập của các quy định pháp luật để hạn chế những tranh chấp phát sinh mà vẫn giữ được hạnh phúc gia đình
Đó là lý do mà tác giả lựa chọn đề tài: “Chia tài sản chung của vợ
chồng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh” để nghiên cứu
Trang 102 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt trong việc đáp ứng yêu cầu kinh doanh riêng của vợ hoặc chồng, phát hiện những bất cập, hạn chế còn tồn tại trong quá trình áp dụng những quy định của pháp luật trong thực tiễn chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Từ đó đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất, phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành
về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong đó chú trọng nghiên cứu việc vận dụng quy định pháp luật về vấn đề này trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng đầu tư kinh doanh riêng
Thứ hai, phân tích, nhận dạng những bất cập, hạn chế của pháp luật
hiện hành khi vận dụng những quy định trên trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh riêng của vợ chồng
Thứ ba, một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về
chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói chung và khi vợ hoặc chồng đầu tư kinh doanh riêng trong mối quan hệ tương thích giữa Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành với các luật khác có liên quan như Luật Doanh nghiệp; Luật Đầu tư; Luật Thương mại; Luật Đất đai…
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
- Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân
Trang 11- Quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Vấn đề vận dụng những quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi một bên vợ hoặc chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực tiễn thực hiện qua một số hình thức đầu tư kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu
Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để sản xuất kinh doanh ở đây được hiểu là việc vợ chồng chia tài sản chung để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh riêng của mỗi bên Trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận và đi đến thống nhất được việc sử dụng tài sản chung vào việc đầu tư kinh doanh thì họ sẽ thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia để bên
có nhu cầu kinh doanh có nguồn vốn riêng phục vụ cho việc kinh doanh Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để tiến hành sản xuất kinh doanh sẽ không được đặt ra trong trường hợp vợ chồng dùng tài sản chung để kinh doanh, hoặc ủy quyền cho một bên đứng ra kinh doanh bằng tài sản chung
Do đó, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của Luận văn, tác giả tập trung đi sâu
và phân tích về trường hợp vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh riêng của một bên vợ hoặc chồng Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân trong đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở Luật HN&GĐ năm 2014 có sự so sánh với Luật HN&GĐ năm 2000 để đánh giá những điểm mới, tiến bộ hơn của những quy định pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Về thực tiễn thực hiện, do Luật HN&GĐ năm 2014 mới có hiệu lực, việc thực hiện trong thực tế chưa có nên thực tiễn thực hiện được xem xét nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo Luật HN&GĐ năm 2000 Trong phạm vi đề tài tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về
Trang 12chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng, cũng như việc vận dụng những quy định đó trên thực tiễn qua một số hình thức đầu tư kinh doanh của vợ chồng Đồng thời nghiên cứu
và làm rõ những hệ quả pháp lý của các hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp vợ, chồng lựa chọn khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Đề tài nghiên cứu việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để vợ hoặc chồng kinh doanh riêng trong việc góp vốn để thành lập hoặc tham gia quản lý một số loại hình Doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 như: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty TNHH; Công ty Cổ phần hoặc Công ty Hợp danh
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến tài sản chung của vợ chồng và chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Các công trình là Luận văn, Luận án gồm có: Nguyễn Văn Cừ (2005),
Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
Nguyễn Hồng Hải (2002), Xác định chế độ tài sản của vợ chồng - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật Hà
Nội; Nguyễn Thị Hạnh (2012), Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp
luật Việt Nam Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện Luận văn Thạc sĩ luật
học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội; Phạm Hồng Minh Hoàng (2013),
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội; Trần
Đức Hoài (2006), Một số vấn đề về tài sản vợ chồng trong hoạt động sản xuất
kinh doanh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Một số bài viết trên các báo, tạp chí chuyên ngành Luật như: Ngô Thị
Trang 13Hường, “Đăng ký quyền sở hữu tài sản và việc xác định tài sản chung, riêng
của vợ chồng”, Tạp chí Luật học số 10/2008; Nguyễn Phương Lan (2002),
“Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002;
Các công trình kể trên hầu như các tác giả đã đề cập đến chế độ tài sản của vợ chồng và vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo Luật HN&GĐ năm 2000 Luận văn của tác giả Trần Đức Hoài nói
về tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không nói về chia tài sản chung của vợ chồng nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng Một số công trình cũng đã dẫn chiếu, liên hệ thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên các đề tài trên chưa nói đến các quy định của pháp luật, thực tiễn
áp dụng các quy định đó cũng như hậu quả pháp lý phát sinh từ việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh
