1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam

57 1,7K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Minh Phương, Nguyễn Thị Lan
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật hình sự
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 104,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU1.Tính cấp thiết của đề tài

Xóa án tích là một chế định quan trọng thể hiện nguyên tắc cơ bản củapháp luật hình sự Việt Nam – nguyên tắc nhân đạo Với chế định này, Nhà

nước ta đã ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội nhằm xóa bỏ đi vết

nhơ đã từng bị kết án của mình, từ đó, giúp xóa bỏ thành kiến của xã hội đối

với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người cóích cho xã hội Vì vậy, quy định về xóa án tích có ý nghĩa quan trọng không chỉđối với người phạm tội mà còn giúp xã hội ngày càng phát triển và văn minh

Kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 là bướcphát triển mới trong việc giải quyết vấn đề án tích và xóa án tích trong luật hình

sự nước ta Nhiều quy phạm của chế định xóa án tích đã được sửa đổi, bổ sungcho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấutranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả như phân định lại đối tượng áp dụng,thời hạn xóa án tích trong từng trường hợp xóa án tích Tuy nhiên, một số quyđịnh về chế định xóa án tích trong Bộ luật hình sự hiện hành, ở những mức độkhác nhau, bộc lộ những thiếu sót và chưa rõ ràng như thiếu văn bản hướng dẫn

về xóa án tích, quy định về thời hạn xóa án tích dẫn đến việc nhận thức và ápdụng quy định về xóa án tích không thống nhất giữa các Tòa án

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề

lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định xóa án tích, trên cơ sở đó đưa ranhững giải pháp để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành và giải quyếtnhững vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự là việc rất cần thiết,không những có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả vềthực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Vì vậy, em lựa chọn vấn đề "Chế định xóa án tích trong luật hình sự

Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho Khóa luận tốt nghiệp của mình.

2 Tình hình nghiên cứu

Trong giới khoa học luật hình sự, chế định xóa án tích chưa thực sự đượcquan tâm nghiên cứu Hiện nay, mới có một số tác phẩm hướng tới nghiên cứuchế định xóa án tích như:

- "Chế định xóa án tích trong Bộ luật hình sự năm 1999" của

Nguyễn Thị Minh Phương, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân năm 2001

1

Trang 2

- "Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn

Thị Lan, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân năm 2003, Khoa Luật trường Đại họcQuốc gia Hà Nội

Cũng như một số bài viết trong Giáo trình Luật Hình sự và các cuốn bìnhluận khoa học Bộ luật hình sự do các tác giả khác nhau thực hiện Các côngtrình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra những bàn luận và giải quyết đượcmột số vấn đề mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra Tuynhiên, một số quy định về xóa án tích vẫn chưa đạt đến sự đồng thuận và gây ranhiều tranh cãi trong giới khoa học luật hình sự hiện nay

3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu

- Mục đích: Mục đích của khóa luận là làm sáng tỏ một cách có hệ thống

về mặt lý luận những nội dung cơ bản của chế định xóa án tích theo pháp luậthình sự Việt Nam, xác định những bất cập trong thực tiễn để đề xuất những giảipháp tiếp tục hoàn thiện chế định trong thời gian tới và nâng cao hiệu quả củacuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu chế định xóa án tích theo

luật hình sự Việt Nam dưới góc độ Luật hình sự Đồng thời, cũng đề cập đếnmột số quy phạm của Luật tố tụng hình sự, Luật Lý lịch tư pháp nhằm phântích rõ quy định về xóa án tích Khóa luận tập trung chỉ ra quy định về xóa ántích theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành nhưng trên cơ sở

có đối chiếu, so sánh với quy định về xóa án tích theo pháp luật hình sự trướckia nhằm thấy rõ sự phát triển cũng như những điểm hạn chế còn tồn tại củaquy định về xóa án tích hiện hành

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận của khóa văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tác giả sử dụng các phương pháp nghiêncứu cụ thể như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổnghợp… để nghiên cứu khóa luận

-5 Kết cấu của Khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa Khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về xóa án tích

Chương 2: Chế định xóa án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Việt

Nam hiện hành

2

Trang 3

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH

1 1 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự chế định Xóa án tích

1.1.1 Thời kỳ trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985

Vấn đề án tích mặc dù được định hình từ rất sớm trong hệ tư tưởng củangười dân Việt Nam nhưng để được pháp điển hóa trong hệ thống pháp luật thìvấn đề án tích cũng như xóa án tích chưa được quan tâm trong thời kỳ trước khiban hành BLHS năm 1985 Tuy vậy, vấn đề xóa án tích cũng được đề cập rảirác trong một số văn bản pháp luật như Sắc lệnh 21/SL ngày 14 tháng 2 năm

1946 quy định về xóa án tích đối với người được hưởng án treo Tại Điều 10

Sắc lệnh 21/SL có quy định: “Nếu trong 05 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội

nhân không bị Tòa án quân sự làm tội một lần nữa về một việc mới thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có ” Tinh thần của điều luật này chính là

người phạm tội đương nhiên được coi như chưa can án nếu họ không bị kết ánbằng một bản án mới trong thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án

cũ Tinh thần này tiếp tục được ghi nhận tại Thông tư 2308/NCLP ngày1/12/1961 của Tòa án nhân dân Tối cao về xóa án đối với người được hưởng án

treo với nội dung: “Nếu hết thời gian thử thách mà người bị phạt án treo không

phạm tội gì mới thì sẽ coi như không có tiền án Những hình phạt phụ mà Tòa án

có thể đã tuyên như cấm cư trú hoặc cư trú bắt buộc cũng đương nhiên được xóa bỏ Nếu phạm tội mới không cùng tính chất và nhẹ hơn tội cũ thì khi hết thời gian thử thách, bản án treo cũ cũng vĩnh viễn không phải chấp hành nữa” Công

văn số 1082/NCLP của Tòa án nhân dân tối cao ngày 5/7/1963 cũng đã khẳng

định: “Tòa án không thể coi một người đã bị án treo nhưng đã được xóa bỏ, nay

lại phạm tội mới, như là tái phạm” Như vậy, từ rất sớm, xóa án tích đã được ghi

nhận là một trong những nguyên tắc xử lý hình sự quan trọng trong Luật hình sựViệt Nam Theo các quy phạm hình sự trong thời kỳ này thì xóa án tích đối vớingười được hưởng án treo được hiểu chính là xóa đi bản án cũ đã tuyên, coi nhưbản án không có nếu người bị kết án không phạm tội mới trong thời gian thửthách và sẽ không bị áp dụng tình tiết tái phạm trong lần phạm tội sau

3

Trang 4

1.1.2 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Đến lần pháp điển hóa pháp luật hình sự lần đầu tiên của nước ta, vấn đề

án tích và xóa án tích đã được ghi nhận chính thức trong văn bản pháp lý có hệthống và có giá trị pháp lý cao – Bộ luật Hình sự năm 1985 từ Điều 52 đến

Điều 56 tại Chương “Việc quyết định hình phạt, miễn, giảm hình phạt” với tên

gọi là “Xóa án” BLHS năm 1985 đã quy định cụ thể các trường hợp xóa án,điều kiện xóa án, thời hạn xóa án cũng như cách tính thời hạn xóa án Có bốntrường hợp xóa án gồm đương nhiên xóa án (Điều 53), xóa án theo quyết địnhcủa Tòa án (Điều 54), xóa án trong trường hợp đặc biệt (Điều 55), xóa án trongtrường hợp người chưa thành niên phạm tội (Điều 67) Việc phân định ngườiphạm tội sẽ phải xin xóa án theo trường hợp nào không chỉ phụ thuộc vào loạitội phạm mà người đó đã phạm mà còn căn cứ vào loại và mức hình phạt đãtuyên với người phạm tội Theo đó, đương nhiên xóa án chỉ được áp dụng đốivới những người bị kết án về tội không phải là tội đặc biệt nguy hiểm xâmphạm an ninh quốc gia (Mục A Chương I Phần các tội phạm BLHS năm 1985)hoặc các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh(Chương XII Phần các tội phạm BLHS năm 1985) và án không phải phạt tù nhưcảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc án phạt tù nhưng cho hưởng ántreo và án phạt tù đến năm năm Còn mọi tội phạm nếu bị tuyên áp dụng hìnhphạt trên năm năm tù và tội phạm thuộc Mục A Chương I và Chương XII Phầncác tội phạm BLHS năm 1985 đều phải có quyết định của Tòa án thì mới đượcxóa án Trong mỗi trường hợp xóa án đều có quy định hai phân mức thời hạn xóaán: ba năm hoặc năm năm đối với trường hợp đương nhiên xóa án; năm nămhoặc mười năm đối với trường hợp xóa án theo quyết định của Tòa án Trongtrường hợp xóa án theo trường hợp đặc biệt, người bị kết án phải bảo đảm được

từ một phần ba đến một nửa thời hạn quy định Thời hạn để xoá án đối với ngườichưa thành niên là một nửa thời hạn xóa án quy định ở các Điều từ 53 đến Điều

