1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

[ Bản Full ] Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam

83 474 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam có một số quan điểm về án tích như sau: 1 GS.TSKH Lê Cảm, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình phạ

Trang 1

1

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

phùng đăng tr-ờng

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về chế định án tích trong luật hình sự việt nam

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2014

Trang 2

2

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

phùng đăng tr-ờng

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

về chế định án tích trong luật hình sự việt nam

Trang 3

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng

đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phựng Đăng Trường

Trang 4

1.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985 7

1.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của chế định án tích 10

nhân dân Trung Hoa

21

1.3.3 Án tích theo quy đi ̣nh của Bộ luật hình sự Thụy Điển 22 1.3.4 Án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Nhật Bản 23

Trang 5

5

Chương 2: CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ

VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.2.2 Một số vướng mắc, tồn tại khi áp dụng chế định án tích 44

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG CHẾ

ĐỊNH ÁN TÍCH

52

3.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự về chế định án 52

3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định án tích 59 3.2.1 Tăng cường công tác hướng dẫn, tuyên truyền và giải thích

pháp luật

59

3.2.2 Kiện toàn cơ cấu tổ chức, nâng cao trình độ, năng lực của

đội ngũ cán bộ các cơ quan áp dụng pháp luật

Tăng cường quan hệ phối hợp và kiểm soát lẫn nhau

giữa các cơ quan hữu quan trong việc áp dụng pháp luật

Trang 7

7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự TAND : Tòa án nhân dân TNHS : Trách nhiệm hình sự VKSND : Viện kiểm sát nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam hiện hành đã được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và được sửa đổi, bổ sung năm

2009 là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu của Đảng và Nhà nước trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc cũng như bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần giữ gìn, duy trì trật tự an toàn xã hội Mặc dù, đã được kế thừa và tiếp thu những tinh thần

và sự tiến bộ của BLHS năm 1985 nhưng kể từ năm 1999 đến nay, BLHS năm

1999 đã bộc lộ những bất cập không chỉ trong thực tiễn áp dụng các quy định của

pháp luật hình sự mà cả trên phương diện nhận thức và lý luận

Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt lý luận và đưa ra các kiến giải lập pháp

là vô cùng cần thiết và quan trọng không chỉ trong lĩnh vực pháp luật hình sự nói

riêng mà đối với cả hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung

Án tích là một trong những chế đi ̣nh rất quan trọng trong phần chung của BLHS Việc nghiên cứu và làm sáng tỏ về mặt nhận thức và lý luận là một đòi hỏi cấp bách, không chỉ góp phần làm cho nhận thức một cách đúng đắn và khoa học về chế định án tích mà còn giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng chính xác các quy định của pháp luật hình sự Bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi ích chính đáng của công dân

Từ trước đến nay, về mặt lý luận, vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và có hệ thống vấn đề liên quan đến chế định án tích Ngoài ra, việc hiểu vấn đề liên quan đến án tích cũng còn có nhiều quan điểm

Trang 9

9

khác nhau và chưa thống nhất Như vậy, đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc, điều đó đặt ra yêu cầu hết sức cần thiết trong điều kiện hiện nay

Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và toàn diện về mặt lý luận vấn đề liên quan đến chế định án tích để đưa ra các lý giải khoa học và

mô hình lý luận vấn đề này đồng thời cũng đưa ra các kiến giải lập pháp góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự mà cụ thể là BLHS Việt Nam để giải quyết các vấn đề còn bất cập và vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy phạm này của các cơ quan tiến hành tố tụng là vô cùng quan trọng và cần thiết trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) hiện nay

Từ những lý do phân tích trên đây, chúng tôi lựa chọn đề tài “Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn về chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam” làm luận

văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua nghiên cứu và tham khảo BLHS của một số nước trên thế giới, BLHS Việt Nam năm 1985, năm 1999 thì có thể thấy án tích là một trong những chế định quan trọng và phức tạp trong pháp luật hình sự Việc nghiên cứu về chế định này vẫn chưa được quan tâm đúng mức Nhìn chung, đã có một số bài viết, khóa luận tốt nghiệp lý giải vấn đề trên góc độ lý luận nhưng vẫn chưa đưa ra được một bức tranh tổng quát cũng như các kiến giải lập pháp về chế định này

Ở Việt Nam, chế định án tích và các chế định liên quan đến chế định này

đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:

Đề tài “Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Xuân Nghiệp, luận văn thạc sĩ luật học năm 2006; đề tài “Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Lan, khóa luận tốt nghiệp

cử nhân năm 2003

Trang 10

10

Ngoài ra, về giáo trình, sách chuyên khảo có các công trình sau đây: GS.TSKH Lê Văn Cảm, Mục VII, Chương VIII – Các biện pháp tha miễn trong luật hình sự, sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nhà xuất bản (NXB) Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; TSKH Lê Cảm (chủ biên), Mục VI, Chương XVII – Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt và xóa án tích, Chương XVIII – Những đặc thù về trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người chưa thành niên phạm tội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003

Bên cạnh đó còn có các bài viết sau đây: Hồ Sĩ Sơn, “Án tích theo luật hình

sự Viêt Nam 1999”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2001; Phạm Hồng Hải,

“Xóa án”, trong sách: Mô hình lý luận về BLHS Việt Nam NXB Khoa học xã hội,

Hà Nội, 1993;…

Từ một số nội dung đề cập ở trên cho thấy các công trình và bài viết nghiên cứu liên quan đến chế định án tích đã đưa ra những quan điểm và phần nào đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản mà lý luận và thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự đặt ra Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình này

đã cho thấy, chế định án tích với tư cách là một trong những chế định quan trọng

và cơ bản trong pháp luật hình sự nhưng chế định này hiện nay vẫn còn nhiều thiếu sót và bất cập

Xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách của khoa học luật hình sự, về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việc nghiên cứu đề

tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích trong luật hình sự Việt

Nam” là một đòi hỏi khách quan và cần thiết trong giai đoạn xây dựng nhà nước

pháp quyền và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Trang 11

11

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách đồng bộ, toàn diện để làm sáng tỏ về mặt lý luận và khoa học những nội dung cơ bản của chế định án tích trong pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời chỉ ra những bất cập để đưa ra các kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Về mặt lý luận: Tập trung nghiên cứu xung quanh nội dung của chế định này trong pháp hình sự Việt Nam, đồng thời so sánh chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam với chế định án tích trong luật hình sự một số nước trên thế giới để làm sáng tỏ về mặt lý luận của chế định này trong luật hình sự Việt Nam

- Về mặt thực tiễn: Tập trung vào nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật của chế định án tích trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước

ta Từ đó tìm ra những thiếu sót, bất cập và những vướng mắc của việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định này trên thực tế, qua đó đưa ra được mô hình lý luận về chế định án tích và đề xuất mô hình kiến giải lập pháp cụ thể về chế định này

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và giải quyết vấn đề chế định án tích theo pháp luật hình sự Việt Nam Đồng thời, đề cập đến một số quy phạm liên quan đến luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự,… những vấn đề liên quan đến án tích và xóa án tích chưa được đề cập trong pháp luật hình sự của nước ta

Trang 12

12

Luận văn nghiên cứu về chế định án tích không chỉ trong quy định của BLHS Việt Nam năm 1985, năm 1999 mà còn nghiên cứu cả các quy phạm về chế định này trước khi có BLHS năm 1985

Đồng thời luận văn cũng phân tích một số quy định về chế định án tích trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới

4 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Đề tài luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đề tài luận văn còn được thực hiện trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về cải cách tư pháp để thể hiện Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể

và đặc thù như: phương pháp phân tích, tổng hợp, logic và so sánh

5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Nghiên cứu về chế định án tích có ý nghĩa và vai trò to lớn về mặt lý luận

và thực tiễn đối với việc hoàn thiện pháp luật hình sự, vì đây là công trình đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vấn

