Quan điểm thứ hai cho rằng “án tích là vết tích đã từng bị kết án của người phạm tội, xuất hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích để được coi như là người chưa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009-2013
Đề Tài:
CHẾ ĐỊNH XÓA ÁN TÍCH TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM
Bộ môn Luật Tư pháp MSSV: 5095534
Lớp: Luật Tư pháp 1 khóa 35
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT - -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2009-2013
Đề Tài:
CHẾ ĐỊNH XÓA ÁN TÍCH TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Bộ môn Luật Tư pháp MSSV: 5095534
Lớp: Luật Tư pháp 1 khóa 35
Trang 2NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 3Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4………
………
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 11
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH 11
1.1 Khái niệm, dấu hiệu, đặc điểm của án tích 11
1.1.1 Khái niệm về án tích 11
1.1.2 Các dấu hiệu của án tích 14
1.2.3 Đặc điểm của án tích 15
1.2 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của xóa án tích 16
1.2.1 Khái niệm xóa án tích 16
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của xóa án tích 19
1.3 Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về chế định xóa án tích 21
1.3.1 Thời kỳ trước năm 1945 21
1.3.2 Chế định xóa án tích trong thời kỳ từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 21
1.3.3 Chế định xóa án thời kỳ từ năm 1985 đến trước năm 1999 22
1.3.4 Chế định xóa án thời kỳ từ năm 1999 đến nay 25
1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu chế định xóa án tích 26
CHƯƠNG 2 28
CHẾ ĐỊNH XÓA ÁN TÍCH 28
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH 28
2.1 Đương nhiên xóa án tích 30
2.1.1 Điều kiện để xóa án tích 31
2.1.2 Thủ tục xin xóa án tích 34
2.2 Xóa án tích theo quyết định của Tòa án 35
2.2.1 Điều kiện để xóa án tích 36
2.2.2 Thủ tục xóa án tích 37
2.3 Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt 39
2.4 Xóa án tích cho người chưa thành niên phạm tội 41
2.5 Cách tính thời hạn xóa án tích 43
CHƯƠNG 3 46
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH 46
CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ XÓA ÁN TÍCH VÀ 46
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 46
Trang 63.1 Tình hình thực tiễn áp dụng chế định xóa án tích 46
3.2 Bất cập trong quy định và áp dụng chế định xóa án tích 46
3.2.1 Bất cập trong quy định xóa án tích 46
3.2.2 Những bất cập trong thực tiễn áp dụng về quy định xóa án tích 50
3.3 Một số kiến nghị 56
3.3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về xóa án tích 56
3.3.2 Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của chế định xóa
án tích 58
KẾT LUẬN 60
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xóa án tích là một chế định có một vị trí quan trọng trong luật hình sự Việt Nam
Chế định xóa án tích thể hiện nguyên tắc nhân đạo dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và
bảo vệ quyền con người
Đồng thời chế định xóa án tích khuyến khích người bị kết án chấp hành tốt pháp
luật cải tạo và lao động tích cực, giúp người đã chấp hành xong hình phạt xóa bỏ mặc
cảm, hòa nhập với cộng đồng Mặc khác, chế định xóa án tích còn góp phần phòng chống
tội phạm bởi việc quy định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Chế định xóa án tích lần đầu tiên được quy định tại Bộ luật hình sự năm 1985 và
đã được hoàn thiện tại Bộ luật hình sự năm 1999 Nhiều quy định của chế định xóa án
tích được sửa đổi bổ sung phù hợp với thực tiễn Tạo điều kiện cho cơ quan áp dụng pháp
luật đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả cao Đây cũng là một quy định hỗ trợ
cho việc đem lại mục đích của hình phạt Tuy nhiên, một số quy định của chế định xóa án
tích đã bộc lộ một số hạn chế, thiếu sót nhất định hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu của
việc xây dựng xã hội dân chủ, công bằng văn minh hiện nay Bên cạnh đó, công tác giải
thích pháp luật còn chưa được triển khai đúng mức nên còn gặp khó khăn vướng mắc,
nhận thức còn chưa đồng nhất về vấn đề xóa án tích trong quy định cũng như thực tiễn áp
dụng
Trước tình hình đó việc nghiên cứu một cách có hệ thống về những lý luận và thực
tiễn có liên quan đến chế định xóa án tích là rất cần thiết trong tình hình hiện nay Từ
những bất cập hạn chế của quy định cũng như thực tiễn áp dụng người viết đưa ra những
giải pháp nhằm làm rõ một số hạn chế và kiến nghị giúp hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện
hành và giải quyết những vướng mắc của thực tiễn pháp luật hình sự những vấn đề đó có
ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận và thực tiễn áp dụng
Những vấn đề trên là lý do để người viết lựa chọn “Chế định xóa án tích trong luật
hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cử nhân của mình
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiêm cứu của đề tài
Trang 8- Mục tiêu:
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chế định xóa án
tích và tìm hiểu những nội dung cơ bản về lý luận của chế định xóa án tích Đồng thời,
xác định bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định cũng như trên thực tiễn để từ đó đề
xuất và kiến nghị những giải pháp hoàn thiện chế định xóa án tích nói riêng và pháp luật
hình sự nói chung
Đề tài tập chung nghiên cứu các vấn đề như sau: khái niệm án tích, dấu hiệu án
tích, đặc điểm án tích, khái niệm xóa án tích, đặc điểm pháp lý của xóa án tích, lịch sử
hình thành chế định xóa án tích.v.v Qua việc nghiên cứu cho thấy rằng, chế định xóa án
tích liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau của luật hình sự và luật tố tụng hình sự như:
Quyết định hình phạt, hình phạt, thời hạn thi hành án, miễn trách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt.v.v
Việc đề cập đến các vấn đề trên của luật hình sự và luật tố tụng hình sự cũng chỉ
nhằm giải quyết một cách có hệ thống và làm rõ hơn chế định xóa án tích theo luật hình
sự Việt Nam
- Nhiệm vụ:
Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam nhằm
thấy rõ sự phát triển cũng như những hạn chế thiếu sót của quy định xóa án tích Đồng
thời để làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định xóa án tích tìm hiểu những vấn đề lý
luận của chế định xóa án tích người viết đưa ra một số nhận định trong giới luật gia từ đó
người viết làm sáng tỏ bản chất pháp lý của án tích cũng như việc xóa án tích Bên cạnh
đó, nghiên cứu về chế định xóa án tích hiện hành giúp hiểu thêm về pháp luật hình sự nói
chung và chế định xóa án tích nói riêng
Nghiên cứu quá trình áp dụng chế định xóa án tích trong thực tiễn Từ những phân
tích làm rõ bất cập trong quy định cũng như trong thực tiễn về công tác xóa án tích từ đó
đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu luận văn chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam
dưới góc độ luật hình sự trên cơ sở tìm hiểu những quy định của pháp luật liên quan đến