doanh riêng Do đó, với đề tài mà tác giả lựa chọn và nghiên cứu là “Chia tài
sản chung vợ chồng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh” có nội dung
hoàn toàn mới và không có sự trùng lặp với các đề tài đã nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Việc nghiên cứu những nội dung của đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin với phép duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, gắn với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và Pháp luật nói chung và trong lĩnh vực pháp luật Hôn nhân và gia đình nói riêng
- Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh để nghiên cứu đề tài
6 Điểm mới của đề tài
Luận văn có điểm mới nhất định, bên cạnh việc hệ thống hóa và phân tích những khái niệm, đặc điểm của vấn đề chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ
Trang 14hôn nhân, luận văn đi sâu làm rõ trường hợp chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để một bên vợ hoặc chồng sản xuất kinh doanh riêng
Điểm mới cơ bản của luận văn là phân tích việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích để vợ chồng có vốn phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh riêng Trên cơ sở đó luận văn xem xét, nghiên cứu các trường hợp đầu tư kinh doanh riêng trực tiếp của vợ chồng trong một số loại hình doanh nghiệp như: Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Hợp danh hay Doanh nghiệp tư nhân và những hệ quả pháp lý của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó đối với vợ, chồng, đối với gia đình cũng như cách giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng
Từ việc phân tích những nội dung trên luận văn đã nêu lên được những quy định chưa phù hợp, những hạn chế còn tồn tại của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vận dụng trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng sản xuất kinh doanh riêng ở cả góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật Trên cơ sở đó luận văn kiến nghị một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về vấn đề này
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo và Mục lục thì nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân
Chương 2 Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để vợ chồng sản
xuất kinh doanh riêng
Chương 3: Những vướng mắc, bất cập trong việc vận dụng pháp luật về
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để hoạt động sản xuất kinh doanh riêng và một số kiến nghị
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG
TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
1.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản chung của vợ chồng
Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng phát sinh, tồn tại cùng với sự phát sinh và tồn tại của quan hệ hôn nhân Tài sản của vợ chồng là một phạm trù pháp lý gắn với quyền sở hữu của vợ chồng Xuất phát từ tính chất của quan
hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, chung công sức trong việc xây dựng gia đình, đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó như: chăm sóc, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, phát triển kinh tế… nên pháp luật quy định giữa vợ chồng phát sinh tài sản thuộc sở hữu chung Chế
độ tài sản chung của vợ chồng được quy định tại các điều 33, 34 Luật HN&GĐ năm 2014, theo đó:
1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo
ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng
2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc quyền sở hữu chung hợp nhất, được dùng để đảm bảo nhu cầu của gia đình, thực hiện
Trang 163 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản
mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung [36, Điều 33]
Tài sản chung của vợ chồng dùng để đáp ứng các nhu cầu chung của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng Theo quy định của BLDS và Luật HN&GĐ thì sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất Sự đóng góp công sức của vợ chồng vào việc xây dựng khối tài sản chung có thể không ngang nhau nhưng quyền sở hữu của họ đối với tài sản chung vẫn ngang nhau Tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do công sức của cả hai vợ chồng mà có thể chỉ do vợ hoặc chồng làm ra hoặc là thu nhập hợp pháp của một trong hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân một bên hoặc cả hai vợ chồng trực tiếp bỏ công sức để tạo ra tài sản hoặc tham gia và trong quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh và có thu nhập thì tài sản và thu nhập đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng Đồng thời những tài sản vợ chồng được tặng cho chung hoặc thừa kế chung cũng được coi là tài sản chung của vợ chồng Như vậy, khi chủ
sở hữu tài sản chuyển quyền sở hữu tài sản của họ cho vợ chồng bằng hợp đồng tặng cho tài sản hoặc theo di chúc thì vợ chồng được xác lập quyền sở hữu với tài sản được tặng cho hoặc được thừa kế Tài sản chung hoặc tài sản riêng của vợ chồng có thể phát sinh hoa lợi, lợi tức Đó là các sản vật tự nhiên
mà tài sản mang lại hoặc là các khoản thu được từ việc khai thác tài sản Theo pháp luật hiện hành, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng được xác định là tài sản chung, trừ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng được chia
từ khối tài sản chung của vợ chồng là tài sản riêng Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn được xác lập từ những thu nhập hợp
Trang 17pháp khác như: tiền thưởng, khoản trợ cấp thường xuyên hoặc bất thường mà
vợ chồng nhận được như trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thai sản…, tiền trúng xổ số… và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung Theo pháp luật HN&GĐ Việt Nam, việc xác định là tài sản chung vợ chồng hay tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng được căn cứ vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản Trong thời kỳ hôn nhân, tùy vào nguồn gốc tài sản được quy định trong các điều luật nêu trên, sẽ xác định được đó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng Thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân là ranh giới để xác định tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng Về nguyên tắc thì những tài sản mà vợ, chồng có trước khi kết hôn luôn là tài sản riêng của một bên vợ, chồng
