1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn sư PHẠM NGỮ văn điển cố TRONG QUỐC âm THI tập của NGUYỄN TRÃI

90 497 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói về nghệ thuật của tác phẩm chúng ta không thể không nhắc đến tài hoa củaNguyễn Trãi 阮 豸, khi tác giả đã sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật cho tácphẩm để tác phẩm trở thành một t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN

TRẦN THỊ HUỆ 6062112

ĐIỂN CỐ TRONG QUỐC ÂM THI TẬP

CỦA NGUYỄN TRÃI

Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: BÙI THỊ THÚY MINH

Trang 2

1.1.Nguyễn Trãi – cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.1.1 Cuộc đời

1.1.1.1 Thân thế

1.1.1.2 Thời thế và con người

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

1.2 Đôi nét về “Quốc Âm Thi Tập”

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời và tiến trình phát triển nghiên cứu

1.2.2 Những giá trị nổi bật của “Quốc Âm Thi Tập”

2.1.2 Giới thuyết về điển cố

2.2 Vấn đề sử dụng điển cố trong thơ văn trung đại

2.3 Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”

2.3.1 Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”

2.3.1.1 Số lượng sử dụng

Trang 3

2.3.2.1 Vị trí điển cố trong thơ

2.3.2.2 Điển dùng nguyên văn chữ Hán

2.3.2.3 Điển nửa chữ Hán, nửa chữ Nôm

2.3.2.4 Dịch nghĩa điển cố ra chữ Nôm

2.3.2.5 Nét đặc trưng của Nguyễn Trãi trong việc sử dụng điển cố

2.3.3 Ngữ điệu nghệ thuật điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”

CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐIỂN CỐ TRONG “QUỐC

ÂM THI TẬP”

3.1 Tăng cường tính hàm súc cho ngôn từ

3.2 Tăng cường sức thuyết phục cho lập luận

3.3 Tăng cường tính cảm hứng thẩm mỹ ở người tiếp nhận

3.4 Thể hiện sự uyên bác của Nguyễn Trãi

C PHẦN KẾT LUẬN

Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Mục lục

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Văn chương là một phần không thể thiếu trong cuộc sống chúng ta Nó như là mộtmón ăn tinh thần mang lại cho con người nhiều niềm vui và nhiều điều mới lạ Ngay từthuở nhỏ tôi đã rất thích học văn chương vì nó đã cho tôi nhiều niềm vui, thú vị và say

mê nhất là môn văn học Việt Nam Đối với văn học Việt Nam thì lại càng làm chongười đọc hứng thú hơn bởi vì cái hay, cái đẹp của văn chương nước ta dễ đi vào lòngngười và hơn thế nữa còn là sự đóng góp lớn lao của nó vào kho tàng văn chương thếgiới Lịch sử văn chương đã đóng góp không ít tác phẩm vào kho tàng văn học chungcủa nhân loại Mỗi tác phẩm mang một màu sắc khác nhau, mang nét độc đáo riêng, rấtđặc trưng Mỗi tác phẩm là một bông hoa đẹp, một trong những bông hoa rực rỡ nhất

có thể kể đến là tác phẩm thơ Quốc Âm Thi Tập 國 音 詩 集 của Nguyễn Trãi

Tác phẩm là tập hợp những bài thơ được sáng tác bằng chữ Nôm Tác phẩm làmột bản hùng ca sáng chói, đi đầu cho một nền văn học chữ Nôm nước nhà

Nói về nghệ thuật của tác phẩm chúng ta không thể không nhắc đến tài hoa củaNguyễn Trãi 阮 豸, khi tác giả đã sử dụng rất nhiều biện pháp nghệ thuật cho tácphẩm để tác phẩm trở thành một tác phẩm nghệ thuật mang tầm vóc thẩm mỹ bậc nhất.Với những biện pháp nghệ thuật tiêu biểu tác giả đã sử dụng nhiều điển cố, điển tích đểngười đọc cảm nhận được tâm trạng và con người ông trong thời gian tác giả về ở ẩn ởCôn Sơn 崑 山 Hầu hết số lượng bài thơ trong tác phẩm được ông sáng tác vào thờigian này