đề án tích Luận văn có những điểm mới cơ bản là:

- Tập trung vào nghiên cứu một cách đồng bộ, thống nhất về mặt lý luận nội dung cơ bản của chế định án tích theo luật hình sự Việt Nam

- Nghiên cứu chỉ ra những đặc điểm cơ bản và chủ yếu của quá trình hình thành và phát triển chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam

- Nghiên cứu làm sáng tỏ và chỉ ra những bất cập, hạn chế đối với các quy định về chế định án tích trong việc áp dụng các quy phạm này vào thực tiễn

Trang 13

13

- Đề xuất mô hình kiến giải lập pháp cụ thể về chế định án tích góp phần vào việc hoàn thiện hơn nữa BLHS trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN hiện nay

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về chế định án tích

Chương 2: Chế định án tích theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 và

thực tiễn áp dụng

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hình sự và một số giải pháp nâng cao

hiệu quả của việc áp dụng chế định án tích

Trang 14

14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TÍCH

1.1 Khái quát lịch sử các quy phạm pháp luật về án tích từ năm

1945 đến khi có bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

1.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985

Án tích là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật hình sự Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985, thời kỳ đất nước ta mới thành lập chính quyền và trải qua hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, các nhà làm luật thời kỳ này vẫn chưa thực quan tâm đúng mức và ghi nhận nó Mặc dù vậy, chế định này cũng đã được đề cập rải rác trong một số văn bản pháp luật của nước ta trong giai đoạn này Ngày 20 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 52 về đại

xá được đăng trên tờ Việt Nam Công báo, số 7, trang 78, tại Điều 4 của Sắc lệnh

số 52 quy định: “Những tội được xá miễn đều coi như không phạm bao giờ…”

hay tại Điều 6 của Sắc lệnh: “Cấm tất cả các công chức hành chính pháp và các thẩm phán viên không được nhắc đến, hoặc trong hồ sơ một vết tích gì về những tội đã được xá…” Ngày 01 tháng 12 năm 1961, Tòa án nhân dân (TAND) tối cao ban hành Thông tư 2308/NCLP về xóa án đối với người được hưởng án treo; ngày

05 tháng 7 năm 1963, TAND tối cao có Công văn số 1082/NCLP khẳng đi ̣nh :

“Tòa án không thể coi một người đã bị án treo nhưng đã được xóa bỏ , nay la ̣i phạm tội mới, như là tái phạm” Như vâ ̣y, từ rất sớm trong pháp luâ ̣t hình sự Viê ̣t Nam, án tích đã được ghi nhâ ̣n, là một trong những căn cứ quan tro ̣ng đối với Tòa

án cũng như các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền áp du ̣ng đối với người phạm tội Theo pháp luâ ̣t thời kỳ này thì người đang có án tích mà pha ̣ m tô ̣i mới

cũng có thể bị xem xét việc tái phạm

Trang 15

15

1.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999

Ngày 27 tháng 6 năm 1985, BLHS đầu tiên của nước ta được Quốc hô ̣i Khóa VII kỳ ho ̣p thứ 9 thông qua Đây là mô ̣t sự kiê ̣n quan tro ̣ng đánh dấu mô ̣t bước tiến lớn đối với luâ ̣t hình sự nước ta Chế đi ̣nh án tích đã chính thức được ghi nhâ ̣n trong mô ̣t văn bản pháp lý có giá tri ̣ cao này Tại Chương 6 quy đi ̣nh về viê ̣c quyết đi ̣nh hình pha ̣t , miễn, giảm hình phạt Chế đi ̣nh án tích được go ̣i với cái tên là xóa án và được quy định từ Điều 52 đến Điều 56, ngoài ra còn một trường hợp đă ̣c biê ̣t là xóa án trong trường hợp người chưa thành niên pha ̣m tô ̣i (Điều 67)

Án tích ngoài việc chính thức được ghi nhâ ̣n trong BLHS Viê ̣t Nam năm

1985, các văn bản dưới luật cụ thể là các Thông tư đã kịp thời được ban hành để hướng dẫn các quy đi ̣nh liên quan đến án tích trong BLHS Ngày 01 tháng 8 năm

1986, TAND tối cao đã phối hợp với Vi ện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao,

Bô ̣ Tư pháp , Bô ̣ Nô ̣i vu ̣ (nay là Bô ̣ Công an ) ban hành Thông tư liên ngành số 02/TTLN quy đi ̣nh về viê ̣c xóa án, hướng dẫn cu ̣ thể về thẩm quyền xóa án , điều kiê ̣n cu ̣ thể để được xóa án, thủ tục xóa án,… Theo đó, người bi ̣ kết án muốn xin xóa án thì phải nộp đơn xin xóa án cho Tòa án cấp sơ thẩm đồng thời là chung thẩm tô ̣i pha ̣m cũ của mình, kèm theo các giấy tờ chứng minh về việc chấp hành xong bản án và không phạm tội mới khi còn mang án tích Trong trường hợp xóa

án theo quyết định của Tòa án hoặc trong trường hợp đặc biệt thì cần phải có thêm giấy tờ xác nhâ ̣n về thái đô ̣ chấp hành pháp luâ ̣t của chính quyề n đi ̣a phương nơi người bi ̣ kết án thường trú Thông tư liên ngành này sau đó gần ba năm đã được sửa đổi , bổ sung bằng Thông tư l iên ngành số 03/TTLN ngày 15 tháng 7 năm 1989

Chế đi ̣nh án tích lần đầu tiên được ghi nhâ ̣n trong BLH S Viê ̣t Nam năm

1985 cùng các văn bản pháp lý khác đã tạo một hành lang pháp lý tương đối đầy đủ và rõ ràng, là căn cứ pháp luật quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan

Trang 16

16

tiến hành tố tu ̣ng thực thi pháp luâ ̣t đúng vớ i các quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t Ngoài

ra, viê ̣c chính thức ghi nhâ ̣n án tích trong BLHS Viê ̣t Nam trong giai đoa ̣n này , với viê ̣c quy đi ̣nh mô ̣t số các điều luâ ̣t quy đi ̣nh về viê ̣c xóa đi án tích khi người

bị kết án đã đủ các yêu cầu của pháp luâ ̣t để ho ̣ được đương nhiên được xóa án tích hoặc được Tòa án xóa đi vết xấu trong lý lịch của họ , giúp cho họ được xóa

đi những mă ̣c cảm về hành vi vi pha ̣ m pháp luâ ̣t do ho ̣ đã gây ra đ ồng thời khuyến khích họ tích cực lao động đ ể trở thành người có ích cho xã hô ̣i Tuy nhiên, viê ̣c quy đi ̣nh án tích trong giai đoa ̣n này vẫn chưa được rõ ràng , chưa đảm bảo được nô ̣i dung cũng như kỹ thuâ ̣t lâ ̣p pháp , viê ̣c sử du ̣ng thuâ ̣t ngữ

“Xóa án” là không chính xác , mà phải là “Xóa án tích” mới đúng được ý nghĩa

của nó, hay vẫn chưa được ra được mô ̣t khái niê ̣m khoa ho ̣c thế nào là án tích,…

1.1.3 Giai đoạn từ năm 1999 đến nay

Ngày 21 tháng 12 năm 1999, BLHS Việt Nam hiện hành đã được Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 6 thông qua Đây là lần pháp điển hóa thứ hai, chế đi ̣nh án tích

đã được kế thừa và có sự đổi mới nhiều so với BLHS năm 1985 Thuâ ̣t ngữ “xóa

án” đã được thay đổi bằng “xóa án tích”

Ngoài ra, chế đi ̣nh án tích trong BLHS năm 1999 được ghi nhâ ̣n trong mô ̣t chương riêng biê ̣t (Chương IX), khác hẳn với chế định án tích trong BLHS năm

