CHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA CHĂMPA, PHÙ NAM DÀNH CHO K32 CỬ NHÂN LỊCH SỬSố ĐVHT: 2 30 tiết * Mục đớch, yêu cầu: - Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về nguồn gốc và quá trình
Trang 1CHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA CHĂMPA, PHÙ NAM DÀNH CHO K32 CỬ NHÂN LỊCH SỬ
Số ĐVHT: 2 (30 tiết)
* Mục đớch, yêu cầu:
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về nguồn gốc và quá trình lịch sử, văn hóa của Vương quốc Chămpa và vương quốc Phù Nam, những thành tựu, thành tố của văn hóa Chămpa, Phù Nam, vị trí của nó trong tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam
* Tài liệu tham khảo
1 Lịch sử vương quốc Champa, Lưong Ninh, NXBĐHQGHN, 2004
2 Vương quốc Phù Nam
3 Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1
4 Thư tịch cổ Việt Nam:
5 Tạp chí nghiên cứu lịch sử; Khảo cổ học, Dõn tộc học
* Bài điều kiện
Đọc thư tịch cổ Việt Nam, trớch dẫn những đoạn liên quan tới lịch sử văn hóa Champa và Phù Nam
- ĐVSKTT, NXB văn hóa, 2002
- Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn
- Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn)
- Việt sử thông giám cương mục, NXBGD, 1998 (Quyển thượng, từ tập 1-tập 10)
Những học giả người Pháp là những người đầu tiên nghiên cứu lĩnh vực này
Có thể kể đến những nhà nghiên cứu xuất sắc trong các kĩnh vực khác nhau Abel Bergaigne, E.Aymonier, L.Finot nghiên cứu về văn bia; E.M Durand nghiên cứu về dân tộc học; về khảo cổ học có J.Y.Claeys và về nghệ thuật có H.Parmentier, và sau ông là Ph.Stern, Jean Boisselier…Trong lĩnh vực lịch sử, năm 1911, G.Maspero xuất bản cuốn Vương quốc cổ ChamPa Đây là tác phẩm duy nhất viết về lịch sử ChamPa
từ đầu cho đến năm 1471 G.Maspero viết lịch sử ChamPa theo vương triều, trong
đó ông có đề cập đến những xung đột quân sự giữa ChamPa với các nước xung quanh như là một biểu hiện về tính hiếu chiến của người Chàm, mà ông giải thích là
Trang 2do những hạn chế về điều kiện tự nhiên Có thể nói đây là một tài liệu có giá trị cao
về mặt tư liệu, đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử ChamPa Sau G.Maspero, J.Leuba viết Một vương quốc đã bị diệt vong – người Chàm và dân tộc Chàm Tác giả dựng lại lịch sử ChamPa và chủ yếu là lịch sử quan hệ để trình bày quá trình điệt vong của vương quốc cổ này Một cách lý giải còn phiến diện, nhưng cũng chính vì vậy mà tác phẩm chỉ đề cập đến những quan hệ về chiến tranh mà chủ yếu là quan
hệ chiến tranh giữa ChamPa với Trung Quốc và Đại Việt
Năm 1944, G.Codes đề cập đến lịch sử ChamPa trong khuôn khổ của một tác phẩm viết chung về lịch sử cổ đại ở các nước Viễn Đông chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ên Độ Ba năm sau, R.Stein công bố những nghiên cứu của mình về thời
kỳ đầu của ChamPa qua tác phẩm Nước Lâm Êp, vị trí và sự đóng góp của nó vào sự hình thành ChamPa và các quan hệ của nó với Trung Quốc Trong đó, Stein đã trình bày sự hình thành của Lâm Êp (Lin Yi) cổ đại và “sự tiến triển từ Lâm Êp đến ChamPa”, phân tích và chứng minh cả về mặt lịch sử và về mặt ngôn ngữ Sự nghiên cứu này đwocj bổ xung vào năm 1958 bởi Wang GungWu trong công trình Nghiên cứu về lịch sử cổ đại của con đường thương mại Trung Hoa ở biển Nam Trung Quốc Có thể coi đây là tác phẩm đầu tiên đề cập đến con đường thương mại của Lâm Êp trong những thế kỷ đầu công nguyên
Ở Việt Nam, nghiên cứu về ChamPa không còn là một vấn đề mới mẻ Đã có nhiều thế hệ học giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực khảo cổ học Hai thập niên cuối của thế kỷ XX, việc nghiên cứu di tích văn hoá vật chất đã đạt được những thành tựu đáng kể Thông báo hàng năm của Viện Khảo cổ học luôn có những báo cáo mới, những kết quả nghiên cứu mới Đây có thể coi nh là những tài liệu gốc, mang tính cập nhật cao được sử dụng trong Luận văn
Việc nghiên cứu ChamPa dưới góc độ dân tộc học, nghệ thuật, văn hoá cũng
đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Các công trình nghiên cứu như Văn hoá ChamPa của Ngô văn Doanh, Văn hoá Chăm của Phan Xuân Biên và các cộng sự,
Du khảo Văn hoá Chăm của Ngô Văn Doanh…đã trở nên khá quen thuộc
Tại hội nghị ChamPa tổ chức tại Coopenhagen (23 tháng 5 năm 1987), trong báo cáo của mình, B.P.Lafont đã nêu tóm tắt một số quan điểm của ông về mối quan
hệ giữa ChamPa và các nước Đông Nam á Nhiều mối quan hệ trên các lĩnh vực đã được ông đề cập tới và gợi ra những vấn đề thú vị, những hướng nghiên cứu theo chủ đề này Tuy nhiên, dường như ông có phần cực đoan khi đánh giá quan hệ giữa ChamPa với Đại Việt chỉ đơn thuần là quan hệ chiến tranh và dẫn đến sự triệt tiêu về mặt văn hoá
Anthony Reid cũng bàn đến vấn đề “ChamPa trong hệ thống thương mại biển Đông Nam á”, đề xuất một thể chế chính trị đa trung tâm ở ChamPa giống nh các vương quốc của người Nam Đảo vùng hải đảo Còn K.Hall thì dành chương VII trong công trình nghiên cứu của mình là Thương mại biển và tình trạng phát triển của Đông Nam á cổ đại, thống kê những sản phẩm thương mại của ChamPa trong thư tịch cổ Trung Quốc và nhấn mạnh tầm quan trọng của vị trí bờ biển ChamPa đối với nền ngoại thương khu vực Ngoài ra, dựa trên cơ sở sử liệu Trung Quốc và Việt Nam viết về tính hiếu chiến, giỏi thuyền chiến, thường xuyên cướp bóc Đại Việt từ đường biển của người Chàm, K.Hall còn cho rằng ở ChamPa cả nông nghiệp và mậu
Trang 3dịch đều khụng làm cho vương quốc giàu lờn được, vỡ thế mà vương quyền phải dựa trờn hoạt động cướp búc, và ụng gọi ChamPa là một “quốc gia hải tặc”.