Trong chương trình trung học phổ thông tôi đã được làm quen và học về tác giảNguyễn Trãi, lên chương trình đại học tôi lại tiếp tục được tìm hiểu sâu hơn về cuộcđời và con người ông, qua đó tôi cảm thấy thật thú vị khi được hiểu rõ về một tác giảvăn chương của nước ta không những trên một phương diện mà ở nhiều góc độ khácnhau Đọc thơ Nguyễn Trãi tôi thấy thật hay, thật sâu sắc ông đã thông qua các biệnpháp nghệ thuật để khắc họa những nét đẹp về con người, thời thế, cảnh vật… và biệnpháp nghệ thuật được tôi thích thú và ấn tượng nhất tôi cần tìm hiểu là nghệ thuật sử

Trang 5

dụng điển cố về thơ chữ Nôm trong Quốc Âm Thi Tập của ông Với việc sử dụng biện

pháp nghệ thuật điển cố, ông đã cho chúng tôi cảm nhận được cái hay, cái đẹp của thơông như thế nào, nên khi được phân công làm luận văn tốt nghiệp tôi đã chọn đề tài

nghiên cứu Điển cố trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi典 故 國 音 詩 集

阮 豸 để nghiên cứu với sự cố gắng lỗ lực hết mình của bản thân Thông qua viêcnghiên cứu, tìm hiểu đề tài này, tôi được học tập, tích lũy và nâng cao kiến thức chomình nhiều hơn

2 Lịch sử vấn đề

Từ những thế kỷ trước và cho đến hiện nay công việc nghiên cứu thơ văn của tácgiả Nguyễn Trãi được rất nhiều cá nhân và tố chức tập thể đã làm, có những công trìnhđạt được nhiều kết quả tốt nhưng cũng có những bài nghiên cứu còn sơ sài, tất cảnhững ông trình nghiên cứu, những bài viết, bài bình luận ấy đều là tấm lòng của thế hệsau đã kính trọng và tưởng nhớ đến tác giả Nguyễn Trãi Tuy nhiên chúng ta vẫn phảinhận thấy rằng chưa thể có một nhà nghiên cứu nào đưa ra những bài đánh giá, tổng kếthoàn thiện nhất về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi – một nhà chính trị đại tài,một anh hùng lừng lẫy của dân tộc Qua việc tìm hiểu chúng ta cũng phải công nhận là

đề tài về tác giả, sự nghiệp và những vấn đề liên quan tới Nguyễn Trãi còn rất nhiều và

là một đề tài rộng, vì vậy rất cần được đầu tư nghiên cứu hơn nữa về Nguyễn Trãi Quabài nghiên cứu này chỉ là một phần nhỏ trong hàng loạt vấn đề cần được tìm hiểu vàkhám phám về con người ấy Có thể nói Nguyễn Trãi là một trong những đại thi hàodân tộc, một danh nhân, một thi sĩ bậc nhất trên thi đàn văn chương dân tộc và nhânloại, chính văn chương của ông đã cho người đời biết nhiều hơn về ông

Bài nghiên cứu của tác giả Đoàn Ánh Loan Ảnh hưởng của quan niệm triết học Trung Hoa trong điển cố đề cập đến vấn đề nghệ thuật sử dụng điển cố của tác giả

trung đại Việt Nam và Trung Hoa Trong đó có Nguyễn Trãi Qua đó cho thấy nguyêntắc của điển cố là “ý tại ngôn ngoại” dựa trên cơ sở gợi mở, cuốn hút người đọc vàomột thế giới đầy vẻ biến hóa của câu chuyện hay hình tượng Vấn đề điển cố và nghệthuật sử dụng điển cố của tác giả Đoàn Ánh Loan biên soạn chủ yếu tập trung khảo sátmột cách có hệ thống lịch sử, chức năng, quan niệm triết học, thẩm mỹ cổ phươngĐông và một số đặc điểm của điển cố trong văn học cổ đại và trung đại Việt Nam, cụ