55 của BLHS năm 1985 Thời hạn xóa án được tính từ ngày chấp hành xong bản

án hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành án và nếu chưa xoá án mà phạm tội mớithì thời hạn để xoá án cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới

Năm 1986, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dântối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành Thông tư liên

4

Trang 5

ngành số 02/TTLN ngày 01/8/1986 (được sửa đổi bổ sung tại Thông tư liênngành số 03/TTLN ngày 15/7/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ) về việc xóa án, hướng dẫn cụ thể vềthẩm quyền xóa án, điều kiện cụ thể xóa án, thủ tục xóa án trong từng trườnghợp xóa án và trong một số trường hợp đặc biệt cụ thể Theo đó, người phạmtội muốn xin xóa án thì phải nộp đơn xin xóa án cho Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc

xử sơ thẩm đồng thời là chung thẩm tội phạm cũ của mình, kèm theo các giấy

tờ chứng minh về việc chấp hành xong bản án và không phạm tội mới trongthời hạn xóa án tích của mình Trong trường hợp xóa án theo quyết định củaTòa án hoặc trong trường hợp đặc biệt thì cần thêm giấy tờ nhận xét về thái độchấp hành pháp luật của người phạm tội tại địa phương Tòa án sẽ tiến hànhxác minh và cấp Giấy chứng nhận xóa án hoặc Quyết định xóa án

Mặc dù là đây là lần pháp điển hóa đầu tiên nhưng có thể nói, BLHS năm

1985 và các văn bản hướng dẫn đã tạo một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ

và rõ ràng về việc xóa án, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xóa án củanhững người phạm tội Điều này thể hiện sự đánh giá đúng mức vai trò, vị trí củachế định xóa án trong pháp luật hình sự của Nhà nước ta, thể hiện sự ghi nhậncủa Nhà nước đối với những cố gắng cải tạo hoàn lương của người phạm tội,khuyến khích người phạm tội nhanh chóng xóa bỏ mặc cảm lỗi lầm, hòa nhậpcộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội Tuy nhiên, điểm hạn chế của

chế định “Xóa án” là chưa đưa ra được khái niệm pháp lý về án tích và xóa án,

đồng thời sự phân hóa về tội phạm trong quy định thời hạn xóa án chưa rõ rệt

1.1.3 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ Luật hình sự năm 1999 đến nay

Đến BLHS năm 1999 - lần pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ hai,quy định về xóa án tích đã được ghi nhận với sự đổi mới toàn diện hơn, cụ thể:

Điều đóng góp đáng ghi nhận trước hết của Bộ luật hình sự năm 1999trong quy định về xóa án tích là việc thay đổi thuật ngữ “Xóa án” trong BLHSnăm 1985 bằng thuật ngữ “Xóa án tích” Điều này không những có ý nghĩa lýluận mà còn có ý nghĩa thực tiễn hết sức to lớn Bởi, thuật ngữ “Xóa án” dễ gây

ra cách hiểu xóa án tích chính là xóa đi bản án mà Tòa án đã tuyên đối vớingười phạm tội Trong khi đó, thuật ngữ “Xóa án tích” lại khẳng định bản chấtcủa xóa án tích là chỉ xóa đi vết tích từng bị kết án của người phạm tội chứ

5

Trang 6

không thể xóa đi bản án mà Tòa án đã tuyên đối với người phạm tội như quanđiểm truyền thống về xóa án tích trước kia.

Hơn nữa, từ việc quy định xóa án tích trong chế định “Việc quyết định

hình phạt, miễn và giảm hình phạt” thì đến BLHS năm 1999, án tích đã trở

thành một chế định riêng biệt: Chương IX “Xóa án tích” – chương tách từ chương “Việc quyết đinh hình phạt, miễn và giảm hình phạt” trong BLHS năm

1985, với 05 điều từ Điều 63 đến Điều 67 và Điều 77 quy định riêng đối vớingười chưa thành niên Sự thay đổi này cho thấy sự quan tâm của Nhà nước, đềcao vai trò, vị trí quan trọng của chế định “Xóa án tích” trong pháp luật hình sựViệt Nam Điều này cũng xuất phát từ chính bản chất của án tích Án tích làgiai đoạn cuối cùng của việc xử lý hình sự với tội phạm Nó không được thựchiện trong giai đoạn xét xử như việc quyết định hình phạt, cũng không thuộcgiai đoạn thi hành án như việc hoãn hay miễn chấp hành hình phạt Vì vậy, việctách xóa án tích thành chế định riêng so với “Quyết định hình phạt, miễn vàgiảm hình phạt” là điều hợp lý về kỹ thuật lập pháp

BLHS năm 1999 vẫn giữ nguyên bốn trường hợp xóa án tích chính, tuynhiên đã có sự mở rộng phạm vi với nhiều mức độ thời hạn và đối tượng được

áp dụng các trường hợp xóa án tích So với quy định tại Điều 53 BLHS năm

1985 về đương nhiên được xóa án thì quy định tại Điều 64 BLHS năm 1999cho thấy tất cả các mức án về các tội không phải là những tội quy định tạiChương XI “Các tội xâm phạm an ninh quốc gia” và Chương XXIV “Các tộiphá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh” đều thuộc diệnđương nhiên được xóa án tích Trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa

án chỉ dành riêng cho những tội phạm thuộc chương XI và chương XXIV củaBLHS năm 1999 Như vậy, việc người bị kết án được xóa án tích theo trườnghợp nào chỉ phụ thuộc vào loại tội phạm mà họ đã thực hiện mà không phụthuộc vào loại và mức hình phạt mà họ phải gánh chịu Quy định này xuất phát

từ quan điểm việc quyết định hình phạt phụ thuộc vào nhiều yếu tố, không chỉ

là tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà còn là nhân thân người phạmtội,vai trò đồng phạm, yếu tố tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự… Cònviệc quy định thời hạn xóa án tích – chính là khoảng thời gian thử thách màngười phạm tội phải vượt qua để chứng minh sự cải tạo, tinh thần nghiêm chỉnhchấp hành pháp luật và thực sự hoàn lương lại cần căn cứ nhiều vào tính chất

6

Trang 7

nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thực hiện Việc có ýthức phạm tội các tội phạm thuộc Chương XI và Chương XXIV – những tộiphạm có tính nguy hiểm cao đối với an ninh quốc gia, xã hội và loài người chothấy việc xóa án tích cho những tội phạm này cũng cần phải nghiêm ngặt, chặtchẽ hơn so với các tội phạm khác

Đồng thời, Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng rút ngắn thời hạn xóa án tíchtrong các trường hợp so với trước đây Theo BLHS năm 1985 (sửa đổi, bổ sungnăm 1989), đối với người bị phạt tù nhưng được hưởng án treo phải sau ba năm

kể từ ngày hết thời hạn thử thách mới được xóa án tích thì nay thời hạn này chỉcòn một năm Thời hạn một năm cũng được áp dụng để xóa án tích đối vớinhững người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ thay cho quyđịnh là ba năm như luật cũ Thời hạn để xóa án tích trong trường hợp xóa án

tích đặc biệt cũng được rút xuống từ cần “đảm bảo ít nhất từ một phần ba đến

một phần hai thời hạn” xuống còn cần “đảm bảo ít nhất một phần ba thời hạn”

quy định Quy định này thể hiện rõ sự đề cao tính chất nhân đạo trong chínhsách hình sự của Việt Nam

Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng quy định cụ thể từng mức thời hạn xóa

án tích phụ thuộc vào từng loại tội và mức hình phạt Đối với trường hợpđương nhiên được xóa án tích, thời hạn xóa án tích có thể là một năm, ba năm,năm năm hoặc bảy năm Còn đối với trường hợp xóa án tích theo quyết địnhcủa Tòa án, thời hạn này là ba năm, bảy năm hoặc mười năm Điều này phùhợp với chính sách phân hóa tội phạm được quy định tại khoản 2 Điều 8 BLHSnăm 1999 cũng như tạo khả năng để những người phạm tội ít nghiêm trọngsớm hòa nhập cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội

Cách tính thời hạn xóa án tích của BLHS năm 1999 đã được kế thừa từquy định tính thời hạn xóa án trong BLHS năm 1985

Đến năm 2009, BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung nhưng nhữngquy định về án tích và xóa án tích vẫn được giữ nguyên

Như vậy, trong lần pháp điển hóa pháp luật hình sự lần thứ hai này, chếđịnh xóa án tích đã được quy định một cách toàn diện, chặt chẽ và hợp lý hơn.Điều này không chỉ thể hiện sự nâng cao trong kỹ thuật lập pháp mà còn thểhiện chính sách nhân đạo cũng như sự phân hóa tội phạm ngày càng cao trongpháp luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên, BLHS năm 1999 vẫn chưa đưa ra được

7

Trang 8

khái niệm pháp lý chuẩn mực về án tích và xóa án tích cũng như một số quyđịnh chưa thực sự hoàn thiện, đã gây nhiều khó khăn cho việc áp dụng thốngnhất quy định của pháp luật.