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC CHAMPA
(Từ đầu cho đến thế kỷ XV)
I Điều kiện tự nhiờn miền Trung Việt Nam
- Theo phõn vựng địa lý của nhà địa lý học Lờ Bỏ Thảo, miền Trung Việt Nam (hay Trung bộ), tớnh từ Bắc Thanh Hoỏ đến Nam Phan Thiết, dài hơn 1500km Diện tớch toàn lónh thổ bằng 96.366 km2, 3/4 lónh thổ là nỳi rừng
+Tảng nền địa-văn hoỏ miền Trung khụng hoàn toàn trựng với lónh thổ địa lý Xột về văn hoỏ Khảo cổ học, từ trước sau Cụng nguyờn, Thanh Nghệ Tĩnh thuộc khụng gian văn hoỏ Đụng Sơn, khụng gian văn hoỏ Việt cổ Theo cỏc nhà nghiờn cứu thỡ Bỡnh-Trị-Thiờn là khu đệm giữa văn hoỏ Đụng Sơn và văn hoỏ Sa Huỳnh giai đoạn trước cụng nguyờn rồi giữa văn hoỏ Việt và văn hoỏ Chăm thiờn niờn kỷ đầu Cụng nguyờn
+ Dưới gúc độ địa-văn hoỏ, địa hỡnh miền Trung hẹp chiều ngang Tõy-Đụng với giới hạn Trường Sơn Nam -Tõy, biển khơi-Đụng Nếu mụ hỡnh hoỏ địa thế này chỳng ta sẽ cú một trục dọc hẹp được phõn cỏch và nối nhau bởi những đốo, nhỏnh nỳi chạy cắt ngang từ dóy Trường Sơn trải dài theo chiều dọc1
+ Xột về mặt kiến tạo địa lý, vựng đất của vương quốc cổ ChamPa xưa cú thể được chia ra làm bốn khu vực chớnh tương đương với bốn đồng bằng lớn: 1 Khu vực đồng bằng Bỡnh-Trị-Thiờn; 2 Khu vực đồng bằng Nam-Ngói-Định; 3 Khu vực đồng bằng Phỳ Yờn-Khỏnh Hoà và 4 Khu vực đồng bằng Ninh Thuận-Bỡnh Thuận Mỗi khu vực địa lý trờn đều cú những nột vừa rất chung và cũng vừa rất riờng cả về kiến tạo địa hỡnh, địa lý lẫn khớ hậu
- Đặc điểm lớn thứ hai của vựng đồng bằng miền Trung là địa hỡnh thiờn nhiờn của cỏc dũng sụng ngắn Do tớnh chất địa hỡnh nỳi và biển gần như nằm sỏt nhau, cỏc con sụng ở đõy đều ngắn, đều chủ yếu chảy theo hướng Tõy-Đụng từ nỳi xuống biển, và mỗi con sụng đều là một hệ thống riờng rẽ Những con sụng này, cựng với đường bờ biển cao và khỳc khuỷu ở miền Trung đó tạo thành những vịnh - cảng là nơi đậu thuyền rất tốt Bờ biển miền Trung lồi lừm, ngoài bờ là những đảo, cụm đảo được hỡnh thành trong quỏ trỡnh tạo sơn như: Hũn Giú (Quảng Bỡnh), đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cự Lao Chàm (Quảng Nam), Lý Sơn-Cự Lao Rộ (Quảng Ngói), Hũn Tre (Khỏnh Hoà), Phỳ Quý (Ninh-Bỡnh Thuận)…Những đảo này một mặt là bỡnh phong ngăn chặn sóng giú biển Đụng, mặt khỏc chỳng cũn là tuyến đầu trong quỏ trỡnh giao thoa văn hoỏ khu vực và quốc tế, nối Đụng Nam Á lục địa với Đụng Nam Á hải đảo, nối Bắc-Nam và Đụng-Tõy
Mặc dự từ Bắc vào Nam, khớ hậu cú ít nhiều thay đổi qua cỏc khu vực, nhưng
về cơ bản, khớ hậu miền Trung vẫn là khớ hậu nhiệt đới giú mựa, nắng ẩm mưa nhiều, phự hợp với sự phỏt triển của nhiều loại động thực vật, và thuận lợi cho việc sinh sống của con người
1 Tham khảo: Trần Quốc Vợng, Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, NXB
Trang 4Chính đặc điểm địa hình và khí hậu đó đã tạo nên cả một thảm thực vật gần như thống nhất suốt dải đất miền Trung: thảm rừng phi lao, rừng thưa lá trên cát và đồi trọc ven biển, trảng cỏ thứ sinh, rừng kín thứ sinh Dọc miền núi ở Trung Bộ ngày nay vẫn còn nhiều rừng có nhiều loại gỗ quý
Trên tảng nền môi sinh như vậy của miền Trung Việt Nam, đã từng tồn tại trong lịch sử những nÒn văn hoá rực rỡ, mà dấu Ên vật chất vẫn còn tồn tại đến ngày nay
Cũng trên chính mảnh đất Êy, đã từng chứng kiến sự ra đời và phát triển của một trong những vương quốc ra đời sớm nhất, có thời gian tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử cổ trung đại Đông Nam Á, đó là vương quốc Champa
II Một số vấn đề về lịch sử vương quốc Champa.
- Thời kỳ tiền sử và sơ sử: văn hóa Sa Huỳnh, sự hình thành quốc gia đầu tiên
- Thời kỳ vương quốc Champa (TK II - X)
+ giai đoạn Sinhapura (từ đầu đến 750)
+ Giai đoạn Virapura (750 - 850)
+ giai đoạn Inđrapura (850 - 982)
1 Thời tiền sử và sơ sử
a Cư dõn cổ của vương quốc Champa là ai? Văn hóa Sa Huỳnh.
Sa HuỳnhChăm Nam Đảo (Malayo - Polinesian)
- Vương quốc Champa hình thành và phát triển trên dải đất ven biển miền Trung
VN và 1 phần cao nguyên Trường Sơn, lúc lớn mạnh nhất trải dài từ Hoành Sơn, sông Gianh ở phớa Bắc đến sông Dinh – Hàm Tõn, ở phớa nam đến lưu vực sông Krong Poco và sông Đà Rằng trên Tõy Nguyên Về phớa đông, họ thực sự làm chủ
cả vùng ven biển Biển Đông cùng với dóy đảo gần bờ
Cư dõn chủ nhõn của vương quốc này là người Chăm Trước đõy cũn gọi là Chàm, Chiêm nói tiếng Malayo – Polynesian Ngày nay một bộ phận người Chăm nói tiếng Malayo – Chamớc, giữ văn hóa truyền thống Champa vẫn sinh sống ở đất
cũ, ven biển miền Trung hoặc đồng bằng sông Cửư Long ở miền Nam
Một bộ phận khác khoảng 2vạn người, sống ở tỉnh Bình Định và Phú Yên, tự gọi mình là người Chămhơroi, cũng nói tiếng Malayo – Chamic nhưng lại không biết chữ Chăm và không gắn bó gì với văn hóa Chămpa
Ngoài ra cũn có gần 400.000 người nói tiếng Malayo – Polynesian sống thành vùng trên Tõy Nguyên như: Raglai, Êđê, Giarai, Churu
=> Như vậy hẳn là vốn không có một tộc gọi là Chăm riêng biệt ngay từ đầu mà chỉ là một bộ phận dõn cư nói tiếng Malayo – Polynesian, Những người này cư trú
Trang 5rất rộng trên vùng đảo Tõy Nam – Thái Bình Dương, Tõy Ấn Độ Dương Nhưng như thế, cư dõn cổ nhất sống trên lónh thổ miền Trung Việt Nam là ai? Người Chăm
có mặt từ bao giờ? họ có đúng là người lập nước Champa hay không? Sử học theo đuổi nghiên cứu vấn đề này từ hàng chục năm nay mong tỡm ra rời lải giải đáp đáng tin cậy
* Cư dõn Chăm <-> Sa Huỳnh:
- Cuộc khai quật khảo cổ học có quy mô tương đối lớn, khoảng 12.000 m2, trên vùng hồ Yaly (Kontum), có thể bị ngập nước khi làm thuỷ điện Yaly vào t7-t8/2001,
đã đem lại hiểu biết lý thú Theo báo cáo, ở lớp dưới bên trong và bên dưới lớp đất laterớt hoá đã thấy một số dụng cụ đá ghè đẽo, có vài viên bằng cuội, rất giống hậu
kỳ đá cũ Lớp đất và dạng công cụ khiến hoàn toàn có thể tin được ở đõy có một thời hậu kỳ đã cũ của dõn bản địa trứơc đầu thiên niên kỷ I TCN => phát hiện này tương đối hiếm và điều đó cũng nói lên cư dõn bản địa đã sinh sống từ rất lõu đời trên Tõy Nguyên Đã có 1 sự di chuyển dõn cư của người Nam Đảo: đi từ biển Đông vào định
cư ở ven biển, mang đến sự giao lưu văn hóa lục địa - biển, để lại dấu ấn của nền văn hóa biển trên các nền văn hóa sơ kỳ kim khí như: Hạ Long, Quỳnh Văn cho đến Long Thạnh, bình Chõu ở miền trung, được coi là văn hóa tiền Sa huỳnh Tiếp nối văn hóa tiền Sa Huỳnh có niên đại khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I TCN làvăn hóa Sa Huỳnh nhất là ở Quảng Ngói là tiêu biờur cho một giai đoạn văn hóa mới phát triển, giai đoạn sơ kỳ đố sắt có niên đại từ khoảng giữa thiên niên kỷ I TCN cho đến đầu công nguyên (văn hóa SH cách ngày nay 5000 năm tương ứng với giai đoạn văn hóa đá mới ở BTB)
=> Như thế, chủ nhõn của văn hóa SH sớm mang đậm dấu ấn văn hóa biển - Nam Đảo có thể là tiền thõn của người Chăm – dõn nói tiếng Malayo – Polynesian, của văn hóa chăm và của vương quốc chăm
- Nét nổi bật của văn hóa SH là tục chôn người chết trong vò đất nung cũn gọi là chum Từ đầu thế kỷ, trong nhiều năm các nhà khoa học thuộc truờng Viễn đông Bác cổ đã khai quật một số địa điểm thuộc văn hóa SH, một vùng bờ biển tỉnh Quảng Ngói và tỡm thấy 400 vò gốm nằm cách mặt đất không sõu Tiếp tục cho đến nay, các nhà khoa học nước ngoài và VN lại phát hiện thêm nhiều bói mộ vò, rải rác trên bờ biển VN từ Quảng Bình, Quảng Nam đến Quảng Ngói, Phú Hòa, ven biển
TP HCM Trong vò có những gì?