Trang 6

thể là trong thơ Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, đồng thời xác lập vai trò của điển

cố như khai mở một kho báu ngôn ngữ, từ đó bước vào kho tàng trí tuệ của con người,truy tìm đến một giá trị chân, thiện, mỹ… Tác giả cung cấp những kiến thức tổng quát

về điển cố trong văn học phương Đông, nhất là văn học Việt Nam và Trung Hoa thời

cổ trung đại có ảnh hưởng trực tiếp đến nghệ thuật điển cố trong thơ Nôm Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi trên cơ sở phân tích nguồn gốc, quá trình hình thành, phát

triển, suy tàn, tính chất và vai trò của điển cố trong lịch sử văn học và liên hệ tới nhữngnét chung về điển cố trong văn chương Nguyễn Trãi

Trong bài Nhận thức lại thái độ thẩm mỹ của Nguyễn Trãi trong Quốc Âm Thi Tập đề cập đến việc sử dụng nghệ thuật mà Nguyễn Trãi sử dụng trong Quốc Âm Thi Tập Tác giả Nguyễn Phạm Hùng, hầu hết đã đưa ra các lý giải về các hình thức nghệ

thuật mà Nguyễn Trãi đã thể hiện trong đó có nghệ thuật sử dụng điển cố Qua cácphân tích, đưa ra dẫn chứng để làm nổi bật nên cái tài của Nguyễn Trãi khi sử dụng

nghệ thuật điển cố trong Quốc Âm Thi Tập Tác phẩm thể hiện rất rõ nhu cầu tự bạch,

tự giãi bày, thanh minh, mong được thấu hiểu, mong được cống hiến của tác giả Đểthấy được tâm trạng nhà thơ, nội dung các bài thơ, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến tính

chất đối thoại của các bài thơ trong Quốc Âm Thi Tập.

Chúng ta thấy Nguyễn Trãi nói về lòng trung quân, ái quốc, về bổn phận và tráchnhiệm của một người công dân đối với chế độ và triều đình với lòng tự tin và đầy nhiệthuyết, với việc sử dụng những điển cố tiêu biểu như dùng những tên riêng, tên người,tên địa danh…:

Đao bút phải dùng tài đã vẹn

Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên.

Vệ Nam mãi ra tay thước,

Điện Bắc đà đà yên phận tiên

(Bảo Kính Cảnh Giới 56)

Trang 7

Hay ông nói về niềm khao khát một triều đại tốt đẹp, một xã hội phong kiến lítưởng với những vần thơ đầy lạc quan:

Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn,

Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền

(Tự thán 74)

Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

Dân giàu đủ khắp đòi phương

(Bảo Kính Cảnh Giới 43)Tác giả cho rằng thơ quốc âm của Nguyễn Trãi mang tính chất nhật ký, tức làNguyễn Trãi sử dụng nghệ thuật điển cố trong quốc âm là để người thưởng thức theocách “đọc ít hiểu nhiều” hay “ý tại ngôn ngoại”

Hình thức điển cố trong thơ văn Hán Tần là nhà văn chỉ đưa vào tác phẩm của mìnhnhững lời dạy dỗ, lý luận, ngụ ngôn của người xưa sau đó dẫn thành lời và dùng nhiềuthành ngữ hoặc mang sắc thái của thành ngữ điển cố Việc dẫn dụng điển cố nói chungchỉ để làm cho rõ ý hay để chứng minh cho lập luận của mình chứ không dùng điển cố

để trau chuốt, làm bóng bẩy câu văn hay lời thơ Hiện tượng sử dụng điển cố trong thơvăn trong thời kỳ này chưa thật phổ biến và phát triển ở Trung Quốc cũng như ở ViệtNam, vì vậy có thể nói tác giả Nguyễn Trãi là người là tiêu biểu nhất trong văn chươngtrung đại Việt Nam

Đặng Tiến đã từng ca ngợi Nguyễn Trãi :“Vũ trụ thơ của Ức Trai là một áng mây

bên suối, một ánh trăng trong khoang thuyền, tiếng chim kêu trong rặng hoa, là giọt

sương trên đồi cúc”.

Về vấn đề nghệ thuật trong thơ văn ông là một đề tài nghiên cứu khá hấp dẫn Đặc

biệt là nghệ thuật điển cố trong thơ chữ Nôm Quốc Âm Thi Tập của ông, với nghệ

thuật này tác giả đã rất thành công, đây có thể nói là một biện pháp nghệ thuật đặc

trưng trong tập thơ Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi.