án tích và xóa án tích, luận văn chủ yếu nghiên cứu chế định xóa án tích từ sau khi chế
định được pháp điển hóa lần đầu tiên trong Bộ luật hình sự năm 1985 và tiếp theo là các
văn bản dưới luật hướng dẫn xóa án và Bộ luật hình sự năm 1999
Trang 93 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân luật người viết đã
sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp như là: quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về nhà nước, pháp luật, về tội
phạm, hình phạt, về con người; những thành tựu của khoa học, triết học, lịch sử, các học
thuyết chính trị pháp lý, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, luật thi hành án, lôgíc học
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp hệ
thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổng hợp Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu
tác giả tham khảo ý kiến chuyên gia liên quan đến đề tài
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Kết quả nghiên
cứu đề tài có thể bổ sung vào trong lý luận về chế định xóa án tích
Đề tài góp phần vào việc xác định đúng đắn các quy phạm chế định xóa án tích, hỗ
trợ sự tăng cường pháp chế bảo vệ vững chắc các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
trong lĩnh vực hình sự
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về xóa án tích
Chương 2: Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về xóa án tích và
một số kiến nghị
Trang 10Qua đây, người viết xin chân thành cám ơn thầy Phạm Văn Beo cán bộ giảng
dạy ở Trường Đại học Cần Thơ - Khoa Luật - Bộ môn Luật Tư Pháp đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ người viết trong quá trình nghiên cứu luận văn Do tính chất khá
phức tạp của đề tài cùng với những hạn chế về điều kiện trong quá trình nghiên cứu nên
đề tài cũng có thiếu sót, người viết rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý
thầy cô và các bạn sinh viên để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 11CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÓA ÁN TÍCH
1.1 Khái niệm, dấu hiệu, đặc điểm của án tích
1.1.1 Khái niệm về án tích
Trong luật hình sự Việt Nam vấn đề án tích được đề cập một cách đầy đủ kể từ khi
Bộ luật hình sự đầu tiên của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội
thông qua vào năm 1985 Trước khi có Bộ luật hình sự năm 1985, trong các văn bản pháp
luật, tình tiết xấu về nhân thân liên quan đến án tích đã được quy định là tình tiết tái
phạm, tái phạm nguy hiểm Đó là hai trường hợp cụ thể đặc biệt của trường hợp án tích
Tuy nhiên quy định này còn bị hạn chế bởi thiếu quy định về xóa án tích, hạn chế này đã
được khắc phục trong Bộ luật hình sự năm 1985 Trong Bộ luật hình sự năm 1985 chế
định xóa án được quy định tại phần chung trong đó xác định các trường hợp xóa án như:
Đương nhiên xóa án, xóa án theo quyết định của Tòa án, xóa án trong trường hợp đặc
biệt, các trường hợp xóa án quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 3 và Điều 52 đến Điều 56
Bộ luật hình sự năm 1985 Việc Bộ luật hình sự 1985 không đưa ra khái niệm án tích cụ
thể nên trong giới luật gia vẫn còn một số quan điểm khác nhau trong thời kỳ này
Chẳng hạn như quan điểm “coi án tích là hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà
Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh
giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khi tội phạm được thực hiện
trong thời gian người ấy mang án tích”1 Theo tôi quan điểm trên là chưa chính xác bởi lẻ
án tích không phải là hậu quả pháp lý đối với tất cả mọi người bị Tòa án kết tội bằng bản
án mà chỉ có những người phạm tội mới trong trường hợp đó nếu người đó có án tích mới
coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và án tích không phải để đánh giá tính chất nguy
hiểm của tội phạm mà là thời gian thử thách đối với người chịu hình phạt và chấp hành
xong hình phạt (hình phạt chính và phụ) Nếu xem án tích là hậu quả pháp lý của bản án
kết tội thì thời gian chấp hành hình phạt cũng được xem là thời gian mang án tích Trong
khi đó theo Bộ luật hình sự quy định người bị kết án coi là có án tích trong khoảng thời
gian đã chấp hành xong hình phạt (hình phạt chính và phụ)
Trong Bộ luật hình sự năm 1999, các quy định liên quan đến án tích đã được hoàn
thiện Chế định xóa án tích được quy đinh tại khoản 5 Điều 3 và Điều 63 đến Điều 67
1
Phạm Hồng Hải Xóa án Điều 52, Mô hình lý luận về Bộ luật hình sự Việt Nam NXB Khoa học xã hội, 1993,
tr.276
Trang 12chương IX Bộ luật hình sự năm 1999, cũng không quy đinh về vấn đề án tích mà chỉ quy
định về nguyên tắc, điều kiện được xóa án tích đối với các trường hợp: Đương nhiên xóa
án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trong trường hợp đặc biệt và
cách tích thời hạn để xóa án tích Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn không đưa ra khái niệm
về án tích nên có một số cách hiểu không thống nhất về vấn đề án tích Cho nên, sau khi
Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực, trong giới luật học vẫn còn những quan điểm khác
nhau về khái niệm của án tích
Quan điểm thứ nhất cho rằng “án tích là hậu quả pháp lý của việc một người bị
buộc tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án”2 Theo tôi quan điểm trên chưa
thật sự chính xác về án tích bởi không phải bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa
án bao giờ cũng phải chịu án tích trong thực tế trường hợp miễn trách nhiệm hình sự sẽ
không làm phát sinh án tích
Quan điểm thứ hai cho rằng “án tích là vết tích đã từng bị kết án của người phạm
tội, xuất hiện khi người đó đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích để được coi
như là người chưa bị kết án nếu người này đáp ứng được những điều kiện do Bộ luật hình
sự quy định hoặc tồn tại khi người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa đáp
ứng được điều kiện đó và vẫn còn coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm theo Bộ luật
hình sự năm 1999 (Điều 49) hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà
theo Bộ luật hình sự vết tích đã từng bị kết án đối với hành vi ấy là yếu tố cấu thành tội
phạm”3
.Theo tôi cho rằng quan điểm trên không chính xác vì cho rằng án tích là vết tích
là không có ý nghĩa pháp lý chính xác Mặc khác, xem án tích xuất hiện khi người phạm
tội đã chấp hành xong hình phạt là không đúng, mà thực tế thời hạn chấp hành hình phạt
chỉ để tính thời hạn xóa án tích và án tích xuất hiện khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp
luật
Quan điểm thứ ba cho rằng “xóa án tích là xóa bỏ bản án hình sự đối với một
người đã bị Tòa án kết tội”4 Quan điểm trên là không chính xác theo cách nói xóa án tích
là xóa bỏ bản án hình sự như vậy án tích tức là bản án, về mặc pháp lý án tích không thể
nào là bản án Hơn nữa, bản án được tuyên trước khi chấp hành hình phát còn án tích có
Trang 13Quan điểm thứ tư coi “án tích là một dấu ấn cho thấy, người có án tích đã từng bị kết án
vì đã phạm tội”5.Quan điểm trên còn mơ hồ bởi nói án tích là dấu ấn chưa thuyết phục nó
