Tổng hợp các loại mạch bình thường và bệnh lý cho các thầy thuốc y học cổ truyền.Các loại mạch được viết theo thể thơ lục bát truyền thống của Việt Nam nên rất dễ thuộc, dễ nhớ.Đây là những bài thơ gối đầu của các lương y
Trang 1CỔ MẠCH QUỐC ÂM DIỄN CA
Lư San Mạch Quốc Âm Diễn Ca & chú giải
Trong bộ “ Quế Sơn Y Học Yếu Chỉ ” của Đốc học Hoa xuyên Hầu NGUYỄN GIA CÁT (học trò của Võ Trường Toản, bạn của Lê Quang Định) biên soạn để huấn luyện cho lương y
ở Đàng Trong vào khoảng cuối TK 18, có chép tay bộ “Cổ mạch Quốc âm diễn ca” bằng Hán Nôm Một số sách về y học của Triều Nguyễn cũng có chép bộ mạch này và có nhiều thế hệ y gia Việt Nam rất tâm đắc, trong đó có Nguyễn Đình Chiểu Danh y Đỗ Phong Thuần đã dịch ra Việt Ngữ in trong “Việt Nam Y Học thực nghiệm”, xuất bản 1956
tại Sài Gòn.
Tất cả đều chưa có chú giải, nên việc tìm hiểu bộ mạch độc đáo này còn rất nhiều khó
khăn.
Nay tôi xin dịch lại và chú giải, nhằm phổ biến đến Qúy vị đồng nghiệp, một bông hoa
đẹp của nền Y học Việt Nam.
A/ TRẠNG THÁI CÁC MẠCH:
Hoa xuân đua nở ngoài hiên,
Vui bề nhân thuật, say miền Nho Y.
Trải xem cương mục chữ thi [1]
Đặt vần quốc ngữ nôm na tỏ bày.
Trước là ghi nhớ lấy hay,
Sau là nhủ bảo tỏ bày con em.
Khuyên ai có chí thì xem,
Hai mươi bảy mạch, vậy bằng kể ra.
Mạch Phù nổi ở ngoài da.
Dường như gió thổi lông nga nhẹ nhàng [2].
Mạch Trầm nhục lý thâm tàng.
Nặng tay mới thấy rõ ràng chẳng sai [3]
Mạch Trì đỏng đảnh khoan thai.
Một hơi ba đến chẳng sai đâu là [4].
Mạch Sác hô hấp đều ba.
Một hơi sáu đến, vốn là đinh ninh [5].
Mạch Hoạt lưu lợi phân minh.
Dưới tay lúc nhúc dạng hình như châu [6].
Mạch Khẩn mau gấp tương nhùng Như thằng, như sách chuyển hồng lại qua [14] ,
Mạch Hoãn ứng chỉ khoan hòa.
Một hơi bốn chí, thật là thung dung [15]
Mạch Khâu, ngoài có trong không Khác gì hành lá, không trong có ngoài [16]
Huyền như lôi thẳng dây dài.
Như dây cung cứng, như dây sắc cầm [17]
Mạch Cách dưới tay lâm râm.
Trang 2Mạch Trường bổn vị qua lâu.
Như sào gốc ngọn, tề nhau một loài [10].
Mạch Động, dũng xuất bôn ba Như hạt đậu lớn, chẩn hòa ở quan [25]
Mạch Xúc, bằng suy lại khoan Sác nhi nhứt chỉ, hiệp tan khôn lường [26]
Mạch Kết, lai khứ vô thường Hưỡn nhi nhứt chỉ, tỏ tường đinh ninh [27]
Mạch Đại (Đợi) chỉ tán phân minh Trước sao sau vậy, xem hình chẳng sai [28]
Ta nay mách bảo ai ai.
Hai mươi bảy mạch, các loài khác nhau.
B/ CÁC MẠCH CHỦ BỆNH:
Ấy là thể trạng định ra.
Lại xem chủ bệnh, lược ra mọi đường.
Mạch Phù hỏa vượng chủ dương.
Với loài khí thoát huyết vong phong hàn [29] ,
Mạch Sác nhiệt thạnh sung dương.