Trang 8

3 Mục đích nghiên cứu

Đi sâu vào nghiên cứu đề tài Điển cố trong Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi

chúng ta cần đi sâu vào tác phẩm để thấy được cái hay, cái đẹp, cái tinh tế của NguyễnTrãi trong việc sử dụng điển cố, thấy được giá trị nghệ thuật của tác phẩm Ngoài ra,tìm hiểu đề tài còn làm sáng tỏ một số vấn đề về điển cố trên cơ sở đó đưa ra một vàidẫn chứng tiêu biểu để phân tích, làm sáng tỏ nghệ thuật điển cố được sử dụng trong

Quốc Âm Thi Tập Thông qua việc nghiên cứu về nghệ thuật điển cố cũng giúp cho

việc giảng dạy văn chương trong thời kỳ trung đại ở trường trung học phổ thông,chương trình đại học cũng như trên mọi lĩnh vực khác được tốt và được mở rộng hơn

4 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi cho đề tài này là văn bản Quốc Âm Thi Tập, nguyên văn chữ Nôm và các bản dịch từ nguồn văn bản Nguyễn Trãi toàn tập – Tân Biên (tập 03) Quốc Âm Thi Tập – (bản chữ Nôm được sao chụp và trình bày lại

theo đúng nguyên bản của Ức Trai Thi Tập – Phúc Khê tàng bản, 1868) do Mai QuốcLiên chủ biên, Kiều Thu Hoạch – Vương Lộc – Nguyễn Khuê phiên âm và chú thích.Trong quá trình tìm hiểu để làm rõ một số vấn đề liên quan như về cuộc đời, sự nghiệpcủa Nguyễn Trãi, đồng thời cũng đưa ra những nhận định, nhận xét của người khảo sát

và của các nhà nghiên cứu nói về Nguyễn Trãi và tác phẩm của ông Qua việc nghiên

cứu để thấy được cách sử dụng nghệ thuật điển cố trong tác phẩm Quốc Âm Thi Tập

của ông

5 Phương pháp nghiên cứu

Qua quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi đã sử dụng các biện pháp dùng chomột bài nghiên cứu để có một bài nghiên cứu hoàn thiện nhất Đầu tiên chúng tôi đã sửdụng các biện pháp đơn giản sau đó là các biện pháp khác phức tạp hơn theo một trình

tự nhất định Các phương pháp đọc tài liệu về Nguyễn Trãi, về văn học trung đại tiếp

đó lựa chọn, ghi chép những ý kiến liên quan đến đề tài sau đó so sánh, kết hợp với cácphương pháp phân tích, thống kê và tổng hợp, khái quát tạo cho bài nghiên cứu đượcchặt chẽ và tốt hơn

Trang 9

B PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NGUYỄN TRÃI VÀ QUỐC ÂM THI TẬP

1.1 Nguyễn Trãi – Cuộc đời và sự nghiệp văn chương

1.1.1 Cuộc đời

1.1.1.1 Thân thế

Nguyễn Trãi 阮 豸 hiệu là Ức Trai 抑 齋, sinh năm Canh Thân (1380) nămXương Phù thứ tư triều vua Trần Thế Đế, mất năm Nhâm Tuất (1442), năm Bảo Đạithứ ba, triều vua Lê Nhân Tông, tức là cùng năm mà vua Lê Thái Tông ra đời

Ông có hiệu là Ức Trai nghĩa là người tự kiềm chế, tự nén mình, là con trai thứ haicủa ông Nguyễn Ứng Long 阮 應 龍 tức Nguyễn Phi Khanh阮 飛 卿 và bà Trần

Thị Thái陳 氏 太 Họ Nguyễn này là một dòng họ nổi tiếng ở nước ta, có gốc ở lànggia Miêu Ngoại Trung (nay thuộc xã Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa) Từ ông tổ làĐịnh Quốc Công Nguyễn Bặc thời Đinh Tiên Hoàng Từ lâu có một chi họ này dời ralàng Ngái, tên chữ Hán là Chi Ngại (nay thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh HảiHưng) Sau vụ Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, chi họ này chạy bạt đi các nơi, sau mớitrở về, gọi là Nguyễn Quy (quy là trở về) Nhưng mấy đời trước Nguyễn Trãi, tổ tiêncủa ông đã dời sang làng Ngọc Ổi, nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà SơnBình, do đó nơi đây trở thành quê hương sau của ông