không làm rõ bản chất pháp lý của án tích
Quan điểm thứ năm coi “án tích là hậu quả pháp lý của việc người bị kết án bị áp
dụng hình phạt theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án và là giai đoạn cuối
cùng của việc thực hiện trách nhiệm hình sự, được thể hiện trong việc người bị kết án
mặc dù đã chấp hành xong bản án (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các
quyết định của Tòa án) nhưng vẫn chưa hết án tích theo các quy định của pháp luật hình
sự”6 Theo tôi quan điểm của quan điểm này cho rằng án tích là giai đoạn cuối của việc
thực hiện trách nhiệm hình sự là chưa đúng Thực tế trách nhiệm hình sự chỉ thể hiên thử
thách một thời gian nhất định do luật định Tuy nhiên, theo tôi thì quan điểm này là đầy
đủ và chính xác nhất so với các khái niệm trên
Trong khoa học luật hình sự các nước có một số quan điểm chủ yếu liên quan đến
chế định án tích như sau:7
Vittenberg G.B cho rằng án tích đó là tình trạng pháp lý hình sự đối với chủ thể
do việc người này bị Tòa án xử phạt một biện pháp hình phạt nào đó về tội phạm đã thực
hiện
Zelđôv X.L cho rằng án tích bao gồm ba bộ phận hợp thành: 1) khoảng thời gian
từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi bất đầu thi hành (chấp hành hình
phạt); 2) trong thời gian đang chấp hành hình phạt và; 3) khoảng thời gian từ khi chấp
hành hình phạt (miễn việc chấp hành hình phạt) cho đến thời điểm hết án tích hoặc án
tích đã được Tòa án xóa
Tkatrevxki Iu.M viết: Án tích – đó là hậu quả pháp lý của chủ thể xuất hiện do sự
kiện người này bị kết án một hình phạt nào đó về tội phạm đã được thực hiện và kèm
theo các hậu quả pháp lý nhất định đối với chính bản thân người này
Haumôv A.V cho rằng: Bản án kết tội với việc áp dụng hình phạt làm phát sinh
hậu quả pháp lý hình sự đặc biệt – án tích, mà hậu quả đó xác định địa vị pháp lý đặc biệt
của người bị Tòa án coi là có tội trong việc thực hiện tội phạm và bị kết án bằng một hình
Trang 14Nheznamôva Z.A quan niệm rằng án tích – đó là một yếu tố, một bộ phận cấu
thành trách nhiệm hình sự với tư cách là hậu quả của sự kiện phạm tội và như vậy, án tích
là tình trạng pháp lý đặc biệt của một người được tạo ra do người này bị kết án một hình
phạt nhật định đối với tội phạm mà tình trạng ấy được thể hiện bằng khả năng đưa đến
các hậu quả nhất định (các hạn chế về quyền) có tích chất pháp lý chung và tính chất
pháp lý hình sự
Rarôg A.L viết: Án tích – đó là tình trạng pháp lý đặc biệt của người bị kết án một
hình phạt đối với tội đã phạm và tình trạng này được bắt đầu từ khi bản án kết tội của Tòa
án có hiệu lực pháp luật và tiếp diễn cho đến thời điểm hết hoặc xóa án tích; do vậy, án
tích có nghĩa là sự kiện kết án chủ thể một hình phạt nào đó đối với một tội phạm này hay
một tội phạm khác đã được xác nhận một cách chính thức
Levadôvxkai M.G viết: Án tích – đó là giai đoạn kết thúc của việc thực hiện trách
nhiệm hình sự và là tình trạng pháp lý của chủ thể được tạo ra bởi sự kiện người này bị
kết án bằng một hình phạt nào đó về tội phạm đã thực hiện và kèm theo các hậu quả xã
hội và pháp lý hình sự bất lợi đối với người này; có nghĩa là việc xác nhận chính thức sự
kiện kết án chủ thể về một tội phạm nhất định kèm theo một số yếu tố của sự hạn chế các
quyền của người này
Kelina X.G coi án tích là hậu quả pháp lý của việc chấp hành hình phạt đối với tội
đã phạm, là giai đoạn kết thúc của việc thực hiện trách nhiệm hình sự vì việc có án tích
kèm theo một loạt hạn chế về quyền của người đã thực hiện tội phạm
Từ những quan điểm khác nhau trong giới nghiên cứu khoa học luật đã có những
quan điểm khác nhau Tuy nhiên theo tôi để định nghĩa được án tích một cách chính xác
thì phải xuất phát từ bản chất pháp lý của án tích: Án tích phải là hậu quả của việc kết án
và bị áp dụng hình phạt (hình phạt chính và hình phạt bổ sung) Như vậy, có án tích chỉ
khi có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và đồng thời phải chịu hình
phạt
Tóm lại: Án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội mà người kết án phải chịu
hình phạt (hình phạt chính và hình phạt bổ sung) theo bản án có hiệu lực pháp luật của
Tòa án cho đến khi được đương nhiên được xóa án tích hoặc Tòa án xóa bỏ theo quy
định của pháp luật
1.1.2 Các dấu hiệu của án tích
Xét về mặt bản chất thì việc quy định những hậu quả pháp lý mà người mang án
tích phải chịu do thực hiện tội phạm hoặc hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian mang
Trang 15án tích không nhằm trả thù người đã bị kết án, mà sự quy định này chính là nhằm mục
đích tạo điều kiện cho người đó tự hoàn lương và thấy được giá trị của việc chấp hành
nghiêm chỉnh những điều kiện để được xóa án tích, để được coi là người lương thiện Rõ
ràng án tích không phải là biện pháp mang tính chất trừng trị mà ngược lại, nó lại là biện
pháp nhằm khuyến khích người bị kết án từ bỏ hẳn quá khứ tội lỗi của mình để được coi
là chưa từng bị kết án
Như vậy, trên cơ sở nghiên cứu một cách rõ ràng, cụ thể khái nhiệm án tích, từ đó
có thể chỉ ra một số dấu hiệu cơ bản của án tích như sau:
- Án tích là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, được áp dụng đối với người bị kết
án theo bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án, không có tội phạm thì không có
án tích, chỉ người phạm tội mới chịu án tích;
- Án tích chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định:
+ Đó là thời gian thử thách đối với người bị kết án đã chấp hành xong bản án;
+ Thời hạn đó được xác định tùy theo hình phạt mà người đó phải chấp hành;
+ Thời hạn đó được bắt đầu từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật
và kết thúc khi được xóa bỏ theo quy định của pháp luật: Hết thời hạn theo quy
định của pháp luật trong trường hợp đương nhiên xóa án; hoặc đến khi Tòa án
quyết định xóa án tích trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án
- Án tích là điều cuối cùng đòi hỏi người bị kết án theo bản án kết tội có hiệu lực
pháp luật của Tòa án phải đạt được trong việc thực hiện trách nhiệm hình sự vì nếu người
bị kết án đã chấp hành xong bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng khi chưa hết
án tích hoặc chưa được xóa án tích, theo quy định của pháp luật hình sự thì vẫn còn trách
nhiệm hình sự;
- Án tích có ý nghĩa pháp lý hình sự đối với người bị kết án khi người này phạm
tội mới, vì theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, thì án tích là tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự (theo điểm g, khoản 1 Điều 48) khi người bị kết án bị coi là tái phạm
hay tái phạm nguy hiểm (Điều 49); một trong những tình tiết định tội của một số cấu
thành tội phạm trong phần riêng
1.2.3 Đặc điểm của án tích
Trang 16Án tích là đặc điểm xấu về nhân thân của người đã bị kết án và áp dụng hình phạt
được ghi và lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian luật định Khi người phạm tội đã
bị Tòa án tuyên hình phạt thì hậu quả pháp lý mà họ phải chịu không chỉ là việc phải