Sác mà vô lực, tỏ tường Dương hư [32]
Mạch Hoãn thịnh vệ suy vinh Lâu bệnh thì lành, bệnh mới ắt hư [42]
Mạch Khâu huyết thoát, huyết hư Trên thì thổ huyết, dưới như băng hồng [43]
Mạch Huyền đàm ẩm chứa trong Thổ suy, mộc vượng khá hiềm sán đông [44]
Mạch Cách tinh huyết đều vong.
Nữ thì băng đái, trai phòng mộng di [45]
Mạch Lao lý thực hữu dư.
Khí ngưng hỏa uất, tán trừ rất hay [46] Mạch Nhu bởi tại thấp truyền Tủy hải đơn điền, hỏa án suy vi [47]
Trang 3Mạch Hoạt đàm ẩm có dư.
Cùng là thực tích, kiêm chư nhâm thần [33]
Mạch Sắc tinh huyết bệnh nhân.
Hư hao ửng bế, thân hình khô khan [34]
Mạch Hư nguyên khí hư hao.
Một là thương thử, một vào loại hư [35]
Phù là huyết sáp, Trầm rằng trướng đông [38]
Mạch Hồng dương thạnh âm vong,
Tư âm giáng hỏa hoặc dùng phát dương [39]
Mạch Vi khí huyết đều thương.
Nam thường lao bịnh, nữ thường đái
Mạch Xúc đa nhiệt thiểu hàn, Bệnh thời suyễn khái cuồng ban đã đành [53]
Mạch Kết khí uất, huyết ngưng Tích tụ hà trừng, trên dưới chẳng thông [54]
Mạch Đợi (đại) một tạng đã vong Dẫu Ông Biển Thước khôn hòng cứu cho [55]
Mấy lời thốt đặng tình thô.
Bệnh nào mạch nấy luận cho tỏ tường.
Ví dầu trí tuệ khôn lường.
Trăm suy ngàn tưởng mấy đường cũng nên
C/ MẠCH THUẬN NGHỊCH:
Lại xem bệnh nhiệt mạch hàn.
Bệnh hàn mạch nhiệt, phản thường mới
nguy [56]
Với người hình thạnh mạch suy.
Hình suy mạch thạnh, ắt thì chẳng nên [57]
Bệnh dưới, mạch thạnh ở trên.
Bệnh trên mạch dưới phép bèn bảo cho.
Trên thạnh: Làm giáng làm thâu [58]
Còn như bệnh ở bên ngoài.
Mạch thì tại nội chớ hoài giáng thâu [63] Phép dương ôn tán, thăng phù Trước là phò chính, sau khu dâm ta [64] Bệnh ngoài, mạch ngoài ở da,
Ấy là ngoại cảm thì ta khu trư [65] , Bệnh nội, mạch nội bây chừ.
Nội thương bệnh ấy bổ hư làm đầu [66]
Bộ Thốn riêng có chớ âu, Phép dương cho ói, mới hầu được yên [67]
Bộ Xích riêng có liên miên.
Trang 4Dưới thạnh: Thăng cử, hiệu thâu tức thì [59]
Bệnh trong mạch nổi ngoài bì.
Bệnh ngoài mạch nội, phép thì càng xinh [60]
Bệnh trong ôn tạng, ôn kinh.
Thiếu gia thâu liễm, Vệ Vinh điều hòa [61]
Mạch bèn chẳng có Phù ra.
Ấy là phép tả, ắt hòa được thay [62] ,
Là hư căn bổn, phép nên phò trì, [68]
Lão nhược, mạch Nhược phải thì Trai trẻ mạch mạnh, ấy là trường sanh Con trai Thốn thạnh là bình.
Con gái Xích thạnh, huyền xinh như là.
D/ MẠCH TIỂU NHI:
Này mạch con trẻ kể ra.
Tám, chín chí nóng, năm là lạnh thay.
Ba bộ xem một ngón tay.
Thốn, Quan cùng Xích đều bày ở trong.
Tiểu nhi khí huyết chưa sung.
Mạch là đại khái, xét cùng Tam quan [69]
Nam tả, nữ hữu sẽ toan.
Xem nơi hổ khẩu chỉ tay rõ ràng Ngón trỏ trong mỗi bàn tay.
Phong quan ở dưới, giữa là Khí quan Ngón trên chót gọi Mạng quan.
Xem chỉ cho rõ: Đỏ, đen, xanh, hồng Xanh là thiệt chứng cảm phong.