1.2 Lý luận chung về xóa án tích

1.2.1 Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý của án tích

a Khái niệm và bản chất của án tích

Án tích là chế định quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam, đãđược pháp điển hóa lần đầu tiên trong Bộ luật Hình sự năm 1985 bằng chế định

“Xóa án” và được tiếp tục ghi nhận tại chế định “Xóa án tích” trong Bộ luậtHình sự năm năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Tuy vậy, cho đến nay,khái niệm án tích chưa bao giờ được ghi nhận trong pháp luật hình sự của ViệtNam Việc BLHS không đưa ra một khái niệm án tích đã dẫn đến không ítnhững cách hiểu khác nhau về khái niệm án tích cũng như bản chất pháp lý của

án tích trong khoa học luật hình sự

Quan điểm thứ nhất cho rằng “Án tích là hậu quả pháp lý mà người

phạm tội phải chịu khi bị Tòa án kết án (tuyên một bản án buộc tội) theo đó người này có thể trở thành đối tượng bị áp dụng tình tiết tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm khi phạm tội mới”1 Quan điểm này đã nêu lên được hậu quảpháp lý của án tích chính là người mang án tích có thể bị áp dụng tình tiết táiphạm, tái phạm nguy hiểm theo Điều 49 BLHS năm 1999 Tuy nhiên, quanđiểm này chưa thực sự hợp lý vì án tích không phải luôn luôn là hậu quả pháp

lý của việc bị kết án Trong một số trường hợp, án tích vẫn có thể được loại bỏkhi người bị kết án không phải chịu hình phạt như trường hợp được miễn hìnhphạt hoặc chỉ bị áp dụng biện pháp tư pháp

Quan điểm thứ hai khẳng định “Án tích là khoảng thời gian nhất định

buộc người phạm tội sau khi chấp hành xong bản án phải phấn đấu tu dưỡng để được xóa bỏ mặc cảm của xã hội, xóa bỏ lai lịch rằng mình đã can án và trường hợp nếu họ phạm tội mới thì không bị coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm”2 Quan điểm này mới chỉ nhấn mạnh được ý nghĩa pháp lý của án tích

mà chưa chỉ rõ được các đặc điểm pháp lý của án tích như bản chất án tích, đốitượng của án tích…

1 Xem: TS Phạm Hồng Hải, “Một vài ý kiến về chế định tái phạm và tái phạm nguy hiểm theo quy định trong

Bộ luật hình sự năm năm 1999”, tạp chí Tòa án nhân dân số 4/2001, tr.14.

2 Xem: Ths Phùng Văn Ngân, “Hỏi và trả lời về luật Hình sự Việt Nam”, Học viện Cảnh sát nhân dân, NXB Lao động – Xã hội, năm 2004, tr 95.

8

Trang 9

Quan điểm thứ ba cho rằng “Án tích là vết tích đã từng bị kết án của

người phạm tội, xuất hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa khi đáp ứng đủ các điều kiện Bộ luật hình sự quy định hoặc tồn tại một khi người đã bị kết án dù đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa đáp ứng được những điều kiện được quy định trong Bộ luật hình sự và người đó còn phải chịu tình tiết định khung tăng nặng hình phạt nếu phạm tội trong thời gian mang vết tích đã từng bị kết án hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự về những hành vi vi phạm pháp luật mà theo quy định của Bộ luật Hình sự vết tích đã từng bị kết án là yếu tố điều kiện cấu thành tội phạm ”1 Quan điểm này đã chỉ

ra khá đầy đủ hậu quả pháp lý của việc mang án tích nhưng lại chưa chỉ ra được

bản chất của án tích Bởi án tích nếu chỉ hiểu là “vết tích đã từng bị kết án” thì

mới chỉ hiểu được nội hàm nghĩa đen của thuật ngữ “án tích” mà chưa hiểuđược hết bản chất pháp lý của án tích

Quan điểm thứ tư lại khẳng định “Án tích là hậu quả pháp lý của việc

người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và là giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện trách nhiệm hình sự, được thể hiện trong việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án nhưng vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự”2

Quan điểm thứ năm coi “Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của người

đã bị kết án và áp dụng hình phạt, được ghi và lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian nhất định”, “là hậu quả pháp lý bất lợi cho người có đặc điểm đó”3 Đây cũng là quan điểm mà người viết đồng tình, bởi, quan điểm này đã

chỉ rõ bản chất của án tích cũng như các đặc điểm pháp lý của án tích “Án tích

được hiểu một cách bao quát và trước hết ở chỗ chủ thể đã bị kết án và áp dụng hình phạt về một tội phạm nhất định và chưa được xóa án tích”4 Án tíchbản chất chính là một đặc điểm xấu về nhân thân của người phạm tội Yếu tốnhân thân của người phạm tội là tổng hợp các đặc tính, dấu hiệu thể hiện bảnchất xã hội của con người và việc mang án tích tức là “có tiền án” chính là đặc

1 Xem: Ths Hồ Sĩ Sơn, “Án tích theo BLHS năm 1999”, tạp chí Nhà nước & pháp luật số 12/2001, tr 65.

2 Xem: PGS TSKH Lê Văn Cảm, sách chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản trong khoa luật luật hình sự” (Phần chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2005, tr 829.

3 Xem: GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, sách “Từ điển pháp luật hình sự”, GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, PGS TS Lê Thị Sơn (chủ biên), NXB Tư Pháp, 2006, tr 7.

4 Xem: GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, sách “Từ điển pháp luật hình sự”, tr.7 (đã dẫn).

9

Trang 10

điểm pháp lý hình sự được lưu trong lý lịch tư pháp thể hiện nhân thân khôngtốt của người phạm tội Án tích cũng chỉ tồn tại đối với người bị kết án và bị ápdụng hình phạt trong một thời gian nhất định Và việc mang án tích sẽ mang lạinhiều hậu quả pháp lý bất lợi cho người mang án tích.

Như vậy, dựa trên các quan điểm về án tích trong giới khoa học luật hình

sự, có thể tổng quát bản chất của án tích chính là hậu quả pháp lý bất lợi đối vớingười bị kết án và bị áp dụng hình phạt, tồn tại trong một thời gian nhất định vàđược xóa khi đáp ứng đủ điều kiện của luật định Trong thời gian mang án tích,người đó có thể bị áp dụng các tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm với tưcách tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết định khung hình phạthoặc tình tiết định tội theo quy định của BLHS

b Đặc điểm pháp lý của án tích

b.1 Án tích chính là đặc điểm xấu về nhân thân chứng tỏ người có án

tích đã từng bị kết án vì đã phạm tội

Mỗi người phạm tội ngoài việc phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợiđược tuyên trong bản án thì còn phải gánh chịu dấu vết chứng tỏ mình đã bị kết

án, đã bị buộc tội bằng một bản án của Tòa án Đây là đặc điểm nhân thân củangười bị kết án, có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá nhân thân của ngườiphạm tội tốt hay xấu, từ đó, có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chấtnguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như quyết định hình phạt, định khunghình phạt

b.2 Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người bị kết

của hình phạt so với các biện pháp tư pháp khác, thể hiện rõ tính chất “là biện

pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước” của hình phạt (Điều 26

BLHS năm 1999)

10

Trang 11

Sự bất lợi của việc mang án tích đối với người bị kết án và bị áp dụnghình phạt được thể hiện ở nhiều phương diện, cụ thể:

Thứ nhất, người mang án tích, trong lý lịch tư pháp cũng như các giấy tờ

chứng thực về nhân thân của người phạm tội sẽ ghi “có tiền án”, đồng thời chỉ

rõ loại tội phạm cũng như hình phạt dành cho người phạm tội đó Khi đó, ántích như một “vết nhơ” trong lý lịch của người phạm tội, dẫn tới sự kì thị của

xã hội cũng như khó khăn trong quá trình sinh hoạt, tham gia hoạt động xã hội,kinh tế của chính những người phạm tội

Hơn nữa, do tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mà trong một số

lĩnh vực, pháp luật hạn chế quyền của người phạm tội còn mang án tích Ví dụ:Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định về điều kiện của người nhận

nuôi con nuôi thì người “chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm

phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em” sẽ không được nhận nuôi con nuôi

Khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư năm 2006 cũng quy định về điều kiện

được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì người “đã bị kết án mà chưa được

xoá án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý” thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.