chấp hành hình phạt đó mà còn bị coi là có án tích bất lợi trong nhiều hoạt động của đời
sống cũng như khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi phạm tội
Án tích được hiểu một cách khái quát ở chỗ chủ thể đã bị kết án và áp dụng hình
phạt về tội phạm nhất định (và chưa được xóa án tích) Trên cơ sở án tích này, người
phạm tội có thể bị xác định là phạm tội thuộc các trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy
hiểm khi họ phạm tội lại Khi đã được xác định như vậy họ bị coi là có đặc điểm nhân
thân là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm Án tích được ghi và lưu lại trong lý lịch tư
pháp của người phạm tội cho đến khi được xóa án tích
Trong Bộ luật hình sự năm 1985, án tích được quy định chủ yếu ảnh hưởng đến
mức độ trách nhiệm hình sự qua quy định tái phạm và tái phạm nguy hiểm Có án tích có
thể là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự Trong Bộ luật hình sự năm 1999, ý nghĩa quyết định của án tích trong việc xác định
hành vi trái pháp luật là tội phạm đã được mở rộng đối với nhiều tội Bên cạnh các tình
tiết xấu về nhân thân như tình tiết đã bị xử phạt hành chính…, tình tiết có án tích (đã bị
kết án mà chưa xóa án tích) đã quy định là tình tiết định tội độc lập hoặc là tình tiết định
tội thay thế cho tình tiết hậu quả nguy hiểm cho xã hội ở nhiều tội danh Ví dụ: Điều 208
quy định về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản đã được xác định:
“Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ
năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm triệu đồng nhưng
gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một
trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì
bị phạt tù từ một năm đến sáu năm”
Tuy nhiên, án tích không phải là đặc điểm về nhân thân có tính vĩnh viễn Án tích chỉ
tồn tại trong khoảng thời gian nhất định, đó là thời gian thử thách đối với người bị kết án
đã chấp hành xong bản án Sau một thời gian và kèm theo điều kiện cụ thể theo quy định
của pháp luật án tích sẽ được xóa
1.2 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của xóa án tích
1.2.1 Khái niệm xóa án tích
Trước đây Nhà nước chưa quy định về việc xóa án tích để khuyến khích những
người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt Bô luật hình sự năm 1985
Trang 17đã quy định chế định xóa án Đến Bộ luật hình sự năm 1999 thì chế định xóa án tích đã
được hoàn thiện và cụ thể hơn, với việc quy định xóa án tích là xóa bỏ việc mang án tích
của người đã bị kết án
Như vậy, kết án là sự kiện pháp lý, theo đó Tòa án không chỉ buộc tội mà còn áp
dụng hình phạt đối với người phạm tội Với bản án buộc tội người bị án phải chấp hình
phạt (trừ trường hợp được miễn chấp hành hình phạt) Như vậy việc kết án là một sự kiện
khách quan Đây chính là lý do tại sao Bộ luật hình sự năm 1999 không dùng thuật ngữ
“xóa án” mà thay thế bằng thuật ngữ “xóa án tích” vốn dĩ đã tồn tại, chỉ có thể xóa được
“viết tích” của án đó mà thôi Kết án là sự đánh giá chính thức của Nhà nước đối với
hành vi phạm tội mà người đó đã gây ra cho xã hội Hậu quả trực tiếp của sự đánh giá đó
là người phạm tội phải chịu hình phạt Chưa hết, người bị kết án còn đặt vào một thử
thách khác, là dù có chấp hành bản án, nhưng nếu chưa được xóa án tích thì trong những
trường hợp nhất định, họ phải chịu những hậu quả do việc kết án mang lại Chẳng hạn,
việc kết án sẽ là cơ sở để xác định hành vi vi phạm hành chính hay phạm tội, tái phạm
hay tái phạm nguy hiểm trong lĩnh vực hình sự hay căn cứ để hạn chế một số quyền dân
sự, hành chính của đương sự (xuất cảnh, nhập cảnh, lập và đứng đầu công ty…)8
Để giải thoát cho người đã chấp hành xong hình phạt những hậu quả pháp lý kéo
dài, Bộ luật hình sự năm 1999 đã ghi nhận chế định xóa án tích Với sự khẳng định:
“Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”9 Luật hình sự đã đưa ra một nguyên tắc
xử sự đối với người bị kết án Từ thời điểm được xóa án tích, họ trở thành người bình
thường về mặt tư pháp và không ai có thể căn cứ vào sự kiện họ từng bị kết án để hạn chế
quyền và lợi ích hợp pháp của họ Khi được xóa án tích, mọi giấy tờ về căn cứ lý lịch của
người từng bị kết án điều được ghi “chưa can án”, hoặc “tiền án: không”
Đồng thời trong quá trình áp dụng các quy định pháp luật hình sự về xóa án tích,
việc xác định một người bị kết án trong vụ án hình sự đã được xóa án tích hay chưa có ý
nghĩ rất quan trọng Nếu người bị kết án được xóa án tích thì khi người đó phạm tội mới
sẽ không tính là tội phạm thuộc trường hợp tái phạm hay tái phạm nguy hiểm Với ý
nghĩa rất lớn với một người cho thấy việc nghiên cứu cụ thể và rõ ràng về án tích là rất
cần thiết và có ý nghĩa Với ý nghĩ quan trọng về vấn đề xóa án tích, trong khoa học luật
hình sự cũng có nhiều quan điểm khác nhau
Trang 18Quan điểm thứ nhất cho rằng “Xóa án tích là xóa bỏ bản án hình sự đối với một
người đã bị Tòa án kết án”10 Quan điểm trên chưa chính xác bởi cho rằng án tích là bản
án hình sự Như vậy xóa án tích không bản xóa bản án
Quan điểm thứ hai “ Xóa án tích là sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết tội
không còn mang án tích và vì vậy không còn chịu hậu quả nào do việc kết án mang lại”11
Quan điểm thứ hai là theo khía cạnh xóa án tích đương nhiên Còn xóa án tích theo quyết
định của Tòa án thì định nghĩa trên chưa chính xác bởi khi xóa án tích theo quyết định
của Tòa án thì người phạm tội không được đương nhiên xóa án tích
Quan điểm thứ ba “Xóa án tích là việc chấm dứt trách nhiệm hình sự của người bị
kết án do người đó được xóa án tích theo các quy định của pháp luật hình sự trên cơ sở có
sự xem xét và có quyết định riêng của Tòa án”12 Theo tôi, quan điểm thứ ba còn một số
hạn chế ở cách dùng từ xóa án tích cho định nghĩa xóa án tích như vậy định nghĩa còn mơ
hồ nên chưa làm rõ được vấn đề
Từ những quan điểm trên tôi nhận thấy rằng định nghĩa xóa án tích cần xuất phát
từ: định nghĩa án tích, bản chất pháp lý của xóa án tích, hậu quả của việc xóa án tích, thủ
tục xóa án tích
Với những xuất phát điểm nghiên cứu trên, với định nghĩa xóa án tích chúng ta có
thể khẳng định rằng: Bản chất pháp lý của xóa án tích là xóa bỏ hậu quả pháp lý, trách
nhiệm hình sự đối với người bị kết án và phải chịu hình phạt theo bản án kết tội đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án
Xóa án tích là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện
trong việc hủy bỏ hậu quả pháp lý hình sự đối với người bị kết án, tức là chấm dứt hoàn
toàn trách nhiệm hình sự của người đó, khi người đó đáp ứng được đầy đủ những điều
kiện để được đương nhiên hết án tích hoặc được Tòa án xóa án tích theo các quy định của
Bộ luật hình sự năm 1999 Thủ tục xóa án tích được thực hiện khi có đủ các điều kiện do
pháp luật quy định: Chấp hành xong bản án hoặc hết thời hiệu thi hành bản án, không
phạm tội mới trong thời hạn luật định Hậu quả của việc xóa án tích là người được xóa án
tích coi như chưa bị kết án