Gốc tích gia đình và thời kỳ thanh thiếu niên (1380 – 1400) Về phía bố: NguyễnPhi Khanh hay Nguyễn Ứng Long là một nhà nho gốc gác bình dân, học giỏi, có chícao, quan tâm nhiều đến đời sống nhân dân và vận mệnh Tổ Quốc Về phía mẹ: TrầnThị Thái, bà là con một vị hoàng thân và cũng là một thi sĩ - Trần Nguyên Đán陳 元

Trần Nguyên Đán là cháu bốn đời của Trần Quang Khải, một thân vương và cũng

Trang 10

là một danh tướng, tên tuổi lừng lẫy trong các chiến dịch thắng lợi chống quân Nguyênthế kỷ trước Trần Nguyên Đán cũng đã có công lớn trong việc đánh tan cuộc thoánđoạt của Dương Nhật Lễ để giữ vững cơ nghiệp nhà Trần Mối tình duyên kết hợp cậunhà nho nghèo Nguyễn Ứng Long với cô tôn nữ Trần Thị Thái có thể nói là khá đẹpnhưng cũng rất oái oăm về sau này Đẹp vì ở đây ngoài vấn đề nhan sắc, dòng dõi cóvấn đề duyên văn tự Trần Thị Thái là người thông minh, hay thơ và đã xướng họa vớithầy Oái oăm vì trong vấn đề hôn nhân, truyền thống hoàng gia nhà Trần vẫn có mộtquan niệm rất chặt chẽ về dòng máu Trần Nguyên Đán陳 元 旦 phóng khoáng hơn,

đã vui lòng tác hợp cho “đôi lứa thiếu niên” Nhưng không phải vì thế mà tổn thất nhàTrần đã bỏ quên cái tội “chơi trèo” của cậu thanh niên họ Nguyễn Nguyễn ỨngLong阮 應 龍 đã đỗ đại hoa, nhưng mãi đến cuối đời nhà Trần vẫn không hề được

bổ dụng Đối với nhà nho ưu tú luôn luôn ấp ủ cái hoài bão thành đạt để phò vua, giúpdân đó là một sự vỡ mộng đau đớn Nhưng cuộc hôn nhân đã đưa tới kết quả bất ngờ:cậu con trai Nguyễn Trãi Cậu bé đội cái tên này không những sẽ là vinh dự của mộtgia đình mà là cứu tinh của một nước, giữa những ngày đen tối sắp tới

1.1.1.2 Thời thế và con người

Đời sống gia đình, tình hình xã hội, từ những ngày thơ ấu đối với Nguyễn Trãi là cảmột trường học tốt Sau ngày ra đời Nguyễn Trãi đã sống một thời gian trong dinh thựcủa một vị thân vương bên ngoại Năm 1380, Trần Nguyên Đán chán nản với tình hìnhchính trị, xin về hưu ở Côn Sơn, một nơi ẩn dật, chan chứa thi vị Trần Nguyên Đánmất năm 1390 Mấy năm về trước, Nguyễn Trãi đã mồ côi mẹ Trong dinh thự của vịthân vương ở Thăng Long cũng như dưới mái nhà ở Côn Sơn của ông ngoại, tuổi thơcủa Nguyễn Trãi đã được nuôi dạy chu đáo

Thời kỳ 1400 – 1418: Trước ngày tham gia vào phong trào khởi nghĩa Lam Sơn.Nguyễn Trãi lúc này mới hai mươi tuổi dự thi và đã đậu cao Sau khi đỗ, Nguyễn Trãidược bổ làm Ngự Sử đài chánh chưởng Tình hình chính trị nhà Hồ rối ren lại có quânđội xâm lược của nhà Minh, nhà Hồ bị tiêu diệt và nhiều triều thần bị bắt làm tù binh,trong đó có Nguyễn Phi Khanh Nước mất, nhà tan, đời sống của nhân dân, dân tộc bịđẩy xuống vực sâu Đến lúc Nguyễn Trãi phải tự mình tìm lấy đường đi

Trang 11

Thời kỳ 1418 - 1428, vai trò của Nguyễn Trãi trong phong trào Lam Sơn, NguyễnTrãi chưa đứng trong hàng ngũ những người phát động phong trào Lam Sơn từ giờ đầu.Nguyễn Trãi vào Thanh Hóa, vào yết kiến nhà vua, Nguyễn Trãi đã dâng lên nhà vuamột kế hoạch đánh bại quân Minh nhan đề “Bình Ngô Sách”平 吳 策.