Đỏ sậm là nhiệt, lợt hồng là hư.
Chỉ chạy áp móng rất nguy.
Mười đứa cứu một hoặc thì cũng không.
E/ MẠCH NỮ NHI & THAI NGHÉN:
Thai mạch Trầm, Hoạt kèm Hồng.
Tả lớn hơn hữu, sổ lòng con trai.
Hữu lớn hơn tả, nữ thai.
Tả hữu đều lớn, song thai rõ ràng.
Thiên vạn sản hậu chẳng nên Phù Hồng.
Ví dầu Phù Đại mà không.
Tán huyết gia vị xuyên khung.
Hồng hoa, Ngưu tất chớ dùng làm chi Con gái mạch Sắc tường trị.
Huyết khô, huyết ít, ắt thì mất kinh.
Có kinh đau bụng, đau lưng.
Huyết thì đen xấu, trong mình chẳng yên.
Có thai, thai cũng chẳng nên.
Có chồng, chồng cũng ghen tương chẳng hòa.
Thốn Hồng, tán loạn càng gìa.
Một là dâm đảng, một là dương can [70]
Bộ Xích Trầm Hoạt mới nên.
Hai tay mạch Huyền, can khí có dư Tức hông xót ruột ợ chua.
Tánh thường hay giận, hay lo trăm đường.
Vì chứng bệnh ở nhị dương.
Trong kinh đã dạy, bởi thương Tâm Tỳ.
Nữ nhi nào khác nam nhi.
Khác vì thai sản, với kỳ nguyệt
Ta nay thô thiển ý tình, Nôm na Quốc ngữ, đặt thành một thiên./.
Trang 5Bổ âm, bổ huyết cư trung mà dùng.
[1] Xem xét những phần quan trọng viết về
mạch lý trong sách y học, để làm thơ bằng
quốc ngữ.
[2] Mạch Phù: Phù là nổi lên trên Mạch nổi,
nhẹ như lông ngổng, ấn tay xuống thấy sức
[6] Mạch Hoạt: Mạch đi lanh lẹ, trơn tru như
hạt châu lăn trên mâm (Hoạt là trơn tru).
[7] Mạch Sắc còn gọi Sáp Mạch nhỏ mà chậm,
đi lại khó khăn, mạch nhảy khi năm khi ba,
không đều, xem xét khó khăn (Sắc là rít)
[8] Mạch Hư: Hư là trống rỗng An tay xuống
không thấy gì, nâng tay lên thấy mạch chậm,
lớn, vô lực, xem không rõ ràng.
[9] Mạch Thực: Ấn tay xuống, nâng tay lên
đều có sức (Thực là đầy đủ)
[10] Mạch Trường: Mạch có sức, lớn, dài,
thân mạch tràn qua vị trí của nó Thấy rõ đầu
mạch, đuôi mạch (Trường là dài)
[11] Mạch Đoãn: Đoãn là ngắn, không thấy
[37] Mạch Trường: Chủ dương khí thịnh Da dày xót, lưởi khô, là bệnh thế đang tăng.
[38] Mạch Đoãn: Khí uất tắc, thương tổn, hư suy Đoãn đi phù là huyết trệ Đoãn đi trầm
thì bụng trướng, đau.
[39] Mạch Hồng: Nhiệt thịnh, dương thạnh
âm vong Phép chữa phải tư âm giáng hỏa
hay thăng dương tán hỏa.
[40] Mạch Vi: Chủ âm huyết, dương khí đều
hư, lao sái, băng huyết.
[41] Mạch Khẩn: Chứng hàn bế, chứng đau Phù khẩn tà khí ở biểu thì phát tán Trầm khẩn: bụng dưới bi hàn bế, phải ôn ấm kinh
huyết.
[42] Mạch Hoãn: Hoãn mà hoạt đại là biểu thực, Vinh khí bất túc, vệ khí hữu dư, cảm phong hàn Hoãn mà Trầm là khí huyết kém, thấp trệ Đau lâu mà có mạch hoãn thì bệnh sắp lành, Chủ chứng thấp và ty hư.
[43] Mạch Khâu: Chủ huyết hư, mất máu, huyết bị thương tổn như thổ huyết, làm
băng
[44] Mạch Huyền: Chủ chứng Can mộc vượng,
tỳ thổ suy sinh đàm ẩm, co rút Coi chừng có
sán khí, đau nhức.