1985, điều đó thể hiê ̣n ở viê ̣c nhà làm luâ ̣t nước ta đã đánh giá được tầm quan tro ̣ng của chế định này trong pháp luật hình sự Về thời ha ̣n để được xóa án tích trong BLHS năm 1999 cũng được mở rộng hơn so với BLHS năm 1985 Trong giai đoa ̣n từ năm 1999 đến nay BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung mô ̣t số điều cho phù hợp với tình hình mới

Chế đi ̣nh án tích ngoài viê ̣c quy đi ̣nh trong BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 Hiê ̣n nay, chế định còn được quy định trong các luật và thông tư hướng dẫn các điều của BLHS, như Luâ ̣t Lý li ̣ch tư pháp năm 2010, Nghị quyết số 01/2000/NQ - HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ngày 04 tháng 8

Trang 17

17

năm 2000 về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của BLHS năm 1999,… Mă ̣c dù, chế đi ̣nh án tích so với các giai đoa ̣n trước đã có những ưu điểm, tiến bô ̣ mới Song quy đi ̣nh về án tích trong BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 qua quá trình áp du ̣ng trên thực tế vẫn bô ̣c lô ̣ những bất câ ̣p ngay trên cả phương diê ̣n lý luâ ̣n Và để đáp ứng yêu cầu trong giai đoa ̣n xây dựng nhà nước pháp quyền Viê ̣t Nam xã hô ̣i chủ nghĩa hiê ̣n nay , nhất là trong lĩnh vực tư pháp hình sự thì việc pháp điển hóa lần thứ ba BLHS Viê ̣t Nam năm 1999 là một đòi hỏi cần thiết và cấp bách theo hướng ghi nhâ ̣n án tích trong mô ̣t chương đô ̣c lâ ̣p trong BLHS mới với tên go ̣i “án tích”, trong đó có quy đi ̣nh khái niê ̣m án tích, thời điểm bắt đầu và kết thúc án tích, xóa án tích, các trường hợp đương nhiên được xóa

án tích, cơ quan ra quyết đi ̣nh xóa án tích, thủ tục để được xóa án tích,… Như vậy, mới đảm bảo yêu cầu về mặt lập pháp và dễ dàng được áp dụng trên thực tế

1.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của chế định án tích

1.2.1 Khái niệm án tích

Trong giai đoạn xây dựng NNPQ và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay, việc nghiên cứu chế định án tích trong luật hình sự là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết Kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến ngày 27 tháng 6 năm 1985 Quốc hội mới thông qua BLHS đầu tiên, và trong BLHS này chính thức ghi nhận về mặt lập pháp chế định án tích được quy định ở các Điều 40, 52, 53, 54, 55, 55 và 67 trong Phần chung của BLHS với tư cách là một chế định độc lập, mặc dù cách gọi chưa thật sự chính xác trên phương diện luật học và ngôn ngữ đó là “Xóa án” Đến lần pháp điển hóa thứ hai BLHS vào năm 1999, chế định án tích đã được quy định hoàn thiện hơn

Mặc dù vậy, trong BLHS Việt Nam năm 1999, Điều 63 mới chỉ quy định thế nào là xóa án tích, trong khi đó còn chưa quy định thế nào là án tích(?)

Trang 18

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam và trên thế giới hiện nay, ở mức

độ nhất định cũng đã có một số bài viết đề cập về chế định án tích Ở Việt Nam

có một số quan điểm về án tích như sau:

1) GS.TSKH Lê Cảm, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng:

Án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và là giai đoạn cuối cùng của việc thực hiện TNHS, được thể hiện trong việc người bị kết án mặc dù đã chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án) nhưng vẫn chưa hết án tích hoặc chưa được xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự [3, tr.829]

2) PGS.TS, Luật sư Phạm Hồng Hải coi án tích là hậu quả pháp lý của bản

án kết tội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp

lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khi tội phạm được thực hiện trong thời gian người ấy mang án tích [12, tr.276]

3) PGS.TS Hồ Sĩ Sơn, Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng:

Án tích là vết tích đã từng bị kết án của người phạm tội, xuất hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa để được

Trang 19

19

coi như là chưa bị kết án nếu người này đáp ứng được những điều kiện

do BLHS quy định hoặc tồn tại khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa đáp ứng được những điều kiện đó và vẫn bị coi

là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm theo BLHS năm 1999 (Điều 49) hoặc phải chịu TNHS về hành vi phạm tội mà theo BLHS vết tích đã từng bị kết án đối với hành vi ấy là yếu tố cấu thành tội phạm [40, tr.65]

4) Th.S Nguyễn Xuân Nghiệp có quan điểm rằng:

Án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội mà người bị kết

án phải gánh chịu hình phạt theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật, gánh chịu trong thời hạn nhất định kể từ khi bản án đó có hiệu lực pháp luật cho đến khi hậu quả pháp lý đó được xóa bỏ theo quy định của pháp luật [24, tr.12]

5) Th.S Nguyễn Thị Lan, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội coi “án tích” là một dấu án, cho thấy người có án tích đã từng bị kết án vì đã phạm tội và xóa án tích là việc pháp luật hình sự cho phép xóa đi dấu tích về quá khứ tội lỗi của một người đã từng bị kết án sau khi người đó đã thỏa mãn đầy đủ những điều kiện được quy định trong BLHS [20, tr.12-13]

Trong khoa học luật hình sự Liên Xô cũ và Liên bang Nga hiện nay, chế định án tích cũng có một số các quan điểm sau đây:

1) GS.TSKH luật Zelđôv X.L cho rằng:

Án tích gồm ba bộ phận hợp thành: i) Khoảng thời gian từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi bắt đầu thi hành hình phạt; ii) trong thời gian đang chấp hành hình phạt và iii) khoảng thời gian từ khi chấp hành hình phạt (miễn việc chấp hành hình phạt) cho đến thời điểm hết án tích hoặc án tích đã được Tòa án xóa [3, Tr.826]

Trang 20

20

2) GS.TSKH luật Vittenberg G.B coi án tích, đó là tình trạng pháp lý hình sự đối với chủ thể do việc người này bị Tòa án xử phạt một biện pháp hình phạt nào đó về tội phạm đã thực hiện [3, Tr.826]

3) GS.TSKH luật Nheznamôva Z.A quan niệm rằng:

Án tích - đó là một yếu tố, một bộ phận cấu thành của TNHS với tư cách là hậu quả của sự kiện phạm tội và như vậy, án tích là tình trạng pháp lý đặc biệt của một người được tạo ra do người này bị kết án một hình phạt nhất định đối với tội phạm mà tình trạng ấy được thể hiện bằng khả năng đưa đến các hậu quả nhất định (các hạn chế về quyền) có tính chất pháp lý chung và tính chất pháp lý hình sự [3, Tr.827]

Như vậy, trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về án tích , dưới góc độ nghiên cứu và thực tiễn áp

dụng chế định này, chúng ta có thể đưa ra khái niệm án tích như sau: Án tích là

một phần nội dung của trách nhiệm hình sự, là hậu quả pháp lý bất lợi và là đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết án bị áp dụng hình phạt

1.2.2 Các đặc điểm pháp lý cơ bản của án tích

- Đặc điểm thứ nhất: Án tích là một phần nội dung của trách nhiệm hình sự

Trách nhiệm hình sự là một loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị BLHS coi là tội phạm Vì vậy, với đặc trưng của

án tích là một phần nội dung của trách nhiệm hình sự (TNHS) đồng nghĩa với việc nó cũng là một loại trách nhiệm pháp lý Cho nên, nếu không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể bị truy cứu TNHS và không thể bị Tòa án kết tội, từ đó sẽ không phát sinh án tích

Thực tế áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, để quy kết hành vi nào

đó là tội phạm và buộc người thực hiện hành vi phải chịu TNHS, người áp dụng pháp luật phải trên cơ sở đối chiếu hành vi đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu

