Một số vấn đề về kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn Quốc những năm qua ở Việt Nam
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng khách quancủa tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Chúng ta đã tích cực
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế và chủ động hội nhập với nền kinh tế, văn hóacủa các nước trong khu vực và trên thế giới Trong xu thế hội nhập đó phải kểđến mối quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc Thực tế, trong những năm gầnđây, Việt Nam – Hàn Quốc đang cố gắng thúc đẩy mối quan hệ hợp tác trênnhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và đã đạt được nhiều thành tựuđáng ghi nhận Cùng với sự giao lưu hợp tác về kinh tế là sự gia tăng các quan
hệ về hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn
Quốc đã và đang trở thành điểm nóng của dư luận xã hội Theo điều tra tại Sởthống kê Hàn Quốc, trong tổng số 320.063 cuộc hôn nhân của người Hàn Quốcnăm 2001 thì có 10.006 cuộc hôn nhân giữa người Hàn Quốc và người nướcngoài và đến năm 2006 thì có đến 30.208 cuộc hôn nhân với người nước ngoàitrong tổng số 332.752 cuộc hôn nhân, tăng gấp khoảng ba lần Trong đó, sốcuộc hôn nhân với phụ nữ Việt Nam năm 2001 là 134 cuộc nhưng đến năm 2006
đã lên tới 10.131 cuộc, tăng 75 lần và đầu năm 2008 là 25.000 cuộc và dự kiếntrong tương lai sẽ còn tiếp tục tăng thêm nữa [15] Đây được coi như một hệ quảtất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiên, thực tế trong những năm qua cho thấy, việc kết hôn giữa phụ nữViệt Nam với công dân Hàn Quốc về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu củapháp luật về HN&GĐ Việt Nam, góp phần tăng thêm sự hiểu biết cũng như mốiquan hệ hữu nghị giữa hai nước Việt – Hàn nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại hàngloạt các vấn đề nảy sinh như tình trạng buôn bán phụ nữ, núp dưới hình thức kếthôn với người nước ngoài trong đó có kết hôn với người Hàn Quốc đang diễnbiến ngày càng phức tạp với tính chất và quy mô hoạt động phạm tội có chiềuhướng gia tăng Bọn tội phạm đã lợi dụng sơ hở của pháp luật trong tư vấn môigiới hôn nhân với người nước ngoài để lừa nhiều phụ nữ ở các vùng nông thôn
Trang 2nghèo, trình độ học vấn thấp sau đó qua biên giới bán cho các chủ chứa, nhiềuphụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc bị xúc phạm nhân phẩm, danh dự, bị hành
hạ dã man thậm chí còn bị chính chồng mình sát hại, trong đó có những ngườiphải trốn về nước trong tình trạng không quốc tịch do đã thôi quốc tịch ViệtNam nhưng chưa được nhập quốc tịch Hàn Quốc và rơi vào hoàn cảnh trắngtay Tất cả những điều đó đang làm cho dư luận hết sức bức xúc bởi hậu quả
mà nó để lại không chỉ là trước mắt mà về lâu dài, nó còn ảnh hưởng tiêu cựcđến nhiều mặt kinh tế, văn hóa, an ninh xã hội, pháp luật quốc gia và quốc tế.Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống nhằm đánh giá đúngthực trạng của tình hình phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài mà đặcbiệt là với công dân Hàn Quốc trong những năm qua ở Việt Nam để qua đó, đề
ra những phương hướng, giải pháp nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của hiệntượng kết hôn này, đồng thời có những biện pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp cho phụ nữ Việt Nam khi tham gia quan hệ kết hôn với người nướcngoài có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, của quan
hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Hàn Quốc và giữa Việt Nam với các nước kháctrên thế giới Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em quyết định
chon đề tài “ Một số vấn đề về kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn Quốc những năm qua ở Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các khía cạnh củaquan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến ởnhững mức độ khác nhau Trong đó phải kể đến Luận án tiến sĩ của tác giả
Nguyễn Hồng Bắc về vấn đề “ Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam” và luận án tiến sĩ của tác giả Nông Quốc Bình về vấn
đề “ Pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam”.
Đặc biệt trong thời gian qua, trước sự bức xúc của dư luận xã hội về thực trạngphụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài bị xúc phạm về danh dự nhânphẩm, đã có nhiều bài viết đề cập đến tình trạng trên, trong đó phải kể đến bài
Trang 3viết “ Dư luận xã hội về hôn nhân có yếu tố nước ngoài” của tác giả Hoàng Bá
Thịnh - Bộ môn xã hội học giới và gia đình, Trường Đại học khoa học xã hội và
nhân văn Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Thắng “ Thử tìm nguyên nhân vấn đề phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài” đăng trên tạp chí Luật học số
6/2008 Tuy vậy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào đi sâu vàonghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về vấn đề kết hôn giữa phụ nữ ViệtNam với công dân Hàn Quốc Vì vậy đây là đề tài nghiên cứu có tính chấtchuyên sâu về vấn đề này
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích của luận văn:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về pháp luật điềuchỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, phân tích những quy định hiện hànhcủa pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam;
- Đánh giá thực trạng tình hình kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dânHàn Quốc trong những năm qua ở Việt Nam; Kiến nghị những giải pháp nhằmhạn chế những tiêu cực của hiện tượng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với ngườinước ngoài nói chung và với công dân Hàn Quốc nói riêng
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn không có tham vọng đề cập tới tất cả các vấn đề liên quan đếnthực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài nói chung màchỉ tập trung phân tích và làm sáng tỏ thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Namvới công dân Hàn Quốc trong những năm qua ở Việt Nam, từ đó tìm ra nguyênnhân và đề ra những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trước thực trạng gia tăngngày càng nhiều hiện tượng này
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để nghiên cứu thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân HànQuốc trong những năm qua ở Việt Nam, tác giả đã sử dụng một số phương pháp:
- Phương pháp phân tích
Trang 4- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh
5 Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn cókết cấu như sau:
Chương 1 Sơ lược pháp luật điều chỉnh việc kết hôn có yếu tố nước ngoài Chương 2 Thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn Quốc và
một số giải pháp nhằm hạn chế tiêu cực trong việc kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Trang 5Chương 1: SƠ LƯỢC PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC KẾT HÔN
CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm chung
1.1.1.Khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Ở nước ta trong hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là trong quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài ngày càng phát triển vàkhông còn là hiện tượng hiếm hoi trong đời sống xã hội Vì vậy, việc điều chỉnh cácquan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài đã trở thành một yêu cầu cấp bách nhằmlàm ổn định và phát triển giao lưu dân sự quốc tế, đồng thời bảo vệ được quyền, lợiích hợp pháp của công dân các nước liên quan
Để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, Nhà nước ta đãban hành một số văn bản pháp luật khác nhau trong từng thời kỳ mà điển hình làPháp lệnh HN & GĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được Uỷ
ban thường vụ Quốc hội (khoá IX) thông qua ngày 2/12/1993, pháp lệnh là sự cụ
thể hóa quy định tại điều 53 Luật HN&GĐ1986 Pháp lệnh đã định ra nhữngnguyên tắc làm cơ sở cho việc chon luật được áp dụng để giải quyết xung độtpháp luật trong quan hệ HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với người nướcngoài Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký nhiều Hiệp định tương trợ tư phápvới các nước mà mở đầu là Cộng hòa dân chủ Đức năm 1980 Có thể nói, cácvăn bản pháp luật trên đã góp một phần rất quan trọng trong việc điều chỉnhquan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài Sự ra đời của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000(Luật HN&GĐ2000 ) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc
giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài, Luật
đã dành hẳn một chương(Chương IX ) để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có yếu tố
nước ngoài Khoản 14 điều 8 Luật HN&GĐ2000 quy định:
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân
và gia đình:
a) Giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài;
Trang 6b) Giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam;
c) Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan
hệ đó ở nước ngoài.