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Hiểu một cách khái quát thì thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian
tồn tại quan hệ vợ chồng Thời kỳ hôn nhân là “khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ chồng được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” [36, Điều 3, Khoản 13] Thời kỳ hôn nhân được tính từ thời điểm
hai bên nam nữ đăng ký kết hôn đến thời điểm chấm dứt hôn nhân do một bên
vợ hoặc chồng chết, vợ hoặc chồng bị tuyên bố chết hay do ly hôn bằng bản
án hoặc quyết định thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật
Luật HN&GĐ năm 2014 quy định chế độ tài sản của vợ chồng có thể là chế độ tài sản pháp định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận Chế độ tài sản pháp định được quy định tại khoản 1 điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 Tài sản chung của vợ chồng thuộc khối tài sản chung hợp nhất, phần quyền sở hữu của vợ chồng không được xác định trước Đối với khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc quản lý,
sử dụng Chế độ tài sản này bắt đầu từ khi quan hệ hôn nhân được xác lập và thực hiện trong suốt thời kỳ hôn nhân Trong một số trường hợp, vợ chồng có
Trang 18thể chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, phần tài sản chung được chia cho mỗi bên vợ, chồng là tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mặc dù quy định này đã được ghi nhận
từ Luật HN&GĐ năm 1986; Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm
2014, vì thế cũng đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về chia tài sản chung
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Tác giả Phạm Thị Tươi đã đưa ra khái niệm chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:
Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có những lý do nhất định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật [41]
Cũng liên quan đến khái niệm chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân thì tác giả Phạm Hồng Minh Hoàng lại cho rằng:
Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng theo thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác Việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả pháp lý của việc này không làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật [15]
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định về thời kỳ hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tác giả xin đưa ra định nghĩa khái quát
Trang 19về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: Chia tài
sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là trường hợp được pháp luật quy định trong đó vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết nhằm tách một phần hoặc chuyển toàn bộ tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng mà không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng với điều kiện không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình, của các con và không nhằm mục đích trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng
Có thể nói các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân: về trường hợp chia, hình thức chia, hậu quả pháp lý của việc chia đã phát huy được hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ chồng và các thành viên của gia đình cũng như lợi ích của bên thứ ba tham gia vào các quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại với vợ, chồng
1.2 Các nguyên tắc cơ bản của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là những tư tưởng chỉ đạo mang tính chi phối, định hướng cho mọi hoạt động của các chủ thể tham gia vào việc giải quyết các yêu cầu liên quan đến chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về các nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân vì vậy ít nhiều đã gây ra những khó khăn trong thực tiễn áp dụng luật Căn cứ từ lý luận và thực tế cho thấy việc chia tài sản chung
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cần phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Cụ thể là:
Thứ nhất, nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về tài sản
Nguyên tắc bình đẳng được xem là nguyên tắc cơ bản giữa các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ giữa vợ chồng nói
Trang 20riêng Nguyên tắc này được thể hiện trong các văn bản pháp luật có giá trị cao nhất như Hiến pháp quy định về quyền bình đẳng giữa các công dân trước pháp luật và quyền tự do kinh doanh của công dân Hiến pháp năm 2013 quy
định rõ: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà
pháp luật không cấm” [34, Điều 33] Quyền cơ bản này của công dân đã được
cụ thể hóa và quy định ở Bộ Luật dân sự cũng như các Luật chuyên ngành và các văn bản pháp luật khác Điều 5 BLDS năm 2005 đã ghi nhận trong quan
hệ dân sự các chủ thể đều bình đẳng với nhau, Điều 8 BLDS năm 2005 cũng quy định trong quan hệ vợ chồng thì vợ, chồng là những chủ thể độc lập khi tham gia bất cứ một giao dịch hợp pháp nào mà bên kia không có quyền ngăn
cản BLDS năm 2005 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền,
nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” [29, Điều 40] Quy định này đã thể hiện sự bình đẳng về mọi mặt của
vợ chồng trong mọi quan hệ xã hội
Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể hơn nữa về quyền bình
đẳng của vợ chồng, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Vợ chồng bình đẳng
với nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan” [36, Điều 17] Quyền bình
đẳng đó thể hiện rõ trong việc vợ chồng cùng nhau bàn bạc và quyết định các vấn đề liên quan đến nhân thân cũng như tài sản liên quan đến đời sống chung của gia đình như việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái hay xây dựng và phát triển đời sống kinh tế của gia đình
Quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng còn được thể hiện trong việc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời
Trang 21kỳ hôn nhân Trong trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung thì sẽ giải quyết theo quy định tại Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 tức là chia tài sản như khi vợ chồng ly hôn Tài sản của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập Như vậy, những quy định cụ thể của Luật HN&GĐ năm 2014 đã phần nào thực hiện hóa nguyên tắc vợ chồng bình đẳng về tài sản Mặc dù sự đóng góp của vợ, chồng vào khối tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là khác nhau nhưng khi thực hiện việc chia tài sản chung thì pháp luật vẫn luôn thể hiện sự công bằng, bình đẳng của cả vợ và chồng Trong nền kinh tế thị trường hiện nay luôn mang đến những cơ hội đồng thời là những thách thức đối với mỗi
cá nhân khi họ tham gia vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh Vì vậy, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để một bên vợ hoặc chồng tham gia vào sản xuất kinh doanh riêng cần phải đảm bảo được quyền bình đẳng của vợ chồng nhằm thực hiện các quyền năng về tài sản của vợ chồng cũng như đảm bảo cho cuộc sống của gia đình được bền vững
Thứ hai, nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng
“Thỏa thuận” có nghĩa là “đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận” [43]
BLDS năm 2005 và Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng như các văn bản pháp luật khác đều tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Trong thời kỳ hôn nhân
vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ khối tài sản chung Đây hoàn toàn là sự thỏa thuận riêng của vợ chồng, người thứ ba và các chủ thể có liên quan đến tài sản của vợ chồng không thể can thiệp đến thỏa thuận chia này Việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân xuất phát
Trang 22từ nhu cầu thực tế của vợ hoặc chồng Ngoài những trường hợp chia bị coi là
vô hiệu như quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ năm 2014 thì vợ chồng hoàn toàn có quyền thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản chung, có thể vì mục đích kinh doanh riêng của một bên vợ hoặc chồng, hoặc những lý do chính đáng khác Tuy nhiên sự thỏa thuận này chỉ được coi là hợp pháp khi nó được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, cưỡng ép đồng thời
đó là ý chí độc lập của vợ, chồng dựa trên sự nhận thức đầy đủ và rõ ràng về những hậu quả pháp lý phát sinh sau khi chia tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định cụ thể về hình thức cũng như các nội dung chính khi vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Cụ thể là, thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng phải được lập thành văn bản và phải có nội dung chính bao gồm: lý do chia tài sản, phần tài sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có) và những nội dung khác (nếu có) Ngoài ra, vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan công chứng có thẩm quyền công chứng văn bản thỏa thuận phân chia tài sản hoặc yêu cầu người khác làm chứng văn bản đó Những quy định trên nhằm tránh việc vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung để trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người thứ ba hay với mục đích tẩu tán tài sản, đồng thời nó cũng thể hiện sự tự do thỏa thuận của vợ chồng là hoàn toàn tuyệt đối về việc định đoạt khối tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân của họ
Có thể nói pháp luật tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của vợ chồng trong việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân với mục đích sản xuất kinh doanh riêng của vợ hoặc chồng Tuy nhiên, sự tự do thỏa thuận ấy lại bị
hạn chế và không được chấp nhận trong những trường hợp như: ảnh hưởng
nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, còn đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có
Trang 23khả năng lao động; trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại… [36, Điều 42]
Thứ ba, nguyên tắc sự thỏa thuận của vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội
Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành quy định vợ chồng có quyền tự
do thỏa thuận và định đoạt đối với khối tài sản chung của họ trong thời kỳ hôn nhân Những quy định đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân vợ hoặc chồng có thể thỏa mãn những nhu cầu chính đáng của họ, đó có thể là việc đầu tư sản xuất kinh doanh riêng hay những nhu cầu cá nhân khác Do đó khi
vợ chồng có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thì họ có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án tiến hành việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Vợ chồng được tự do thể hiện ý chí trong việc thỏa thuận các nội dung liên quan đến việc phân chia tài sản chung Tuy nhiên sự tự do thỏa thuận này không được làm ảnh hưởng hay gây bất lợi cho Nhà nước, tổ chức, cá nhân khác Nếu sự thỏa thuận của vợ chồng vi phạm đến quyền, lợi ích, vi phạm đạo đức xã hội thì pháp luật sẽ không thừa nhận và sự thỏa thuận của vợ chồng sẽ bị vô hiệu Pháp luật điều chỉnh quyền tự do định đoạt tài sản của vợ chồng trên cơ sở sự tôn trọng quyền định đoạt của vợ chồng trong mối liên hệ
và tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khác
Tinh thần của nguyên tắc này được thể hiện và quy định cụ thể tại Khoản 2 điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 và điều 42 Luật HN&GĐ năm
2014 Theo đó sự thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ bị vô hiệu khi với mục đích: trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên
bố phá sản; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan [36, Điều 42, Khoản 2] Lợi ích chính