Trang 21

21

thành tội phạm được quy định trong BLHS, chứ không thể áp đặt theo ý thức chủ quan Nếu trong quá trình áp dụng pháp luật, người áp dụng pháp luật xác định được hành vi của một người thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được BLHS quy định thì mới có thể kết luận hành vi đó là tội phạm và được thể hiện bằng bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật Người bị kết án phải chịu TNHS về hành vi vi phạm pháp luật của mình đồng thời người đó phải mang án tích trong một thời gian theo quy định của pháp luật hình sự

Cùng với bản án kết tội của Tòa án và hình phạt mà Tòa án quyết định đối với người phạm tội, án tích đối với người bị kết án cũng là một trong những hình thức thể hiện nội dung của TNHS TNHS và các dạng trách nhiệm pháp lý khác có thể có những điểm gần giống nhau về hình thức thể hiện Ví dụ, TNHS và trách nhiệm hành chính đều có hình thức xử lý là cảnh cáo và phạt tiền, nhưng cảnh cáo và phạt tiền trong luật hình sự khác với cảnh cáo và phạt tiền của hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở chỗ, người bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền trong luật hình sự luôn gắn liền với hậu quả pháp lý là người đó bị coi là có án tích

Án tích gắn liền với bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Một người bị coi là còn án tích nghĩa là bản án kết tội đối với người đó vẫn còn hiệu lực pháp luật Trong trường hợp người bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết TNHS của người đó Người chưa được xóa án tích lại phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm (Điều 49 BLHS) và với việc bị coi là tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì người phạm tội phải chịu TNHS nặng hơn những người không có án tích phạm tội khi các điều kiện khác giống nhau (người tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm có thể bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng của tội phạm đã thực hiện hoặc áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS) Án tích luôn tồn tại cùng với bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối

Trang 22

22

với người phạm tội Nói cách khác, án tích chính là một phần nội dung của TNHS, thể hiện hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải gánh chịu đồng thời thể hiện tính nghiêm khắc của pháp luật hình sự đối với người phạm tội

- Đặc điểm thứ hai: Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi của người bị kết

án bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án

Lý luận và thực tiễn cho thấy không phải bất cứ người phạm tội nào đã

bị kết án và bản án của người đó đã có hiệu lực pháp luật cũng đều mang án tích

Ví dụ, trong trường hợp người phạm tội đã bị kết án nhưng được miễn hình phạt (khoản 1 Điều 64 BLHS) Những trường hợp mang án tích chỉ là những người bị kết án bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và bị áp dụng hình phạt theo quy định của BLHS Ngoài ra, những người bị kết án nhưng được áp dụng các biện pháp tư pháp như đưa vào trường giáo dưỡng, giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Điều 70 BLHS hay biện pháp bồi thường về vật chất, buộc công khai xin lỗi người bị hại theo quy định tại Điều 42 BLHS thì

sẽ không phải chịu hậu quả pháp lý này Như vậy, rõ ràng chế định này cũng chính là đặc trưng cơ bản đánh giá mức độ nghiêm khắc của hình phạt so với các biện pháp tư pháp khác

Sự bất lợi của một người khi mang án tích được thể hiện ở chỗ

Thứ nhất: Nếu người đang trong thời gian mang án tích lại phạm tội mới

do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý thì sẽ xác định là tái phạm (khoản 1 Điều 49 BLHS) hay người đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã tái phạm và chưa được xóa

án tích mà lại phạm tội do cố ý thì được xác định là tái phạm nguy hiểm (khoản

2 Điều 49 BLHS) Như vậy, sự bất lợi đó là việc người đang mang án tích có thể

bị áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 48 BLHS trong quá trình định khung hình phạt và quyết định hình phạt

Trang 23

23

Việc mang án tích hay chưa được xóa án tích là dấu hiệu quan trọng để xem xét hành vi phạm tội của một người có phải là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm hay không và do đó có áp dụng các tình tiết tăng nặng TNHS đối với người

đó hay không Ví dụ: khoản 1 Điều 93 (Tội giết người) quy định: Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: p) Tái phạm nguy hiểm; điểm đ khoản

2 Điều 112 (Tội hiếp dâm trẻ em); điểm g khoản 2 Điều 113 (Tội cưỡng dâm),…

Từ phương diện nghiên cứu và thực tế xét xử cho thấy, nếu người đang mang án tích và chưa được xóa án tích nếu phạm tội mới thì tùy theo mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra sẽ là căn cứ để xác định việc tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, đó là các tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại Điều 48 BLHS

Thứ hai: Trong lý lịch tư pháp của người mang án tích và các giấy tờ

chứng thực về nhân thân người đó sẽ ghi “có tiền án”, như vậy rõ ràng án tích như một “vết nhơ” trong lý lịch của người mang án tích, điều đó có thể dẫn đến việc

kỳ thị của xã hội, cũng như sẽ gây khó khăn cho người mang án tích khi người đó tham gia vào các giao dịch thương mại, kinh kế hay các hoạt động xã hội,

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ở một số lĩnh vực, pháp luật cũng hạn chế quyền của người đang còn mang án tích Ví dụ: Tại Điều 17 khoản 4 Luật Luật sư năm 2006 quy định về điều kiện được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì người “đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý”[37] thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, ngoài ra theo Luật nuôi con nuôi năm 2010, Điều 14 quy định về thì người sau đây không được nhận nuôi con nuôi:

Người chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác;

Trang 24

24

ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.[39]

Như vậy, rõ ràng người mang án tích bị hạn chế một số quyền của mình trong cuộc sống hằng ngày và việc quy định của pháp luật áp dụng đối với người đang mang án tích như vậy là hoàn toàn đúng đắn, xuất phát từ chính sách phòng ngừa tội phạm nói chung trong pháp luật hình sự Việt Nam

- Đặc điểm thứ ba: Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết án

Người phạm tội ngoài việc phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi

bị tuyên trong bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, đồng thời còn để lại

“dấu vết” xấu về nhân thân khi còn mang án tích Việc xác định một người còn

mang án tích hay đã hết án tích có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá nhân thân của người phạm tội là tốt hay xấu, từ đó các cơ quan tiến hành tố tụng có căn

cứ để xác định và đánh giá tính nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra và áp dụng chính xác các quy định của BLHS đối với người phạm tội căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ hay tăng nặng TNHS được quy định tại Điều 46, 48 BLHS

Án tích phản ánh đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết án và bị áp dụng hình phạt còn thể hiện ở chỗ nó chỉ ra rằng người đang mang án tích từng

là một “tội phạm” đã thực hiện hành vi nguy hiểm và gây ra những hậu quả nguy hại cho xã hội được Nhà nước và pháp luật bảo vệ

Tuy nhiên, án tích phản ánh đặc điểm xấu về nhân thân của người bị kết

án và bị áp dụng hình phạt chỉ được hiểu khi người đó đang còn án tích, khi đã xóa án tích hoặc trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì việc phạm

Trang 25

Án tích là một chế đi ̣nh quan trọng trong pháp luật hình sự, viê ̣c xóa bỏ đi

án tích thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta được quy định trong BLHS, người bị kết án sẽ chấm dứt hoàn toàn TNHS khi người đó đáp ứng được đầy đủ những điều kiện và yêu cầu của pháp luật hình sự để Tòa án ra quyết định xóa án tích hay trong trường hợp đương nhiên được xóa án tích