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 điều 100 thì: “Các quy định của chương này cũng được áp dụng đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài”
Như vậy, theo các quy định trên, quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài cóthể được hiểu là các quan hệ HN&GĐ sau:
Thứ nhất: Có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài: Như vậy, một
trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xác định tư cách chủ thể trong quan hệHN&GĐ có yếu tố nước ngoài là vấn đề quốc tịch của các bên chủ thể Quốctịch được hiểu là mối quan hệ pháp lý hai chiều, được xác lập giữa cá nhân vớiquốc gia nhất định, trong xã hội hiện đại, quốc tịch là căn cứ pháp lý duy nhất đểxác định ai là công dân của một quốc gia và trên cơ sở đó, làm phát sinh cácquyền, nghĩa vụ giữa Nhà nước và công dân Ở Việt Nam, vấn đề này được quyđịnh trong Luật quốc tịch 2008, trong đó người nước ngoài được hiểu là ngườikhông có quốc tịch của nước nơi mà họ đang cư trú bao gồm người có quốc tịchnước ngoài và người không có quốc tịch:
Mặc dù Luật quốc tịch 2008 không quy định cụ thể về khái niệm người có
quốc tịch nước ngoài nhưng tại khoản 1 điều 3 khi giải thích thuật ngữ “ quốc tịch nước ngoài” thì có thể hiểu, người có quốc tịch nước ngoài là người có quốc
tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam Người có quốc tịchnước ngoài có thể là người có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài Thực tếhiện nay, đa số các quốc gia trong quan hệ quốc tế đều thừa nhận nguyên tắc
công dân quốc gia mang một quốc tịch là quốc tịch của quốc gia( nguyên tắc một quốc tịch) Tuy nhiên thực tế vẫn xuất hiện tình trạng công dân của quốc gia
đồng thời mang hai hay nhiều quốc tịch, điều đó đồng nghĩa với việc người hai
Trang 7hay nhiều quốc tịch sẽ xác lập mối quan hệ pháp lý giữa họ với không chỉ mộtquốc gia mà với cả hai hay nhiều quốc gia mà họ mang quốc tịch.
Đối với người không quốc tịch, khoản 2 điều 3 Luật quốc tịch 2008 quy
định: “ Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài” Như vậy, không quốc tịch được hiểu là tình
trạng pháp lý mà theo đó, một người không có quốc tịch của nước nào, hiệntượng này xuất hiện trong các trường hợp sau:
- Có sự xung đột pháp luật của các nước về vấn đề quốc tịch;
- Khi một người đã mất quốc tịch cũ nhưng chưa có quốc tịch mới;
- Khi trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ của nước áp dụng nguyên tắc nguyêntắc quyền huyết thống mà cha, mẹ là người không quốc tịch
Có thể nói, không quốc tịch là tình trạng không bình thường nên trongphạm vi quốc tế và ngay cả Việt Nam ta, cho đến nay đã có những nỗ lực lớn đểgiảm bớt tình trạng này
Tóm lại, căn cứ vào chủ thể tham gia thì quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước
ngoài có thể xảy ra trong các trường hợp sau: Giữa người Việt Nam với ngườinước ngoài, giữa người Việt Nam với người không quốc tịch, giữa người nướcngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, giữa người không có quốc tịch với nhauthường trú tại Việt Nam
Thứ hai: Giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài (điểm C, khoản 4 điều 18LHNGDD2000):
Theo quy định này có thể hiểu, pháp luật Việt Nam thừa nhận việc phátsinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với nhautheo pháp luật nước ngoài trong một chừng mực nhất định, điều này đồng nghĩavới việc Việt Nam thừa nhận và cho phép áp dụng luật nước ngoài và tất nhiênđây là một đòi hỏi thực tế khách quan đáp ứng việc củng cố, tăng cường và mởrộng quan hệ đa phương của nước ta với nước ngoài
Trang 8Ví dụ: Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở Ba Lan, họ có hai con(một trai, một gái ) cùng bất động sản và động sản ở Ba Lan Hai người sinh
sống với nhau ở Ba Lan 17 năm, nay trở về Việt Nam được 3 năm thì ly hôn.Theo pháp luật Việt Nam, tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ ly hôn,tuy nhiên việc giải quyết chỉ có thể được khi:
a) Tòa án Việt Nam công nhận việc kết hôn của hai công dân Việt Nam ở
Ba Lan là hợp pháp;
b) Tài sản của họ ở Ba Lan là hợp pháp
Như vậy để đảm bảo quyền lợi của cặp vợ chồng trên cũng như lợi ích củacon cái họ, tòa án Việt Nam không thể giải quyết nếu không tính tới việc trongchừng mực nào đó cần thiết phải áp dụng Luật Ba Lan Qua ví dụ trên cho thấy
sự cần thiết phải áp dụng luật nước ngoài để giải quyết các quan hệ sự quốc tế làmột nhu cầu khách quan để bảo đảm lợi ích, công bằng xã hội Tuy nhiên, phápluật nước ngoài chỉ được xem xét áp dụng đối với quan hệ giữa công dân ViệtNam với nhau trong khoảng thời gian họ cư trú trên lãnh thổ nước đó mà thôi,hơn nữa không phải trong mọi trường hợp Việt Nam đều công nhận tính hợppháp của quan hệ hôn nhân đó, theo quy định tại điều 759 Bộ luật dân sự năm
2005( BLDS2005) và điều 101 Luật HN&GĐ2000 thì về nguyên tắc, pháp luật
nước ngoài chỉ được áp dụng trên lãnh thổ của Việt Nam để điều chỉnh quan hệhôn nhân và gia đình trong trường hợp quan hệ đó có người nước ngoài thamgia, có quy phạm pháp luật dẫn chiếu tới việc áp dụng đó hoặc hậu quả của việc
áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, vì vậynếu việc kết hôn đó trái với những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Namnhư vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, vi phạm điều kiện kếthôn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam sẽ không công nhận,việc áp dụng luật nước ngoài phải luôn gắn liền với việc bảo đảm độc lập, chủquyền bình đẳng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo đảm an ninh, ổn định chế độ
xã hội chủ nghĩa và nền tảng pháp luật của nước ta, chính vì vậy hầu như khôngthể có việc một quốc gia này đương nhiên lại thừa nhận việc áp dụng pháp luật
Trang 9của một quốc gia khác để điều chỉnh các quan hệ của công dân nước mình Tuynhiên, theo quy định tại điểm C khoản 14 điều 8 Luật HN&GĐ2000 thì quan hệ
HN&GĐ có yếu tố nước ngoài là quan hệ giữa “ công dân Việt Nam với nhau
mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài”
Quy định này là chưa chính xác và cần được sửa đổi bởi lẽ sự kiện pháp lý làcăn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó không chỉ theo pháp luậtnước ngoài mà còn phải xảy ra ở nước ngoài, có nghĩa là sự kiện pháp lý đó phảiphát sinh ở nước ngoài, điều này là phù hợp với quy định tại điều
758BLDS2005: “ Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, hoặc
là các quan hệ dân sự giữu các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó tại nước ngoài
Thứ ba: Quan hệ giữa công dân Việt Nam với nhau mà tài sản liên quan
đến quan hệ đó ở nước ngoài Trong trường hợp này, các bên chủ thể đều là côngdân Việt Nam nhưng tài sản đang tranh chấp lại nằm ở nước ngoài Tuy nhiên cóthể thấy tranh chấp về tài sản ở nước ngoài không chỉ xảy ra giữa công dân ViệtNam với nhau mà còn trong cả quan hệ giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài Ví dụ: Trường hợp hai vợ chồng được hưởng thừa kế một khối tài sản của gia đình chồng ở Mỹ.