+) Bên trong vò người ta cũn thấy đồ trang sức như vũng tay, xuyến bằng đá, vòng cổ bằng hạt đã quý, mã nóo, hạt thuỷ tinh màu, viên thuỷ tinh màu đỏ, mảnh thuỷ tinh Điều này khiến cho một số nhà nghiên cứu cho rằng cư dõn SH đã biết nghề luyện thuỷ tinh, nấu thuỷ tinh, và chớnh thuỷ tinh có nguồn gốc từ nước ngoài.Lẫn trong số đồ trang sức này cũn có loại mặt dõy chuyền hình con thú 2 đầu bằng đá màu, đá quý Loại mặt dõy chuyền này dường như là một kiểu đồ trang sức đặc trưng của dõn Nam Đảo nên người ta thấy khá nhiều di chỉ khảo cổ học thuộc văn hóa SH ở ven biển VN, Thái Lan và cả vùng đảo ngoài biển Đông
+) trong vò có các khuôn đúc đồng, mảnh nồi nấu đồng, nhiều xỉ đồng và một số lượng lớn đáng kể đồ sắt: gươm, cuốc, thuổng, dao, rỡu
+) Đồ dùng thường nhật: nồi, vò, bình, bát, tô có chõn, một số làm bằng bàn xoay, có hình dáng cõn đối đẹp, có xương gốm mịn, nung kỹ, có hoa văn trang trí
Trang 6Về kỹ thuật: có văn thừng, khắc vạch, văn in, văn tô màu, dùng cọng rơm tạo văn trũn
=> Tóm lại, các công trình, dụng cụ bằng đá mài, hiện vật bằng đồng, sắt, cùng với đồ trang sức và đồ gốm cùng với cả chất liệu và hoa văn trang trí phát hiện được trong các di chỉ khảo cổ học SH cũng chính là trình độ phát triển và đặc trưng của văn hóa SH, của cư dõn SH Với trình độ đó họ đang đứng trước ngưỡng cửa của trình độ văn minh, của sự hình thành xã hội có phõn hoá, có nhà nước Song chuẩn
bị thôi mà chưa thể làm ngay được bởi vì lúc này vùng lónh thổ của cư dõn SH, phần lớn miền Trung VN ngày nay cũng như miền Bắc, vùng chõu thổ Sông Hồng vẫn đang cũn bị Trung Quốc thời nhà Hán xõm chiêm và đô hộ
b Sự hình thành vương quốc cổ Chămpa
- Năm 111 TCN, nhà Hán thay thế nhà Triệu, xõm lược và thống trị nước Âu Lạc, chia làm 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chõn, Nhật Nam Quận Nhật Nam có 5 huyện: Tõy Quỷờn, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung, Tượng Lõm Tượng Lõm là huyện xa nhất về phớa Nam trong các đất chiếm đóng của nhà Hán (Quảng Nam, Quảng Ngói
và Bình Định) Không chịu được sự thống trị của nhà Hán, nhõn dõn các vùng bị chiếm đóng không ngừng nổi dậy Ở trong vùng đèo Cù Mông có 2 bộ lạc sinh sống:
Cau và Dừa (Truyền thuyết về thị tộc Cau: một cõy cau mọc cạnh cung vua có một chùm hoa to mãi không nở Vua cho người lên ngắt, bỏ ra thì thấy một cậu bé bụ bẫm Vua bắt vợ các vương hầu lại cho bú nhưng nó không bú Lúc đó vua có một con bò cái, lông ngũ sắc đang nuôi con bê, vua sai vắt sữa bò cho nó uống Nó thớch uống sữa bò, vì vậy người Chăm không giết bò và ăn thịt bò Cái mo cau trở thành cái mộc, cái cái sống lá thì thành cái kiếm Vua đặt tên cho đứa bé là Radja –
Po – Klong, nó lớn lên được vua gả con gái cho, rồi cho nó lên ngôi của mình Truyền thuyết về thị tộc Dừa cũng y hệt như vậy, chỉ khác là cái hoa cau thi là quả Dừa)
Hai thị tộc đó quan trọng nhất nước, thường đánh lẫn nhau liên miên hàng mấy trăm năm để giành ưu thế nhưng thường chấm dứt bằng cách gả con gái cho nhau Thị tộc Cau làm vua ở nứoc Panduranga (Phan Rang, Bình Thuận), thị tộc Dừa ngự trị ở phương Bắc Thị tộc Cau được coi là ưu đẳng trong vương quốc Chăm Bộ lạc Cau đã lập ra một tiểu vương quốc đầu tiên của người Chăm từ đầu công nguyên
- Vào cuối thế kỷ II SCN ở bộ lạc Dừa có một người là Khu Liên (Khu Liên – Kurung có nghĩa là tộc trưởng, thủ lĩnh, vua) đã hô hào nhõn dõn ở bộ lạc Cau tham
gia khởi nghĩa -> kết quả đã thắng lợi và năm 190 SCN và quốc gia độc lập tự chủ của bộ lạc Cau, Dừa ra đời đặt tên là Lõm Ấp Sách Thuỷ kinh chú đã giải thích rừ: Lõm Ấp là huyện Tượng Lõm, sau bỏ chữ Tượng chỉ gọi là Lõm Ấp Thư tịch Trung Hoa gọi tên Lõm Ấp cho đến Tõn đường thư TK VIII, nhưng từ TK IV có thêm nguồn tài liệu bi kí và được biết tên nước được gọi chính thức trong văn bia là Chămpa Viết theo chữ Phạn là Nagara Campa Campa là tên một loài hoa thường thường là trắng, rất thơm – hoa ngọc lan; cũng có thể như ở một số nơi khác gọi theo địa danh một vùng của Ấn Độ, ở phớa bắc hạ lưu sông Hằng Vậy vương quốc Champa được thành lập từ năm 192 sau công nguyên, vua đầu tiên của Champa là Khu Liên, tức Cri Mara
2 Thời sơ kỳ vương quốc Chămpa (TK II - X)
Trang 72.1 Giai đoạn Sinhapura (từ đầu đến khoảng năm 750)
Vương quốc được biết đến là Champa triển nở dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương ở trong khu vực mà bây giờ là miền Trung Việt Nam Vương quốc được ghi chép trong thư tịch của lịch sử Trung Quốc và Việt Nam với những cái tên khác nhau: Lâm Êp, Hoàn Vương và Champa Với phạm vi lịch sử là một giai đoạn 1600 năm từ khi thành lập năm 192 sau Công nguyên đến khi mất chủ quyền vào năm
1835, vương quốc này trải qua một thời gian dài hơn bất kỳ nơi nào khác ở Đông Nam Á Trong thời gian này, khi nó phải chiến đấu khốc liệt chống lại các nhóm tộc người khác nhau và các triều đại ở nước láng giềng Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Indonesia, nó hình thành những mối quan hệ thương mại với Ên Độ, A Rập, Trung Quốc, Nhật Bản và Philippin và tạo ra sự thịnh vượng đáng kinh ngạc Marco Polo, người đã từng đặt chân lên đây vào năm 1285, đã mô tả
nó như một Vương quốc giàu có Các di tích thờ cúng hay thủ phủ như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Po Nagar, và Chà Bàn…minh chứng cao sù huy hoàng của quá khứ
Do án ngữ một vị trí quan trọng trên con đường giao lưu quốc tế Đông - Tây, những thuyền bè ngược xuôi trong hệ thống mậu dịch châu á đều phải dừng chân nơi đây, nên người Chăm đã từng có những mối liên hệ rộng rãi với các nước trong và
noài khu vực Sách An nam chí lược của Lê Tắc biên soạn vào năm 1333, phần Các dân biên cảnh phục dịch có đưa lời bình về vị trí tự nhiên của Chiêm Thành
(ChamPa): “Nước này ở ven biển, những thuyền buôn của Trung Hoa vượt biển đi lại với các nước ngoại phiên đều tụ ở đây, để lấy củi, nước chứa Đấy là bến thứ nhất
ở phương Nam” Nói một cách hình ảnh, những con thuyền đó “bám” vào bờ biển Champa, Ýt nhất là 500km nếu tính từ mũi Varella để đi vào vịnh Xiêm hay tới eo Malacca và ngược lại, từ eo Malacca đi vào vịnh Bắc Bộ để tới được trung Hoa Tuy nhiên, điều quan trọng để vùng bờ biển Champa xưa được biết đến như một tuyến đường giao thông và sau đó là thương mại, văn hoá không phải chỉ do vị trí tự nhiên của nó, mà chính vì đó là vùng cư trú của một cộng đồng dân cư có nhà nước riêng của mình, có một nền văn hoá phát triển không thua kém bất cứ một nền văn hoá đương thời nào Và cũng chính họ là chủ thể của những mối quan hệ đến và đi trên vùng biển này
Nằm ở vị trí trung độ trên con đường giao lưu quốc tế Đông Tây, Trung Quốc với Ên Độ và xa hơn, tới Địa Trung Hải, Đông Nam Á sớm trở thành một đầu mối mậu dịch hàng hải quốc tế Từ đầu công nguyên, những con thuyền của cư dân trong vùng, thuyền của người Ên, người Hoa cùng với nền văn hoá của họ đã thường xuyên qua lại vùng Đông Nam Á