[45] Mạch Cách: Tinh huyết hư tổn, Gái thì băng huyết, con trai di tinh, mộng tinh [46] Mạch Lao: Chứng hàn thực, khí đầy xốc,
sán khí, hàn tà phạm tỳ vị.
Trang 6được đầy đủ ở toàn bộ vị trí Mạch Đoãn rõ
ràng hơn mạch Vi
[12] Mạch Hồng: Mạch nổi đầy dưới tay.
Mạch đến cuồn cuộn như làn sóng, khi đến
thì mạnh, khi đi kém dần, như nước sôi.
[13] Mạch Vi: Mạch không có sức, rất nhỏ,
mềm, như có như không Lờ mờ không rõ
ràng (Vi là nhỏ).
[14] Mạch Khẩn: Chạm tay vào thấy dáng
khẩn trương, có sức, như hình vặn dây
thừng (khẩn là gấp)
[15] Mạch Hoãn: Mạch đến 4 lần, khoan thai,
hòa hoãn (Hoãn la từ từ)
[16] Mạch Khâu: Mạch nổi lớn nhưng rỗng,
như ấn vào cộng hành.
[17] Mạch Huyền: Mạch căng thẳng, mà dài,
như dây cung, như dây đờn.
[18] Mạch Cách: Mạch nổi lớn, hơi nhanh,
cứng rắn trên bề mặt, nhưng rỗng ở bên
trong, như sờ vào da trống (Cách là da
trống).
[19] Mạch Lao: Ấn nặng tay xuống thấy mạch
mạnh, lớn, căng, dài Mạch chìm mà rắn (Lao
là vững bền)
[20] Mạch Nhu: Mạch nổi mà rất mềm, rỗng,
nhỏ Như lụa ngâm trong nước Nhẹ tay mới
thấy, nhưng rõ ràng hơn mạch Vi.(Nhu là
[50] Mạch Tế: Chủ khí huyết hư Người gìa có mạch này thì hợp Chủ nhiệt kết và lý hư Người bị thổ huyết, ho ra máu có mạch này
thì hợp.
[51] Mạch Phục: Chứng hàn khí bế tụ, chứng quyết nghịch, bụng dưới đau dử do thực tích, dương suy Bạo bịnh (bịnh thình lình) mà mạch Phục do độc bệnh tích tụ, đàm ẩm không thông, nếu cho Thổ hay Hạ sẽ khỏi.
[52] Mạch Động: Khí huyết găng thịnh, có đau đớn, kinh sợ Hư lao, băng huyết.
[53] Mạch Xúc: Chủ dương tà bị hảm bên trong, Mạch Xúc có lực là suyễn, đàm ẩm, khí
[58] Thượng thực hạ hư sinh ho, suyễn, tức
ngực phải liễm giáng khí.
Trang 7không rõ ràng như hoa rơi (Tán là tan ra).
[23] Mạch Tế: Ấn tay xuống, thấy mạch rõ,
mềm, nhỏ, như tóc, như tơ, đi sát gân
[27] Mạch Kết: Mạch đi chậm, hòa hoãn, có
lúc ngừng, nhưng ngừng không theo một số
Khẩn) là Dương chứng, Biểu chứng Phù vô
lực (Hư, Nhu, Tán, Vi) là phong, là âm hư, là
thiếu máu
[30] Mạch Trầm có lực: Chủ lý thực Thực
chứng thì nóng dử dội, nhiệt triều, hôn mê,
phiền táo, khát nước Trầm thực (Lao) phải
hạ.Trầm khẩn là hàn tà bao bó Trầm sác là
thấp nhiệt Trầm vô lực (Vi, Tế, Nhược) là lý
hư, phải dùng ôn bổ bằng Sâm, phụ, càn
cương.
[31] Mạch Trì: Chủ hư hàn, có đau Bệnh ở
tạng Phù Trì là biểu hàn; Trầm Trì là lý hàn.
Trầm Trì quá là âm thoát dương cô.