1.3 Án tích theo pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

1.3.1 Án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Liên bang Nga

Bô ̣ luâ ̣t hình sự Liên bang Nga được Đuma Quốc gia tức Hạ Nghị viện Nga thông qua ngày 24 tháng 5 năm 1996 và được Hội đồng Liên bang Nga tức Thượng Nghị viện Nga phê chuẩn ngày 05 tháng 6 năm 1996 là một công cụ hữu hiệu, sắc bén bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân Nga, chế độ

sở hữu, trật tự an toàn xã hội nước Nga,… Cũng giống như BLHS Việt Nam, BLHS Liên bang Nga bao gồm hai phần, Phần Chung và Phần riêng (Phần các tội phạm), ngoài ra BLHS Liên bang Nga được chia làm các mục, từ Mục I đến Mục XII và tổng cộng có 34 chương Xuất phát từ tầm quan trọng của chế định

án tích trong pháp luật hình sự, các nhà làm luật Liên bang Nga đã quy định án tích trong một chương riêng, đó là Chương 13 quy định về đại xá, đặc xá và án tích thuộc Mục IV Phần chung của BLHS Liên bang Nga Cụ thể, chế định án tích được quy định tại Điều 86 BLHS Liên bang Nga năm 1996 Ngoài ra, liên

Trang 26

“án tích” Khoản 1 Điều 86 BLHS Liên bang Nga được quy định:

Người bị kết án do thực hiện tội phạm được coi là có án tích (tiền án) kể từ ngày bản án bắt đầu có hiệu lực cho tới thời điểm trả xong án tích hoặc thời điểm xóa bỏ án tích Án tích sẽ được xét tới trong trường hợp tái phạm tội và khi áp dụng hình phạt [48]

Như vâ ̣y, so sánh với quy đi ̣nh ta ̣i Điều 49 BLHS Viê ̣t Nam thì khoản 1 Điều 86 BLHS Liên bang Nga cũng quy đi ̣nh án tích khi xem xét trong trường hợp tái pha ̣m hay xem xét vấn đề án tích khi áp du ̣ng hình pha ̣t

Theo khoản 2 Điều 86 thì: “Người được miễn chấp hành hình pha ̣t s ẽ được coi là không có án tích (tiền án)”[48] Quy đi ̣nh này hoàn toàn giống với khoản 1 Điều 64 BLHS Viê ̣t Nam trong trường hợp người bi ̣ kết án được miễn chấp hành hình pha ̣t thì ho ̣ đư ợc coi là không có án tích và do vâ ̣y h ọ đương nhiên được xóa án tích

Sự khác nhau về chế đi ̣nh án tích trong BLHS Liên bang Nga và BLHS Viê ̣t Nam ở chỗ , trong BLHS Liên bang Nga quy đi ̣nh khi nào thì án tích được trả xong với một loạt các quy định về thời hạn khi đ ã chấp hành xong hình phạt hay trong trường hợp người pha ̣m tô ̣i bi ̣ kết án nhưng cho hưởng án treo khi đã hết thời ha ̣n thử thách và trong BLHS Liên bang Nga không quy đi ̣nh và phân biê ̣t loa ̣i án mà người pha ̣m tô ̣i đã thực hiê ̣n như các tô ̣i pha ̣m xâm pha ̣m an ninh quốc gia, tô ̣i chống loài người , tô ̣i pha ̣m chiến tranh ,… để xem xét đến viê ̣c trả

án tích, còn án tích trong BLHS Việt Nam nếu người bị kết án sau khi chấp hành xong bản án hoă ̣c từ khi hết t hời hiê ̣u thi hành bản án , người đã bi ̣ kết án không

Trang 27

27

phạm tội mới trong một thời hạn nhất định được quy định tại khoản 2 Điều 64 BLHS Viê ̣t Nam thì người đã bi ̣ kết án sẽ đương nhiên được xóa án tích , trừ trường hợp pha ̣m tô ̣i quy đi ̣nh ta ̣i Chương XI và Chương XXIV thì phải do Tòa

án quyết định Về cơ bản, nô ̣i dung khoản 3 Điều 86 BLHS Liên bang Nga khá giống với quy đi ̣nh ta ̣i Điều 64 BLHS Viê ̣t Nam Sự khác biê ̣t cơ bản nhất là trong BLHS Viê ̣t Nam c ó phân biệt loại tội để xem xét đến án tích của người bị kết án, còn trong BLHS Liên bang Nga không có quy định này và trong BLHS Viê ̣t Nam khi xem xét vấn đề án tích để người bi ̣ kết án được xóa đi án tích còn xem xét đến người bi ̣ kết án sau khi chấp hành xong bản án , họ có phạm tội mới hay không và khi được xóa đi án tích thì người bi ̣ kết án sẽ được Tòa án cấp giấy chứng nhâ ̣n còn trong BLHS Liên bang Nga không có quy đi ̣nh này

Về vấn đề người phạm tội, sau khi đã chấp hành xong hình pha ̣t có nhiều tiến bô ̣ thì theo yêu cầu của người đó, Tòa án có thể xem xét xóa bỏ án tích trước

thời ha ̣n so với quy đi ̣nh Khoản 5 Điều 86 quy đi ̣nh: “Nếu người pha ̣m tô ̣i sau

khi chấp hành xong hình pha ̣t đã có hành vi xử sự gương mẫu thì theo đơn yêu cầu của người này Tòa án có thể xóa bỏ án tích trước khi hết thời ha ̣n trả xong án

tích” [48] So sánh với Điều 66 BLHS Viê ̣t Nam thì nô ̣i du ng của điều luâ ̣t này

quy đi ̣nh này khá giống nhau Tuy nhiên, trong BLHS Viê ̣t Nam còn có thêm điều kiê ̣n đối với người bi ̣ kết án là phải đảm bảo được thời gian thử thách ít nhất

mô ̣t phần ba thời ha ̣n quy đi ̣nh thì mới được Tòa án xem xét để xóa án tích trước thời ha ̣n so với quy đi ̣nh khi đáp ứng được các điều kiê ̣n để được xem xét xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, còn trong BLHS Liên bang Nga không có quy định điều kiê ̣n về thời ha ̣n này để Tòa án xóa bỏ án tích trước thời gian quy định

Khoản 6 Điều 86, nô ̣i dung cuối cùng của chế đi ̣nh án tích quy đi ̣nh: “Trả xong án tích hoă ̣c xóa bỏ án tích sẽ hủy bỏ tất cả những hâ ̣u quả pháp lý liên

quan đến án tích” [48] Cũng giống như BLHS Việt Nam, người bị kết án sau khi

trả xong án tích hoặc được xóa án tích thì họ sẽ chấm dứt hoàn toàn TNHS và

Trang 28

28

không phải gánh chịu bất cứ một hậu quả pháp lý nào phát sinh liên quan đến án tích Như vâ ̣y, quy đi ̣nh này đã phản ánh được chính sách hình sự nhân đạo đối với người pha ̣m tô ̣i của Nhà nước Liên bang Nga

Tóm lại, qua nghiên cứu và phân tích chế đi ̣nh án tích trong BLHS Liên

bang Nga năm 1996 và so sánh với chế định đó trong BLHS Việ t Nam năm

1999 Chúng ta thấy về cơ bản nội dung chế định án tích được quy định trong hai

Bô ̣ luâ ̣t là tương đối giống nhau , đều thể hiện được chính sách hình nhân đạo áp dụng đối với người phạm tội đồng thời là căn cứ phá p lý quan tro ̣ng để xác đi ̣nh tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay quyết định hình phạt

1.3.2 Án tích theo quy đi ̣nh của B ộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

Khi nghiên cứu toàn bộ Phần chung của BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, chúng ta thấy không có quy định nào riêng về án tích Tuy vậy, một

số vấn đề về án tích có thể được rút ra từ chế định tái phạm được quy định tại các Điều 65, Điều 66 Mục 2 Chương IV của Phần chung BLHS

Theo quy định tại Điều 65 của BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì người phạm tội bị phạt tù có thời hạn trở lên, trong vòng 5 năm, sau khi chấp hành xong bản án hoặc ân xá, lại phạm tội đáng bị xử phạt tù có thời hạn trở lên thì phải chịu hình phạt nặng hơn, trừ trường hợp phạm tội do vô ý Trong trường hợp người phạm tội được ân xá thì thời hạn quy định ở trên được tính từ ngày được tha