Trên con đường giao lưu đó, Champa chiếm lĩnh một trong những vị trí quan trọng và thuận lợi nhất Các cảng của Champa đóng vai trò như những cảng cuối cùng trước khi những con thuyền vượt qua vịnh Bắc Bộ vào vùng biển Trung Hoa,
Trang 8và là nơi dừng chân đầu tiên khi từ Trung Quốc đến Malacca, vịnh Thái Lan hay gần hơn là tới vùng hạ lưu châu thổ sông Mê Kông mà 7 thế kỷ đầu công nguyên thuộc vương quốc Phù Nam Hành trình của người Trung Hoa qua vùng biển Champa
quen thuộc đến nỗi được Tân Đường Thư (quyển 222 hạ, Liệt truyện 147 hạ - Nam
man) ghi chép lại như sau: “Từ Quảng Châu đi biển về Đông Nam 200 dặm, rồi giương buồm đi về phía Tây, chếch về phía Nam hai ngày lại đi về phía Tây Nam ba ngày thì đến núi Chiêm Bất Lao, lại đi nửa ngày đến Châu Bôn Đà Lãng (Panduranga?) Có thể thấy, hầu hết các tuyến đường biển đến Trung Hoa hay từ Trung Hoa đi qua Ên Độ đều rẽ qua các cảng biển Champa Từ một đầu mối giao thông quan trọng, bờ biển Champa đã sớm trở thành một đầu mối giao thương, nơi trao đổi sản vật và sản phẩm với những thuyền bè qua lại
Sù cho phép của điều kiện tự nhiên và thói quen văn hoá tộc người đã sớm hình thành ở người Chàm một truyền thống đánh cá, đóng thuyền để đi biển dạn dày kinh nghiệm Đến cuối thế kỷ IV, những người Nam Đảo, trong đó cã người Chàm
đã đóng vai trò như những “con thoi” trên vùng biển Đông và Nam Á, gắn bó những hòn đảo Đông Nam Á trong hệ thống thương mại thế giới Trong những tuyến giao thương mà người Nam Đảo có liên quan trực tiếp, thì Champa giữ một vị trí quan trọng nhất trên tuyến đường biển Nam Trung Hoa Ngay từ đầu công nguyên bờ biển Champa đã sớm là nơi thu hút những tàu bè gần xa cập bến vì nhiều lÝ do khác nhau Họ ghé vào cửa Đại Chiêm, Cảng Panduraga, Thị Nại (Vijaya) để lấy nước, thực phẩm, để nghỉ ngơi hay tránh những cơn bão với mật độ khá dày ở vùng biển này Biển là điều kiện đầu tiên để Champa mở ra con đường giao lưu với các nước trong và ngoài khu vực Và vì thế những nước có quan hệ với Champa ngay từ những buổi đầu của lịch sử cũng là những nước có thuyền bè đi qua lại vùng biển Đông Nam Á và vùng biển Champa
3 Cấu thành tộc người ở ChamPa
Đất Champa trong tiến trình lịch sử đã từng có lúc vươn ra đến Đèo Ngang (Quảng Bình) và kéo dài đến Nam Ninh Thuận Về phía Đông giáp bờ biển, về phía Tây có lúc vươn tới bờ sông Me Kông như Bia Vat Luang Kau gần Bassac (thế kỷ V) cho biết và cũng có lúc đến miền cao nguyên Trung bé Căn cứ trên bia ký phát hiện gần đền Vat Phu, Champassak, Nam Lào, thì Champa vào thế kỷ V đã vươn đến bờ sông Mêkông; rồi bia Kon Klor, Kon Tum, có niên đại 914 sau Công nguyên, nói về một địa phương tên là Mahindravarman xây dựng một cơ sở tôn giáo thờ Mahindra – Lokesvara; bia ký tháp Yang Praong, Đắc Lắc cho biết Jaya Simhavarman III đã xây tháp vào cuối thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV…Như vậy là
“…Biên giới phía Tây của Champa dã chạy qua vùng cao nguyên phía Tây dải Trường Sơn…Và rồi nhiều pho tượng (Nandin, Siva và các thần Ên Độ giáo khác)
đã được tìm thấy trong các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc và Lâm Đồng cho phép
ta nghĩ rằng toàn bộ vùng này nằm trong quỹ đạo tôn giáo của Champa” Khu vực miền núi là bộ phận hợp thành của Champa, chứ không phải là một vùng bị chinh phục và bị sáp nhập, một thuộc địa của Champa, thể hiện qua cuộc liên kết đấu tranh rất quyết liệt của các cư dân vùng này (người Churu, Cơ Ho, Raglai, Xtiêng) chống các cuộc xâm lược từ bên ngoài, như các văn bản lịch sử bằng tiếng Chăm đã ghi lại Hơn nữa, nhiều Vua Champa cũng có gốc gác miền núi, như vua Po Rome trị vì từ
Trang 91627 đến 1651 là gốc Churu…Có thể khẳng định rằng, Nagara Champa là một nước
đa tộc người và mọi tộc người đều có quyền bình đẳng như nhau về chính trị và xã hội
Champa trong tiến trình lịch sử lại không phải là một vương quốc thống nhất,
mà là một kiểu Liên bang (Copéderation) gồm năm công quốc (principautes) = Indrapura (từ Quảng Bình đến đèo Hải Vân), Amaravati (Quảng Nam – Quảng Ngãi), Vijaya (Bình Định – Phú Yên), Kauthara (Khánh Hoà), Panduranga (Ninh Thuận – Bình Thuận)2 Thành phần tộc người ở mỗi công quốc khác biệt nhau, tuy trụ cột vẫn là người ChamPa Cho nên, tuy vẫn là văn hoá Champa, song sắc thái ở mỗi tiểu quốc có những đặc trưng riêng.3 Theo giới học giả gần đây, vương quốc Champa là một liên minh lỏng lẻo của các chính thể các cỡ của vùng này, và Vua của Champa đã từng là bất cứ người nào làm lãnh đạo một thời có quyền lực lớn nhất (ông Vua giữa các Vua) (Momoki 1996)
3 Những điều kiện kinh tế và xã hội.
Địa thế của Champa khá đặc biệt, một dải đất hẹp chạy dài giữa đại dương và núi Dân cư chủ yếu sống rải rác ven biển và trong nội địa thì cư dân cư trú bên những dòng sông Chẳng hạn như vùng sông Thu Bồn , là một địa điểm quần cư của nhiều thời kỳ nối tiếp nhau cho đến thế kỷ XII, XIII với những trung tâm Trà Kiệu, Đồng Dương Sông Trà gắn với những di tích quần cư Chánh lộ và thành Châu Sa; Sông Côn gắn với Trà Bàn…G.Maspero dựa vào tên gọi trong bi ký đoán Champa chia làm 4 khu vực là: Amaravati (ứng với Quảng Nam), Vijaya (Quy Nhơn), Kauthara (Khánh hoà), Panduranga (Phan rang) Hoàn toàn không có gì chắc chắn đây là các khu vực hành chính, cũng như không chắc chắn là chỉ có 4 khu vực như trên Tống sử ghi chép lại rằng Champa được chia làm 38 châu Bi ký còn kể tên các đơn vị hành chính khác, như Pramana mà G.Maspero đoán là tỉnh và Vijaya đoán là huyện
Điều đáng nói ở đây là địa hình Champa bị chia cắt bởi các đèo chạy cắt ngang đổ từ nói ra biển tạo nên các vùng đồng bằng nhỏ và liên lạc với nhau bằng đường bộ rất khó khăn Người ta liên lạc chủ yếu với nhau bằng đường biển Nhưng điều đó không phải là điều kiện đủ để mỗi vùng tạo thành một tiểu vương quốc tự trị Nhiều di tích văn hoá Chăm còn lại đến ngày nay cho thấy các vùng ở Champa tương đối độc lập về không gian nhưng vẫn tiếp nối nhau về mặt thời gian Xét vị trí, vai trò của các kinh đô, ta sẽ thấy rõ hơn điều này
Sinhapura là kinh đô duy nhất của Champa cho đến cuối thế kỷ VII, đầu thế
kỷ VIII Từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX Virapura là nơi tập trung về quyền lực chính trị và kinh tế trên toàn vương quốc Không phải ngẫu nhiên mà vào thế kỷ VIII, Java để chứng tỏ sức mạnh thuỷ quân của mình đối với toàn khu vực đã liên tiếp tấn công các nước Đông Nam Á lục địa Hai lần đánh Champa là đánh kinh đô miền Nam Virapura và phá huỷ Kauthara Người Java không tấn công vào Trà Kiệu hay thánh địa Mỹ Sơn giàu có trong khi họ đã đánh cướp đến tận vùng đồng bằng
2 Po Dharma 1802-1835, Le Panduranga EFEO 1987) DÉn theo: Cao Xu©n Phæ, Kh¶o cæ häc Champa mét thÕ kû vµ
tiÕp theo…S®d, t.571.