Trong Tư pháp quốc tế, khi giải quyết vấn đề tài sản giữa vợ và chồng màtài sản ở nước ngoài thì vấn đề chọn luật áp dụng sẽ được đặt ra Như ví dụ trên,việc xác định quan hệ vợ chồng đối với khối tài sản này sẽ do pháp luật của Mỹhoặc pháp luật của Việt Nam điều chỉnh Luật Việt Nam sẽ được áp dụng trên cơ
sở luật quốc tịch( Lex societatis) của các bên chủ thể, luật Mỹ sẽ được áp dụng
trên cơ sở luật nơi có vật Trong trường hợp này, nếu tài sản là bất động sản thì
áp dụng theo nguyên tắc luật nơi có vật( Lex rei sitae) để điều chỉnh Theo đó,
pháp luật của Mỹ sẽ được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ và chồng
Trang 10* Theo quy định tại khoản 4 điều 100 Luật HN&GĐ2000 thì: “Các quy định của chương này cũng được áp dụng đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài”
Trước khi Luật quốc tịch 2008 được ban hành, thuật ngữ “ người Việt Nam định cư ở nước ngoài” được sử dụng trong nhiều văn bản pháp luật của Việt
Nam Tuy nhiên các văn bản trước đây chưa có sự giải thích rõ ràng khái niệm
này Chẳng hạn, điều 2 Luật quốc tịch 1998 đưa ra hai thuật ngữ “ Người Việt Nam ở nước ngoài” và “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” đồng thời giải thích: “ Người Việt Nam ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam đang thường trú hoặc tạm trú ở nước ngoài” và “ Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài “ là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sông lâu dài ở nước ngoài” Cách giải thích này không rõ ràng, đặc biệt là chưa có sự phân biệt giữa “ thường trú ở nước ngoài” và “ cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” Luật quốc tịch 2008 ngoài việc lược bỏ thuật ngữ “ Người Việt Nam ở nước ngoài” đã bổ sung giải thích cụm từ “ Người gốc Việt Nam ở nước ngoài” Theo điều 3 Luật quốc tịch 2008 “ Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” Quy định trên cho thấy, yếu tố cư trú, sinh sống lâu dài ở
nước ngoài, yếu tố quốc tịch là căn cứ quan trọng để phân chia người Việt Namđịnh cư ở nước ngoài thành hai nhóm là công dân Việt Nam và người gốc ViệtNam Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài là người dù cư trú, sinh sống lâudài ở nước ngoài nhưng họ vẫn giữ quốc tịch Việt Nam, còn người gốc ViệtNam định cư ở nước ngoài là người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh
ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của
họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài Như vậy, với sự giải thích này,
khái niệm “ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài” đã được hoàn thiện và làm
sáng tỏ, điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đất nước hiệnnay, khi mà nền kinh tế - xã hội đang trong quá trình thực hiện chính sách mở
Trang 11người Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng tăng lên, do đó các quan hệ hônnhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam định cư ở nướcngoài cũng tăng lên, đây cũng chính là nguyên nhân lý giải tại sao việc điềuchỉnh quan hệ HN&GĐ giữa công dân Việt Nam với nhau mà một hoặc cả haibên định cư ở nước ngoài là cần thiết và được coi là quan hệ hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài.
Tóm lại, từ cơ sở lý luận cũng như cở sở pháp lý trên, có thể rút ra khái
niệm về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài như sau: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là các quan hệ hôn nhân và gia đình
có một trong các yếu tố sau: Chủ thể là người nước ngoài, người Việt Nam định
cư ở nước ngoài hoặc sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ
đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
1.1.2 Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội mà luôn được các nhàtriết học, xã hội học, luật học nghiên cứu Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còngia đình là tế bào của xã hội Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết lànhờ Nhà nước thừa nhận hôn nhân của đôi nam nữ, đồng thời quy định quyền vànghĩa vụ pháp lý giữa họ Có thể nói, hôn nhân là sự liên kết đặc biệt giữa mộtngười nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được Nhà nước thừa nhận bằng
sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý đó là đăng ký kết hôn Như vậy, đăng kýkết hôn làm xác lập quan hệ hôn nhân và là cơ sở để hình thành gia đình
Cùng với sự tăng cường và mở rộng các quan hệ hợp tác giữa Việt Nam vớicác nước, số lượng các cuộc kết hôn có yếu tố nước ngoài giữa công dân ViệtNam và người nước ngoài ngày càng tăng Để điều chỉnh kịp thời vấn đề này,Nhà nước ta đã ban hành các văn bản pháp luật có các quy phạm xác định điềukiện kết hôn cũng như nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài, theo quy định tại
điều 103 Luật HN&GĐ2000 “trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện
Trang 12kết hôn” Như vậy, công dân Việt Nam khi kết hôn với người nước ngoài, dù
việc kết hôn được tiến hành ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài cũng phải luôn tuântheo pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn Nếu việc kết hônđược tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì ngườinước ngoài, ngoài việc họ phải tuân theo pháp luật của nước mà người nướcngoài là công dân, họ còn phải tuân theo các quy định về điều kiện kết hôn theoLuật HN&GĐ2000 Việt Nam Cũng theo điều 103 Luật HN&GĐ2000 việc kếthôn giữa những người nước ngoài với nhau tại Việt Nam trước cơ quan có thẩmquyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật HN&GĐ2000 về điềukiện kết hôn
Như vậy, có thể nói, kết hôn là thủ tục pháp lý bắt buộc để xác lập quan hệ
vợ chồng, muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các điều kiện kếthôn và đăng ký kết hôn, thông qua việc đăng ký kết kết hôn, Nhà nước ta đãcông nhận hôn nhân của đôi nam nữ Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhậnrằng, hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng Sự kiện này có ýnghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể của quan hệ giữa vợ và chồng, giữacha mẹ và con và xác định rõ thời điểm làm phát sinh các quan hệ đó
1.1.3.Ý nghĩa của việc kết hôn có yếu tố nước ngoài
Trong những năm gần đây, việc kết hôn với người nước ngoài có chiềuhướng gia tăng, đây là hệ quả tất yếu của quá trình giao lưu hợp tác quốc tế giữaViệt Nam với các nước Công dân Việt Nam khi tham gia quan hệ kết hôn cóyếu tố nước ngoài bên cạnh việc được tiếp thu một nền văn hóa mới, được hiểubiết hơn về con người, về ngôn ngữ, phong tục tập quán và lối sống của nước mà
họ làm vợ ( chồng) thì họ còn có thể được sống trong một điều kiện kinh tế đầy
đủ, hiện đại Thực tế trong những năm qua cho thấy, việc kết hôn với ngườinước ngoài thường xảy ra với những trường hợp là những người không có việclàm hoặc có việc làm nhưng thu nhập thấp và không ổn định nên hoàn cảnh kinh
tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, khi kết hôn với người nước ngoài họ mong muốn
có cuộc sống sung túc hơn, thoát khỏi cảnh nghèo khổ Và thực tế cũng chứng
Trang 13minh rằng, có những người sau khi kết hôn đã gửi tiền về giúp gia đình giảiquyết khó khăn, cải thiện cuộc sống.