Trang 19Với sự phân tích trên, dưới góc độ nghiên cứu khoa học, chúng ta có thể đưa ra khái niệm
xóa án tích như sau:
Xóa án tích là chế định của luật hình sự Việt Nam thể hiện ở việc xóa bỏ hậu quả
pháp lý, xóa bỏ trách nhiệm hình sự đối với người bị kết án và phải chịu hình phạt theo
bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có đủ các điều kiện của pháp luật quy
định và người đó được coi như chưa bị kết án
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của xóa án tích
Đối tượng được xóa án tích
Mặc dù Bộ luật hình sự năm 1999 chưa quy định một khái niệm pháp lý rõ rằng về
xóa án tích nhưng Điều 63 Bộ luật hình sự năm 1999 đã nêu lên được đặc điểm pháp lý
cơ bản của xóa án tích:
“Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các Điều từ Điều 64 đến Điều
67 của Bộ luật này Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp
giấy chứng nhận”
Theo Điều 63 xóa án tích được áp dụng đối với người đã từng bị kết án Tuy nhiên
không phải người bị kết án nào điều phải chịu án tích, khi xem xét các quy định của Bộ
luật hình sự về đương nhiên được xóa án tích và xóa án tích đối với người chưa thành
niên phạm tội, thì có thể nó rằng người được miễn hình phạt sẽ đương nhiên được xóa án
tích khi có quyết định miễn hình phạt của Tòa án Còn đối với người chưa thành niên
phạm tội nếu được áp dụng những biện pháp tư pháp quy định tại khoản 1 Điều 70 Bộ
luật hình sự năm 1999 thì coi như không có án tích trong trường hợp trên Như vậy án
tích chỉ đặt ra đối với người bị kết án đồng thời tuyên áp dụng hình phạt Còn trong
trường hợp miễn trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình phạt hai trường hợp này
không cần phải xóa án tích
Người bị kết án và áp dụng hình phạt được xóa án tích phải đáp ứng đủ các điều
kiện do luật định Tùy vào từng trường hợp tội phạm cũng như mức hình phạt Người bị
kết án và chịu hình phạt phải đáp ứng các điều kiện sau để xóa án tích
- Đã chấp hành xong bản án bao gồm hình phạt chính hình phạt bổ sung và các
quyết định của án
- Không phạm tội mới trong thời hạn luật định Tùy vào từng loại tội phạm và mức
hình phạt mà thời hạn xóa án tích sẽ ngắn hay dài Thời hạn mang án tích là thời hạn thử
Trang 20thách đối với người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt đồng thời cũng để khuyến
khích những người có ý thức chấp hành pháp luật, cải tạo, lao động tốt
Thẩm quyền xóa án tích
Thẩm quyền xóa án tích thuộc về Tòa án Theo hướng dẫn tại điểm 2 Mục III và
điểm 2 Mục IV Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 1/8/1986 của Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ nội vụ về xóa án tích thì thẩm quyền
xóa án tích thuộc về Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử tội phạm cũ của người xin xóa án tích
Quy định này nhằm đảm bảo cho việc quản lý hồ sơ, cũng nhằm thuận tiện cho việc xác
định trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm của Tòa án
Một số trường hợp phân chia thẩm quyền xóa án tích của Tòa án trong trường hợp
vì lý do khách quan mà không có Tòa án nào có thẩm quyền xóa án tích hoặc thẩm quyền
thuộc hai hay nhiều Tòa án khác nhau
Đối với việc xóa án trong trường hợp Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc xử sơ thẩm
đồng thời là chung thẩm đã giải thể, đã tách ra thành các Tòa án khác nhau hoặc đã nhập
với Tòa án khác Nếu Tòa án sơ thẩm đã tách thành Tòa án khác thì Tòa án giải quyết
việc xóa án tích là Tòa án ở địa phương mà người bị kết án thường trú Nếu người bị kết
án không thường trú tại một địa phương được tách ra thì việc xóa án do một trong số các
Tòa án tách ra giải quyết trong trường hợp này nếu Tòa án bác đơn xin xóa án tích thì
quyết định bác đơn phải được gửi cho Tòa án khác đã cùng tách ra để phòng trường hợp
người bị bác đơn lại xin xóa án tích ở Tòa án khác
Nếu Tòa án xử sơ thẩm đã tách ra thành các Tòa án khác nhau, thì Tòa án giải
quyết việc xóa án tích là Tòa án ở địa phương được tách ra, nơi người bị kết án thường
trú Nếu người bị kết án không thường trú ở một trong các địa phương được tách ra thì
việc xóa án do một trong số các Tòa án đã tách ra giải quyết và trong trường hợp này, nếu
Tòa án bác đơn xin xóa án thì quyết định bác đơn phải được gửi cho Tòa án khác đã cùng
tách ra để đề phòng trường hợp người bị bác đơn lại xin xóa án ngay ở Tòa án khác đó
Nếu Tòa án xét xử sơ thẩm đã nhập với Tòa án khác thì Tòa án nơi Tòa án đã nhập vào
có trách nhiệm giải quyết việc xóa án
Nếu Tòa án xử sơ thẩm hoặc sơ thẩm đồng thời là chung thẩm đã giải thể thì
Chánh án Tòa án đã tiếp nhận nhiệm vụ của Tòa án đã giải thể có trách nhiệm giải quyết
việc xóa án
Trong trường hợp Tòa án đã giải thể, nhưng không rõ Tòa án nào đã tiếp nhập
nhiệm vụ của Tòa án đó, thì Chánh tòa Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao giải quyết
Trang 21việc xóa án (nếu Tòa án đã giải thể là Tòa án nhân dân) hoặc Chánh án Tòa quân sự cấp
cao giải quyết việc xóa án (nếu Tòa án đã giải thể là Tòa án quân sự) Nếu Tòa án đã xử
sơ thẩm đã nhập với Tòa án khác, thì Tòa án nơi Tòa án đó nhập vào có trách nhiệm giải
quyết việc xóa án
1.3 Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về chế định xóa án tích
1.3.1 Thời kỳ trước năm 1945
Pháp luật hình sự ở nước ta đã có từ rất lâu đời trải qua nhiều thời đại cùng với sự
hình thành và phát triển của một đất nước hệ thống pháp luật nói chung pháp luật hình sự
và chế định xóa án tích nói riêng, trong đó những thành tựu và những kinh nghiệm lập
pháp là một trong những di sản quý báo
Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử của quá trình hình thành và
phát triển pháp luật hình sự Việt Nam cho thấy rằng pháp luật hình sự thời phong kiến
cũng như thời kỳ Pháp thuộc có điểm chung là hình phạt rất nghiêm khắc chỉ bảo vệ giai
cấp thống trị Pháp luật hình sự ở giai đoạn này không thấy xuất hiện xóa bỏ án hay án
tích
1.3.2 Chế định xóa án tích trong thời kỳ từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1985
Cách mạng tháng tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập
khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Để bảo vệ chính quyền nhân dân non trẻ
mới được thành lập, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật hình sự để
tạo cơ sở trấn áp tội phạm
Ngày 14-2-1946 Hồ Chủ tịch đã ký Sắc lệnh số 21-SL quy định sẽ đem ra xét xử
“Tất cả những người nào phạm một việc gì, sau hay trước ngày 19 tháng 8, có phương
hại đến nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”
Đối với những hành vi có thể gây phương hại đến nền độc lập của Nhà nước, ảnh
hưởng đến sự quản lý của Nhà nước, trật tự trị an, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng
điều có thể bị xử tử hình
Tuy nhiên trong trường hợp cấp bách, các văn bản pháp luật nói chung cũng như
các văn bản pháp luật hình sự nói riêng mới ban hành không thể điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội đa dạng Vì thế, ngày 10-10-1945 Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh 47-SL tạm