Còn tại Điều 66 thì quy định đối với người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia thì bất cứ lúc nào sau khi chấp hành xong hình phạt hoặc được hưởng ân

xá lại tiếp tục phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia thì bị coi là tái phạm

Như vậy, đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, án tích sẽ tồn tại suốt đời đối với người phạm tội xâm phạm các điều từ Điều 102 đến Điều 113 của

Trang 29

29

Chương I, Phần các tội phạm của BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Các tội phạm còn lại thì ngoài 5 năm sau khi chấp hành xong bản án tù có thời hạn thì không bị coi là tái phạm

Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không đặt ra vấn đề

án tích riêng như BLHS Việt Nam nên không có các quy định cụ thể về án tích

và các vấn đề khác liên quan đến án tích Vấn đề này chỉ được xem xét khi người

bị kết án phạm tội mới

Khi giải quyết vấn đề này, BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có

sự phân hóa rất lớn: tội vô ý, tội bị xử lý bằng các hình phạt không phải là tù không phát sinh án tích; chỉ những tội bị xử phạt tù có thời hạn mới được coi là

có án tích

Như vậy, so sánh với quy định về án tích của một số nước đã đề cập như BLHS Việt Nam và BLHS Liên bang Nga rõ ràng BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng có một số ưu điểm nhất định khi quy định một mức thời hạn chung để tính tái phạm đó là 5 năm đối với những người phạm tội tù có thời hạn, trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia và nên chăng khi quy định vấn đề án tích, đặc biệt là thời hạn để xóa án tích trong BLHS Việt Nam trong lần pháp điển hóa tới, chúng ta cần thống nhất một mức thời gian để tránh sự rườm rà và phức tạp như cách tính hiện nay trong BLHS Việt Nam hiện hành, giúp các cơ quan tư pháp và các cơ quan thực thi pháp luật dễ dàng hơn trong quá trình áp dụng các quy định của BLHS nói chung và đặc biệt là chế định án tích nói riêng

1.3.3 Án tích theo quy đi ̣nh của Bộ luật hình sự Thụy Điển

Bô ̣ luâ ̣t hình sự Thu ̣y Điển được Ngh ị viện thông qua năm 1962, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1965 và được sửa đổi gần đây nhất vào ngày 01 tháng 5 năm 1999, bao gồm 38 chương và được cơ cấu thành ba phần , Phần mô ̣t

là những quy định chung , Phần hai quy đi ̣nh về các tô ̣i pha ̣m và Phần ba quy

Trang 30

30

đi ̣nh về chế t ài Qua nghiên cứu các quy đi ̣nh trong BLHS Thu ̣y Điển chúng ta thấy không có quy đi ̣nh nào trực tiếp quy đi ̣nh về án tích trong BLHS nước này Tuy nhiên, cũng giống như BLHS Việt Nam năm 1999, BLHS Liên Bang Nga năm 1996 và BLHS ở một số nước khác trên thế giới , khi quyết đi ̣nh hình pha ̣t , ngoài việc xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm , Tòa án còn cân nhắc trước đây bi ̣ cáo đã bi ̣ coi là có tô ̣i (có án tích ) hay chưa Theo Điều 4 Chương 30 (lựa cho ̣n chế tài ) BLHS Thu ̣y Điển quy đi ̣nh : “Khi quyết đi ̣nh hình phạt tù, ngoài tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm , Tòa án có thể cân nhắc trước đây bi ̣ cáo đã bi ̣ coi là có tô ̣i cho viê ̣c thực hiê ̣n tô ̣i pha ̣m hay chưa”

[49] Như vâ ̣y, mă ̣c dù BLHS Thu ̣y Điển không có mô ̣t điều luâ ̣t nào trực tiếp

quy đi ̣nh thế nào là án tích nhưng khi quyết đi ̣nh hình pha ̣t đối với người pha ̣m

tô ̣i, Tòa án vẫn cân nhắc đến yếu tố này Dưới góc đô ̣ nghiên cứu lý luâ ̣n về luâ ̣t hình sự và so sánh các quy định thuộc Phần chung của BLHS một số nước có nền pháp luâ ̣t phát triển trên thế giới , đă ̣c biê ̣t là chế đi ̣nh án tích mà chúng ta đang nghiên cứu , thì rõ ràng về mặt lập p háp BLHS Thụy Điển còn thiếu chặt chẽ và không có sự liên kết rõ ràng các quy định với nhau giữa Phần chung và Phần các tô ̣i pha ̣m

1.3.4 Án tích theo quy đi ̣nh của Bộ luật hình sự Nhật Bản

Bô ̣ luâ ̣t hình sự Nhâ ̣t Bản hiê ̣n hành được sửa đổi, bổ sung gần đây nhất vào ngày 24 tháng 6 năm 2011, bao gồm hai phần , 40 chương và 264 điều Án tích được quy định tại Điều 34-2 trong BLHS Nhâ ̣t Bản Điều 34-2 quy đi ̣nh:

1 Người nào đã chấp hành xong hình pha ̣t tù cấm cố (giam giữ trong trại giam) trở lên, hoă ̣c đã được miễn chấp hành hình pha ̣t ấy , đã quá 10 năm, mà không bị mức án phạt tiền trở lên thì được coi như chưa can án

Trang 31

31

Người đã chấp hành xong hình pha ̣t dưới mức pha ̣t tiền hoă ̣c đã được miễn chấp hành hình pha ̣t ấy , trong vòng 5 năm mà không bi ̣ phạt tiền trở lên về một tội khác thì cũng tương tự như vậy

2 Người đã được tuyên án miễn hình pha ̣t kể từ ngày bản án có hiê ̣u lực trong vòng 2 năm mà không bi ̣ án pha ̣t tiền trở lên về mô ̣t tô ̣i khác, thì được coi như chưa can án [13]

Như vâ ̣y, từ những quy đi ̣nh ta ̣i Điều 34-2, cũng giống như BLHS Việt Nam Các nhà làm luật Nhật Bản đã không đưa ra được một khái niệm khoa ho ̣c thế nào là án tích trong BLHS Ngoài ra, cũng như BLHS Việt Nam, BLHS Nhâ ̣t Bản cũng không quy định thời điểm bắt đầu có án tích và thời điểm hết án tích Nghiên cứu kỹ điều luâ ̣t và so sánh nó với quy đi ̣nh về án tích trong BLHS Việt nam và BLHS Liên bang Nga , chúng ta không thấy có trường hợp đặc biệt nào

để Tòa án xem xét , quyết đi ̣nh xóa đi án tích sớm hơn so với thời ha ̣n quy đi ̣nh đối với người đã chấp hành xong bản án để được công nhâ ̣n là không còn án tích,

ví dụ như người bị kết án có thành tích xuất sắc sau khi chấp hành xong hình phạt tù , lâ ̣p công ,… và với quy đi ̣nh như vâ ̣y , án tích chỉ được xóa trong một trường hợp duy nhất giống với đương nhiên xóa án tích trong BLHS Viê ̣t Nam Theo khoản 2 Điều 34-2 thì người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích khi đã qua mô ̣t thời gian nhất đi ̣nh là hai năm , điều này khác với quy đi ̣nh trong BLHS Viê ̣t Nam và Liên bang Nga, khi được miễn hình pha ̣t thì người bi ̣ kết án coi như đã hết án tích mà không cần phải trải qua mô ̣t khoảng thời gian thử thách nào Mô ̣t điểm khác biê ̣t nữa là trong Phần chung của BLHS Nhâ ̣t Bản , án tích không được quy đi ̣nh dùng làm căn cứ khi quyết đi ̣nh hình pha ̣t và xác đi ̣nh tái phạm Theo quy đi ̣nh của Điều 56 BLHS Nhâ ̣t Bản thì khi xác đi ̣nh tái pha ̣m , người đã bi ̣ pha ̣t tù giam , kể từ ngày chấp hành xong hình pha ̣t hoă ̣c kể từ ngày được miễn chấp hành hình pha ̣t trong vòng 5 năm la ̣i pha ̣m tô ̣i mới và bi ̣ xử pha ̣t