Hiện nay, theo quy định của Luật HN&GD 2000 và các văn bản pháp luậthiện hành, việc kết hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiệnkết hôn và đăng ký kết hôn, kết hôn có yếu tố nước ngoài được Nhà nước ta tôntrọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ướcquốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia Trong quan hệ hôn nhân và gia đìnhvới công dân Việt Nam, người nước ngoài được hưởng chế độ đãi ngộ như côngdân, tức là các quyền và nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp phápluật Việt Nam có quy định khác Người Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nướcViệt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp phù hợp với pháp luật Việt Nam, phápluật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế Như vây, với việc Nhà nước tathừa nhận kết hôn có yếu tố nước ngoài đã thể hiện chính sách ngoại giao nhấtquán với các nước trong khu vực và trên thế giới, điều này có ý nghĩa quan trọngtrong việc thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá của Việt Nam bởi lẽ, khikết hôn có yếu tố nước ngoài gia tăng sẽ nảy sinh ngày càng nhiều các gia đình
đa văn hóa, trong quá trình chung sống với nhau, các thành viên trong gia đình
sẽ tiếp thu những nền văn hóa khác nhau thông qua việc học ngôn ngữ, phong
tục tập quán của vợ( chồng ) mình, điều này tạo nên một quá trình giao lưu, tiếp
biến văn hóa lẫn nhau, góp phần tạo nên sự đa dạng trong văn hóa của Việt Namkhông chỉ trong giai đoạn hiện nay mà trong tương lai, thế hệ con cháu của họ sẽ
là cầu nối quan trọng thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa, thúc đẩy quan hệ hữunghị hợp tác giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới Như vây, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích cáctrường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài Nhà nước có những chính sách phùhợp đảm bảo quyền lợi của các bên khi tham gia quan hệ hôn nhân có yếu tốnước ngoài Thực tế những năm gần đây cho thấy, trước xu thế toàn cầu hóa nềnkinh tế thế giới, Việt Nam đã đề ra những chính sách nhằm kêu gọi, khuyếnkhích các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm ăn, hợp tác, cùng với đó là
Trang 14sự gặp gỡ, tìm hiểu của những người nước ngoài và công dân Việt Nam, sau thờigian làm quen, gặp gỡ họ đã nảy sinh tình cảm và kết hôn với nhau, hay nhữngtrường hợp người Việt Nam ra nước ngoài làm ăn sinh sống và kết hôn với côngdân của những nước đó , việc pháp luật Việt Nam công nhận việc kết hôn cóyếu tố nước ngoài đã khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ nhữngquyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người trong đó có quyền tự do kết hôn.
Điều 39 Bộ luật dân sự 2005 quy định “ Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn Việc tự
do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”
1.2 Nguyên tắc áp dụng Luật và thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu
tố nước ngoài
1.2.1 Nguyên tắc áp dụng luật
Theo quy định tại khoản 1 điều 7 Luật HN&GĐ2000 thì:“ Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác” Như vậy, việc áp dụng pháp luật
HN&GĐ để giải quyết các quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là định hướng
đầu tiên, chỉ trừ những trường hợp cụ thể mà “Luật này có quy định khác” Hiện
nay, các văn bản pháp luật hiện hành trong nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân cóyếu tố nước ngoài tại Việt Nam là Luật HN&GĐ 2000, Nghị định số68/2002/NĐ-CP, Nghị định số 69/2006/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liênquan Ngoài ra, theo quy định tại điều 101 Luật HN&GĐ2000 thì pháp luật Việt
Nam sẽ được áp dụng trong trường hợp “ pháp luật nước ngoài dẫn chiếu trở lại pháp luật Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình Việt Nam”.
Theo quy định trên thì Nhà nước ta chấp nhận dẫn chiếu ngược trở lại Hiện nay,trong khoa học Tư pháp, đây được coi là vấn đề phức tạp và tồn tại hai quanđiểm về vấn đề này:
Trang 15- Thứ nhất: Dẫn chiếu ngược sẽ không bao giờ xảy ra nếu hiểu việc dẫn chiếu
chỉ là dẫn chiếu đến các quy phạm thực chất của nước được dẫn chiếu, trongtrường hợp này, luật thực chất của nước được dẫn chiếu đến sẽ được áp dụng
- Thứ hai: Dẫn chiếu ngược sẽ xảy ra nếu việc dẫn chiếu là dẫn chiếu đến
toàn bộ hệ thống pháp luật của nước đó
Theo cách hiểu trên thì việc Nhà nước ta chấp nhận dẫn chiếu ngược cónghĩa là chấp nhận dẫn chiếu đến toàn bộ hệ thống pháp luật của nước đó baogồm cả luật nội dung cũng như luật xung đột điều này đồng nghĩa với việc ViệtNam chấp nhận dẫn chiếu đến pháp luật của nước thứ ba, tuy nhiên trong cácvăn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình hiện nay, vấn đề này vẫn chưa đượcquy định Tuy nhiên, dẫn chiếu ngược sẽ không còn nếu trong các điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định các quy phạm xung đột thốngnhất thì các quy phạm này sẽ được ưu tiên áp dụng
Khoản 2 điều 7 Luật HN&GĐ2000 quy định: “ Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này, thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế.”