Trang 24đáng của cộng đồng, của xã hội được bảo vệ bằng pháp luật và đạo đức xã hội, nó trở thành giới hạn cho sự tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ hôn nhân gia đình nói riêng Nguyên tắc này thể hiện mục đích tôn trọng lợi ích của cộng đồng, của xã hội
và lợi ích chính đáng của các cá nhân trong xã hội
Thứ tư, việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động
So với Luật HN&GĐ năm 2000 thì Luật HN&GĐ năm 2014 đã có những quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ với con Theo đó:
Mọi thỏa thuận của cha mẹ, con có liên quan đến quan hệ nhân thân, tài sản không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình… [36, Điều 68, Khoản 4]
Đồng thời Luật HN&GĐ năm 2014 cũng ghi nhận:
Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo cho việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh cả
về thể chất, trí tuệ và đạo đức; trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình [36, Điều 69, Khoản 1,2]
Chăm sóc và nuôi dạy con cái không chỉ là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con mà nó còn là nghĩa vụ của cha mẹ đối với Nhà nước Đối với bất kỳ quốc gia nào trẻ em là đối tượng chăm sóc đặc biệt vì đó là lực lượng lao động tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
Trang 25nước Mặt khác, việc cha mẹ có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
em nhằm bảo đảm thực hiện những quyền cơ bản của trẻ em đã được ghi nhận trong những văn bản pháp luật Quốc tế cũng như ở từng quốc gia cụ thể
Trường hợp vợ chồng thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, dù là phân chia toàn bộ khối tài sản chung hay chỉ phân chia một phần thì mối quan hệ pháp lý của vợ chồng vẫn chưa chấm dứt, không vì thế
mà làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con cái, đặc biệt là con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải có sự thỏa thuận và thống nhất trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con cái Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu khi: “Ảnh hưởng nghiêm
trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc con không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” [36 Điều 42, Khoản 1]
Đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên và con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động khi vợ chồng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân một mặt nhằm đảm bảo cho quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của con cái trong gia đình mặt khác nó cũng thể hiện truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam đó là luôn có sự yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình
1.3 Sự cần thiết của việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để sản xuất kinh doanh riêng
Việc chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để sản xuất kinh doanh riêng là cần thiết trong cuộc sống vợ chồng đặc biệt là trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay Bởi vì các lý do sau:
Thứ nhất, nhu cầu sản xuất kinh doanh riêng của mỗi bên vợ chồng là
Trang 26chính đáng, được pháp luật bảo vệ, khuyến khích nhằm phát huy mọi khả năng phát triển kinh tế
Khi bước vào hôn nhân để duy trì cuộc sống gia đình thì vợ chồng phải
có nguồn thu nhập nhất định Nguồn thu nhập này mang lại từ nhiều kênh khác nhau Đó có thể là tiền lương phát sinh từ các hoạt động mang tính chất nghề nghiệp hoặc các lợi tức phát sinh trong quá trình kinh doanh hay trong các giao dịch dân sự khác Trong đó nguồn thu nhập mang lại từ các hoạt động sản xuất kinh doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn, mang lại cho vợ chồng
những nguồn thu nhập cao hơn so với các thu nhập khác “Sản xuất là
hoạt động tạo ra của cải vật chất nói chung” [39] còn theo Luật Doanh
nghiệp năm 2014 kinh doanh được định nghĩa là “việc thực hiện liên tục
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [35, Điều 4, khoản 16] Sản xuất kinh doanh riêng là nhu cầu
khách quan, tự nhiên của đời sống đặc biệt trong nền kinh tế thị trường Tài sản chung của vợ chồng là do vợ chồng cùng chung sức tạo lập, theo quy định của pháp luật thì vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Chính vì vậy, nếu vợ chồng không thống nhất dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh thì một bên vợ chồng không có quyền tự quyết định phần tài sản chung để đầu tư kinh doanh Việc pháp luật quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng là cơ sở pháp lý để giải quyết các yêu cầu của vợ chồng phát sinh trong nền kinh tế thị trường
Nó giúp cho bên vợ chồng thực hiện được ý đồ kinh doanh của mình Đó cũng chính là việc đảm bảo để công dân thực hiện quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật hiện hành
Trang 27Thứ hai, việc quy định chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để sản xuất kinh doanh riêng là cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để đáp ứng nhu cầu về vốn khi vợ hoặc chồng tham gia sản xuất, kinh doanh riêng
Đối với người tham gia vào kinh doanh thì yếu tố “vốn” được coi là then
chốt, có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự khởi nghiệp cũng như phát triển
và thành công của quá trình sản xuất kinh doanh Không chỉ là cơ sở để xem xét cho việc thành lập cơ sở kinh doanh ban đầu mà vốn còn là yếu tố để mở rộng phạm vi kinh doanh, quyết định vị thế của chủ thể kinh doanh trên thương trường.Vì thế vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để có vốn riêng thực hiện việc đầu tư, kinh doanh
Có thể nói trong nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ như hiện nay thì việc vợ hoặc chồng có nhu cầu tham gia vào quá trình kinh doanh, đầu
tư là khá phổ biến Tuy nhiên, lĩnh vực kinh doanh là một lĩnh vực tiềm ẩn khá nhiều rủi ro vì thế mà không phải trong mọi trường hợp vợ chồng đều thống nhất được việc đầu tư kinh doanh Có thể do nhiều lý do như không thống nhất được phương án kinh doanh, sợ việc kinh doanh thua lỗ, không mang lại hiệu quả kinh tế sẽ ảnh hưởng đến đời sống chung của gia đình…mà một trong hai bên vợ hoặc chồng không muốn kinh doanh và cũng không đồng ý lấy tài sản chung của vợ chồng để đầu tư kinh doanh chung