3 Cao Xu©n Phæ, Kh¶o cæ häc Champa mét thÕ kû vµ tiÕp theo In trong: Mét thÕ kû Kh¶o cæ häc ViÖt Nam, tËp I, TËp
II, NXB KHXH, Hµ Néi – 2005, t 572
Trang 10Bắc Bộ Trường hợp cá biệt vào nửa sau thế kỷ XII ChamPa mới có hai kinh đô song song tồn tại nhưng là dưới sự tác động của những yếu tố bên ngoài.
Simhapura, Virapura rồi lại Đồng Dương, Vijaya, trong những hoàn cảnh lịch
sử khác nhau kinh đô lại dịch chuyển Mỗi kinh đô đại diện cho quyền lực, sự thống nhất, tập trung của vương quốc vào mỗi thời kỳ lịch sử Nhưng mặt khác, sự dịch chuyển kinh đô cũng có nghĩa là sự dịch chuyển quyền lực, thay thế quyền lực giữa hai bộ phận quý tộc Bắc-Nam Và như thế sẽ có thể giúp chứng minh xu hướng thống nhất và phân liệt luôn có mặt trong lịch sử Champa, thể hiện cả trong các mối quan hệ với bên ngoài
Dấu vết của những kinh thành cũ như Trà Kiệu, Đồng Dương, Chà Bàn…đều gắn với những dòng sông và có mối liên hệ mật thiết với biển khơi Nhiều tháp Chăm được xây dựng gần biển, thậm chí sát biển, không chỉ phục vụ cho nhu cầu tinh thần của nhân dân địa phương mà còn cho cả thuyền nhân nhiều nước…
Champa nổi tiếng là nơi có nhiều sản vật quý hiếm Vàng, các loại gỗ thơm, ngà voi, sừng tê luôn được nhắc tới trong các nguồn tư liệu nước ngoài người ta gọi Champa là xứ sở của trầm hương, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng Kauthara Trầm hương là một mặt hàng quý dùng để cống phẩm và trao đổi buôn bán
Nhà nghiên cứu Y.Sakurai cho rằng Champa là một trong những thể chế có khuynh hướng buôn bán nhỏ, hướng nền kinh tế ra bên ngoài, một đặc điểm của những quốc gia Đông Nam Á có lãnh thổ hẹp, dân cư Ýt, giàu lâm sản nhưng không
có nền nông nghiệp phát triển4 Và nếu theo quan điểm này thì Champa “chỉ là một thể chế biển?” K.Hall thì cho rằng hệ thống chính trị, kinh tế Champa “giống các quốc gia sông nước Malay hơn là những quốc gia láng giêng làm nông nghiệp trồng lúa nước ở lục địa về phía Tây và phía Bắc của nó”, và Hall còng cho rằng: “kinh tế Champa chủ yếu là dựa trên hoạt động cướp đoạt bằng đường biển”5 Nhưng học Momoki Shiro đã không đồng ý kiến với K.Hall, khi ông cho rằng: “…chóng ta không thể coi ChamPa là vương quốc cướp biển như Srivijaya ChamPa cũng không
có một nền kinh tế hoàn toàn dựa vào cướp bóc như Sulu trong những thế kỷ XIX, mặc dù đã có không Ýt tù nhân và nô lệ được mua về ở ChamPa”6
XVIII-Nhiều nhà nghiên cứu cổ điển đã nói đến sự tồn tại và phát triển của kinh tế nông nghiệp ở Champa Dựa trên nguồn tư liệu trong thư tịch cổ Trung Hoa, về sản phẩm nông nghiệp của Champa, G.Maspero cho rằng: “Có Ýt đồng bằng, đất trồng trọt thì hiếm, Ýt lúa nhưng nhiều rau đậu…, trồng nhiều cây ắn quả…trồng dâu để nuôi tằm và trồng bông Đến mùa bông nở, bông trắng như lông ngỗng Người ta lấy bông ra rồi kéo sợi để dệt vải thô…, nhuộm đi dệt thành vải ngụ sắc và vải lốm đốm” Trong những sản phẩm kể trên thì vải bông đã đạt được trình độ phát triển cao, một thứ hàng quý dùng để cống phẩm và trao đổi
Chủ nhân văn hoá Champa đã biết khai thác và tận dụng mọi thế mạnh của các hệ sinh thái Theo các nguồn thư tịch Hoa – Tây, Champa đã tranh thủ xuất khẩu
4 DÉn theo: Momoki Shiro, ChamPa, chØ lµ mét thÓ chÕ biÓn? (Nh÷ng ghi chÐp vÒ n«ng nghiÖp vµ ngµnh nghÒ trong
c¸c t liÖu Trung Quèc).
5 K.R.Hall, Maritime trade and State Development S®d, t …
6 Momoki Shiro, ChamPa, chØ lµ mét thÓ chÕ biÓn? (Nh÷ng ghi chÐp vÒ n«ng nghiÖp vµ ngµnh nghÒ trong c¸c t liÖu Trung Quèc).
Trang 11đủ mọi thứ, từ nước ló ở cỏc giếng Chàm ven biển đến Trầm hương, mó nóo ở nỳi rừng, duy chỉ cú một mún hàng cấm xuất khẩu, vỡ thiếu, đú là lỳa gạo7 Ở vựng ven biển, cú cả một hệ thống giếng Chàm để cung cấp nước ngọt cho tàu thuyền quốc tế ven biển.
Người Chàm và văn hoỏ Champa trong khoảng 15-16 thế kỷ tồn tại đó thớch ứng và ứng biến tài tỡnh với mọi hệ sinh thỏi từ nỳi rừng tới biển khơi.8
Cư dõn Champa là những thương nhõn giỏi Dựa theo những dũng sụng lớn ở miền Trung Việt Nam, họ biết thiết lập một hệ thống trao đổi hàng hoỏ từ miền xuụi lờn miền ngược, một mụ hỡnh kinh tế rất phự hợp với địa lý của vựng đất này, giữa
cư dõn miền biển và miền nỳi; chẳng hạn, cú thể họ đó hỡnh thành một hệ thống nội thương để trao đổi cỏc loại muối, mắm, tụm, cỏc khụ, đường mớa, vải sợi, đồ gốm,
mó nóo, thuỷ tinh, đồ đồng thau…từ miền xuụi để đổi lấy những loại lõm sản quý như: Trầm hương, quế, mật ong, hồ tiờu, cỏc loại gia vị, ngà voi, sừng tờ ngưu, thỳ
lạ, chim quý, cỏc loại cõy gỗ quý…của cỏc cư dõn miền ngược; nguồn hàng quý hiếm này được tập trung tại cỏc cảng – thị, nơi cú hệ thống ngoại thương để trao đổi buụn bỏn với cỏc thương nhõn ấn Độ, Ả Rập, Trung Hoa, Nhật Bản…Cú nhiều cảng – thị lớn được thiết lập tại cỏc cửa biển trọng yếu như cửa Nhật Lệ (Quảng Bỡnh), cửa Việt (Quảng Trị), cửa Tư Hiền (Thừa Thiờn Huế), cửa Đại Chiờm (Hội An, Quảng Nam), cửa Thi Nại (Quy Nhơn), cửa Nha Trang (Khỏnh Hoà), cửa Phan Rang (Ninh Thuận), cửa Phan Rớ, cửa Phan Thiết (Bỡnh Thuận)9
III Sự hỡnh thành cỏc tiểu quốc đầu tiờn
1 Truyền thuyết
Theo truyền thuyết, cỏc vua Chăm thuộc về 2 nguồn gốc:
a) Thị tộc Cau: Vào năm 591 thời Dvapara, cú một vua tờn là Vieitrasagara hay
Vieitra dựng một cỏi mukhalinga của Cri Cambhu ở trờn đất Kauthara (Khỏnh Hoà) Truyền thuyết này chộo theo truyền thuyết Ấn Độ, khụng cú giỏ trị lịch sử
b) Thị tộc Dừa: Truyền thuyết này mự mờ Một maharsi tờn là Birrgu được Ica uỷ
nhiệm dựng một linga của Cri Cambhubhadracvara và lập nờn nước Champa Rồi Cambhu lại phỏi Uroja xuống làm vua Vậy Uroja là dũng dừi của Paramecvara Và sau này, những ai làm vua xứ Campapura cũng đều tự xưng mỡnh là dũng dừi Uroja Chỉ cú những kẻ tiếm ngụi muốn hợp phỏp hoỏ việc thoỏn nghịch của mỡnh, mới tự xưng là họ xa của Uroja mà thụi Mặt khỏc, ta biết vua Bhudravarman I tức Phạm Hồ (Tu) Đạt (làm vua 399-413) dựng linga này và vua Cambhuvarman (Phạm Phạn Chớ) (làm vua đầu thế kỷ 7)
đó dựng lại nú sau khi nú bị phỏ huỷ Người Chăm trong thời vương quốc Chăm Pa lịch sử bao gồm hai bộ tộc chớnh là bộ tộc Dừa (Narikelavamsa) và Cau
7 Trần Quốc Vợng, Miền trung Việt Nam và văn hoá Champa (một cái nhìn địa - văn hoá) Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á, 4.1995, t.18.