[59] Thượng hư hạ thực sinh SA TRỰC TRÀNG, TRĨ, SA DẠ CON, KIẾT LỴ …phải thăng
đề thanh khí: Như Bổ trung, Sài cát giải
cơ,Thăng ma cát căn…
[60] Bệnh nội thương mà có mạch ngoại cảm (Phù, Đại, Hoat, Sác) hay bệnh ngoại cảm lục dậm, ôn bệnh mà mạch đi của nội thương (Trầm, Tiểu, Sắc, Trì), đều là bệnh khó trị, phép chữa phải hay mới được.
[61] Bệnh nội thương ở tạng, ở kinh, phải hoà giải thiếu dương,hay dùng phép thâu, liễm
để điều hoà khí huyết.
[62] Bệnh ngoại cảm nhưng tà khí đã bị liễm vào trong, mạch trầm hữu lực của Dương minh chứng, không phải nội thương, phải
dùng tả hạ.
[63]Bệnh ngoại cảm, lục dâm đã liễm vào bên trong, hay ôn bệnh mới mắc, mạch Trầm hữu lực, nên dùng phép hòa giải, không được làm giáng thâu,tà sẽ bị bế, không giải được.
[64] Ôn tán: Tân ôn giải biểu Thăng phù: đưa dương khí đi lên Đầu tiên là bổ chính khí, rồi
sau mới trừ tà khí.
[65] Ngoại cảm biểu chứng, có mạch: Phù,
Đại, Hoạt, Sác Phải trừ tà
[66] Bệnh nội thương, có mạch Trầm, Tiểu,
Sắc, Trì Phải bổ hư.
[67] Bộ thốn có mạch mà bộ xích không có mạch là chứng bụng đày do thương thực hay đàm uất, phải cho thổ (ói) ngay.
[68] Chỉ bộ xích có mạch là nguyên khí hư suy,
phải bổ nguyên dương.
[69] Tam quan: Phong quan, khí quan, mạng
quan.
Trang 8[32] Mạch Sác: Chủ chứng nhiệt, là táo, là
dương, là bệnh thuộc phủ Sác vô lực là
dương hư Nội Kinh nói "Phú sác lắm, càng
hư lắm”.
[33] Hoạt: Huyết nhiều mà khí ít Bệnh thuộc
thực Mạch hoạt nói lên đàm ở hệ thống hô
hấp hay chứng thực tích ở hệ tiêu hoá Phụ
nữ mất kinh mà có mạch hoạt là có thai.
(Kiêm chư nhâm thần: Coi chừng có thai}.
[34] Mạch Sắc: Chủ huyết hư, tinh huyết bị
thương tổn, thiếu máu, người gầy, suy
nhược; cũng chủ hàn thấp Trầm Sắc là huyết
ứ.
[35] Mạch Hư : Chứng khí huyết đều hư, kinh
sợ Phù Hư là thương thử Hư Sác là âm hư.
Hư Trì là dương hư.
[36] Mạch thực: Chủ thực nhiệt Nếu tả nhiệt
mà nhiệt không lui, phải nghỉ do âm hư.
Nhiệt làm thương âm.
[70] Dương can: Can khí xung thịnh.
[*] Nhị dương: Theo thuyết vận khí trong Nội Kinh thì Thiếu dương là nhứt dương; Dương minh là nhị dương; Thái dương là tam dương Quyết âm là nhứt âm; Thiếu âm là
nhị âm; Thái âm là tam âm.
Lương y Trần Sỹ dịch thuật và Chú giải.
Tìm hiểu bộ mạch qúy : LƯ SAN MẠCH PHÚ & chú giải
XUẤT XỨ LƯ SAN MẠCH:
Năm 1890, Bùi Thúc Trinh (Bùi Văn Trung - Hải
Hậu - Nam Định) có chép tay, sao lại cuốn "VỆ
SINH CHỈ YẾU" của Trần Văn Mô (Phú Xuyên- Hà
Tây), lấy tên là "VỆ SINH YẾU CHỈ", trong đó có bộ
"LƯ SAN MẠCH" Nhưng cuốn "Vệ Sinh chỉ yếu"
này Trần văn Mô sao lại năm 1805 từ cuốn "VỆ
SINH MẠCH QUYẾT" của Hồng Cẩm Cư sĩ, Họ Bùi
ở Sơn Nam sưu tầm năm 1782 Tương truyền
sách này là của nhà sư Minh Không viết năm 1136
(Nguyễn Chí Thành, ở Gia Viễn, làm Quốc sư thời
Lý Thần Tông).