thời giữ lại các luật lệ cũ không mâu thuẫn với chế độ mới, không trái với nguyên tắc độc
Trang 22lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó có luật An Nam, Hoàng Việt hình sự luật
và Hình luật canh cải
Về quyết định hình phạt: Bản tổng kết về thảo luận báo cáo công tác ngành Tòa án
nhân dân năm 1959 của Tòa án nhân dân tối cao ghi rõ “Trước hết chúng ta cần căn cứ
vào tính chất và mức độ nguy hại của phạm pháp để phân biệt phạm pháp nặng hay phạm
pháp nhẹ Chúng ta cần phải căn cứ vào người phạm pháp (tuổi, bản chất, tiền án hay
không…) và trường hợp tăng hay giảm tội…”
Trong thời kỳ này những văn bản pháp luật hình sự chỉ chủ yếu tập chung cho việc
trừng trị tội phạm bảo vệ chính quyền nhưng có một số văn bản đã nêu lên tình tiết xấu
về nhân thân của người phạm tội trong đó có đề cập đến “tiền án hay không” Dù ở giai
đoạn này chưa có một văn bản pháp luật hình sự chính thức nào nói về việc xóa án tích
Tuy nhiên, đây cũng là những cơ sở quan trọng tạo tiền đề cho sự phát triển của pháp luật
hình sự Việt Nam hiện nay
1.3.3 Chế định xóa án thời kỳ từ năm 1985 đến trước năm 1999
Lần đầu tiên vấn đề xóa án được quy định tại Bộ luật hình sự năm 1985 từ Điều 52
đến Điều 56 và Điều 67 Đây là một chế định mới trong Bộ luật hình sự sau khi Bộ luật
hình sự có hiệu lực trên thực tế để giúp cho việc áp dụng những quy định về xóa án,
nhằm tránh những vướng mắc không đáng có, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã
ban hành các thông tư, nghị quyết để hướng dẫn thi hành việc xóa án
Ngày 01/08/1986, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư
pháp, Bộ nội vụ phối hợp ban hành Thông tư liên ngành số 02 hướng dẫn thi hành việc
xóa án và sau đó là Thông tư 03 hướng dẫn bổ sung về việc xóa án ngày 15/07/1989
Tiếp theo đó, ngày 05/07/1990, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số
140/NCPL hướng dẫn việc xóa án đối với người được hưởng án treo Bên cạnh đó, vấn
đề lệ phí xóa án cũng được quy định trong Thông tư số 02/NCPL ngày 28/04/1989 của
Tòa án nhân dân tối cao
Điều 52 quy định: "Người bị kết án được xóa án theo quy định ở các Điều 53 đến
Điều 56 Người được xóa án coi như chưa can án và được cấp giấy chứng nhận" Theo
quy định tại Điều 52 thì cơ sở pháp lý của việc xóa án là những quy định của Bộ luật hình
sự, mà cụ thể hơn là từ Điều 53 đến Điều 56 Bộ luật hình sự năm 1985 Điều 52 cũng chỉ
rõ, hậu quả của việc xóa án, đó là người được xóa án coi như chưa can án Vì vậy, sau khi
được cấp giấy chứng nhận xóa án hoặc sau khi được Tòa án ra quyết định xóa án thì
trong giấy tờ về căn cước, lý lịch cấp cho họ phải ghi "chưa can án" Người đã được xóa
Trang 23án mà sau lại phạm tội mới thì không được căn cứ vào những tiền án đã được xóa án mà
coi như là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm
Tuy nhiên, bằng quy định "Người được xóa án coi như chưa can án và được cấp
giấy chứng nhận"13
Trên cơ sở phân tích và nghiên cứu các điều luật này thì vần đề xóa án được quy
định thành các trường hợp như sau: Đương nhiên được xóa án, xóa án theo quyết định
của Tòa án, xóa án trong trường hợp đặc biệt và xóa án cho người chưa thành niên
Trường hợp đương nhiên được xóa án
Trường hợp đương nhiên xóa án quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1985 Đương
nhiên xóa án tích là trường hợp được công nhận chưa can án mà không cần có sự xem xét
và quyết định của Tòa án
Theo quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1985,
Những người sau sẽ đương nhiên được xóa án:
1 Người được miễn hình phạt
Người được Tòa án miễn hình phạt thì đương nhiên được xóa án, sau khi bản án
này có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, người bị kết án trong trường hợp này chỉ được xóa
án khi đã chấp hành xong các quyết định khác của bản án như: Án phí, bồi thường thiệt
hại v.v (nếu có)
2 Người được hưởng án treo mà không phạm tội mới trong thời hạn ba năm, kể từ
ngày hết thời gian thử thách
3 Người bị kết án không phải về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc
gia hoặc tội phạm quy định tại chương XII Phần các tội phạm Bộ luật này, nếu từ khi
chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu, người ấy không
phạm tội mới trong thời hạn sau đây:14
- Ba năm trong trường hợp hình phạt là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam
giữ hoặc cải tạo tại đơn vị kỷ luật của quân đội;
- Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù đến năm năm
Trang 24Thời hạn để xóa án căn cứ vào hình phạt chính được Tòa án tuyên trong bản án đã có
hiệu lực pháp luật Người được miễn hình phạt còn lại cũng coi như đã chấp hành xong
hình phạt Nếu như chưa được xóa án mà phạm tội mới thì thời hạn để xóa án cũ tính từ
ngày chấp hành xong bản án mới
Trường hợp xóa án theo quyết định của Tòa án
Điều 54 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định:
1 Việc xóa án do Tòa án quyết định, căn cứ vào tính chất của tội đã phạm, vào nhân
thân, vào thái độ chấp hành chính sách, pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án,
trong các trường hợp sau đây:
- Đã bị phạt tù đến năm năm về tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia
mà không phạm tội mới trong thời hạn năm năm, kể từ khi chấp hành xong bản án
hoặc từ khi việc thi hành bản án đã quá thời hiệu;
- Đã bị phạt tù trên năm năm không kể về tội gì mà không phạm tội mới trong thời
hạn mười năm, kể từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi việc thi hành bản án đã
quá thời hiệu
Trường hợp xóa án trong trường hợp đặc biệt
Để khuyến khích người bị kết án tích cực, quyết tâm cao trong việc cải tạo, giáo
dục và chấp hành bản án Điều 55 Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định xóa án trong
trường hợp đặc biệt Người bị kết án được coi là thỏa mãn điều kiện trong trường hợp này
khi có biểu hiện tiến bộ rõ rệt (như thường xuyên lao động có năng suất cao…), đã lập
công và được cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đề nghị thì Tòa án có thể xóa án, nếu
người bị kết án đã đảm bảo được từ một phần ba đến một phần hai thời hạn quy định
Trường hợp xóa án đối với người chưa thành niên phạm tội
Nội dung cơ bản của chính sách hình sự của Nhà nước ta là chính sách nhân đạo,
bên cạnh mục đích trừng trị chúng ta còn nêu cao mục đích động viên, giáo dục, cảm hóa
người phạm tội trở thành người có ích đối với xã hội Xuất phát sự phát triển nhân cách,
tâm sinh lý của con người, Bộ luật hình sự quy định thành một chương riêng để điều
chỉnh những hành vi phạm tội của người chưa thành niên Từ quy định chung đó vấn đề
xóa án đối với người chưa thành niên phạm tội cũng được quy định ở một điều luật riêng
biệt Điều 67 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định:
“1 Người chưa thành niên phạm tội được áp dụng những biện pháp tư pháp có
tính chất giáo dục, phòng ngừa quy định tại khoản 1 Điều 60 thì không bị coi là có án
Trang 252 Thời hạn để xóa án đối với người chưa thành niên phạm tội là một nửa thời hạn
quy định ở các Điều 53 đến Điều 55.”