Như vây, về mặt lý luận và trong thực tiễn, các quy phạm trong các điềuước quốc tế có hiệu lực pháp lý cao hơn luật trong nước, vì vậy, trong trườnghợp điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia có quy định khác với quy định củaLuật HN&GĐ 2000 và các văn bản pháp luật khác thì áp dụng quy định của điềuước quốc tế Các điều ước quốc tế có thể là điều ước quốc tế song phương hoặc
đa phương Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tếđiều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như Hiệp định tương trợ tưpháp giữa Việt Nam với Cộng hòa dân chủ Đức được ký ngày 15/12/1980, giữaViệt Nam với Liên Xô ngày 10/12/1981, giữa Việt Nam với Cộng Hòa Phápngày 24/02/1999 [12] Trong các điều ước quốc tế thường quy định nguyên tắcchọn pháp luật áp dụng để giải quyết quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể liênquan đến các vấn đề như kết hôn, ly hôn, xác định thẩm quyền của Tòa án trong
Trang 16lĩnh vực hôn nhân Nội dung các quy định này là cơ sở pháp lý quan trọng đểcác cơ quan hữu quan của Việt Nam và của các nước ký kết thực hiện việc bảo
vệ quyền lợi chính đáng của các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tốnước ngoài Chẳng hạn theo khoản 2 điều 24 Hiệp định tương trợ tư pháp và
pháp lý giữa Việt Nam và Liên Bang Nga năm 1998 quy định: “ Hình thức kết hôn tuân theo pháp luật của bên ký kết nơi tiến hành kết hôn.” Như vậy, việc kết
hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Nga nếu tiến hành ở Nga thì tuân theopháp luật Nga, còn nếu ở Việt Nam thì tuân thủ pháp luật Việt Nam
* Theo quy định tại điều 101 Luật HN&GĐ 2000 thì: “ Trong trường hợp Luật này, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam có quy định hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn thì pháp luật nước ngoài được áp dụng, nếu việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc quy định trong Luật này”
Như vậy, theo quy định trên, luật nước ngoài được áp dụng đối với cácquan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài khi:
Thứ nhất: Được luật Luật HN&GĐ2000 quy định hoặc các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định( như pháp lệnh, nghị định…)
Thứ hai: Khi điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia viện dẫn Thứ ba: Pháp luật nước ngoài chỉ được áp dụng, nếu việc áp dụng hoặc hậu
quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của LuậtHN&GĐ2000
Áp dụng luật nước ngoài là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên thamgia quan hệ dân sự quốc tế, đảm bảo sự ổn định, củng cố và phát triển hợp tác vềmọi mặt trong giao lưu dân sự giữa các quốc gia vì sự thịnh vượng chung, vì vậyluật nước ngoài sẽ bị gạt bỏ nếu việc áp dụng đó dẫn đến hậu quả xấu, tai hạihoặc mâu thuẫn với những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội cũng như phápluật của nhà nước mình Đây là quy định có tính nguyên tắc nhằm bảo đảm việc
áp dụng đó không gây ra những ảnh hưởng xấu đến đạo đức, thuần phong mỹ
Trang 17tục, đến chế độ hôn nhân gia đình trong xã hội Việt Nam Trong tư pháp quốc tế,
nguyên tắc này được gọi là nguyên tắc “ bảo lưu trật tự công cộng” Ở Việt Nam, quy định về “ bảo lưu trật tự công cộng” được ghi nhân rất rõ ràng Cụ thể
ở khoản 4 điều 759BLDS2005 quy định :
Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Ngoài ra, vấn đề bảo lưu trật tự công cộng còn được ghi nhận ở một số vănbản pháp luật khác của Việt Nam, trong một số điều ước quốc tế mà Việt Namtham gia hoặc ký kết
Như vậy, trật tự công cộng được hiểu là các nguyên tắc cơ bản tạo ra mộttrật tự pháp lý mà nguyên tắc này về thực chất đã hạn chế hiệu lực của quy phạmxung đột dẫn chiếu tới luật nước ngoài cần áp dụng Ví dụ như trong việc kếthôn giữa một nữ công dân Việt Nam với nam công dân Nam Phi, pháp luật củaNam Phi thừa nhận chế độ đa thê, cho phép đàn ông được cưới nhiều vợ Tuynhiên, Luật HN&GĐ2000 nước ta quy định cấm người đang có vợ hoặc đang có
chồng kết hôn( nguyên tắc một vợ một chồng), nếu việc kết hôn được tiến hành
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì nam công dân đó sẽ phải tuân thủ phápluật Luật HN&GĐ2000 về điều kiện kết hôn, cho nên trường hợp nam công dân
đó đã có vợ mà muốn kết hôn với nữ công dân Việt Nam thì sẽ vi phạm quy định
về điều kiện kết hôn, việc kết hôn sẽ không được thừa nhận tại Việt Nam
* Đối với vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài thì về nguyên tắc, luật được
áp dụng sẽ là luật quốc tịch của các bên đương sự hoặc luật nơi tiến hành kếthôn Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, dù việc kết hôn đượctiến hành ở Việt Nam hoặc ở nước ngoài cũng luôn phải tuân theo pháp luật ViệtNam về điều kiện kết hôn và cấm kết hôn[ 2] Nếu việc kết hôn được tiến hành
Trang 18tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài, ngoàiviệc họ phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân thì còn phải tuântheo các quy định về điều kiện kết hôn theo Luật HN&GĐ 2000 của Việt Nam (
Luật nơi tiến hành kết hôn)
1.2.2 Thẩm quyền giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài
Trong các văn bản pháp luật về HN&GĐ hiện hành quy định về thẩmquyền giải quyết việc về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thì thẩm quyềngiải quyết việc đăng ký kết hôn được xác định như sau:
Khoản 1 điều 102 Luật HN&GĐ2000 quy định:
“Uỷ ban nhân dân( UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam
Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do Chính phủ quy định”.
Khoản 1 điều 3 Nghị đinh 68/2002/NĐ-CP quy định:
“UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là UBND cấp tỉnh) thực hiện đăng ký việc kết hôn, nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau”
Điều 12 Nghị đinh 68/2002/NĐ-CP quy định:
“1 UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng
ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Trong trường hợp công dân Việt Nam không có hoặc chưa có hộ khẩu thường trú, nhưng đã đăng ký tạm trú có thời hạn theo quy định của pháp luật về hộ khẩu thì ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tạm trú có thời hạn của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa người đó với người nước ngoài.
Trang 19Trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam xin kết hôn với nhau thì UBND cấp tỉnh nơi thường trú của một trong hai bên đương sự thực hiện đăng ký việc kết hôn.
2 Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước tiếp nhận nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài cư trú tại nước đó”.