8 Trần Quốc Vợng, Miền trung Việt Nam và văn hoá Champa (một cái nhìn địa - văn hoá) Sđd, t.19.
9 Trần Kỳ Phơng, Bớc đầu tìm hiểu về địa-lịch sử của vơng quốc Chiêm Thành (Champa) ở miền Trung Việt Nam: Với
sự tham chiếu đặc biệt vào hệ thống trao đổi ven sông của l“ ” u vực sông Thu Bồn ở Quảng Nam, Trong: Thông tin
Khoa học, tháng 03-2004, Phân viện nghiên cứu văn hoá nghệ thuật tại thành phố Huế.
Trang 12(Kramukavamsa) Bộ tộc Dừa sống ở Amaravati và Vijaya trong khi bộ tộc Cau sống ở Kauthara và Pandaranga Hai bộ tộc có những cách sinh hoạt và trang phục khác nhau và có nhiều lợi ích xung đột dẫn đến tranh chấp thậm chí chiến tranh Nhưng trong lịch sử vương quốc Chăm Pa các mối xung đột này thường được giải quyết để duy trì sự thống nhất của đất nước thông qua hôn nhân Bên cạnh người Chăm, chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa cũn cú cả các tộc người thiểu số gốc Nam Đảo và Mon-Khmer và ở phía Bắc Chăm Pa cũn cú cả người Việt.
=> Lâm Ấp: Theo sử liệu Trung Quốc, vương quốc Chăm Pa đã được biết đến đầu
tiên là vương quốc Lâm Ấp bắt đầu từ năm 192 ở khu vực Huế ngày nay, sau cuộc khởi nghĩa của người dân địa phương chống lại nhà Hán Trong nhiều thế kỷ sau đó, quân đội Trung Quốc đã nhiều lần cố gắng chiếm lại khu vực này nhưng không thành công
Từ nước láng giềng Phù Nam ở phía tây và nam, Lâm Ấp nhanh chóng hấp thu nền văn minh Ấn Độ Các học giả đã xác định thời điểm bắt đầu của Chăm Pa là thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, khi quá trình Ấn hóa đang diễn ra Đõy chớnh là giai đoạn
mà người Chăm đã bắt đầu cú cỏc văn bản mô tả trờn đỏ bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đó cú bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm
Vị vua đầu tiên được mô tả trong văn bia là Bhadravarman, cai trị từ năm 349 đến 361 Ở thánh địa Mỹ Sơn, vua Bhadravarman đã xây dựng nên ngôi đền thờ thần
có tên là Bhadresvara, cái tên là sự kết hợp giữa tên của nhà vua và tên của thần Shiva, vị thần của các thần trong Ấn Độ giáo Việc thờ vua như thờ thần, chẳng hạn như thờ với tên thần Bhadresvara hay cỏc tờn khỏc vẫn tiếp diễn trong các thế kỷ sau đó
Vào thời Bhadravarman, kinh đô của Lâm Ấp là kinh thành Simhapura ("thành phố Sư tử"), nằm ở dọc hai con sông và bao quanh bởi tường thành có chu vi dài đến tám dặm Theo ghi chép lại của một người Trung Quốc thì người Lâm Ấp vừa ưa thích ca nhạc nhưng cũng lại hiếu chiến, và có "mắt sâu, mũi thẳng và cao, và tóc đen và xoăn".
Cũng theo tài liệu Trung Quốc, Sambhuvarman lên ngôi vua Lâm Ấp năm
529 Các tài liệu cũng mô tả vị vua này đã cho khôi phục lại ngôi đền thờ Bhadresvara sau một vụ cháy Sambhuvarman cũng đã cử sứ thần sang cống tuế Trung Quốc, và đã xâm lược không thành phần đất mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam Năm 605, tướng Lưu Phương nhà Tùy xâm lược Lâm Ấp, và đã chiến thắng sau khi dụ tượng binh của Lâm Ấp đến và tiêu diệt tại trận địa mà trước đó ông đã cho đào nhiều hố nhỏ và phủ cỏ lên Vào khoảng những năm 620, các vua Lâm Ấp
đã cử nhiều sứ thần sang nhà Đường và xin được làm nước phiên thuộc của Trung Quốc
Các tài liệu Trung Quốc ghi nhận cái chết của vị vua cuối cùng của Lâm Ấp là vào khoảng năm 756 sau Công nguyên Sau đó trong một thời gian dài, cỏc sỏch sử Trung quốc gọi Chăm Pa là "Hoàn Vương" Tài liệu Trung Quốc sớm nhất sử dụng
Trang 13tờn cú dạng "Chăm Pa" là vào năm 877, tuy nhiên, những cái tên như vậy đã được người Chăm sử dụng muộn nhất là từ năm 629, và người Khmer đó dựng muộn nhất
là từ năm 657
2 Thời hoàng kim
Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 10, người Chăm kiểm soát việc buôn bán hồ tiêu và tơ lụa giữa Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và đế quốc Abbassid ở Baghdad Người Chăm còn bổ sung thêm cho nguồn thu nhập của mình từ thương mại, không chỉ bằng việc xuất khẩu ngà voi và trầm hương mà còn bằng cả các hoạt động cướp phá trên biển và các nước láng giềng ven biển Thời kỳ hưng thịnh của Kauthara
Vào thế kỷ thứ 8, trung tâm chính trị của Chăm Pa đã tạm thời chuyển từ Mỹ Sơn xuống khu vực Panduranga và Kauthara, với trung tâm ở quanh quần thể đền tháp là Tháp Bà - Po Nagar ở gần Nha Trang ngày nay nơi để thờ nữ thần đất Yan
Po Nagar Năm 774, người Java đã phá hủy Kauthara, đốt đền thờ Po Nagar, và mang đi tượng Shiva Vua Chăm là Satyavarman đã đuổi theo quân giặc và đánh bại chúng trong một trận thủy chiến Năm 781, Satyavarman đã dựng bia tại Po Nagar, tuyên bố đã chiến thắng và kiểm soát toàn bộ khu vực và đã dựng lại đền Năm 787, người Java lại đốt phá đền thờ Shiva ở gần Panduranga
Triều đại Phật giáo ở Indrapura
Năm 875, vua Indravarman II đã xây dựng nên triều đại mới ở Indrapura (thành Đồng Dương, ở huyện Thăng Bình, Việt Nam ngày nay) Vua Indravarman tự xưng là hậu duệ của Bhrigu trong sử thi Mahabharata, và quyết đoán rằng chính kinh thành Indrapura đã từng được chính Bhrigu ở thời cổ đại xây dựng nên[46]
Indravarman là vị vua Chăm đầu tiên theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức Ở trung tâm của Indrapura, ụng đó xây dựng một tu viện Phật giáo (vihara) để thờ bồ tát Lokesvara (Quán Thế Âm) Di tích này đã bị hủy hoại trong
Một số tượng đá từ tu viện cũng được gìn giữ tại các viện bảo tàng ở Việt Nam Các học giả đã gọi phong cách nghệ thuật điển hình tại Indrapura là phong cách Đồng Dương Phong cách đặc trưng bởi tính năng động và tính hiện thực về mặt dân tộc học khi mô tả người Chăm Các tác phẩm còn lại của phong cách này có một số bức tượng dvarapala hay hộ pháp rất dữ tợn trước đây được đặt ở quanh tu viện Thời kỳ Phật giáo thống trị, Chăm Pa kết thúc năm 925, lúc phong cách Đồng Dương đã bắt đầu nhường bước cho các phong cách tiếp theo có mối liên hệ với sự phục hồi của đạo thờ thần Si-va
Các vua của triều đại Indrapura đã xây dựng ở Mỹ Sơn một số đền tháp vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10 Các đền tháp này ở Mỹ Sơn đã xác định một phong cách kiến trúc
và nghệ thuật khác mà các học giả gọi là phong cách Mỹ Sơn A1, dùng để chỉ tất cả các di tích ở Mỹ Sơn điển hình cho phong cách này Với sự chuyển đổi tôn giáo từ
Trang 14Phật giáo trở về Si-va giáo vào khoảng thế kỷ thứ 10, trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở về Mỹ Sơn.