Chúng tôi đã tra cứu trong Bộ “Tứ khố toàn thư
và Y Tông Kim Giám” là hai bộ Đại Tự Điển tổng
kết Y học của Trung Quốc từ xưa đến cuối đời nhà Thanh, không thấy nhắc đến bộ mạch này Lúc đầu, tôi nghỉ nó được nhà sư Minh Không trước tác khoảng năm 1136, nhà Lý.
Dịp may, khi đọc cuốn “SINH HOẠT CỔ ĐẠI CỦA ĐẠO SĨ TRUNG QUỐC”, do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương vụ ấn quán Bắc Kinh xuất bản
1997 có ghi: “LƯ SAN MẠCH” là của Thôi Gia
Trang 9Năm 1952, con trai của Lương y Đinh Sĩ Trân là
Đinh Thành Song công bố "LƯ SAN MẠCH" bằng
chữ Hán Nôm, gồm: Lư San mạch ca (Có 28 mạch,
nhưng mạch TUYỆT là không có mạch, nên chỉ còn
27 mạch) và Lư San Mạch phú, (thiếu phần “Bát
Yếu biện ngoa), được Lương y Đỗ Phong Thuần
dịch ra quốc âm, đăng trong “Tạp chí Đông Y” tại
Sài Gòn năm 1955 - 1956 do L.y Đỗ Phong Thuần
và L.y Phạm Văn Điều chủ biên Sau đó, Ông Đỗ
Phong Thuần đăng trong sách “Y Học Thực Hành”
năm 1956 và Phạm Văn Điều đăng trong “Đông Y
Dược tạp chí” năm 1957 Ngoài ra, còn có bản
dịch ra thơ Lục bát củà Lương y Nguyễn Văn Bách
và thơ thất ngôn của Nguyễn Phước Thiện (Cần
Đước) năm 1970 Bà Hồng Nguyên đăng lại trong
“Y Học Cổ Truyền thực hành” xuất bản năm 1987
và Lương y Trần Khiết đăng trong “Mạch Học
Lược Giản”, xuất bản 1998.v.v…Nhờ các bản dịch
trên được phổ biến rộng rãi, mà nhiều đời lương
y ở Miền Nam Việt Nam rất tâm đắc với bộ mạch
độc đáo này.
Nhưng mỗi người dịch theo một cách, có một số
sai sót và một số chỗ khó hiểu được dịch lướt
qua; Đến nay, chưa có chú giải và hiệu đính,
khiến những người muốn tìm hiểu về bộ "Lư San
Mạch phú" cũng gặp nhiều khó khăn.
Rất may, gia đình tôi còn lưu giữ được bộ “Quế
Sơn Quốc Âm Y Học Yếu chỉ” 7 quyển, của Đốc
học Hoa Xuyên Hầu Nguyễn Gia Cát biên chép vào
cuối Thế kỷ 18, Đây là bộ sách "Dạy Y học ở Đàng
Trong" có đủ cả Lý, Pháp, Phương, Dược được
viết bằng Hán Nôm, theo thể thơ phú Trong đó
có ghi đầy đủ bộ "Lư San Mạch", Nhân thân phú, Y
thuật phú,
Theo bộ sách này thì Lư San mạch có 3 phần :
- Lư San Mạch ca Đã được lương Đỗ phong
Thuần dịch ra quốc âm.
- Bát Mạch Tổng yếu (Lư San Mạch Phú, cũng
được Lương y Đỗ Phong Thuần dịch).
- Bát yếu biện ngoa (Bàn rộng về 8 mạch thiết
yếu; chưa thấy công bố)
Nghiêm, tự Thuận Hy Gian, đời Hậu Tống, người Cam Túc, Huyện Thiên Thủy Ông Tu theo Đạo Gia lấy hiệu là “Tử Hư Chân Nhân”, Lúc cuối đời Ông
ẩn cư ở núi Lô Sơn (Quảng Châu) để tu hành và đắc đạo “thành Tiên” (khoảng năm 1174-1189).
Cả đời Thôi Gia Nghiêm chỉ trước tác có 1 quyển duy nhất là “LƯ SƠN MẠCH QUYẾT”.