Ngoài ra, thẩm quyền đăng ký kết hôn còn được quy định tại các văn bảnkhác như Nghị đinh 69/2006/NĐ-CP, Nghị đinh 158/2005/NĐ-CP về đăng ký vàquản lý hộ tịch
Theo các quy định trên thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn đượcxác định như sau:
- Trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài thì cơquan có thẩm quyền đăng ký kết hôn sẽ là UBND cấp tỉnh nơi thường trú củacông dân Việt Nam;
- Trường hợp kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam thì cơquan có thẩm quyền sẽ là UBND tỉnh nơi cư trú của người nước ngoài
Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 điều 79 Nghị đinh 68/2002/NĐ-CP quyđịnh trong trường hợp người nước ngoài thường trú tại Việt Nam muốn kết hônvới người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam hoặc giữa người nướcngoài không thường trú tại Việt Nam với nhau mà muốn kết hôn với nhau thì khi
có yêu cầu đăng ký kết hôn sẽ được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giảiquyết
- Đối với việc kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới vớicông dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì sẽ
do Chính phủ quy định[ 2] Sở dĩ có quy định trên là do xuất phát từ những nétđặc thù của cư dân vùng biên giới, với trình độ văn hóa còn thấp, điều kiện kinh
tế, giao thông liên lạc còn rất nhiều khó khăn lại bị chi phối bởi các phong tụctập quán lạc hậu, điều đó đòi hỏi phải có những quy định riêng về thẩm quyền
Trang 20giải quyết sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm tạo điều kiện thuận lợi,
dễ dàng cho nhân dân trong việc đăng ký kết hôn Cụ thể hóa quy định tại LuậtHN&GĐ2000, Nghị đinh 68/2002/NĐ-CP đã dành hẳn chương V để quy định vềcác quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới,trong đó có quy định về thẩm quyền đăng ký kết hôn Theo đó, cơ quan có thẩmquyền giải quyết các trường hợp đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Namthường trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú ởkhu vực biên giới với Việt Nam là UBND cấp xã nơi thường trú của công dânViệt Nam Việc pháp luật quy định cụ thể như trên đã góp phần đáng kể vào việcbảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cư dân vùng biên giới, đồng thời đócũng là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp phát sinh khi mà thực tiễn trongnhững năm qua, các quan hệ hôn nhân và gia đình của cư dân biên giới ngàycàng tăng do có sự gần gũi nhau về điều kiện địa lý, phong tục tập quán, vănhóa và được coi là một tất yếu khách quan
- Trường hợp công dân Việt Nam với nhau kết hôn ở nước ngoài hoặc giữacông dân Việt Nam với người nước ngoài kết hôn ở nước đó thì cơ quan có thẩmquyền giải quyết là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ởnước sở tại, không những thế các cơ quan này còn phải chịu trách nhiệm bảo hộquyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và giađình có yếu tố nước ngoài khi các quyền, lợi ích đó bị xâm phạm
1.3 Điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm qua, cùng với sự tăng cường và mở rộnggiao lưu hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, số lượng các cuộckết hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng Để điều chỉnh kịp thời vấn đềnày, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có các quy phạm xác địnhđiều kiện kết hôn, cũng như quy định trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tốnước ngoài như: Luật HN&GĐ2000, Nghị định 68/2002/NĐ-CP, Nghị định
Trang 2169/2006/NĐ-CP Ngoài ra vấn đề kết hôn còn được giải quyết trên cơ sở cáchiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam ký với nước ngoài
1.3.1 Điều kiện kết hôn
Hiện nay, khi xem xét về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài, pháp luậtViệt Nam cũng như pháp luật các nước có quy định khác nhau về việc lựa chọnluật áp dụng điều chỉnh điều kiện kết hôn Theo điều 170 BLDS Pháp, điều kiệnkết hôn của công dân Pháp do pháp luật của Pháp điều chỉnh, bất kể nơi tiến
hành kết hôn( áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch) còn theo pháp luật Anh, điều kiện kết hôn do pháp luật của nước nơi đương sự cư trú quyết định( áp dụng hệ thuộc luật nơi cư trú) Như vậy, theo quy định của pháp luật các nước trên thế giới,
việc chọn luật điều chỉnh điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài thường dựa vàodấu hiệu quốc tịch hoặc dấu hiệu nơi cư trú của đương sự Thông thường, các
nước theo hệ thống Civilaw( Đức, Pháp) quy định dùng dấu hiệu quốc tịch, còn các nước theo Commonlaw( Anh, Đức, Việt Nam) dùng dấu hiệu nơi cư trú của
có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật này về điềukiện kết hôn
Như vậy, pháp luật Việt Nam áp dụng hệ thuộc luật quốc tịch của các bênđương sự để xác định điều kiện kết hôn, cụ thể được phân ra làm hai trường hợp:
- Thứ nhất: Nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền
của nước ngoài thì công dân Việt Nam sẽ phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về
Trang 22điều kiện kết hôn còn người nước ngoài sẽ phải tuân thủ các quy định pháp luậtcủa nước mà họ mang quốc tịch.
- Thứ hai: Nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của Việt Nam thì các bên sẽ phải tuân theo pháp luật nước mình về điềukiện kết hôn Đồng thời, người nước ngoài còn phải tuân theo pháp luật ViệtNam về điều kiện kết hôn
Trên cơ sở quy định tại khoản 1 điều 3 Luật HN&GĐ2000, tại điều 10 Nghịđịnh 68/2002/NĐ-CP đã cụ thể hóa điều kiện đăng ký kết hôn có yếu tố nướcngoài như sau:
“Trong trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn đồng thời người nước ngoài còn phải tuân theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật HN&GĐ2000 về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam( Khoản 1)
Trong trường hợp kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam, trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mà họ là công dân hoặc thường trú (đối với người không quốc tịch) về điều kiện kết hôn; ngoài ra, còn phải tuân theo quy định tại Điều 9
và Điều 10 của Luật HN&GĐ2000 về điều kiện kết hôn và các trường hợp cấm kết hôn( Khoản 2)
Ngoài ra, đối với trường hợp công dân Việt Nam đang phục vụ trong cáclực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật quốc giathì cần phải có xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp Trung ươnghoặc cấp tỉnh về việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởngđến việc bảo vệ bí mật quốc gia hoặc không trái với quy định của ngành đó
(Điều 13 Nghị định 68/2002/NĐ-CP).
Trang 23Như vậy, nguyên tắc cơ bản để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiệnkết hôn là nguyên tắc luật quốc tịch của các bên đương sự.
Khi giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn đối với người haihay nhiều quốc tịch thì giấy tờ xác định điều kiện kết hôn của họ sẽ theo phápluật của nước mà người đó mang quốc tịch đồng thời thường trú vào thời điểmđăng ký kết hôn, nếu người đó không thường trú tại một trong các nước có quốctịch thì giấy tờ đó do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó mang hộchiếu cấp Đối với người nước ngoài không quốc tịch muốn kết hôn với côngdân Việt Nam và đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thìgiấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyềncủa nước nơi người đó thường trú cấp Đối với công dân Việt Nam định cư ởnước ngoài, giấy tờ sử dụng trong việc đăng ký kết hôn là giấy tờ do cơ quan cóthẩm quyền của nước nơi người đó định cư hoặc cơ quan ngoại giao, Lãnh sự ởViệt Nam cấp
Trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân của nước đã kýhiệp định tương trợ tư pháp với Việt Nam thì khi xác định điều kiện kết hôn sẽcăn cứ vào quy định của hiệp định Theo nguyên tắc chung thì các hiệp định đều
áp dụng nguyên tắc luật quốc tịch của các bên đương sự để điều chỉnh các vấn đề
về điều kiện kết hôn Ví dụ: Khoản 1 điều 20 Hiệp định tương trợ tư pháp Việt
Nam – Bungary quy định: “ Các điều kiện kết hôn giữa công dân của hai nước
ký kết sẽ xác định theo pháp luật của nước ký kết mà người kết hôn là công dân”.