Từ ngày phát động cuộc đấu tranh võ trang cho đến lúc này, nghĩa quân Lam Sơn

藍 山 dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi 藜 利 đã trưởng thành về nhiều mặt Vai trò củaNguyễn Trãi cùng Lê Lợi hoàn thành công cuộc tiêu diệt đội quân chiếm đóng Sau khiđọc tập “Bình Ngô Sách”, Bình Định Vương liền bổ nhiệm Nguyễn Trãi vào chứcTuyên phụng đại phu, thừa chỉ học sĩ, coi việc “nội mật” tham dự vào các buổi bàn bạc

kế hoạch quân sự và chính trị, soạn thảo những văn kiện quan trọng về nội dung chínhcũng như ngoại giao Trên cương vị mới Nguyễn Trãi có dịp thi thố tài năng Trongthời kỳ này Nguyễn Trãi có công đóng góp rất lớn qua phong trào khởi nghĩa Lam Sơn,trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc

Những năm cuối đời (1428 - 1442): Lê Thái Tổ藜 太 祖 lên ngôi vua và bắt tayvào việc xếp đặt cho vương triều nhà Lê một kỷ cương mới Sau khi lên ngôi vua, LêThái Tổ藜 太 祖 đã có lần bắt giam Nguyễn Trãi Lê Thái Tổ chết năm 1433 Vuanối nghiệp là Lê Thái Tông hồi này còn trẻ tuổi Vì nhiều lần không chịu nổi cách hành

xử của vua mới trẻ tuổi, ưa nịnh nọt của quần thần hống hách này, Nguyễn Trãi đãnhiều lần dâng sớ xin về hưu Do sự biến thiên của thời đại ghi lại câu chuyện này vớimấy dòng chữ rất sơ sài Người ta chỉ biết rằng: Mùa thu năm ấy, Lê Thái Tông đi kinh

lý mấy tỉnh miền đông, trên đường về khi nhà vua đi qua Chí Linh 至 靈, NguyễnTrãi mời vua ghé nghỉ nhà mình ở Côn Sơn崑 山và rồi trên quãng đường hồi loan từChí Linh về Thăng Long 昇 龍 vua bị bệnh ác tính Đêm hôm ấy vua chết trong khiThị Lộ - thiếp của Nguyễn Trãi hầu hạ suốt đêm Thị Lộ 氏 路 là một người đàn bàđẹp, tài năng, lúc này vua chỉ mới có hai mươi tuổi và không phải là một ông vua quy

Trang 12

ải cho lắm và thế là trước con mắt của bọn lịnh thần đang tìm đủ mọi cách để hãm hạingười trung lương, thì lý do để khép người vào tội đã đầy đủ qúa Dưới cái tội danh

“đại nghịch”, Thị Lộ đã bị xử cực hình và Nguyễn Trãi cũng bị xử tử và tru di tam tộc(tru di ba họ) Nhưng trước lịch sử, kẻ bị xử án ở đây là triều đình phong kiến nhà Lênhững năm 1440

Sau hai mươi năm Lê Thánh Tông 藜 聖 宗 lớn lên, biết rõ được sự oan khốc củaông, đã minh oan được cho ông và chính thức truy tặng ông chức tước tán trù bá Sựnghiệp của Nguyễn Trãi đối với cuộc kháng chiến chống Minh cứu nước vốn tỏa ranhiều mặt: Chính trị có, quân sự có, văn hóa, xã hội nói chung đều có nhưng nổi nhất là

sự nghiệp văn chương, như Lê Thánh Tông vị tao đàn nguy súy đã nhận định: Ức Trai

tâm thượng quang khuê tảo – (Lòng Ức Trai rực sáng văn chương, như ánh sao khuê,

như ánh rong biển)

1.1.2 Sự nghiệp văn chương

Nguyễn Trãi là nhà văn hóa lớn của dân tộc, nhà văn hóa lớn nhất thời xưa của Việt