Trong những trường hợp như trên thì việc pháp luật quy định vợ hoặc chồng có thể thỏa thuận, hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để một bên tiến hành sản xuất kinh doanh có ý nghĩa to lớn và phù hợp với xu hướng của nền kinh tế thị trường Việc quy định này đặc biệt tránh được rủi ro cho gia đình khi hoạt động sản xuất kinh doanh bị thất bại, mặt khác nó cũng đảm bảo được sự năng động, linh hoạt cho vợ chồng tham gia kinh tế thị trường mà vẫn đảm bảo sự an toàn cho gia đình
Trang 28Thứ ba, việc quy định chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng đã đảm bảo quyền lợi cho gia đình, lợi ích của vợ chồng cũng như của những người thứ ba có liên quan
Kinh doanh là lĩnh vực có thể nói nếu thành công thì sẽ mang lại cho chủ thể những lợi nhuận và thu nhập đáng kể tuy nhiên nó cũng tiềm ẩn khá nhiều rủi ro Hiện nay thì khái niệm rủi ro trong kinh doanh có nội dung khá
rộng, theo cách hiểu truyền thống thì rủi ro là sự không may mắn, sự tổn thất
mất mát, nguy hiểm Rủi ro trong kinh doanh là điều không lành, điều không
tốt, bất ngờ xảy đến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài
ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Do vậy, có thể vì tâm lý sợ rủi ro, thua lỗ mà một bên vợ hoặc chồng không muốn tham gia kinh doanh đầu tư chung cùng bên kia và cũng không muốn sử dụng tài sản chung của gia đình vào việc kinh doanh thì họ sẽ tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để tiện cho việc kinh doanh của phía bên kia đồng thời cũng hạn chế tối đa rủi ro cho gia đình khi mà người trực tiếp kinh doanh thua
lỗ Đồng thời, việc vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi một bên kinh doanh riêng còn góp phần tạo ra sự công khai, minh bạch tài sản của người trực tiếp kinh doanh Có thể nói, đây cũng chính là yếu
tố đảm bảo cho quyền và lợi ích của đối tác - bên thứ ba khi tham gia quan hệ kinh doanh với vợ hoặc chồng
Thứ tư, việc quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh doanh là cơ sở pháp lý để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình vợ, chồng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
Thực tiễn đời sống kinh tế xã hội cho thấy, khi có tranh chấp về tài sản
Trang 29giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với những người thứ ba có liên quan tới quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng từ hoạt động sản xuất kinh doanh thường rất phức tạp và tranh chấp gay gắt, thường khó xác định trách nhiệm của vợ chồng Luật HN&GĐ năm 2000 mới chỉ dừng lại ở những quy định mang tính chất nguyên tắc chung và khó áp dụng trong thực tiễn đời
sống như các quy định “tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để…, thực
hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng ” [27, Điều 28, Khoản 2], việc xác
định trong trường hợp nào được coi là nghĩa vụ chung, trường hợp nào được coi là nghĩa vụ riêng thì luật lại chưa có quy định rõ ràng Luật HN&GĐ năm
2014 đã quy định cụ thể hơn về những trường hợp được coi là nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng của vợ, chồng Ngoài những nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng được quy định tại Điều 37 thì Luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định rõ đối với các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng đối với người thứ ba không thay đổi kể cả khi vợ chồng có thỏa thuận về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác [36]
Ngoài ra, một lý do nữa là việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân để vợ hoặc chồng đầu tư kinh doanh riêng xác định trách nhiệm, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng đối với những rủi ro trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đó là trách nhiệm tài sản riêng của một bên Trong trường hợp kinh doanh kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ thì người trực tiếp kinh doanh phải gánh chịu hậu quả này mà không ảnh hưởng đến tài sản của bên vợ, chồng không trực tiếp kinh doanh Nhờ đó mà cuộc sống của các thành viên trong gia đình được ổn định Ví dụ, hai vợ chồng có 500 triệu đồng là tài sản chung,
họ thỏa thuận chia tài sản chung để người chồng lấy 250 triệu góp vốn mở công ty với bạn để kinh doanh riêng Khi việc kinh doanh thua lỗ, công ty phá sản, giải thể thì người chồng trực tiếp kinh doanh sẽ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của anh ta mà không liên quan đến tài sản của người vợ
Trang 30Vì vậy, việc quy định chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết những tranh chấp phát sinh trong quá trình vợ hoặc chồng tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh riêng Quy định này vừa đảm bảo quyền lợi cho
vợ chồng đồng thời nó cũng bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể thứ ba khác có liên quan đến quá trình kinh doanh của vợ hoặc chồng
Trang 31Chương 2
CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN ĐỂ VỢ HOẶC CHỒNG SẢN XUẤT KINH DOANH RIÊNG
2.1 Quyền yêu cầu chia
Tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản thuộc hình thức
sở hữu chung hợp nhất Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Trong thời kỳ hôn
nhân vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết” [36]
Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
là quyền tự định đoạt tài sản chung của vợ, chồng hoặc của cả hai Vợ chồng đều có quyền bình đẳng với nhau trong việc quản lý, sử dụng và định đoạt khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất trong thời kỳ hôn nhân Đây là một quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng và chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Quy định trên của pháp luật là hoàn toàn phù hợp, xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng Vợ chồng có thể thỏa thuận phân chia tài sản chung và trong trường hợp không thỏa thuận được, vợ hoặc chồng sẽ yêu cầu Tòa án chia Đối với trường hợp cả hai vợ chồng thỏa thuận được việc chia tài sản chung thì những nội dung của thỏa thuận đó sẽ được lập thành văn bản, có thể có người làm chứng hoặc vợ chồng có thể yêu cầu cơ quan công chứng có thẩm quyền chứng nhận về các nội dung trong văn bản mà họ đã thỏa thuận