1.3.2 Nghi thức kết hôn
Xuất phát từ bản chất giai cấp của nhà nước, từ phong tục tập quán mà phápluật các nước có quy định nghi thức kết hôn khác nhau Hiện nay, trên thế giớithường áp dụng các nghi thức kết hôn như nghi thức dân sự, nghi thức tôn giáohoặc kết hợp giữa nghi thức dân sự và nghi thức tôn giáo Ví dụ: Những nướctheo thiên chúa giáo, hồi giáo như Irac, Isaren sử dụng nghi thức tôn giáo đểthừa nhận tính hợp pháp của hôn nhân, còn một số nước như Đức, Pháp, Thụy
Trang 24Sĩ, Nhật Bản, Anh lại sử dụng nghi thức dân sự hoặc kết hợp cả hai nghi thứcdân sự và tôn giáo Để giải quyết xung đột về nghi thức kết hôn có yếu tố nướcngoài, trong thực tiễn quốc tế, các nước thường áp dụng hệ thuộc luật nơi tiến
hành kết hôn( Lex loci celebrationis), theo đó việc kết hôn được tiến hành ở đâu
thì pháp luật ở đó sẽ quy định tính hợp pháp của nghi thức kết hôn Tuy nhiên, ởmột số nước còn bổ sung thêm các nguyên tắc khác để giải quyết xung đột phápluật về nghi thức kết hôn: Ví dụ như ở các nước Đông Âu, về nguyên tắc chung
là áp dụng hệ thuộc luật nơi tiến hành kết hôn để giải quyết các vấn đề về nghithức kết hôn, tuy nhiên đối với những trường hợp kết hôn ở ngoài lãnh thổ củacác nước này, một số nước còn quy định bổ sung: Chẳng hạn, theo khoản 2 điều
15 Luật tư pháp quốc tế Ba lan “ Việc kết hôn được đăng ký ở nước ngoài thì nghi thức kết hôn chỉ cần tuân theo các quy định của luật quốc tịch của cả hai
vợ chồng là đủ” i
Ở Việt Nam, theo quy định tại điều 11 nghị định 68/2002/NĐ-CP và điều
57 BLDS 2005 thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thực hiện theo nghi thức do pháp luật quy định Moi nghi thức kếthôn không tuân theo các quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn đều không
có giá trị pháp lý Như vậy, đăng ký kết hôn là nghi thức kết hôn duy nhất làmphát sinh quan hệ hôn nhân, đây chính là nghi thức dân sự Pháp luật Việt Namkhông thừa nhận các trường hợp kết hôn được tiến hành theo các nghi thức khác
mà đương sự không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước cóthẩm quyền, hôn nhân chỉ được coi là hợp pháp khi nam, nữ tiến hành thủ tụcđăng ký kết hôn trước có quan nhà nước có thẩm quyền Trên cơ sở đó, LuậtHN&GĐ2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định khá cụ thể trình
tự, thủ tục đăng ký kết hôn
Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP sửa đổi
bổ sung một số điều của Nghị định 68/2002/NĐ-CP về hôn nhân có yếu tố nướcngoài quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoàiđược thực hiện như sau:
Trang 25Bước 1 Các bên đương sự chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo quy định Hồ sơ đăng
ký kết hôn bao gồm các loại giấy tờ sau:
a) Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định;
b) Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên, do cơ quan có thẩmquyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 06 tháng, tínhđến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặckhông có chồng
Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dânkhông quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xácnhận tình trạng hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiệntại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó;c) Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nướcngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người
đó không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhậnthức, làm chủ được hành vi của mình;
d) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài);
đ) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng
nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm tú có thời hạn (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm tú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).
Ngoài các giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này, đối với công dân ViệtNam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quantrực tiếp đến bí mật Nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chứcquản lý ngành cấp Trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với
Trang 26người nước ngoài không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật Nhà nước hoặckhông trái với quy định của ngành đó.
Bước 2 Hồ sơ được lập thành hai bộ, nộp tại sở tư pháp (nếu đăng ký kết hôn tại Việt Nam), nộp tại cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài (nếu đăng
ký kết hôn tại các cơ quan này)
Bước 3 Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hợp lệ, Sở tư pháp
tiến hành phỏng vấn trực tiếp hai bên nam nữ tại trụ sở Sở Tư pháp
Bước 4 Niêm yết hồ sơ kết hôn tại trụ sở Sở Tư pháp và UBND xã nơi
thường trú hoặc tạm trú có thời hạn của bên đương sự là công dân Việt Nam, nơithường trú của người nước ngoài tại Việt Nam trong thời hạn 7 ngày
Bước 5 Sở tư pháp nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn Chuyển hồ
sơ Công an tỉnh xác minh trong trường hợp có nghi vấn hoặc có khiếu nại, tố cáocủa đương sự
Bước 6 Chuyển Chủ tịch UBND tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn Đến hẹn
hai bên nam nữ đến dự lễ đăng ký kết hôn, ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn,
sổ đăng ký kết hôn Trường hợp từ chối việc đăng ký thì UBND tỉnh có văn bảnthông báo, nêu rõ lý do
Nhìn chung, so với nghị định 68/2002/NĐ-CP, Nghị định 69/2006/NĐ-CP
đã có những sửa đổi bổ sung theo hướng đơn giản hóa thủ tục đăng ký kết hôncho các bên đương sự Đó là nghị định Nghị định 69/2006/NĐ-CP đã tách bạch
tờ khai đăng ký kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 13 nghị định
68/2002/NĐ-CP thành hai loại giấy tờ khác nhau đó là “ Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định” và “Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên ”.