Lịch sử Bắc Chăm Pa (Indrapura và Vijaya) phát triển đồng thời với vương quốc láng giềng là nền văn minh Angkor của người Khmer nằm ở phía bắc hồ lớn Tonle Sap trên phần đất mà ngày nay là Campuchia Sau khi vương triều Chăm ở Indrapura được thiết lập năm 875 thì chỉ hai năm sau tức năm 877 tại Roluos, vua Indravarman I đã thiết lập đế quốc Khmer Lịch sử của Chăm Pa và đế quốc Khmer cũng đều phát triển rực rỡ trong thế kỷ 10 đến thế kỷ 12, rồi đều dần suy yếu và tan
rã vào thế kỷ thứ 15 Năm 1238, đế quốc Khmer mất miền đất phía tây xung quanh
không chỉ mở ra kỷ nguyên độc lập của người Xiêm mà còn báo trước sự tan rã của Angkor năm 1431 sau khi bị người Xiêm từ vương quốc Ayutthaya phá hủy và rồi bị sát nhập vào Sukhothai năm 1376 Sự suy yếu của Chăm Pa cũng diễn ra đồng thời với Angkor, dưới sức ép từ Đại Việt, quốc gia nằm ở miền Bắc Việt Nam ngày nay,
và chấm hết khi kinh thành Vijaya (tức Chà Bàn) bị chinh phục và phá hủy vào năm 1471
Khmer xâm chiếm Kauthara
Năm 944 và 945, quân đội Khmer từ Angkor đã xâm chiếm khu vực Kauthara] Khoảng năm 950, người Khmer đã phá hủy đền Po Nagar và lấy đi tượng nữ thần Năm 960, vua Chăm là Jaya Indravaman I đã cử sứ thần sang nhà Tống (lúc này đóng đô ở Khai Phong) Năm 965, nhà vua đã cho xây dựng lại đền thờ Po Nagar và tượng nữ thần để thay thế cho bức tượng đã bị lấy đi
Rời bỏ kinh đô Indrapura
Vào nửa cuối thế kỷ thứ 10, các vua của triều đại Indrapura đã tiến hành chiến tranh
tay người Trung quốc Sau khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hỏn trờn sông
Lĩnh thống nhất năm 968 với quốc hiệu Đại Cồ Việt và kinh đô ở Hoa Lư thuộc địa phận huyện Trường Yên tỉnh Ninh Bình ngày nay
Năm 979, vua Chăm là Parameshvaravarman I (sách Đại Việt Sử kí Toàn thư gọi là
Bê Mi Thuế) đã cử hạm đội sang tấn công Hoa Lư Tuy nhiên, toàn bộ quân viễn
Trang 15chinh đã bị tan rã sau một cơn bão Năm 982, vua Lê Hoàn của Đại Việt đã cử ba sứ thần sang Indrapura Sau khi các sứ thần bị giam giữ, vua Lê Hoàn đã quyết định đánh Chăm Pa Quân Đại Việt đã chiếm Indrapura và giết vua Parameshvaravarman
Họ mang về nước rất nhiều nhạc công và vũ công Chăm, chính những người này về sau đã ảnh hưởng đến sự phát triển nghệ thuật của Đại Việt Do hậu quả để lại của việc tàn phá, người Chăm đã rời bỏ Indrapura vào khoảng năm 1000 Trung tâm của Chăm Pa được chuyển xuống Vijaya ở phía nam nằm trên đất tỉnh Bình Định ngày nay mà người Việt thời Lý gọi là Phật Thệ
Người Việt triệt phá Vijaya
Mâu thuẫn giữa Chăm Pa và Đại Việt đã không chấm dứt với việc người Chăm từ bỏ kinh đô Indrapura Chăm Pa đã chịu các đợt tấn công của Đại Việt năm 1021 và
1026 Năm 1044, một trận đại chiến diễn ra giữa Đại Việt và Chăm đã dẫn đến cái chết của vua Jaya Simhavarman II (sách sử Việt gọi là Sạ Đẩu) và việc vua Lý Thái Tông của Đại Việt trực tiếp chỉ huy cuộc triệt hạ kinh đô Vijaya Quân Việt mang về nước voi, nhạc công và cả hoàng hậu Mỵ Ê, người đã nhảy xuống sông tự tử trên đường về Thăng Long Từ đó, Chăm Pa bắt đầu nộp cống cho các vua Đại Việt, và vào năm 1065 đã cống nạp một con tê giác trắng Năm 1068, vua Vijaya là Rudravarman IV (tức Chế Củ) lại tấn công Đại Việt để trả thù trận thua năm 1044 Một lần nữa người Chăm bị thất bại và Đại Việt lại chiếm và đốt phá kinh đô Vijaya Kinh đô Vijaya bị đốt phá một lần nữa vào năm 1069, khi tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy hải quân tấn công Chăm Pa và chiếm Vijaya Vua Rudravarman bị bắt làm tù binh và sau đó đã đổi ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính lấy tự do Lợi dụng tình hình chiến sự, các thủ lĩnh người Chăm ở phía Nam đã dựng lên một vương quốc độc lập Đến năm 1084, các vua Bắc Chăm Pa mới có thể tái thống nhất đất nước Trong năm 1075, quân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy lại tấn công Chăm Pa nhưng không thắng được và phải rút quân về Tuy không thắng nhưng Lý Thường Kiệt đã cho vẽ họa đồ ba châu mới lấy được và đổi châu Địa Lý làm chõu Lõm Bỡnh, chõu Ma Linh làm châu Minh Linh và đồng thời chiêu mộ dân chúng đến đấy ở
Khmer xâm chiếm Bắc Chăm Pa
Năm 1074, vua Harivarman IV lên ngôi đã cho phục dựng lại các đền tháp ở Mỹ Sơn và mở ra một thời kỳ thịnh vượng ngắn ngủi Harivarman thiết lập quan hệ hòa bình với Đại Việt nhưng lại mở ra cuộc chiến với người Khmer của đế chế Angkor Năm 1080, quân đội Khmer đã tấn công Vijaya và các trung tâm khác ở miền Bắc Chăm Pa Các đền tháp và tu viện đã bị phá hủy; các di sản văn hóa đã bị lấy đi Sau những thất bại này, quân Chăm dưới sự chỉ huy của vua Harivarman đã đẩy lùi quân địch, khôi phục lại kinh đô và các đền tháp
Khoảng năm 1080, một triều đại mới đã ra đời ở cao nguyên Korat trên đất Thái Lan
ngày nay đã chiếm ngai vàng Angkor của đế quốc Khmer Ngay sau đó, các vua của triều đại mới đã tiến hành mở rộng đế quốc Sau thất bại của các cuộc tấn công Đại
Trang 16Việt năm 1132 và 1137, các vua Angkor đã quay sang Chăm Pa Năm 1145, quân đội Khmer dưới sự chỉ huy của vua Suryavarman II, người đã xây dựng Angkor Wat, đã chiếm Vijaya và phá hủy các đền tháp ở Mỹ Sơn Vua Khmer sau đó đã tấn công và chiếm toàn bộ miền Bắc Chăm Pa Tuy nhiên, năm 1149, vua Jaya Harivarman, lãnh đạo của tiểu quốc Panduranga ở phía Nam, đã đánh bại quân xâm lược và lên ngôi vua của các vua tại Vijaya Ông đã dành thời gian trị vị còn lại để đàn áp các cuộc nổi loạn tại Amaravati và Panduranga.