Trên thực tế không phải tất cả các cặp vợ chồng đều thỏa thuận được về vấn đề chia tài sản chung Khi giữa họ nảy sinh những bất đồng và mâu thuẫn không thể đi đến được sự thống nhất thì một trong hai bên vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp
Trang 32luật hiện hành để giải quyết những yêu cầu chính đáng của vợ hoặc chồng Theo quy định tại Khoản 3 Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014 thì Tòa án sẽ giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59, tức là chia tài sản như khi vợ chồng ly hôn Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như: hoàn cảnh gia đình và của vợ, chồng; công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung đó; bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh
và tạo điều kiện để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập
Như vậy, người có quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ có thể là vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng khi có lý
do chính đáng, ngoài ra không có chủ thể nào khác được quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng trên cơ sở hôn nhân hợp pháp Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 38 Luật HN&GĐ năm 2014) là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc Tuy nhiên, nếu áp dụng quy định này vào thực tiễn thì vẫn còn nhiều vấn đề bất cập và khó khăn Trên thực tế, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng đối với người thứ ba nhưng họ lại không thỏa thuận hay không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản riêng của mình thì
sẽ rất khó đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba Để bảo
vệ quyền lợi của mình thì người thứ ba có thể khởi kiện đòi tài sản, buộc người có nghĩa vụ về tài sản phải thực hiện nghĩa vụ của mình
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một vấn đề quan trọng trong đời sống vợ chồng Nội dung này đã được quy định lần đầu
Trang 33tiên trong Luật HN&GĐ năm 1986 và tiếp tục được ghi nhận, phát triển trong Luật HN&GĐ năm 2000 và mới nhất là Luật HN&GĐ năm 2014 Theo quy định tại Luật HN&GĐ năm 2000 thì vợ chồng có thể yêu cầu chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân khi thuộc vào một trong các trường hợp như: vợ
chồng thực hiện đầu tư kinh doanh riêng; vợ chồng thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hay trường hợp có lý do chính đáng khác [27, Điều 29] Đến Luật
HN&GĐ năm 2014 thì những quy định về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tiếp tục được ghi nhận và hoàn thiện hơn, Điều 38 Luật
HN&GĐ năm 2014 quy định “Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng có quyền
thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết” [36] Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định về việc
chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được tiến hành trong những trường hợp nào như Luật HN&GĐ năm 2000 Điều đó có nghĩa là bất
cứ lúc nào, vì lý do gì vợ chồng đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân miễn là việc chia tài sản chung đó không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của gia đình, lợi ích hợp pháp của con cái và không nhằm mục đích trốn tránh các nghĩa vụ về tài sản theo quy định tại Điều 42 Luật HN&GĐ năm 2014
Chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để một bên vợ hoặc chồng đầu tư sản xuất kinh doanh riêng là một trường hợp khá phổ biến nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay khi nhu cầu kinh doanh của các cá nhân phát triển không ngừng Có những cặp vợ chồng xuất phát từ điều kiện thực tế của gia đình họ quyết định chỉ cần một bên tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, một bên tham gia vào các quan hệ lao động khác hoặc ở nhà chăm sóc con cái, cũng có thể vợ hoặc chồng thuộc vào các đối tượng không được phép thành lập doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp [31]
Trang 34Các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh là nguồn mang lại những khoản lợi ích vật chất to lớn nếu như người kinh doanh nắm bắt được thời cơ, hiểu rõ thị trường và có đầu óc nhạy bén, tuy nhiên nó cũng là lĩnh vực tiềm
ẩn nhiều yếu tố rủi ro, đôi khi có thể làm cho chủ thể kinh doanh “khuynh gia
bại sản” Chính vì thế mà không phải trong mọi trường hợp vợ chồng đều
thống nhất được với nhau thực hiện công việc kinh doanh vì những rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng tới đời sống gia đình, con cái Tuy nhiên nếu như một bên vợ hoặc chồng vẫn quyết tâm với kế hoạch kinh doanh của mình thì họ có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Việc đem đầu tư khối tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng khi hai bên chưa đi đến thống nhất
về kế hoạch đầu tư kinh doanh sẽ làm cho người muốn đầu tư kinh doanh mất
đi tính chủ động, mất đi “thời cơ kinh doanh” đồng thời cũng làm tăng mâu
thuẫn không đáng có trong đời sống vợ chồng Tài sản chung của vợ chồng là
do cả vợ chồng cùng chung sức tạo lập, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung Chính vì vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho một bên vợ hoặc chồng tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh riêng Sự riêng biệt về tài sản giữa vợ và chồng khi chia toàn bộ tài sản chung hoặc chia một phần khối tài sản chung tạo điều kiện cho người trực tiếp kinh doanh có một khối tài sản của riêng, không bị phụ thuộc vào người chồng hoặc vợ kia Họ chủ động về vốn và chủ động thực hiện công việc kinh doanh Vì vậy, chia tài sản chung để vợ hoặc chồng tiến hành sản xuất kinh doanh riêng là một lý do hoàn toàn chính đáng Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển việc khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất để làm giàu cho xã hội