Quy định này xuất phát từ chính yêu cầu phòng ngừa tội phạm trongchính sách hình sự Việt Nam

Thứ hai, việc mang án tích có thể là căn cứ để xác định hành vi phạm tội

mới là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm Từ đó, người mang án tích sẽ có thể

bị áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng tráchnhiệm hình sự, tình tiết định khung hình phạt hay yếu tố định tội

Điều 49 BLHS năm 1999 quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm vớinội dung:

“1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại

phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do

vô ý.

2 Những trường hợp sau đây thì coi là tái phạm nguy hiểm:

11

Trang 12

a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố

ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý.”

Như vậy, dấu hiệu “chưa xóa án tích” – mang án tích chính là dấu hiệuquan trọng để xem xét hành vi phạm tội của người phạm tội có tái phạm hay táiphạm nguy hiểm hay không Dấu hiệu tái phạm, tái phạm nguy hiểm này sẽ làcăn cứ để xác định có áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quyđịnh tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS hay tình tiết định khung hình phạt hay

không Ví dụ như Tội giết người (khoản 1 Điều 83 BLHS năm 1999 “Người

nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: Tái phạm, tái phạm nguy hiểm”), Tội hiếp dâm (điểm i khoản 2 Điều 111 BLHS năm 1999 “Phạm tội một trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười năm lăm năm: i) Tái phạm nguy hiểm”), Tội hiếp dâm trẻ em (điểm d khoản 2

Điều 112), Tội cưỡng dâm (điểm g khoản 2 Điều 113) … Khi có dấu hiệu còn

án tích và tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì hành vi phạm tội thường bị áp dụngtheo khung hình phạt tăng nặng

Đối với một số cấu thành tội phạm, dấu hiệu “chưa xóa án tích” trở thànhmột trong những yếu tố định tội Ví dụ: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản

(khoản 1 Điều 137 BLHS “Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người

khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá

án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”), Tội trộm cắp

tài sản (khoản 1 Điều 138 “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá

trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (khoản 1 Điều 139)

Như vậy, việc mang án tích đã dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi đối vớingười mang án tích cả về mặt xã hội cũng như mặt pháp lý hình sự Quy định

12

Trang 13

này thể hiện rõ tính chất nghiêm trị của pháp luật hình sự đối với những ngườiphạm tội, đặc biệt những người ngoan cố, tái phạm đã được khẳng định tại

Điều 3 BLHS năm 1999 “Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan

cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng”.

b.3 Về thời điểm tồn tại của án tích

Án tích xuất hiện ngay sau khi người phạm tội bị Tòa án kết tội bằng mộtbản án buộc tội đầu tiên – bản án sơ thẩm1 Có một số quan điểm cho rằng ántích chỉ bắt đầu được tính từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật và nhữngngười phạm tội mới trong thời gian kháng cáo, kháng nghị, chờ xét xử phúcthẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm sẽ không thể trở thành đối tượng có án tích

và sẽ không bị áp dụng những hậu quả pháp lý bất lợi do việc còn án tích như

bị áp dụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm khi xét xử tội phạm mới.Quan điểm này chưa thực sự hợp lý, bởi xét về bản chất của hành vi phạm tộitrong thời gian kháng cáo kháng nghị bản án thì tính chất nguy hiểm của hành

vi phạm tội mới trong thời gian này còn cao hơn nhiều so với hành vi phạm tộisau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bởi hành vi đó thể hiện đậm nét sự chốngđối pháp luật, ý thức phạm tội cao của người phạm tội Trong khi đó, thời giankháng cáo, kháng nghị lại không được coi là thời gian mang án tích, tức là sẽkhông thể xem xét việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự như táiphạm, tái phạm nguy hiểm… thì khi xét xử tội phạm mới, liệu có đánh giáđược đúng tính chất nguy hiểm của tội phạm mới được thực hiện trong thờigian này, nhằm đưa ra phán quyết về hình phạt một cách đúng đắn, phù hợp vớitính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội? Đặc biệt đối với trường hợp tình tiếttái phạm là tình tiết có ý nghĩa định khung hình phạt hoặc là dấu hiệu cấu thànhtội phạm mới thì việc xác định thời điểm xuất hiện án tích theo quan điểm trênsẽ làm bỏ sót tội phạm cũng như không đánh giá được hết mức độ nghiêmtrọng, nguy hiểm của hành vi phạm tội Cũng tồn tại một quan điểm khác chorằng án tích chỉ xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất định sau khi đã chấphành xong hình phạt mà không tồn tại trong thời gian chấp hành hình phạt2

1 Xem: TS Phạm Hồng Hải, “Một vài ý kiến về chế định tái phạm, tái phạm nguy hiểm theo quy định trong BLHS năm 1999”, tạp chí Tòa án nhân dân số 04/2001, tr 14.

2 Ths Hồ Sĩ Sơn, “Án tích theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm năm 1999”, tr 64 (đã dẫn).

13

Trang 14

Quan điểm này lại mâu thuẫn với việc cho rằng án tích là đặc điểm nhân thân

“đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt” của người phạm tội bởi thời điểm bắt

đầu mang đặc điểm nhân thân “bị kết án” của người phạm tội phải được tính từkhi có bản án buộc tội họ chứ không phải từ khi họ chấp hành xong hình phạt.Đồng thời, quan điểm này sẽ gặp vướng mắc khi đánh giá tính chất của tộiphạm mới trong trường hợp người phạm tội đang chấp hành hình phạt lại phạmtội mới Khi đó, theo quan điểm này, liệu có hay không việc áp dụng các tìnhtiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng như áp dụng tình tiết định khung hìnhphạt hoặc yếu tố định tội đối với người phạm tội mới trong trường hợp này?

Việc kết án là một sự kiện khách quan và không gì có thể xóa bỏ được sựkiện bị kết án của người phạm tội Tuy nhiên, án tích lại không phải là đặcđiểm về nhân thân có tính chất vĩnh viễn Với tính chất nhân đạo của chínhsách hình sự nhằm giúp xóa bỏ mặc cảm tội lỗi của người đã từng bị kết án,giúp họ tái hòa nhập với cộng đồng, BLHS đã quy định, án tích chỉ tồn tạitrong một thời gian nhất định, và khi đáp ứng đủ điều kiện luật định thì án tích

có thể được xóa bỏ Tùy từng loại tội phạm cũng như mức hình phạt mà phápluật hình sự đưa ra những điều kiện cụ thể về nhân thân (không phạm tội mới, ýthức cải tạo, hòa nhập với xã hội), thời gian được xóa án tích, cũng như thủ tụcđược xóa án tích Như vậy, án tích chỉ tồn tại đến khi người phạm tội được cấpGiấy chứng nhận hoặc Quyết định xóa án tích của Tòa án

Tóm lại, án tích là chế định pháp lý quan trọng thể hiện việc đã từng bịkết án của người bị kết án và bị áp dụng hình phạt, kéo dài trong một thời giannhất định và được xóa để trở thành người chưa bị kết án khi người này đáp ứngđược những điều kiện luật định

Có thể nói, chế định án tích có ý nghĩa quan trọng trong pháp luật hình

sự Việt Nam không chỉ trên phương diện chính sách pháp luật mà còn cả trongthực tiễn áp dụng pháp luật Bởi vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện chế định ántích đã trở thành là nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc xây dựng pháp luậthình sự hiện nay

1.2.2 Khái niệm, bản chất và đặc điểm pháp lý của xóa án tích

1.2.2.1 Khái niệm và bản chất xóa án tích

Mặc dù xóa án tích đã được ghi nhận trong pháp luật thực định từ lầnpháp điển hóa Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng khái niệm xóa án tích vẫn chưa

14

Trang 15

được pháp điển hóa thành một điều khoản riêng của Bộ luật hình sự Khái niệmxóa án tích mới chỉ được đề cập tới trong khoa học Luật hình sự nước ta vớinhiều quan điểm khác nhau Cụ thể:

Quan điểm thứ nhất cho rằng “xóa án tích là xóa bỏ bản án hình sự đối

với người đã bị Tòa án kết án, là thể hiện tính nhân đạo trong luật hình sự nước ta, là để cho người bị kết án không mặc cảm tội lỗi của mình, tạo điều kiện làm ăn sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng”1 Quan điểm này