Nam, ông cũng lại là người có công Bình Ngô Khai Quốc giành lại giang sơn, mở nền

bình trị, chấn hưng được văn hóa dân tộc Ông là kết tinh của nền văn minh ThăngLong - Lý Trần, đồng thời cũng là sự kết tinh của nền văn minh - văn hóa Việt Nam từthời các vua hùng So sánh với các bậc thầy ở Trung Hoa, Phương Tây vào thời đại củaông, Nguyễn Trãi có một vị trí xứng đáng trong văn hóa nhân loại Con người ông, vềmặt tư tưởng triết học, đã lần đầu tiên tổng kết chủ nghĩa nhân ái Việt Nam từ thực tiễnchiến đấu: “đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “nhân nghĩacốt ở yên dân” Về tư tưởng quân sự: “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”, “maiphục”, “bất ngờ”, “kết hợp quân sự và chính trị, quân sự và ngoại giao” … nghĩa là biếtphối hợp các cách tiến công khác nhau là những cống hiến lớn của Nguyễn Trãi chocuộc kháng chiến chống Minh vĩ đại của dân tộc Sau khi chiến tranh kết thúc NguyễnTrãi đã có những cống hiến quan trọng trong việc xây dựng triều đại mới, xây dựng đất

nước Về mặt văn học: bên cạnh áng “hùng văn nghìn thuở” - Bình Ngô Đại Cáo

吳 大 誥, áng văn hùng tráng, sâu sắc nhất thời xưa và rất ít có ở đâu Nguyễn Trãicòn có công trau dồi tiếng Việt, mở ra một kỷ nguyên mới cho văn chương Việt Nam

Trang 13

và văn chương hiện đại thế kỷ XX Sừng sững như một ngọn núi đứng đầu nguồnNguyễn Trãi là một ngọn núi càng nhìn càng thấy cao.

Có thể khái quát là: Sự nghiệp của Nguyễn Trãi là một sự nghiệp “kinh bang, tếthế” - (giúp nước, cứu đời) Tác phẩm viết bằng chữ Hán của Nguyễn Trãi gồm haiphần:

+ Về văn xuôi: Quân Trung Từ Mệnh Tập 軍 中 詞 命 集, Bình Ngô Đại Cáo

平 吳 大 誥, Băng Hồ Di Sự Lục冰 壺 遺 事 碌, Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo

bi kí 藍 山 永 陵 神 道 碑 記, ghi chép gia thế, sự nghiệp của Lê Thái Tổ saungày vua mất Và nhiều bài biểu, tấu, chiếu, dụ, những công văn có nội dung thế sự

Dư địa chí 輿 地 誌: Viết về địa lý lịch sử nước ta, được Nguyễn Trãi soạn năm1435

Lam Sơn Thực Lục藍 山 實 綠: Là cuốn sử về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Chí Linh Sơn Phú至 靈 山 賦: Nói về cuộc chiến đấu chống giặc Minh gian khổ

và anh hùng

Băng Hồ Di Sự Lục遺 事 碌 soạn năm 1428

+ Về thơ ca: Sáng tác thơ Nguyễn Trãi hiện còn một phần viết bằng chữ Hán, hơn

100 bài, trong Ức Trai thi tập và một phần tiếng Việt trong Quốc Âm thi tập hơn 250bài, bằng chữ Nôm

Tứ thơ, lời thơ, những bài viết vào lúc cuộc khởi nghĩa sắp bước tới toàn thắng sẽtràn trề những hào hứng và nhiệt tình Nhưng người đọc có thể theo dõi ở đây bóngdáng và cảm hứng của thi sĩ trước một dòng sông, trên một đỉnh núi, trước mặt biển cảbao la, trước một ngôi chùa…

Nội dung văn thơ của ông chủ yếu nói về hai mảng lớn là tình yêu quê hương đấtnước, gia đình và nói về đời sống trong sạch, một đời thanh bạch, một tâm hồn thanhcao, suốt đời một lòng vì nước, vì dân

Trang 14

Ngay dưới thời phong kiến đã có nhiều ý kiến bình luận, đánh giá của các bậc vuachúa, sử gia, văn nhân khá thống nhất về Nguyễn Trãi Họ đề cao, ca ngợi ông trướchết ở phẩm chất, nhân cách, đạo đức và tài năng:

Hoàng các thanh phong ngọc thự tiên Kinh bang hoa quốc cổ vô tiền…

Nho lâm kỷ hứa chiêm Sơn, Đẩu, Hảo vị triều đình lực tiên hiền

( Nguyễn Mộng Tuân – Tặng gián nghị đại phu Nguyễn Công)

Tâm kinh tương phùng khởi ngẫu nhiên?