Trang 32

Tóm lại , mă ̣c dù ch ế định án tích theo quy định của BLHS Nhật Bản chưa thâ ̣t sự chă ̣t chẽ về mă ̣t nô ̣i dung , không có quy đi ̣nh án tích là căn cứ khi quyết đi ̣nh hình pha ̣t hay xác đi ̣nh viê ̣c tái pha ̣m Tuy nhiên, nhìn chung một số quy đi ̣nh của nó rất tương đồng với chế đi ̣nh án tích trong BLHS Viê ̣t Nam

Trang 33

BLHS Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) không quy định

án tích trong một chương riêng mà mới chỉ quy định một nội dung của án tích đó

là vấn đề xóa án tích, chưa có định nghĩa thế nào là án tích và các nội dung xung quanh vấn đề này như thời điểm bắt đầu có án tích, thời điểm kết thúc án tích,… Theo quy định của BLHS Việt Nam hiện hành thì chế định án tích được thể hiện với các nội dung sau đây:

- Thứ nhất là vấn đề xóa án tích

Điều 63 về xóa án tích quy định: “Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này Người được xóa án tích

coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận” [30]

Xóa án tích là sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết án không còn mang

án tích và vì vậy không còn chịu hậu quả nào do việc kết án mang lại hay nói cách khác xóa án tích là việc chấm dứt hoàn toàn TNHS đối với người bị kết án

Trong pháp luật hình sự, kết án là một sự kiện pháp lý, Tòa án không chỉ buộc tội mà còn áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Với bản án buộc tội

đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng với quyết định hình phạt, người bị kết

án phải chấp hành hình phạt Như vậy, việc kết án là một hiện tượng khách quan không thể xóa bỏ, đó chính là lý do tại sao ở Chương IX BLHS Việt Nam năm

1999 không dùng thuật ngữ “xóa án” như cách gọi của BLHS năm 1985 mà lại

Trang 34

vi phạm hành chính hay tái phạm, tái phạm nguy hiểm trong lĩnh vực hình sự Đồng thời là căn cứ để hạn chế một số quyền công dân như quyền xuất, nhập cảnh, hành nghề luật sư,…

Ngoài ra, BLHS quy định xóa án tích còn thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người đã chấp hành xong hình phạt, tạo điều kiện cho họ làm ăn và sớm hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội

Trong lần pháp điển hóa lần thứ hai, BLHS Việt Nam năm 1999 khẳng

định lại một lần nữa: “Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án” Như vậy,

từ thời điểm được xóa án tích, họ trở thành người hoàn toàn bình thường về mặt pháp lý và không cá nhân hoặc cơ quan nào có thể căn cứ vào sự kiện họ từng bị kết án để hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của họ Sau khi được xóa án tích,

mọi giấy tờ về căn cước, lý lịch của người từng bị kết án đều được ghi là “chưa

can án” hoặc “tiền án: không”, điều đó thể hiện chính sách hình sự nhân đạo

trong pháp luật hình sự Việt Nam

- Thứ hai là về đương nhiên xóa án tích

Trang 35

35

Đương nhiên xóa án tích được quy định tại Điều 64 BLHS Việt Nam năm 1999, Điều 64 quy định như sau:

Những người sau đây đương nhiên được xoá án tích:

1 Người được miễn hình phạt

2 Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương

XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản

án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên mười lăm năm [30]

Mặc dù BLHS chưa đưa ra khái niệm pháp lý thế nào là đương nhiên xóa án tích, nhưng theo một số quan niệm phổ biến thì: “đương nhiên xóa án tích

là trường hợp người bị kết án mặc nhiên được coi là chưa can án mà không cần

phải có sự xem xét, quyết định của Tòa án” [22, tr.24]

Khác với việc xóa án tích theo quyết định của Tòa án, người bị kết án phải có đơn xin yêu cầu cấp giấy chứng nhận xóa án tích khi đáp ứng được đầy

đủ các yêu cầu theo luật định, thì đương nhiên xóa án tích tránh được những thủ tục pháp lý phức tạp mà người được xóa án tích theo quyết định của Tòa án phải làm như viết đơn và xin các giấy tờ chứng nhận kèm theo gửi tới Tòa án có thẩm quyền sau đó chờ phán quyết của Tòa án thì mới được coi là chưa can án

Trang 36

36

Điều 64 BLHS quy định về đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với hai nhóm người: Người được miễn hình phạt và người bị kết án không phải về các tội được quy định tại Chương XI - Các tội xâm phạm an ninh quốc gia và Chương XXIV - Các tội phá hoại hòa bình chống loài người và tội phạm chiến tranh trong BLHS nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn được quy định trong điều này

So với quy định của Điều 53 BLHS năm 1985 về đương nhiên xóa án tích, Điều 64 BLHS năm 1999 quy định phạm vi rộng hơn đối với các tội thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích Ngoài ra, về thời gian để được đương nhiên xóa án tích thì BLHS năm 1999 được rút ngắn đáng kể so với BLHS năm 1985, như trong trường hợp người bị kết án không phải chấp hành án phạt tù hoặc phạt

tù nhưng cho hưởng án treo thì thời hạn mà BLHS năm 1985 quy định là ba năm còn BLHS năm 1999 thời gian được rút ngắn xuống còn một năm Ví dụ: Ngày 22/01/2009, TAND huyện TĐ tỉnh VP xử phạt anh Khổng Văn S mười tháng tù

về “Tội trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18

tháng kể từ ngày tuyên bản án sơ thẩm, đến ngày 22/07/2010, anh Khổng Văn S

đã chấp hành xong bản án Như vậy, căn cứ tại điểm a khoản 2 Điều 64 BLHS năm 1999 thì đến ngày 22/07/2011 anh Khổng Văn S đương nhiên được xóa án tích và từ ngày 22/07/2011 anh Khổng Văn S coi như chưa bị kết án Với quy định này rõ ràng BLHS năm 1999 đã thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng và đề cao quyền con người và quyền công dân

Căn cứ vào khoản 1 Điều 64 BLHS có thể thấy người được miễn hình phạt là người hết án tích vì họ đương nhiên được xóa án tích Về vấn đề miễn hình phạt thì theo quy định tại Điều 54 BLHS: “Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định

Trang 37

37

tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn TNHS” [30] Như vậy, người được miễn hình phạt mặc dù chưa được miễn TNHS nhưng việc phạm tội của họ gây nguy hại không lớn cho xã hội và trong quá trình điều tra người phạm tội thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải,… nên đáng được khoan hồng đặc biệt, vì vậy người phạm tội được miễn hình phạt và người đó đương nhiên được xóa án tích

Theo khoản 2 Điều 64 BLHS thì người bị kết án không phải về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh, nếu từ khi chấp hành xong bản án theo mức thời gian một năm, ba năm, năm năm và bảy năm hoặc từ khi hết hiệu lực thi hành bản án, người đó không phạm tội mới thì sẽ đương nhiên được xóa án tích, các mốc thời gian một năm, ba năm, năm năm hoặc bảy năm là tùy thuộc vào loại hình phạt và mức độ hình phạt chính mà Tòa án đã tuyên đối với người phạm tội khi họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, các mốc thời gian

đó chính là thời gian thử thách đối với người phạm tội sau khi đã chấp hành xong hình phạt để được xóa án tích Như vậy, có thể thấy thời gian thử thách phụ thuộc vào hành vi phạm tội mà người phạm tội đã gây ra, người phạm tội gây ra hậu quả càng nghiêm trọng và bị Tòa án tuyên phạt mức án càng cao thì đồng nghĩa với việc người đó sẽ phải nhận thời gian thử thách càng lâu hơn để được đương nhiên xóa án tích