Ngoài ra, theo quy định mới của Nghị định 69/2006/NĐ-CP thì hồ sơ đăng ký
kết hôn cũng không cần có “ lý lịch cá nhân theo mẫu quy đinh” vì thực tế cho
thấy, việc quy định thêm loại giấy tờ này là không cần thiết Như vậy, theo quyđịnh mới thì người xin đăng ký kết hôn đã giảm được phần nào một số giấy tờkhông cần thiết, làm cho thủ tục kết hôn trở nên gọn nhẹ hơn, tạo sự thuận lợi
Trang 27cho các bên đương sự Tuy nhiên, nghị định cũng bổ sung thêm một thủ tục mớitrong phần trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn, đó là trách nhiệm của Sở tưpháp trong việc thực hiện phỏng vấn hai bên nam nữ nhằm làm rõ tính tự nguyệntrong hôn nhân, việc đăng ký kết hôn sẽ bị từ chối, nếu qua phỏng vấn cho thấyviệc kết hôn thông qua môi giới bất hợp pháp, kết hôn giả tạo không nhằm mụcđích xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng quy định mới này nhằm tránh tìnhtrạng nhiều người lợi dụng việc kết hôn với người nước ngoài để mua bán phụ
nữ, trục lợi như thực tế thời gian qua đã diễn ra
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG KẾT HÔN GIỮA PHỤ NỮ VIỆT NAM VỚI CÔNG DÂN HÀN QUỐC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TIÊU CỰC TRONG VIỆC KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 2.1 Thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn Quốc
2.1.1 Nhận xét chung
Trong sự phát triển của tiến bộ xã hội, tự do kết hôn đã trở thành một giá trị
cơ bản của quyền con người Chế độ hôn nhân và gia đình Việt nam trải qua balần lập pháp đều nhất quán khẳng định mục tiêu xây dựng chế độ hôn nhân tựnguyện, tiến bộ nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững làm nền tảng cho
sự phát triển của tiến bộ xã hội Tuy nhiên cùng với sự phát triển của nền kinh tếthị trường và xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, đời sống hôn nhân
và gia đình Việt Nam đang đứng trước sự phát sinh những hiện tượng hôn nhânkhông bình thường của việc lợi dụng quyền tự do kết hôn nhằm hướng đến cácquan hệ lợi ích Trong đó hiện tượng kết hôn với người nước ngoài mà nổi lên làhiện tượng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn Quốc trong nhữngnăm qua có thể coi là ví dụ điển hình về sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tếthị trường đối với quan hệ hôn nhân Đây thực sự là một vấn đề xã hội phức tạptrong sự quan tâm của dư luận xã hội cũng như các cơ quan quản lý nhà nước
Theo giáo sư Kim Young Shin tại hội thảo “ Những vấn đề và phương hướng giải quyết trong quan hệ hôn nhân quốc tế Việt Hàn”, nhìn chung tình hình kết
hôn quốc tế Việt - Hàn hiện nay đang gặp phải nhiều sóng gió gay go trong khivẫn chưa tìm được phương án nào giải quyết thỏa đáng, chính phủ Hàn Quốc vàViệt Nam đang nỗ lực để cải thiện tình hình nhưng vẫn còn khá nhiều vấn đề mànhà nước chưa thể động tới, mặc dù được sự giúp đỡ của các cơ quan phi chínhphủ và nhiều đoàn thể nhưng tình trạng trên vẫn tồn tại nhiều thiếu sót Thực tếtrong những năm qua cho thấy, số lượng các cuộc hôn nhân Việt - Hàn đã tănglên đáng kể Theo kết quả điều tra thực trạng người nước ngoài cư trú tại HànQuốc của Bộ An toàn – hành chính Hàn Quốc năm 2008 cho biết: Cả nước Hàn
Trang 2920.942 người tính luôn cả con, so với năm 2001 chỉ có 134 người, tăng 156 lần.Đặc biệt Tại Chung Nam của Hàn Quốc số cô dâu người Việt Nam đã tăng từ
347 người vào năm 2006 lên 1.238 người vào năm 2009 Còn ở Việt Nam, theo
số liệu thống kê thì nếu trước năm 2004 chỉ có 560 trường hợp kết hôn thì đếnnăm 2005 là 1500 trường hợp, năm 2006 là 20.000 trường hợp và từ năm 2007đến đầu năm 2008 là 25.000 [19], các cuộc hôn nhân ban đầu diễn ra ở các tỉnhmiền tây Nam Bộ như An Giang, Cần Thơ Từ năm 2005-2008, hôn nhân ViệtHàn lan rộng ra các tỉnh phía bắc, tập trung nhiều ở các tỉnh Hải Dương, HảiPhòng Hiện tại, Việt Nam đã trở thành nước có tốc độ gia tăng hôn nhân quốc
tế cao, trong số các vụ hôn nhân quốc tế với người Hàn Quốc, Việt Nam chiếmnhanh nhất về tốc độ và đứng thứ hai về số trường hợp kết hôn sau Trung Quốc
Qua phân tích của bà Trịnh Thị Bích tại hội thảo “ Hôn nhân xuyên biên giới vùng Đông và Đông Nam Châu Á”[19], nhìn chung, có thể đưa ra một số
nhận xét chung về tình trạng trên như sau:
Về độ tuổi kết hôn của phụ nữ Việt Nam: Từ 18 đến 20 tuổi chiếm 18%; từ
21 đến 30 tuổi chiếm 52%; trên 30 tuổi chiếm 20% Về nghề ngiệp, đa số chưa
có việc làm, chỉ ở nhà nội trợ chiếm 86.3%, công nhân chiếm 2.8%, kinh doanh5% và làm thuế 5% Đối với nam giới Hàn Quốc, đa số có nghề nghiệp là nôngdân, công nhân, làm thuê chiếm 83%, kinh doanh 11%, không có công chức vàngười thất nghiệp, về độ tuổi nhiều nhất từ 20 đến 40 tuổi chiếm 69%; từ 40 đến
50 tuổi chiếm 20% và trên 50 tuổi chiếm 11%
Về hoàn cảnh gặp gỡ quen biết và điều kiện tìm hiểu trước khi đăng ký kếthôn: Có đến 85% thông qua sự môi giới của người quen, họ hàng, bạn bè đã cóchồng Hàn Quốc giới thiệu, thời gian tìm hiểu rất ngắn, chỉ từ một tháng đến batháng là tiến tới hôn nhân Và có đến 60% chung sống với nhau trước khi đăng
ký kết hôn
2.1.2 Nguyên nhân chủ yếu gia tăng tình trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với công dân Hàn quốc
Trang 30Toàn cầu hóa hiện nay đã trở thành một xu thế tất yếu của đời sống xã hội,
nó tác động đến tất cả các quốc gia, các khu vực trên thế giới mà hệ quả của nó
là sự giao lưu quốc tế trên tất cả mọi mặt từ kinh tế, thương mại, đầu tư tới vănhóa Hôn nhân quốc tế tự thân nó phát triển và trở thành trào lưu ở nhiều nướctrong đó có Việt Nam Tuy nhiên, chỉ đến những năm đầu của thập niên 90 củathế kỉ 20 trở lại đây, hiện tượng này mới thực sự phổ biến và gây sự chú ý trong
dư luận xã hội Hàng năm có khoảng 10.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với ngườinước ngoài, chủ yếu là với người Đài Loan và Hàn Quốc
Theo Cục Thống kê Hàn Quốc, trong vòng năm năm gần đây, tỉ lệ kết hônvới người nước ngoài của Hàn Quốc tăng lên ba lần, trong đó tỉ lệ đàn ông HànQuốc lấy vợ Việt Nam tăng đến 43 lần Con số này chiếm 1/5 tổng số người Hàn
Quốc kết hôn với người nước ngoài, đứng thứ hai sau Trung Quốc (18.527 người) Nhưng hầu hết phụ nữ Trung Quốc này có gốc là người Hàn Như vậy,
chiếm số lượng nhiều nhất trong tổng số người nước ngoài mà đàn ông HQ kếthôn là phụ nữ Việt Nam [14] Những hậu quả của các cuộc hôn nhân Việt - Hàntrong thời gian qua đã được dư luận xã hội lên tiếng và trở thành vấn đề nhứcnhối trong xã hội Để giải quyết vấn đề này cần tìm ra nguyên nhân tại sao lại có
sự gia tăng một cách nhanh chóng như vậy, từ đó tìm ra giải pháp nhằm hạn chếtình trạng trên, đồng thời bảo vệ một cách tốt nhất quyền lợi của phụ nữ ViệtNam khi lấy chồng Hàn quốc
2.1.2.1 Nguyên nhân khách quan
* Do Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách đối ngoại mở cửa, hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, trong đó có đất nước Hàn Quốc
Có thể thấy trong những năm vừa qua, nền kinh tế Hàn quốc phát triển trênhầu hết các lĩnh vực, điều đó tạo nên sự giao lưu hợp tác của công dân Hàn quốcvới các nước mà đặc biệt là các nước nằm ở khu vực Đông Nam Á, trong đóquan hệ với Việt Nam ngày càng được tăng cường Cùng với chính sách mở cửa,hội nhập là sự giao lưu, đi lại, hợp tác đầu tư sản xuất kinh doanh giữa công dân