Người Chăm chiếm Angkor
Năm 1167, Jaya Indravarman IV (sử Việt gọi ông là Chế Chí) lên ngôi vua Chăm
Pa Tài liệu văn bia mô tả ông dũng cảm, sử dụng thành thạo mọi loại vũ khí, và thông hiểu triết học, thuộc hết các lý lẽ Dharmasutra (một kinh Ấn Độ giáo) và các học thuyết Phật giáo Đại thừa ] Sau khi thiết lập hòa bình với Đại Việt năm 1170, vua Jaya Indravarman đó đỏnh sang Khmer Năm 1177, một lần nữa quân đội của nhà vua đã bất ngờ tấn công thủ đô Khmer là Yasodharapura từ các thuyền chiến đi ngược sông Mekong đến hồ lớn Tonle Sap ở Khmer Quân Chăm đã chiếm thủ đô Khmer, giết vua Khmer, và mang về nhiều chiến lợi phẩm
Vijaya bị người Khmer chinh phục
Người Khmer nhanh chóng ủng hộ nhà vua mới Jayavarman VII người đã đẩy lùi quân Chăm ra khỏi vương quốc Khmer vào năm 1181 Khi Jaya Indravarman IV một lần nữa tấn công Khmer năm 1190, Jayavarman VII đã giao cho một hoàng tử người Chăm là Vidyanandana làm tổng chỉ huy quân Khmer Vidyanandana đã đánh bại quân xâm lược Chăm và thậm chí tiến lên chiếm Vijaya và bắt sống vua Jaya Indravarman về Angkor
Sau khi chinh phục Vijaya, vua Khmer chọn người em rể là Hoàng tử In làm vua bù nhìn ở Chăm Pa Nội chiến nổ ra tại Chăm Pa giữa các phe phái và cuối cùng Hoàng
tử In chiến thắng nhưng lại tuyên bố Chăm Pa độc lập khỏi vương quốc Khmer Quân Khmer đã cố gắng chiếm lại Chăm Pa nhưng không thành trong suốt những năm 1190 Năm 1203, cuối cùng thì tướng của vua Jayavarman VII cũng chiếm lại được Vijaya và biến Chăm Pa trở lại thành một tỉnh của Angkor Chăm Pa hoàn toàn mất độc lập cho đến năm 1220 Sau đó, Vijaya đi vào giai đoạn suy thoái kéo dài hơn hai thế kỷ Thời kỳ này đi đến kết thúc bởi Đại Việt và chỉ có một gián đoạn ngắn ngủi trong những cố gắng quân sự của vua Che Bonguar
Cuộc xâm lược của quõn Nguyờn Mụng
Năm 1270, Kublai Khan dựng nên nhà Nguyên ở Bắc Kinh và dần dần chiếm hết miền Nam Trung Quốc do nhà Nam Tống cai trị Năm 1280, Kublai Khan quay sang thôn tính Chăm Pa và Đại Việt Năm 1283, quõn Nguyên dưới sự chỉ huy của tướng Sogetu đánh Chăm Pa và chiếm kinh thành Vijaya Việc xâm lược Chăm Pa không
có kết quả lâu dài Thay vì tấn công trực diện, vua Chăm đã cho rút quân lên Tây
Trang 17Nguyên và tiến hành chiến tranh du kích Hai năm sau, quõn Nguyờn phải rút lui và Sogetu bị giết trên đất Đại Việt trong một trận chiến khỏc trờn đường rút quân về.
Jaya Simhavarman III
Năm 1307, vua Chăm là Jaya Simhavarman III (sử Việt gọi là Chế Mõn), đó dựng đền thờ Po Klaung Garai ở Panduranga (Phan Rang), và nhượng hai châu Ô, Lý ở phía bắc cho Đại Việt làm của hồi môn để cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần Không lâu sau hôn lễ, nhà vua băng hà, Đại Việt cử người cướp công chúa trở về để tránh bị hỏa táng theo tục lệ của người Chăm Tuy nhiên phần đất hồi môn của Chế Mân đã không trở về với Chăm Pa Để giành lại miền đất này, và nhân cơ hội Đại Việt suy yếu trong thế kỷ thứ 14, quân Chăm bắt đầu thường xuyên xâm nhập biên giới vào sâu trong đất Đại Việt ở phía Bắc
Che Bonguar
Vị vua hùng mạnh cuối cùng của người Chăm là Che Bonguar (sử Việt gọi là Chế Bồng Nga) cai trị từ năm 1360 đến năm 1390[71] Che Bonguar đã thống nhất toàn bộ đất đai của người Chăm dưới sự cai trị của mình và đến năm 1371 thỡ ông đã đủ mạnh để tấn công và gần như là đã chinh phục Đại Việt từ đường biển
Quân Chăm đã đánh phá Thăng Long vào các năm 1372 và 1378 Trong lần tấn công cuối cùng của quân Chăm vào Đại Việt là vào năm 1389 Tuy lúc đầu bị quân Đại Việt do Hồ Quý Ly chỉ huy chặn lại, nhưng sau đó do dùng mưu dụ quân Đại Việt truy kích mà quân Chăm tiến lên thắng lớn Nhờ có mưu kế của tướng Nguyễn
Đa Phương nờn quân Việt mới có thể rút lui bảo toàn lực lượng Quân Chăm dưới sự chỉ huy của Che Bonguar và La Ngai (tờn Chiờm: Lakhai?, sau này là vua Simhavarman VI) theo hai đường thủy bộ tiến đến tận Hải Triều (khúc sông Luộc
chảy qua huyện Phù Tiên, Hải Hưng và huyện Hưng Hà, Thái Bình ngày nay) Tại đây, sau trận thủy chiến với Trần Khát Chân, Che Bonguar đã chết tại trận, La Ngai bốn nhõn cơ hội rút quân về nước tự lập làm vua Đó là năm 1390 Đây là lần tấn công cuối cùng của quân Chăm vào Đại Việt nhưng cũng đã đủ để đặt dấu chấm hết
trước đó nhưng giờ đây đó quỏ suy yếu và không đủ sức để kháng cự hiệu quả với quân Chăm
Xung đột với nhà Hồ
Năm 1391, Hồ Quý Ly đem đại quân tới tận biên giới Việt - Chăm và cử Hoàng Phụng Thế đem quân tấn công Chăm Pa nhưng quân Chăm Pa đặt mai phục thắng lớn khiến toàn quân Việt tan vỡ chỉ có Phụng Thế thoát được về Ngay trong năm đó Quý Ly cũng rút quân về
Đến năm 1402, Hồ Hán Thương lại đem quân đi đánh Chăm Pa Tiền quân Việt do viên tướng người Chăm là Chế Đa Biệt (tên Việt là Đinh Đại Trung) giao tranh
Trang 18quyết liệt với quân Chăm do Chế Tra Nan chỉ huy khiến hai bên đều tổn thất, cả hai viên tướng đều bị chết nhưng cũng làm cho vua Chăm là Jaya Indravarman VII (sách sử Việt gọi là Ba Đích Lại) (là con của La Ngai) phải nhường đất Chiêm Động (Hồ Quý Ly chia làm hai châu Thăng và Hoa, nay là đất các huyện Thăng Bình, Tam
hai châu Tư và Nghĩa nay là các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức,
Năm 1403, Hồ Hán Thương lại giao Nguyờn Khụi thống lĩnh quân thủy bộ tiến đánh Chăm Pa nhưng vì lương thực tiếp tế không đủ lại có hải quân Minh giỳp quõn Chăm nên phải rút quân về
Năm 1407, nhân khi quân Minh sang xâm lược Đại Việt, quân Chăm Pa cũng tấn công Đại Việt và lấy lại được đất cũ (Chiêm Động và Cỗ Lũy) Tướng Minh là
đến Hoỏ chõu, khụng tiến xuống vùng đất Chăm Pa vừa lấy lại
Đại Việt chiến thắng và tàn phá Vijaya
Năm 1446, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Trịnh Khả, Lê Thụ và Lê Khắc Phục
đã tấn công Chăm Pa Cuộc tấn công kết thúc thắng lợi và thành Vijaya mà người Việt thời Lê gọi là thành Chà Bàn (hay Đồ Bàn) rơi vào tay quân Việt Quân Việt cũng bắt sống vua Chăm là Bí Cai (Bichai) và mang về Thăng Long cùng với nhiều phi tần[85] Tuy nhiên năm sau quân Việt đã bị đẩy lùi
Năm 1470, quân Đại Việt do Hoàng đế Lê Thánh Tông trực tiếp chỉ huy lại tấn công Chăm Pa Quân Đại Việt lúc này đã rất mạnh và có tổ chức tốt Ngược lại quân Chăm rất yếu và thiếu tính tổ chức] Thủy quân Đại Việt do các tướng Đinh Liệt và
Lê Niệm chỉ huy tấn công trước Lờ Thỏnh Tụng dẫn đại quân theo sau Tháng 2 năm đó, vua Chăm là Trà Toàn cử em đem tượng binh và bộ binh đến sát trung quân của vua Lờ Thỏnh Tụng Cỏc tướng Lê Hy Cát, Hoàng Nhõn Thiờm, Lờ Thế và Trịnh Văn Sái đem thủy quân chắn giữ cửa biển Sa Kỳ (nay là huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi) chặn lối rút của quân Chăm Vua Lờ Thỏnh Tụng dẫn thủy quân tiến đánh quân Chăm ở cửa Áp (tức cửa Tân Áp, sau là cửa Đại Áp ở huyện Tam Kỳ tỉnh
7 dặm) Đồng thời bộ binh Đại Việt do Nguyễn Đức Trung ngầm đi đường núi tấn công quân Chăm khiến quân Chăm phải rút về thành Vijaya Quân Việt nhanh chóng tiến lên đánh bại quân Chăm và bao vây thành Vijaya Thành Vijaya thất thủ vào ngày 2 tháng 3 năm 1471 sau bốn ngày giao tranh Vua Chăm là Trà Toàn bị bắt sống và chết trên đường chở về Thăng Long Ít nhất hơn 60.000 người Chăm bị giết
và 30.000 bị bắt làm nô tỳ cho quân Đại Việt Kinh thành Vijaya bị phá hủy hoàn toàn Sau chiến thắng vua Lờ Thỏnh Tụng đó sát nhập các địa khu Amaravati và Vijaya và lập nên thừa tuyên Quảng Nam và duy trì vệ quân Thăng Hoa ở đây Tướng Chăm là Bụ Trỡ Trỡ (tờn Chăm: ?) chiếm vùng đất Panduranga (sách sử Việt