Về vấn đề thời hạn, khoản 2 Điều 64 BLHS quy định hai mốc thời điểm: Chấp hành xong bản án và hết thời hiệu thi hành bản án Thứ nhất là liên quan đến chấp hành xong bản án, theo Điều 67 BLHS năm 1999 thì thời hạn để đương nhiên được xóa án tích phải căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên Tuy vậy, việc chấp hành xong bản án không chỉ là chấp hành xong hình phạt chính

mà còn bao gồm cả việc chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định

Trang 38

38

khác của Tòa án đối với bản án Theo quy định tại khoản 4 Điều 64 BLHS thì người được miễn chấp hành hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt Thứ hai, là liên quan đến hết thời hiệu thi hành bản án Vấn đề này được quy định tại Điều 55 BLHS năm 1999 cũng như tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao ngày 02 tháng 10 năm 2007 quy định về thời hiệu thi hành bản án và xóa án tích trong những trường hợp rơi vào thời hiệu thi hành bản án Theo đó, thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên và do vậy người bị kết án đương nhiên được xóa án tích Tuy nhiên, nếu trong thời hạn tính thời hiệu thi hành bản bán

đó mà người bị kết án lại phạm tội mới thì thời hiệu thi hành bản án sẽ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới Ví dụ: Vũ Văn Đ bị Tòa án cấp sơ thẩm huyện H

xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 BLHS

và bị tuyên phạt 03 năm tù Sau đó Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ tội Tại bản

án phúc thẩm hình sự số 26/HSPT ngày 23 tháng 10 năm 2010, Tòa án cấp phúc thẩm tỉnh G tuyên y án sơ thẩm Vũ Văn Đ vẫn chưa bị bắt chấp hành hình phạt

tù Ngày 18 tháng 11 năm 2010, Đ tiếp tục thực hiện hành vi “hiếp dâm” Như vậy, thời hiệu thi hành bản án về tội “Cố ý gây thương tích” đối với Đ được tính

lại kể từ ngày Đ phạm tội mới là ngày 18 tháng 11 năm 2010 Còn thời hiệu thi

hành bản án “hiếp dâm” được tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật

Tuy vậy, theo quy định tại Điều 56 BLHS năm 1999 thì sẽ không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với người nào phạm vào một trong các tội được quy định tại Chương XI và Chương XXIV của BLHS Theo khoản 2 Điều

64 BLHS, nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm khách thể được quy định tại Chương XI và Chương XXIV của BLHS thì sẽ không được trong diện trường hợp đương nhiên được xóa án tích và việc xóa án tích đối với người phạm tội trong trường hợp này do Tòa án xem xét, quyết định Ngoài

ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 55 BLHS, việc áp dụng thời hiệu đối với các

Trang 39

39

trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án TAND tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng VKSND tối cao Như vậy, khi hết thời hiệu được quy định tại khoản 2 Điều 55 BLHS mà người phạm tội không cố tình trốn tránh khi có lệnh truy nã của Cơ quan điều tra (CQĐT) và không phạm tội mới quy định tại khoản 2 Điều 64 BLHS thì được tính vào thời hạn để đương nhiên được xóa án tích

Liên quan đến thời hạn để người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, vấn đề được đặt ra là ngoài việc quy định thời hạn để người bị kết án đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại khoản 2 Điều 64 BLHS thì thời gian để xóa án tích có thể được rút ngắn so với quy định hay không và nếu có thì do ai hoặc cơ quan nào có thẩm quyền quyết định Theo Điều 66 BLHS năm 1999 quy định như sau:

Trong trường hợp người bị kết án có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt và đã lập công, được cơ quan tổ chức nơi người đó công tác hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú đề nghị, thì có thể được Tòa án xóa án tích nếu người đó đã đảm bảo được ít nhất một phần ba thời hạn quy định [30]

Như vậy, ngoài việc ấn định một thời gian nhất định thử thách đối với người bị kết án để đương nhiên được xóa án tích thì khi người bị kết án nếu có những biểu hiện tiến bộ rõ rệt hoặc có những thành tích khác đáp ứng được các yêu cầu, quy định của pháp luật thì có thể được Tòa án xem xét quyết định xóa

án tích trước thời hạn quy định

- Thứ ba là về xóa án tích theo quyết định của Tòa án

Điều 65 BLHS năm 1999 quy đ ịnh:

1 Toà án quyết định việc xoá án tích đối với những người đã

bị kết án về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ

Trang 40

40

luật này, căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết

án trong các trường hợp sau đây:

a) Đã bị phạt tù đến ba năm mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

b) Đã bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn bảy năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án;

c) Đã bị phạt tù trên mười lăm năm mà không phạm tội mới trong thời hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án

2 Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở

đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích [30]

Xóa án tích theo quyết định của Tòa án khác với đương nhiên được xóa

án tích ở chỗ người bị kết án được Tòa án xem xét, quyết định xóa án tích và cấp giấy chứng nhận cho người đó Theo quy định của pháp luật hình sự, xóa án tích theo quyết định của Tòa án chỉ áp dụng đối với người bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người, tội phạm chiến tranh Để được Tòa án xem xét xóa án tích, người bị kết án phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 65 BLHS Như vậy, nếu so sánh

về thời gian thử thách thì thời gian thử thách để Tòa án xóa án tích dài hơn so với việc đương nhiên được xóa án tích, điều này thể hiện chính sách hình sự nhất quán của Đảng và Nhà nước ta trong việc phân hóa TNHS

Ngày đăng: 16/07/2015, 00:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (một số vấn đề cơ bản của Phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (một số vấn đề cơ bản của Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
2. Lê Cảm - Nguyễn Ngọc Chí (đồng chủ biên) (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm, Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
3. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (sách chuyên khảo sau đại học – Phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Lê Văn Cảm (2005), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Lê Văn Cảm (2009), Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
6. Đỗ Văn Chỉnh (2009) “Xóa án tích với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm” Toà án nhân dân, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xóa án tích với việc xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Tác giả: Đỗ Văn Chỉnh
Nhà XB: Toà án nhân dân
Năm: 2009
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-02- 2002 của Bộ Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-02-2002 của Bộ Chính trị
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
8. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5- 2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Phạm Hồng Hải (1993), Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
13. Trần Thị Hiền (dịch) (2011), Bộ luật hình sự Nhật Bản, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Nhật Bản
Tác giả: Trần Thị Hiền
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2011
14. Nguyễn Ngọc Hòa (1991), Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1991
15. Phạm Mạnh Hùng (2001), “Một số vấn đề về định tội theo Bộ luật hình sự năm 1999”, Kiểm sát, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về định tội theo Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Kiểm sát
Năm: 2001
16. Phạm Mạnh Hùng (2001), “Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật”, Tòa án nhân dân, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Tòa án nhân dân
Năm: 2001
17. Phạm Mạnh Hùng (2002), “Cơ sở của trách nhiệm hình sự”, Luật học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của trách nhiệm hình sự
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Luật học
Năm: 2002
18. Phạm Mạnh Hùng (2006), “Một số vấn đề nhận thức và áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”, Kiểm sát, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nhận thức và áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Kiểm sát
Năm: 2006
19. Phạm Mạnh Hùng (2007), “Bàn về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam”, Kiểm sát, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Nhà XB: Kiểm sát
Năm: 2007
20. Nguyễn Thị Lan (2003), Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp - Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lan
Nhà XB: Khóa luận tốt nghiệp - Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Số vụ án và bị cáo đưa ra xét xử trong cả nước từ năm 2009 đến - [ Bản Full ] Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định án tích trong luật hình sự Việt Nam
Bảng 2.1 Số vụ án và bị cáo đưa ra xét xử trong cả nước từ năm 2009 đến (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w