Tóm lại vấn đề xóa án đã được quy định khi Bộ luật hình sự đầu tiên của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành, tuy đây là lần đầu tiên vấn đề xóa
án được pháp điển hóa nhưng những quy định về việc xóa án rất cụ thể, rõ ràng, chặt
chẽ Xóa án là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự thể hiện được nguyên
tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa Đây thật sự là bước ngoặc lớn trong quá trình lập pháp
của nước ta
1.3.4 Chế định xóa án thời kỳ từ năm 1999 đến nay
Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời các quy định của Bộ luật hình sự nói chung và
các quy định của chế định xóa án tích nói riêng được hoàn thiện hơn so với Bộ luật hình
sự năm 1985 về tên gọi đã thay đổi từ thuật ngữ “xóa án” sang thuật ngữ “xóa án tích”
Trước đây xóa án tích nằm chung với quy định “Việc quyết định hình phạt, miễn và giảm
hình phạt” thì nay đã tách thành một chương riêng độc lập cho thấy sự quan trọng của chế
định xóa án tích trong việc lập pháp cũng như thực tiễn
Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn giữ nguyên bốn trường hợp xóa án tích: đương
nhiên được xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trong trường
hợp đặc biệt, xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên các quy định
đã có sự mở rộng về phạm vi, mức độ, thời hạn cũng như đối tượng áp dụng các trường
hợp xóa án tích
Đồng thời Bộ luật hình sự năm 1999 đã rút ngắn thời hạn xóa án tích Bộ luật hình
sự năm 1985 quy định thời hạn xóa án trong trường hợp bị phạt tù nhưng được hưởng án
treo và những người bị cảnh cáo, phạt tiền, cảo tạo không giam giữ thì thời hạn xóa án là
ba năm nhưng Bộ luật hình sự năm 1999 thời hạn chỉ còn một năm đối với các trường
hợp trên Còn thời hạn trong trường hợp xóa án tích trong trường hợp đặc biệt trước đây
quy định “đảm bảo ít nhất một phần ba đến một phần hai thời hạn thì nay chỉ còn “đảm
bảo ít nhất một phần ba thời hạn”
Cách tính thời hạn xóa án tích Bộ luật hình sự năm 1999 kế thừa quy định của Bộ
luật hình sự năm 1985
Năm 2009 Bộ luật hình sự được sửa đổi bổ sung Tuy nhiên, chế định xóa án tích
không có sự thay đổi đáng kể
Như vậy lần pháp điển thứ hai này, chế định xóa án tích đã được hoàn thiện hơn
cho thấy sự nâng cao kỹ thuật lập pháp của Quốc hội
Trang 261.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu chế định xóa án tích
Xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam, để khuyến khích
những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và quyết tâm cải tạo để trở thành
người lương thiện Bộ luật hình sự đã quy định chế định xóa án tích Đây là chế định mới
được quy định trong Bộ luật hình sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với người bị kết án khi
xóa án tích về mặt lý lịch tư pháp ghi “chưa can án” hoặc “không có tiền án” Người
được xóa án tích sẽ được khôi phục một số quyền công dân như xuất nhập cảnh, quyền
đứng đầu quản lý doanh nghiệp…
Ngoài ra, chế định xóa án tích trong luật hình sự không chỉ là một trong các chế
định góp phần đảm bảo cho việc thực hiện nhất quán nguyên tắc công bằng xã hội, mà
còn phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, nhất là khi trách nhiệm hình sự của
người bị kết án đã hoàn toàn chấm dứt một khi người đó đã được xóa án tích và hoàn
lương Vì pháp luật cần thiết phải quy định các chế định nghiêm trị và răn đe người phạm
tội, xã hội sẽ không phát triển nếu thiếu tính nhân đạo, xã hội muốn có công bằng và
nhân đạo phải là xã hội có một hệ thống pháp luật vì con người, xã hội không thể ổn định
và phát triển nếu pháp luật không vì con người nhưng pháp luật lại không cho người
phạm tội hoàn lương thì vô hình chung pháp luật đã phản tác dụng, … buộc người tội
phạm tái phạm và tạo thêm gánh nặng cho xã hội mà trong gánh nặng này chứa sự căm
hờn và có thể dẫn đến việc thực hiện hành vi nguy hiểm hơn trước rất nhiều
Kể từ khi pháp điển hóa lần thứ nhất pháp luật hình sự Việt Nam với việc thông
qua Bộ luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên nhà nước ta đã chính thức ghi nhận về mặt lập
pháp các quy phạm về chế định xóa án không phải là một chế định độc lập của phần
chung Bộ luật hình sự và sau đó, trong lần pháp điển thứ hai với việc thông qua Bộ luật
hình sự năm 1999 nhà làm luật Việt Nam đã sửa đổi bổ sung và điều chỉnh lại cho hoàn
thiện hơn với chế định xóa án tích là một chế định độc lập trong Bộ luật hình sự
Tòa án áp dụng đúng đắn và chính xác trong thực tiễn các quy phạm của chế định
xóa án tích thì sẽ đưa đến một loạt lợi ích xã hội, không chỉ hỗ trợ cho sự tăng cường
pháp chế và cũng cố trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của con người
trong lĩnh vực tư pháp hình sự và còn năng cao uy tín của Tòa án nói riêng và hiệu quả
của bộ máy Nhà nước nói chung trước dư luận xã hội và làm tăng thêm lòng tin của tầng
lớp nhân dân vào tính công minh và sức mạnh của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền
Trang 28CHƯƠNG 2 CHẾ ĐỊNH XÓA ÁN TÍCH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Bộ luật Hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999, có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/7/2000 vừa qua ngày 19 tháng 6 năm 2009, tại kỳ hợp thứ 5, Quốc
hội khoá XII đã xem xét và thông qua toàn văn dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật hình sự Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự đã được Chủ
tịch nước ký Lệnh công bố ngày 29 tháng 6 năm 2009 (Lệnh số 13/2009/L - CTN) và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 trong đó chế định xóa án tích nằm trong
phần chung Chương IX từ Điều 63 đến Điều 67 Như vậy, so với bộ luật năm 1985 có
một số khác biệt về tên gọi cũng như vị trí cụ thể là: Về tên gọi Bộ luật năm 1985 gọi là
“xóa án” còn Bộ luật năm 1999 gọi là “xóa án tích” với tên gọi như thế có ý nghĩa rất
quan trọng trong thực tiễn Bởi vì, xóa án tích là xóa đi “vết tích” đã từng bị kết án của
người đã từng phạm tội chứ không phải xóa đi bản án mà Tòa án đã tuyên đối với người
phạm tội Như vậy, việc thay thế và dùng thuật ngữ “xóa án tích” là rất hợp lý Còn về vị
trí chế định xóa án trong Bộ luật hình sự 1985 chưa được quy định thành một chương
riêng mà được quy định chung cho cùng Chương VI với “quyết định miễn hình phạt,
miễn và giảm hình phạt”, trong khi đó Bộ luật hình sự 1999 lại được quy định thành
chương riêng
Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn giữ nguyên bốn trường hợp xóa án tích đó là: đương
nhiên được xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trong trường
hợp đặc biệt, xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội, nhưng so với Bộ luật
hình sự năm 1985 thì phạm vi, đối tượng cũng như về thời hạn được mỡ rộng hơn Điều
53 Bộ luật hình sự năm 1985 về đương nhiên được xóa án tích được quy định tại Điều 64
Bộ luật hình sự năm 1999 cho thấy các tội không phải thuộc Chương XI “Các tội xâm
phạm an ninh quốc gia”, Chương XXIV “Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và
phá hoại chiến tranh” điều được đương nhiên xóa án tích Những trường hợp phạm tội ở
Chương XI và Chương XXIV Bộ luật hình sự năm 1999 sẽ được xóa án tích theo quyết
định của Tòa án Không như trường hợp đương nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết
định của Tòa án ngoài việc đủ điều kiện và thủ tục để xóa án tích mà Tòa án còn phải
xem xét nhân thân của người phạm tội bởi tính chất nguy hiểm cao mà tội phạm đã thực
hiện đối với xã hội Như vậy, việc người bị kết án được xóa án tích tùy theo trường hợp