đã nêu bật được ý nghĩa nhân đạo sâu sắc của chế định xóa án tích đối vớingười phạm tội Tuy nhiên, người viết không đồng tình với quan điểm này bởinếu coi xóa án tích chính là xóa bỏ bản án hình sự thì vô hình chung đã đánhđồng “án tích” với “bản án hình sự” Trong khi đó, bản chất của án tích khôngphải là bản án hình sự mà chỉ là hậu quả pháp lý của việc từng bị kết án bằngbản án hình sự đó mà thôi

Quan điểm thứ hai cho rằng “xóa án tích là việc chấm dứt trách nhiệm

hình sự của người bị kết án do người đó được xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự trên cơ sở có sự xem xét và có quyết định của Tòa án công nhận là chưa bị kết án”2 Quan điểm này đã giới hạn phạm vi chỉ hiểu xóa

án tích là trường hợp người bị kết án được xóa án tích khi có sự xem xét vàquyết định của Tòa án Đây là quan điểm xóa án tích xuất phát việc đề xuất ý

tưởng phân biệt trường hợp “hết án tích” - đương nhiên được xóa án tích và trường hợp “xóa án tích” – xóa án tích theo quyết định của Tòa án Vì vậy, nếu

hiểu theo quan điểm này, rất dễ gây mâu thuẫn với các quy định về xóa án tíchtheo BLHS năm 1999

Quan điểm thứ ba cho rằng “xóa án tích là sự thừa nhận về mặt pháp lý

người bị kết án không còn mang án tích và vì vậy, không còn chịu hậu quả nào

do việc kết án mang lại” 3 Quan điểm này đã chỉ ra được tính chất quan trọngcủa xóa án tích – là sự “thừa nhận về mặt pháp lý” không còn án tích Có thểđối với xã hội, việc bị kết án của người phạm tội, bị coi là người có “tiền án”không thể bị xóa bỏ trong tư tưởng của những người dân thì về mặt pháp lý, khi

1 Xem: Đinh Văn Quế, sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm năm 1999” (phần chung), NXB TP Hồ Chí Minh, 2006, tr 387.

2 Xem: PGS TSKH Lê Văn Cảm , sách chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản trong khoa luật luật hình sự” (Phần chung), tr 834 (đã dẫn).

3 Xem: TS Uông Chu Lưu, sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm năm 1999”, tập I, phần chung, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr 222.

15

Trang 16

đáp ứng đủ các điều kiện luật định, Nhà nước sẽ công nhận người bị kết ánchưa từng can án và sẽ công nhận mọi quyền lợi hợp pháp của người bị kết ánvới tư cách là một công dân bình thường Tuy nhiên, quan điểm lại chưa chỉ rõ

về hậu quả pháp lý của sự “thừa nhận về mặt pháp lý” này

Quan điểm thứ tư đã khẳng định: “Trong luật hình sự Việt Nam, khái

niệm xóa án tích được hiểu là xóa bỏ việc mang án tích thể hiện ở sự công nhận coi như chưa bị kết án đối với người trước đó đã bị Tòa án xét xử, kết tội”1 Người viết đồng tình quan điểm này bởi quan điểm này đã chỉ ra đượcbản chất cơ bản của xóa án tích: đó là việc xóa bỏ đi án tích – đặc điểm nhânthân đã từng bị kết án của người phạm tội và hậu quả pháp lý là người đượcxóa án tích sẽ được công nhận là chưa bị kết án

Như vậy, dựa trên việc nghiên cứu khái niệm, bản chất của án tích cũngnhư việc tiếp thu những ưu điểm trong những quan điểm về xóa án tích tronggiới khoa học luật hình sự, người viết xin đưa ra một cách hiểu tổng quan vềxóa án tích xóa án tích được hiểu là xóa bỏ việc mang án tích đối với người bịkết án và bị áp dụng hình phạt, từ đó, công nhận họ coi như chưa bị kết án Đây

là chế định nhân đạo trong luật hình sự nước ta, là để cho người bị kết án khôngmặc cảm tội lỗi của mình, tạo điều kiện làm ăn sinh sống lương thiện, hòa nhậpvới cộng đồng

1.2.2.2 Đặc điểm pháp lý của xóa án tích

Mặc dù BLHS năm 1999 chưa đưa ra một khái niệm pháp lý rõ ràng vềxóa án tích nhưng Điều 63 BLHS năm 1999 đã nêu lên được đặc điểm pháp lý

cơ bản của xóa án tích:

“Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các điều từ Điều 64

đến Điều 67 của Bộ luật này Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận.”

a Về đối tượng được xóa án tích

Theo Điều 63 BLHS năm 1999, xóa án tích được áp dụng đối với người

bị kết án Người bị kết án ở đây cần được hiểu là người đã bị Tòa án kết ánbằng một bản án buộc tội2 Bản án buộc tội là bản án xác định bị cáo có tộikhông kể bị cáo có bị áp dụng hình phạt hay không, không phụ thuộc vào việc

1 Nguyễn Thị Học, “Các chế định liên quan đến chấp hành hình phạt, chương XV”, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2010, tr 312.

2 Xem: TS Uông Chu Lưu, sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm năm 1999”, tập I, phần chung, NXB Chính trị quốc gia, 2001, tr 171.

16

Trang 17

bản án đã có hiệu lực pháp luật hay chưa Có quan điểm cho rằng người bị kết

án chỉ là những người đã được Tòa án kết án bằng một bản án buộc tội có hiệulực pháp luật Tuy nhiên, nếu hiểu theo quan điểm này sẽ bỏ lọt tội phạm trongtrường hợp người phạm tội đã bị tuyên án lại phạm tội mới trong thời giankháng cáo, kháng nghị bản án

Về nguyên tắc, Điều 63 BLHS năm 1999 quy định xóa án tích đối vớingười bị kết án mà không phân biệt họ đã bị áp dụng hình phạt như thế nào.Tuy vậy, khi xem xét các quy định của BLHS về đương nhiên xóa án tích (Điều

64 BLHS), xóa án tích theo quyết định của Tòa án (Điều 65) hay trong trườnghợp đặc biệt (Điều 66), xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội(Điều 77), ta có thể nhận thấy, người được miễn hình phạt sẽ đương nhiên đượcxóa án tích ngay tại thời điểm bản án buộc tội có hiệu lực pháp luật, còn nhữngngười được áp dụng các biện pháp tư pháp thì không áp dụng quy định về xóa

án tích Đồng thời, trong quy định về thời hạn xóa án tích trong các trường hợpxóa án tích, BLHS cũng chỉ đề cập tới thời hạn xóa án tích đối với những người

bị áp dụng hình phạt Như vậy, có thể nói, vấn đề án tích và xóa án tích chỉ đặt

ra đối với người bị kết án và bị tuyên áp dụng hình phạt Đồng thời cũng do bảnchất, án tích là hậu quả pháp lý riêng biệt của hình phạt, nhằm thể hiện rõ tínhchất nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế được coi là nghiêm khắc nhất trong

hệ thống pháp luật Việt Nam nên vấn đề xóa án tích cũng chỉ đặt ra đối vớinhững người bị áp dụng hình phạt

Người bị kết án và bị áp dụng hình phạt muốn được xóa án tích thì phảiđáp ứng đủ điều kiện do luật định Tùy thuộc vào từng loại tội phạm cũng nhưmức hình phạt mà pháp luật quy định những điều kiện cụ thể để được xóa ántích Nhìn chung, người bị áp dụng hình phạt muốn xóa án tích phải đáp ứng ítnhất hai điều kiện: đã chấp hành xong bản án và không phạm tội mới trong thờihạn luật định Tùy từng loại tội phạm và mức phạt mà thời hạn để được xóa ántích là khác nhau, theo hướng, tội phạm mang tính chất nguy hiểm càng cao vàmức hình phạt càng cao thì thời hạn để được xóa án tích càng kéo dài Điều nàythể hiện rõ chính sách phân hóa tội phạm cũng như tính chất nghiêm trị đối vớinhững hành vi nguy hiểm cao cho xã hội Hơn nữa, thời gian mang án tíchđược chính là thời gian thử thách để khuyến khích cũng như đảm bảo ngườiphạm tội hối cải về tội lỗi của mình, thực sự hoàn lương, có ý thức nghiêm

17

Trang 18

chỉnh chấp hành pháp luật nên tội phạm càng nguy hiểm thì thời gian thử tháchnày đương nhiên cũng cần kéo dài Ngoài ra, tùy trường hợp mà người phạmtội phải đáp ứng thêm các điều kiện về nhân thân như có tích cực hòa nhậpcộng đồng, đóng góp cho xã hội, lập công chuộc tội… (trong trường hợp xóa