Có điều chúng tôi vẫn chưa thống nhất, là từ đó đến nay hơn 800 năm, không có Danh y của Trung Quốc nào chép lại hay nói đến trong tác phẩm của mình, mà chỉ lưu truyền trong Đạo giáo, thì làm gì
nó còn có thể tồn tại được Hơn nữa Nhà sư Minh Không tức Nguyễn Chí Thành, quốc sư nhà
Lý, cũng sống cùng thời với Thôi Gia Nghiêm, cùng tu đạo Tiên, rất nỗi tiếng, đã từng chữa bớt bệnh điên cuồng và chứng mọc lông dài khắp mình cho Vua Lý Thần Tông năm 1136, bằng phù
phép và cho tắm nước bồ hòn.
Nên việc xác định ai là tác gỉa bộ mạch này là điều
chúng ta nên tiếp tục nghiên cứu.
LƯ SƠN MẠCH là bộ mạch tuy giản dị, nhưng lại rất sâu sắc Ai đọc cũng thấy hay và đều áp dụng được Nhưng hiểu được trọn vẹn thì rất khó khăn Có nhiều ẨN ẢO CỦA LỐI VĂN XƯA nhất là
phần "Lư San Mạch Phú".
Sau mấy mươi năm, vừa học vừa làm, mãi đến khi tôi đọc các tác phẩm nói về Mạch, như: Nan Kinh, Nội Kinh, Hải Thượng, Tuệ Tĩnh, Hoàng Danh Sướng, Hoàng Nguyên Cát, Cảnh Nhạc, Trình Chung Linh, Hoạt Bá Nhân, Lý Đông Viên, Thang Bản Cầu Chân … đem soi rọi lại, mới lần lần hiểu được phần nào ý tứ của bậc "Tiên Y".
Lư San Mạch phú, tuy rất ngắn, nhưng nó đề cập đến mọi khía cạnh của nền y học, như: Phân biệt Mạch "Ngoại cảm - Nội thương, Hư - Thực, Âm Dương giao biến, Tử Sinh; Qủy ma Mạch thuận hay nghịch" đối với người "già trẻ, trai gái, thai nghén, đau lâu hay mới bệnh, thời tiết, khí hậu…" Một số vấn đề quan trọng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lần sau được nâng lên một bước, như :
Vị khí, thời khí, hư thực…
Chúng tôi xin dịch phần "Lư San Mạch phú" theo
Trang 10Theo Thuật Phong Thủy thì “Lư San Mạch” là nơi
hội tụ những tinh hoa của khí thiêng sông núi; nơi
có huyệt Mạch tốt nhất Ở đây có ý nói: "Bộ mạch
này là nơi hội tụ những tinh hoa của phép xem
mạch".
bộ “Quế Sơn Quốc Âm Y Học Yếu Chỉ” và chú giải
theo phương pháp "lấy Kinh chú Kinh".
Phần "Bát yếu biện ngoa" (Bàn rộng về 8 mạch
thiết yếu), Chúng tôi sẽ đề cập sau.
LƯ SƠN MẠCH PHÚ (Bát mạch tổng yếu)
1 * Thưởng văn: Bệnh cơ uẩn ảo, mạch
lý diệu huyền.
2 Tuy Vạn tượng chi phân vân, tu bát
yếu chi dung hội.
3 Phù Trầm dĩ biện kỳ biểu lý Hữu lực vi
thực, vô lực vi hư.
Trì Sác dĩ định kỳ Nhiệt Hàn Dương
tắc Đại hề nhi Âm tắc Tiểu.
4 Sắc lại kê trệ, Tinh thương Huyết
thiểu chi nguyên.
Hoạt chí lưu thông, Khí động Đàm
Lục mạch lai Trầm Tiểu nhi Trì,Trùng
Âm chúng đương Quyết nghịch.
7 Dương bộ kiến Âm mạch chí, Âm thứa
Dương vị tu tri.
Âm bộ kiến Dương mạch lai, Dương
đoạt Âm cung khả thí.
8 Trầm Tiểu Thương Thấp, Sác thị Nhiệt
nhi Trì thị Hàn.
Phù Đại cảm phong, Hoạt nãi Đàm nhi
Sắc nãi Huyết.
9 Hữu Thủ Khí khẩu mạch Đại, nội
thương chân thị căn nguyên.