là việc làm cần thiết, cùng với đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản cho mỗi cá nhân Quy định của pháp luật về chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với mục đích sản xuất kinh doanh riêng chính là bảo vệ
Trang 35quyền tự do kinh doanh của mỗi công dân nói chung và của cá nhân vợ hoặc chồng nói riêng
Tuy nhiên quyền yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị ràng buộc, hạn chế và không được công nhận nếu việc chia tài sản chung đó thuộc một trong những trường hợp được quy định tại Điều 42 của Luật HN & GĐ năm 2014 Khi việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, còn đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự và không có tài sản để tự nuôi mình thì sẽ bị vô hiệu Quyền kinh doanh của cá nhân vợ, chồng luôn được pháp luật tôn trọng nhưng nếu như việc vợ chồng chia tài sản chung nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng của một bên mà làm ảnh hưởng đến lợi ích của gia đình và con cái thì pháp luật sẽ không thừa nhận Trong mối quan hệ gia đình thì vấn đề lợi ích chính đáng của gia đình và con cái luôn được ưu tiên hàng đầu bởi vì xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là xây dựng gia đình ấm
no, tiến bộ, hạnh phúc Ngoài ra, nếu như việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ như: nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vụ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước và các nghĩa vụ khác
có liên quan theo quy định của pháp luật thì cũng sẽ bị vô hiệu Pháp luật tôn trọng sự tự do thỏa thuận của các chủ thể tham gia giao dịch nói chung và của
vợ chồng trong việc chia tài sản chung nói riêng Tuy nhiên, sự thỏa thuận đó không được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các
cá nhân, tổ chức khác trong xã hội Quyền tự do định đoạt tài sản của vợ chồng trong trường hợp này chỉ được pháp luật bảo vệ trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của các chủ thể khác
Trang 362.2 Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích sản xuất kinh doanh riêng của vợ hoặc chồng
Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã được ghi nhận kể từ Luật HN&GĐ năm 1986, tuy nhiên pháp luật giai đoạn này mới chỉ dừng lại ở quy định về quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà chưa có quy định cụ thể về việc chia toàn bộ hay một phần khối tài sản đó Luật HN&GĐ năm 2000, và Luật HN&GĐ năm 2014 tiếp tục kế thừa những quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 và đã phát triển thêm những quy định mới phù hợp hơn với nhu cầu thực tiễn Điều
30 HN&GĐ năm 2000 có quy định như sau: “Trong trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người, phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc
sở hữu chung của vợ chồng”, [27, tr.22] Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy
định cụ thể và rõ ràng hơn việc chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân, theo đó “Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia
một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết” [36, Điều 38, Khoản 1] Với quy định này có thể hiểu vợ chồng có thể
chia một phần hoặc chia toàn bộ khối tài sản, có thể thỏa thuận chia hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết Đối với trường hợp vợ, chồng yêu cầu Tòa án thì dù là chia một phần hay chia toàn bộ khối tài sản chung Tòa án sẽ giải quyết việc chia tài sản chung theo quy định tại Điều 59, tức là chia tài sản như khi vợ chồng ly hôn
Chia một phần tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Đối với trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích đầu tư sản xuất kinh doanh riêng thì nhu cầu về vốn của người kinh doanh là rất quan trọng Căn cứ vào nhu cầu về vốn để đầu tư vào sản xuất,
Trang 37kinh doanh mà vợ, chồng chỉ yêu cầu chia một phần trong khối tài sản chung của vợ chồng Phần tài sản chung được chia là tổng số tài sản chung được chia đều cho hai bên Trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng về tài sản mà mỗi bên
vợ, chồng sẽ được một phần tương ứng khi chia tài sản Tuy nhiên tùy vào từng dự án kinh doanh mà vợ hoặc chồng chỉ chia một phần tài sản hoặc một nhóm tài sản nhất định, đó có thể là quyền sử dụng đất hay một khoản tiền, ngoại tệ hay một loại tài sản khác đủ để đáp ứng nhu cầu về vốn của hoạt động sản xuất kinh doanh Các tài sản còn lại chưa chia thì vẫn thuộc quyền
sở hữu chung của cả hai vợ chồng Thực tế thì có rất nhiều các cặp vợ chồng chỉ yêu cầu chia một phần tài sản, nhưng đồng thời cũng có nhiều trường hợp
vợ chồng lại yêu cầu chia toàn bộ khối tài sản chung Trong nhiều trường hợp
vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không phải do mâu thuẫn về tình cảm, mà chỉ đơn giản vợ chồng muốn có nguồn vốn để đầu
tư kinh doanh riêng, mang lại lợi nhuận cho bản thân và gia đình, đảm bảo được khả năng thực hiện nghĩa vụ tài sản của họ đối với người thứ ba, cũng như tạo ra sự an toàn cho lợi ích chung và duy trì tính bền vững của gia đình
Vì vậy, vợ chồng vẫn có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng Việc vợ chồng chỉ chia một phần tài sản trong khối tài sản chung vẫn phải đảm bảo những quy định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân của vợ chồng
Chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Ngoài trường hợp vợ chồng yêu cầu chia một phần tài sản trong khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì pháp luật còn cho phép vợ chồng chia toàn bộ khối tài sản chung đó Chia toàn bộ tài sản có nghĩa là chia tất cả những tài sản chung tại thời điểm chia, vợ chồng có những tài sản gì thì đem chia hết, kể cả những phần tài sản đang vay người khác, cho người khác vay,