án theo quyết định của Tòa án, trong trường hợp đặc biệt)

b Thẩm quyền xóa án tích

“Người được xóa án tích được Tòa án cấp giấy chứng nhận”

Như vậy, thẩm quyền xóa án tích thuộc về Tòa án Và theo hướng dẫn tạiđiểm 2 Mục III và điểm 2 Mục IV Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày1/8/1986 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tưpháp, Bộ Nội vụ về việc xóa án (gọi tắt là Thông tư liên ngành số 02/1986) thìthẩm quyền xóa án tích thuộc về Tòa án cấp sơ thẩm (có thể là Tòa án nhân dâncấp sơ thẩm hoặc Tòa án quân sự cấp sơ thẩm) đã xét xử tội phạm cũ của ngườixin xóa án tích Quy định này là hợp lý nhằm đảm bảo sự thuận tiện trong việcxác minh những điều kiện chứng nhận xóa án tích cũng như đảm bảo sự quản

lý hồ sơ tư pháp về người phạm tội

Đồng thời Thông tư liên ngành số 03 (sau đây gọi tắt là Thông tư liênngành số 03/1989) ngày 15/7/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ về xóa án, bổ sung Thông tư liênngành số 02/1986 cũng hướng dẫn cụ thể một số trường hợp nhằm phân địnhthẩm quyền xóa án tích của Tòa án trong trường hợp vì lý do khách quan màkhông có Tòa án nào có thẩm quyền xóa án tích hoặc thẩm quyền xóa án tíchthuộc về hai hay nhiều Tòa án khác nhau

- Đối với trường hợp Tòa án xét xử cấp sơ thẩm đã giải thể như Tòa ánnhân dân đặc biệt trong cải cách ruộng đất, Tòa án nhân dân đặc biệt tại thànhphố Hồ Chí Minh thì Chánh án Tòa án đã tiếp nhận nhiệm vụ của Tòa án đãgiải thể có trách nhiệm giải quyết việc xóa án tích Trong trường hợp Tòa án đãgiải thể nhưng không rõ Tòa án nào đã tiếp nhận nhiệm vụ của Tòa án đã giảithể thì Chánh án Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao giải quyết việc xóa án(nếu Tòa án đã giải thể là Tòa án nhân dân) hoặc Chánh án Tòa án quân sựtrung ương giải quyết việc xóa án tích (nếu Tòa án giải thể là Tòa án quân sự)(điểm a Điều 4 Thông tư liên ngành số 03/1989)

18

Trang 19

- Đối với trường hợp Tòa án đã xét xử sơ thẩm đã tách thành các Tòa ánkhác nhau hoặc đã nhập vào với các Tòa án khác:

Nếu Tòa án xét xử sơ thẩm đã tách ra thành các Tòa án khác nhau thìTòa án giải quyết việc xóa án là Tòa án ở địa phương được tách ra nơi người bịkết án thường trú Nếu người bị kết án không thường trú ở một trong các địaphương được tách ra thì việc xóa án do một trong số các Tòa án tách ra giảiquyết và trong trường hợp này, nếu Tòa án bác đơn xin xóa án thì Quyết địnhbác đơn phải được gửi cho Tòa án khác đã cùng tách ra để đề phòng trường hợpngười bị bác đơn lại xin xóa án ngày ở Tòa án khác đó (điểm b Điều 4 Thông

tư liên ngành số 03/1989) Trường hợp này trên thực tế có nhiều như tòa án tỉnh

Hà Bắc tách thành Tòa án tỉnh Bắc Giang và Tòa án tỉnh Bắc Ninh…

Nếu Tòa án đã xét xử sơ thẩm đã nhập với Tòa án khác thì Tòa án nơiTòa án đó nhập vào có trách nhiệm giải quyết việc xóa án (điểm c Điều 4Thông tư liên ngành số 03/1989) Ví dụ: Tòa án huyện A đã xét xử sơ thẩm, đãnhập vào Tòa án huyện B thì Tòa án huyện B giải quyết việc xóa án tích

Người xóa án tích được Tòa án cấp Giấy chứng nhận xóa án tích Giấychứng nhận xóa án tích hoặc Quyết định xóa án tích của Tòa án là cơ sở đểchứng minh sự công nhận của Nhà nước đối với sự cố gắng hoàn lương củangười phạm tội, là giấy tờ pháp lý chứng minh người phạm tội đã được xóa ántích trên thực tế

1.2.2.3 Ý nghĩa của xóa án tích

Xóa án tích là chế định mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc khi đã khẳng định

“Người được xóa án tích được coi như chưa bị kết án”.

Người được xoá án tích coi như chưa can án Vì vậy, sau khi cấp giấychứng nhận xoá án tích hoặc sau khi Toà án ra quyết định xoá án tích thì trong

những giấy tờ về căn cước, lý lịch cấp cho họ, phải ghi là "chưa can án" hoặc

“không có tiền án”.

Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án tức là không phải chịu bất

cứ một hậu quả nào của việc kết án mang lại bao gồm:

Một là, được khôi phục một số quyền công dân bị hạn chế do còn án tích

như quyền xuất nhập cảnh, quyền đứng đầu, quản lý doanh nghiệp, quyền nhậnnuôi con nuôi… Như đã phân tích ở phần đặc điểm pháp lý của án tích, thì mộtđặc điểm thể hiện sự bất lợi của án tích là án tích có thể là nhân tố dẫn tới việc

19

Trang 20

người bị chưa được xóa án tích bị hạn chế một số quyền cơ bản của công dân.Quy định này xuất phát từ chính yêu cầu phòng ngừa tội phạm trong chính sáchhình sự Việt Nam Tuy nhiên, khi người phạm tội đã được xóa án tích tức làqua một thời gian thử thách người phạm tội đã thực sự có ý thức hoàn lương,trở thành người có ích cho xã hội Vì vậy, việc khôi phục lại những quyền côngdân cho họ là điều chính đáng, đồng thời cũng khích lệ tinh thần của nhữngngười phạm tội nhanh chóng hòa nhập xã hội, hoàn lương để được hưởngnhững quyền lợi cơ bản của công dân.

Hai là, không bị Tòa án căn cứ vào án tích đã được xóa để xác định hành

vi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm Từ đó, không bị áp dụng tình tiết táiphạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiếtđịnh khung hình phạt hay yếu tố định tội Dấu hiệu “chưa được xóa án tích” cóthể được áp dụng để làm căn cứ xem xét hành vi phạm tội có phải là tái phạm,tái phạm nguy hiểm hay không, từ đó, có áp dụng tình tiết tăng nặng tráchnhiệm hình sự hay tình tiết định khung tăng nặng hình phạt hay không Dấuhiệu này cũng có thể là yếu tố để định tội trong một số cấu thành tội phạm theoquy định của BLHS hiện hành Như vậy, khi được xóa án tích, Tòa án sẽ khôngthể căn cứ vào hành vi phạm tội đã được xóa án tích để xét việc áp dụng tìnhtiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết định khung hình phạt là tái phạmhoặc tái phạm nguy hiểm cũng như tình tiết định tội

Điều này có thể lý giải bởi khi còn mang án tích, nhằm thể hiện sựnghiêm trị đối với những người có ý định tái phạm, pháp luật quy định mộttrong những hậu quả pháp lý của án tích chính là người phạm tội có thể bị ápdụng tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm là tình tiết tăng nặng trách nhiệmhình sự, tình tiết định khung hình phạt hoặc dùng án tích làm yếu tố định tộinếu phạm tội mới trong thời gian còn án tích Vì vậy, khi đã được xóa án tích

thì hậu quả pháp lý này của án tích đương nhiên cũng được xóa bỏ

Tóm lại, khi người bị kết án được xóa án tích thì mọi hậu quả pháp lýcủa việc mang án tích sẽ không còn nữa.Với sự khẳng định người được xóa ántích coi như chưa bị kết án, Luật hình sự Việt Nam đã đưa ra một quy tắc xử sựđối với người bị kết án: Kể từ thời điểm được xóa án, họ trở thành người hoàntoàn bình thường về mặt tư pháp và không một ai có thể căn cứ vào sự kiện họtừng bị kết án để hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của họ

20

Trang 21

Như vậy, chế định xóa án tích không chỉ góp phần đảm bảo cho việcthực hiện nhất quán nguyên tắc công minh, mà còn phản ánh nguyên tắc nhânđạo của chính sách hình sự nói chung, khi TNHS của người bị kết án đã hoàntoàn chấm dứt khi họ được xóa án tích Nguyên tắc này đã được ghi nhận tại

khoản 5 Điều 3 BLHS: “Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều

kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích” Việc quy định những hậu quả pháp lý

mà người mang án tích phải chịu do thực hiện tội phạm hoặc hành vi vi phạmpháp luật trong thời gian chưa được án tích không nhằm trả thù người đã bị kết