Tả thủ Nhân nghinh mạch cường,
ngoại cảm bổn kỳ thân thích.
20 Mạch bệnh tương thuận, tương sanh tắc kiết; Mạch bệnh tương phản, tương khắc tắc hung.
21 Trầm Trì cực, xích tồn thốn tuyệt, Âm
cô Dương thoát tử hình.
Phù Sác thậm ngoại hữu nội vô Dương độc Âm vong ác hậu.
22 Xuân Mộc can cường, nghi Hoạt Đại, bất nghi Sắc Tiểu Thu Kim phế thịnh, hợp Tiểu mao bất hợp Đại Hồng.
23 Hạ Hoả ứng Tâm Phù Hồng kiết nhi Trầm Tiểu phi kiết Đông Thủy thuộc Thận Trầm Tiểu lương nhi Hoãn Đại
26 Thượng bất chí Thốn vi Dương tuyệt.
Hạ bất chí xích nhi Âm vong.
27 Tuy Ốc Lậu, Hà Du tử mạch, diệc qúa
Trì qúa Sác chi tôn.
Tước Trác, Dũng Tuyền ác hậu, bổn thậm Hoạt thậm Phù chi loại.
28 Vô thái qúa, vô bất cập, bất Trì bất Sác
thì tồn Vị Khí chi danh.
Một đồng đẳng một hoãn hòa, mạc Phù mạc Trầm, chân đắc bình nhân chi
mạch.
29 Đương biện hữu lực vô lực, tu khán
Trang 1110 Hư tắc Bổ nhi Thực tắc Tả Hàn khả Ôn
nhi Nhiệt khả Lương.
11 Dục tri bệnh thể tử sanh; Tu khán
mạch hình Hư Thực.
12 Nhiệt bệnh kiến Trì Tiểu tắc tử, phát
cuồng sang độc dịệc triệu nghi.
Hàn chứng lai Trầm Sắc tắc sanh, Tả,
lỵ, lậu, băng vô bất dũ.
13 Cửu bệnh Phù Đại tối kỵ, Tân bệnh
Trầm Tiểu vô lương.(nan).
14 Vị sản chi tiền nghi Hoạt Đại, bất nghi
Sắc Tiểu.
Dĩ sản chi hậu, hợp Tiểu Trầm, bất
hợp Đại Phù.
15 Tráng nhân Hoạt Đại vi lương, nhược
Sắc Tiểu mạng trung bất cửu.
Lão nhược Trầm Tiểu tắc kiết, nhược
Đại phù số lý nan trường.
16 Xuân Hạ Dương cường Hoạt Đại kiết,
nhi Trầm Tiểu bất kiết.
Thu Đông Âm thịnh, Trầm Tiểu xương,
nhi Hoạt Đại bất xương.
17 Mạch dữ thời thuận tắc sanh, mạch
dữ thời nghịch tắc tử.
18 Tam quan tuy tuyệt, uất đàm bạo
bệnh diệc năng tô.
Lục mạch tuy đều, hình khô nhục
thoát tử sầu tuyệt.
19 Mạch Đại tắc tà thịnh bệnh tiến Tích
tụ nghi, hư tổn bất nghi.
Mạch Tiểu tắc Khí nhược Dương suy.
Hư tổn lợi nhi tích tụ bất lợi.
33 Dương tuyệt tử ư Xuân Hạ Âm vong
tử tại Thu Đông.
34 Dương tuyệt trú tử Âm tuyệt dạ
vong.
35 Mạch tuy tức chí hòa bình, bất lập căn
nguyên chân nãi chiết.
Chẩn kiến khứ lai Xúc cấp kiên cường,
bổn trụ diệc vô ưu.
36 Lục mạch phân minh song trạng,
lưỡng nhật hoàn vong.
Xích bộ Thăng Gíáng bất đồng, Âm
Dương tương thoát.
37 Phù Đại qúa Sác, độc Dương chi ban Trầm Tiểu qúa Trì, Cô Âm chi biến.
38 Ứng nhi bất ứng, thị ủy chân nguyên Chỉ hạ triền miên, bức Hàn Khí trệ.
Hư Thực thông chi, Tử sanh quán hỉ.
II - LƯ SAN MẠCH PHÚ CHÚ GIẢI
1 Từng nghe: "Bệnh cơ uẩn ảo, Mạch lý 20.