Trang 29nào phụ thuộc vào loại tội phạm mà họ đã thực hiện mà không thụ thuộc vào mức hình
phạt mà họ gánh chịu Còn quy định về thời hạn xóa án tích Bộ luật hình sự năm 1999 đã
rút ngắn thời hạn xóa án tích Theo quy định Bộ luật hình sự năm 1985, đối với người bị
phạt tù nhưng được hưởng án treo phải sau ba năm kể từ ngày hết thời hạn thử thách mới
được xóa án còn đối với Bộ luật hình sự năm 1999 thì thời hạn trong trường hợp nói trên
thì chỉ còn một năm Thời hạn một năm cũng được áp dụng để xóa án tích đối với trường
hợp phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữa thay cho quy định cũ là ba năm
Thời hạn để xóa án tích trong trường hợp xóa án tích trong trường hợp đặc biệt cũng
được rút ngắn xuống từ một phần hai còn một phần ba thời hạn quy định
Điều này cho thấy rằng sự quan trọng của chế định xóa án tích vì chế định xóa án
tích thể hiện được một trong những nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam, cũng như kỹ
năng lập pháp của nước ta có sự tiến bộ rõ rệt
Theo quy định tại Điều 63 “Người bị kết án được xóa án tích theo quy định tại các
Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và
được Tòa án cấp giấy chứng nhận”
Quy định tại Điều 63 Bộ luật hình sự năm 1999 thì cơ sở pháp lý của việc xóa án
tích là những quy định từ Điều 64 đến Điều 66 của Bộ luật hình sự năm 1999 Như vậy
xoá án tích là việc người bị kết án sau khi chấp hành xong bản án, mà không phạm tội
mới trong một thời hạn quy định tại các Điều 64, Điều 65 và Điều 66 Bộ luật hình sự
1999, thì được coi là chưa bị kết án Mặc khác tại Điều 63 cũng chỉ rõ hậu quả của việc
xóa án tích, đó là người được xóa án tích coi như chưa bị kết án Thời hạn để tính việc
được xoá án tích dài hay ngắn là phụ thuộc hình phạt chính trong bản án hình sự, cơ sở để
xem xét xóa án tích cho người bị kết án là các quy định từ Điều 64 đến Điều 66, đồng
thời tại Điều 63 cụ thể hóa cho khoản 5 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999 “Người đã chấp
hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện hòa nhập với cộng
đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích”
Bộ luật hình sự năm 1999 đã dùng từ “kết án” thay thế cho từ “can án” trong Bộ
luật hình sự năm 1985, bởi dùng từ kết án dể hiểu và mang tính chất thuần Việt hơn so
với từ can án Theo đó “kết án” là một sự kiện pháp lý trong đó Tòa án không chỉ buộc
tội người phạm tội bằng bản án hình sự có hiệu lực pháp luật mà còn áp dụng hình phạt
đối với người phạm tội Như vậy, kết án là một sự kiện khách quan không thể xóa bỏ
được Đây chính là lý do tại sao ở chương IX Bộ luật hình sự năm 1999 không dùng thuật
ngữ “xóa án” mà thay bằng thuật ngữ “xóa án tích” với hàm ý vốn dĩ đã tồn tại chỉ có thể
xóa được “vết tích” của án đó
Trang 30Như vậy, Điều 63 chỉ rõ hậu quả của việc xóa án tích đó là người được xóa án tích
coi như chưa bị kết án Vì vậy, sau khi được cấp giấy chứng nhận hoặc Tòa án ra quyết
định xóa án tích thì mọi giấy tờ về lý tịch tư pháp phải ghi nhận “chưa can án” hoặc “tiền
án: không” “Người được xóa án tích coi chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng
nhận” Như vậy, khi một người được xóa án tích thì họ sẽ được cấp giấy chứng nhận về
việc đã xóa án tích Trong trường hợp đương nhiên xóa án tích, trên thực tế có một số
trường hợp không cần xin Tòa án Giấy chứng nhận nhưng theo quy định như trên họ phải
đến Tòa án xin giấy chứng nhận điều này không hợp lý và gây khó cho Tòa án phải
hướng dẫn và giải tích cho người bị kết án hiểu Còn trong xóa án tích theo quyết định
của Tòa án thì Tòa án không cấp giấy chứng nhận mà là ra quyết định khi người bị kết án
đã đủ các điều kiện và thủ tục Từ nền tảng của Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình
sự năm 1999 đã kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về việc xóa án
tích có các hình thức như sau: đương nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định Tòa
án, xóa án tích trong trường hợp đặc biệt, xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm
tội
2.1 Đương nhiên xóa án tích
Theo quy định tại Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999, những người sau đây sẽ
đương nhiên được xóa án tích:
“Những người sau đây đương nhiên được xóa án tích:
1 Người được miễn hình phạt
2 Người bị kết án không phải về các tội quy định tại chương XI và chương XXIV
của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản
án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ
hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) Ba năm trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;
c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;
d) Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù trên mười lăm năm”
Đương nhiên được xóa án tích là trường hợp người bị kết án mặc nhiên được coi
là chưa can án mà không cần có sự xem xét, quyết định của Tòa án Chỉ cần người bị kết
án đáp ứng đầy đủ điều kiện do luật định và có yêu cầu xin cấp giấy chứng nhận xóa án
tích thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ có trách nhiệm xác minh điều kiện và cấp giấy
Trang 31chứng nhận xóa án tích Vì thế, việc cấp giấy chứng nhận Tòa án sẽ không cấp cho những
người không có yêu cầu xin cấp
Như vậy, ưu điểm của đương nhiên xóa án tích so với xóa án tích theo quyết định
của Tòa án là người bị kết án trách những thủ tục pháp lý phức tạp mà người được xóa án
tích theo quyết định của Tòa án phải làm như: xin các giấy tờ chứng nhận kèm theo gửi
tới Tòa án có thẩm quyền và phải chờ phán quyết của Tòa án mới được coi là chưa can
án
Theo quy định tại Điều 64 trên đây thì chế định đương nhiên xóa án tích chỉ áp
dụng đối với hai nhóm người: người được miễn hình phạt và người bị kết án không phải
về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật hình sự năm 1999 Tuy
nhiên muốn đương nhiên được xóa án tích cần phải có những điều và thủ tục cần thiết
2.1.1 Điều kiện để xóa án tích
- Người được miễn hình phạt
Quy định tại khoản 1 Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999, thì người được miễn hình
phạt sẽ đương nhiên được xóa án tích Theo Điều 54 Bộ luật hình sự “Người phạm tội có
thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định
tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến
mức được miễn trách nhiệm hình sự”
Việc quy định người được miễn hình phạt sẽ đương nhiên được xóa án tích, điều
này là phù hợp cả về mặt lý luận chung như thực tiễn Người được miễn hình phạt sẽ
được coi như chưa bị kết án vào thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật mà không trải qua
một thời hạn thử thách nào Như vậy vấn đề án tích không có ý nghĩa gì vì hậu quả pháp
lý không tồn tại Mặc dù trường hợp người được miễn hình phạt bị đưa ra hội đồng xét xử
nhưng về nguyên tắc người được miễn hình phạt sẽ đương nhiên được xóa án tích sau khi
Tòa án đã miễn hình phạt Người được miễn hình phạt vẫn là tội phạm vẫn phải chịu
trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình nhưng được khoan hồng được biệt nên
họ không phải chịu hình phạt không phải chịu án tích, án tích chỉ đặt ra cho những người
phạm tội và chịu hình phạt Nên trong trường hợp người được miễn hình phạt miễn hình
phạt sẽ đương nhiên được xóa án tích khi có quyết định miễn hình phạt của Tòa án
Người được miễn hình phạt được xóa án tích ngay khi sau khi có bản án có hiệu
lực pháp luật nhưng phải thi hành những quyết định của còn lại của Tòa án như: án phí,
bồi thường thiệt hại… thì khi đã chấp hành xong quyết định đó mới có thể đương nhiên
xóa án tích