án mà chính là nhằm tạo điều kiện cho người đó tự hoàn lương và thấy đượcgiá trị của việc chấp hành nghiêm chỉnh những điều kiện để được xóa án tích,

để được coi là người lương thiện Quy định này đã xóa bỏ thành kiến của mọingười đối với người phạm tội khi họ đã cố gắng cải tạo, chuộc lại lỗi lầm củamình Từ đó, giúp cho người bị kết án không còn mặc cảm về tội lỗi của mình

đã gây ra, tích cực chấp hành nghiêm chỉnh bản án và pháp luật sau khi chấphành xong bản án, sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho

xã hội Điều này xuất phát từ thực tế là pháp luật mặc dù cần thiết phải quyđịnh các chế tài để nghiêm trị và răn đe người phạm tội nhưng không thể thiếutính nhân đạo Xã hội muốn có công bằng và nhân đạo phải là xã hội có một hệthống pháp luật vì con người, nếu pháp luật chặn kín mọi lối hoàn lương củangười phạm tội thì vô hình chung đã buộc người phạm tội phải tái phạm và tạothêm gánh nặng cho xã hội

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Trong chương I, Khóa luận đã nêu lên khái quát lịch sử lập pháp hình sựcủa chế định Xóa án tích, từ đó, tập trung tìm hiểu khái niệm, bản chất cũngnhư đặc điểm pháp lý của án tích và xóa án tích Qua nghiên cứu, có thể thấy,chế định xóa án tích đã được ghi nhận từ rất sớm trong lịch sử lập pháp hình sựnước ta và ngày càng được hoàn thiện cả về nội dung cũng như kỹ thuật lậppháp Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưađưa ra một khái niệm pháp lý chuẩn mực về án tích và xóa án tích Trong khi

đó, việc làm sáng tỏ khái niệm án tích và xóa án tích có ý nghĩa lý luận cũng

21

Trang 22

như thực tiễn quan trọng Nó không chỉ giúp tạo lý luận vững chắc cho chếđịnh án tích mà còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng đúng đắn cácquy định của Luật hình sự về việc xóa án tích Vì vậy, cần xây dựng một kháiniệm pháp lý chuẩn mực về án tích và xóa án tích là nhiệm vụ cần thiết để hoànthiện pháp luật Hình sự nói chung, chế định “Xóa án tích” nói riêng Theo quanđiểm người viết, khái niệm xóa án tích cần được quy định thành một điềukhoản riêng kèm theo các đặc điểm pháp lý của xóa án tích, theo đó, Điều 63BLHS năm 1999 nên được quy định theo mô hình:

“Xóa án tích là chế định nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam, thể hiện

sự xóa bỏ việc mang án tích đối với người bị kết án và bị áp dụng hình phạt, theo quy định tại các điều từ Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này.

Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp sơ thẩm cấp Giấy chứng nhận xóa án tích hoặc Quyết định xóa án tích.”

22

Trang 23

CHƯƠNG II CHẾ ĐỊNH XÓA ÁN TÍCH THEO QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

2.1 Các trường hợp xóa án tích theo quy định của Bộ Luật hình sự hiện hành

2.1.1 Đương nhiên được xóa án tích

“Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích:

1 Người được miễn hình phạt.

2 Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm”.

(Điều 64 BLHS năm 1999)

a Mặc dù BLHS chưa đưa ra khái niệm pháp lý thế nào là đương nhiênxóa án tích nhưng theo quan niệm phổ biến thì đương nhiên xóa án tích đượchiểu là trường hợp được coi là chưa can án mà không cần có sự xem xét vàquyết định của Tòa án1 Chỉ cần người bị kết án đáp ứng được đầy đủ điều kiệnluật định và có yêu cầu xin cấp Giấy chứng nhận xóa án tích thì Tòa án cấp sơthẩm đã xét xử họ có trách nhiệm xác minh các điều kiện đó và cấp Giấy chứngnhận xóa án tích Tuy nhiên, Tòa án không cấp Giấy chứng nhận xóa án tíchcho tất cả những người được đương nhiên xóa án tích mà chỉ cấp cho nhữngngười được xóa án tích yêu cầu

b Các trường hợp đương nhiên xóa án tích

b.1 Người được miễn hình phạt

1 Xem: GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, sách “Mô hình Luật Hình sự Việt Nam”, NXB CAND, 2010, tr.44.

23

Trang 24

Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999, người được miễnhình phạt là trường hợp đầu tiên được đương nhiên xóa án tích.

Theo Điều 54 BLHS, “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong

trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” Như vậy, người được miễn hình phạt được hiểu là

người bị kết án do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đáng được khoan hồng đặc biệtnên mặc dù bị đưa ra xét xử nhưng được Hội đồng xét xử miễn áp dụng hìnhphạt Người được miễn hình phạt đương nhiên được xóa án tích mà không cần

có sự xem xét, quyết định của Tòa án cũng như không cần thêm bất cứ điềukiện nào khác Điều này xuất phát từ việc án tích chỉ phát sinh khi người bị kết

án bị áp dụng hình phạt, nên người được miễn hình phạt sẽ không phải chịu hậuquả pháp lý bất lợi của hình phạt này và được coi là người không có án tích

Theo hướng dẫn tại Điều 1 Mục II của Thông tư liên ngành số 02/1986thì người được miễn hình phạt được xóa án tích ngay sau khi bản án có hiệu lựcpháp luật Tuy nhiên, nếu trong trường họp người được miễn hình phạt bị tuyên

áp dụng một số quyết định khác của bản án như án phí, phạt tiền, bồi thườngthiệt hại, sửa chữa tài sản… thì người được miễn hình phạt chỉ được xóa án tíchsau khi đã chấp hành xong những quyết định khác của bản án đó

Ví dụ: A và B cùng bị kết án về tội “Làm nhục người khác” theo khoản 1Điều 121 BLHS năm 1999 A được miễn hình phạt, B được miễn hình phạtnhưng bị áp dụng biện pháp tư pháp: bồi thường thiệt hại trị giá ba triệu đồng.Ngày 01/10/2008, bản án tuyên phạt A và B có hiệu lực pháp luật nhưng đếnngày 15/10/2008, B mới thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại Trong trườnghợp này, A sẽ đương nhiên được xóa án tích từ ngày 01/10/2008 nhưng với Bthì từ ngày 15/10/2008 (sau khi đã chấp hành xong bản án), B mới đương nhiênđược xóa án tích

Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự rõ ràng, gây ra cách hiểu khácnhau trong trường hợp người được miễn hình phạt thực hiện xong các nghĩa vụkhác của bản án trước khi bản án có hiệu lực pháp luật Cũng ví dụ trên, giả sửngày 28/9/2008, B đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của mình

Có quan điểm cho rằng trong trường hợp này, áp dụng theo Điều 1 Mục IIThông tư liên ngành số 02/1986, A sẽ đương nhiên được xóa án tích từ ngày

24

Trang 25

01/10/2008, còn B sẽ đương nhiên được xóa án tích từ ngày đã chấp hành xongtoàn bộ bản án tức là ngày 28/9/2008 Quan điểm này chưa hợp lý bởi thời hạnxóa án tích là thời gian thử thách để chứng minh khả năng cải tạo của ngườiphạm tội Xét về thực tế, đối với một người phạm tội tuy được miễn hình phạtnhưng bị áp dụng biện pháp tư pháp khác thì tính chất nguy hiểm của hành viphạm tội đó bao giờ cũng cao hơn so với người phạm tội được miễn hình phạt

và không bị áp dụng thêm bất cứ một quyết định khác của Tòa án Cho nên,nếu theo quan điểm trên, vô hình chung tạo sự không công bằng cho chínhnhững người được miễn hình phạt khi hành vi có tính chất nguy hiểm hơnnhưng lại được xóa án tích sớm hơn Theo quan điểm người viết, quy định tạiĐiều 1 Mục II của Thông tư liên ngành số 02/1986 phải được hiểu một cáchlinh hoạt theo hướng: Nếu người phạm tội được miễn hình phạt chấp hành xongbản án trước khi bản án có hiệu lực pháp luật thì thời điểm được đương nhiênxóa án tích vẫn tính từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật

b.2 Người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo khoản 2 Điều 64

Khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 quy định việc đương nhiên được xóa

án tích cho những đối tượng bị áp dụng hình phạt Trong trường hợp này, muốnđược đương nhiên xóa án tích, người bị kết án phải hội tụ đủ hai điều kiện:

Một là, Họ không phạm các tội quy định tại Chương XI “Các tội xâm

phạm an ninh quốc gia” và Chương XXIV “Các tội phá hoại hòa bình, chốngloài người và tội phạm chiến tranh” của BLHS năm 1999

Nếu như đối tượng được áp dụng theo khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999

có thể phạm bất cứ tội phạm nào được quy định trong BLHS chỉ cần được miễnhình phạt đều được đương nhiên xóa án tích, thì chỉ những người không phạmphải tội phạm quy định tại Chương XI và Chương XXIV BLHS năm 1999 mớithuộc đối tượng được áp dụng khoản 2 Điều 64 BLHS Mọi tội phạm khôngthuộc Chương XI và Chương XXIV BLHS năm 1999 dù bị tuyên áp dụng bất

cứ hình phạt nào cũng thuộc đối tượng đương nhiên được xóa án tích Quy địnhnày đã mở rộng phạm vi đối tượng đương nhiên được xóa án tích so với quyđịnh của BLHS năm 1985 Theo quy định BLHS năm 1985, chỉ những người bịkết án không phải tội phạm thuộc hai chương trên đồng thời bị áp dụng hìnhphạt không phải hình phạt tù hoặc bị áp dụng hình phạt tù không quá năm năm tùmới được đương nhiên xóa án tích Việc mở rộng phạm vi đối tượng đương

25

Trang 26

nhiên được xóa án tích đã thể hiện tính nhân đạo sâu sắc trong chính sách hình sựnước ta, khích lệ những người phạm tội cải tạo, sớm hòa nhập với cộng đồng.

Hai là, Người xin xóa án tích không phạm tội mới trong thời hạn nhất

định kể từ ngày chấp hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành bản án.Trong trường hợp này, cần phân biệt khái niệm không phạm tội mới với kháiniệm bị kết án Nếu một người chỉ cần bị Tòa án tuyên buộc tội bằng một bản

án thì đã trở thành người bị kết án thì người phạm tội mới phải bị kết tội bằngmột bản án có hiệu lực pháp luật khác của Tòa án Vậy nên, nếu trong thời gianluật định, người đó bị truy tố về một tội mới mà không bị kết tội thì việc truy tố

đó không ảnh hưởng tới quy định đương nhiên xóa án tích

Tùy thuộc vào loại hình phạt và mức độ hình phạt chính Tòa án đã tuyên

mà thời hạn xóa án tích được quy định khác nhau

Đối với trường hợp hình phạt bị áp dụng không phải hình phạt tù nhưcảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, thời hạn xóa án tích được quy địnhchung là một năm kể từ ngày chấp hành xong bản án hoặc từ ngày hết thời hiệuthi hành bản án Đối với trường hợp phạt tù nhưng được hưởng án treo, theoquy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm 1985, chỉ cần người bị kết án khôngphạm tội mới trong thời gian thử thách là đương nhiên được xóa án tích Nhưngđến BLHS 1989 sửa đổi bổ sung BLHS năm 1985, thì đã quy định thời hạn xóa

án tích đối với trường hợp phạt tù nhưng được hưởng án treo là ba năm kể từngày chấp hành xong thời gian thử thách Quy định về thời hạn xóa án tích này

là nghiêm khắc hơn so với các hình phạt khác nên đến BLHS năm 1999, thờihạn này được giảm xuống là một năm Ví dụ: Ngày 10/2/2006, Tòa án xử phạtanh A tám tháng tù, cho hưởng án treo về “Tội chống người thi hành công vụ”,thời gian thử thách của án treo là 18 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm Trongtrường hợp này, đến ngày 10/8/2007, anh A đã chấp hành xong bản án treo vàđến ngày 10/8/2008, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 64 BLHS năm

1999, anh A sẽ đương nhiên được xóa án tích về bản án treo Quy định về thờihạn xóa án tích đối với trường hợp án treo như vậy là hợp lý cả về mặt lý luậncũng như thực tiễn

Đối với hình phạt tù, thời hạn xóa án tích được quy định với ba mức:

- Ba năm trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

26

Trang 27

- Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mườilăm năm;

- Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm

Ví dụ: Ngày 15/11/2005, anh B phạm tội “Cố ý gây thương tích” và bị

xử phạt 10 tháng tù và phải bồi thường 3 triệu đồng và phải chịu án phí hình sự.Đến ngày 10/12/2006, anh B chấp hành xong bản án xử về tội “Cố ý gâythương tích” và theo điểm b khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999, thời hạn xóa ántích đối với anh B là 3 năm Vì vậy, đến ngày 10/12/2009, anh B được đươngnhiên xóa án tích

Có thể thấy, thời hạn để được xóa án tích là khác nhau theo hướng áncàng nặng thì thời hạn này càng dài Đây là quy định phù hợp với thực tế bởi áncàng nặng, tức là hành vi phạm tội của người đó càng nguy hiểm và ý thứcchống đối pháp luật càng cao Như vậy, cần kéo dài thời gian thử thách củangười phạm tội, để đảm bảo việc thực sự hoàn lương và ý thức nghiêm chỉnhchấp hành pháp luật của người phạm tội

c Thủ tục xóa án tích

Trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích, giấy tờ pháp lý chứngminh việc được xóa án tích là Giấy chứng nhận xóa án tích do Tòa án cấp sơthẩm cấp

Thủ tục cấp giấy chứng nhận xóa án tích đối với trường hợp đương nhiênxóa án tích được quy định cụ thể tại Điều 270 BLTTHS năm 2003, với nội

dung: “Theo yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích quy định tại

Điều 64 của Bộ luật hình sự, Chánh án Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án cấp Giấy chứng nhận là họ đã được xóa án tích” Người muốn được cấp Giấy chứng

nhận xóa án tích phải nộp đơn xin xóa án tích tại Tòa án đã xử sơ thẩm tộiphạm cũ của mình Theo hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 02/1986 cũngnhư hướng dẫn của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, người xin xóa án ngoàiĐơn xin xóa án tích theo Mẫu thì cần nộp kèm theo:

- Bản sao bản án (Bản án sơ thẩm, Bản án phúc thẩm, Quyết định Giámđốc thẩm, tái thẩm)

- Các giấy tờ chứng minh việc đã chấp hành xong bản án : Nếu là hìnhphạt tiền thì có biên lai nộp tiền Trường hợp bị phạt cải tạo không giam giữ,cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội cần Giấy chứng nhận của Công an huyện

27

Trang 28

quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc cơ quan, đơn vị kỷ luật của quân đội nơingười bị kết án đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cảitạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội Trường hợp bị phạt tù giam, cần Giấy ra trạisau khi hết thời hạn tù

Nếu người bị kết án còn bị hình phạt bổ sung, thì tuỳ trường hợp phải cógiấy tờ như: chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường nơi người bị kết án đãchấp hành xong hình phạt quản chế hoặc cấm cư trú; biên lai nộp tiền phạt, v.v

Nếu bản án có quyết định về bồi thường thiệt hại, án phí thì người bị kết

án phải nộp những giấy tờ chứng minh đã bồi thường xong, biên lai nộp án phí

Có thể kèm theo các văn bản chứng minh cho quá trình chấp hành bản áncủa mình như Quyết định của Toà án giảm thời gian chấp hành hình phạt…

- Giấy tờ chứng minh không phạm tội mới: Giấy chứng nhận của Công

an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi họ thường trú là họ đã khôngphạm tội mới trong thời gian mà pháp luật đã quy định để được xoá án tích(như: người được hưởng án treo phải không phạm tội mới trong thời hạn mộtnăm từ khi chấp hành xong thời gian thử thách; người bị hình phạt tù đến 3năm không phạm tội mới trong thời gian 3 năm sau khi đã chấp hành xong cáchình phạt và các quyết định khác của Toà án )

Chánh án Toà án ký Giấy chứng nhận xoá án và nếu cần thiết thì phảitiến hành những biện pháp xác minh

Giấy chứng nhận xoá án được cấp cho người đã được xoá án và sao gửicho Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Uỷ ban nhân dân xã,phường nơi người đó thường trú

Nếu xét thấy người bị kết án chưa đủ điều kiện để được xoá án thì Chánh

án Toà án trả lời cho người đó biết

Như vậy, có thể thấy, BLHS năm 1999 đã quy định hai trường hợpđương nhiên được xóa án tích với những điều kiện cụ thể, chặt chẽ Điều này

đã tạo điều kiện thuận lợi ban đầu cho những người bị kết án có thể được xóa

án tích khi đủ điều kiện luật định

2.1.2 Xóa án tích theo quyết định của Tòa án

Điều 65 BLHS năm 1999 quy định

“1 Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã bị kết án

về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, căn cứ

28

Ngày đăng: 04/04/2013, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w