Biệt khai thành thị nhất lâm tuyền

( Nguyễn Tử Tấn – Đề Ức Trai bích)

Văn chính luận như Bình Ngô Đại Cáo thì hùng hồn, đanh thép, sắc sảo, đúng là

tiếng nói của một dân tộc chiến thắng, một đất nước có nền văn hiến lâu đời

Thơ chữ Hán hàm súc, tinh luyện, thâm trầm Thơ chữ Nôm bình dị mà tài hoa,thiết tha đằm thắm Thơ thất ngôn xen lẫn lục ngôn là một dấu ấn kỳ lạ của nền thơ chữNôm dân tộc

Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, nhà văn hóa vĩ đại, là đại thi hào dân tộc Ông còn

là ông tiên ở trong lâu ngọc mà tâm hồn lộng gió thời đại Cuộc đời và thơ văn NguyễnTrãi là bài ca yêu nước, tự hào

1.2 Đôi nét về “Quốc Âm Thi Tập”

1.2.1 Hoàn cảnh ra đời

Quốc Âm Thi Tập là tác phấm nổi tiếng và có giá trị, tác phẩm gồm có 254 bài thơ

viết bằng chữ Nôm với bốn môn loại: Vô đề, thời lệnh môn, hoa mộc môn, cầm thú

môn Mỗi môn loại lại có nhiều đề mục có từ một đến nhiều bài thơ Quốc Âm Thi Tập

có thể coi là tác phẩm ưu tiên cho giới nghiên cứu văn học, lịch sử tư tưởng và ngôn

ngữ học So với các tác phẩm khác thì Quốc Âm Thi Tập là những vấn đề được đề cập

chủ yếu liên quan đến sự tồn tại và phát triển của cá nhân ông, trong đó nhà nghệ sĩ vànhà tư tưởng là hai nhân cách nổi bật Tác phẩm của ông là cơ sở chủ yếu cung cấp cho

ta thực tế để đánh giá nhân cách cá nhân ông

Có thể thống kê từng mảng như sau: Với 4 môn loại Trong mỗi loại lại có nhiều đềmục, tất cả là 53 đề mục lại gồm một chùm thơ Ví dụ như đề mục Ngôn chí có 21 bài;

đề mục Mạn thuật có 14 bài

Trang 15

Vô đề : có 14 tiểu mục, 192 bài.

Thời lệnh môn (đề tài về thời tiết, khí hậu, cảnh sắc bốn mùa): có 09 tiểu mục, 21bài

Hoa mộc môn (đề tài về các loại chim muông): có 24 tiểu mục, 34 bài

Cầm thú môn (đề tài về các loại hoa cỏ, thảo mộc): có 07 tiểu mục, 07 bài

Các bài thơ trong Quốc Âm Thi Tập không ghi chép thời điểm sáng tác song theo

các tài liệu cho thấy hầu hết các bài thơ được sáng tác trong thời kỳ Nguyễn Trãi về ở

ẩn ở Côn Sơn

Về từ ngữ: Văn có nhiều chữ Nôm xưa, nặng về điển tích Hán văn

Về cú pháp: Cách đặt câu chịu ảnh hưởng rõ rệt của Hán văn Lại có nhiều chỗ lờiNôm mà đảo trang rất lạ, khiến người đọc không hiểu là do sự gò ép để thỏa mãn thanhluật hay ngữ điệu Nôm xưa nói như vậy.Ví dụ:

“Toan cùng người mấy thì chẳng đủ” (người mấy thì phải hiểu là mấy người).

“Non cao bạch thách nào đời chuyển” (nào đời tức là đời nào)

Về văn: Lời văn thường mộc mạc, rắn rỏi, ưa gợi ý ở những tỷ dụ, văn ấy thích vớinhững đề tài phúng thích nhân tình, nghị luận thế thái như:

Của nhiều sơn dã, đem nhau đến, Khó ở kinh thành, ít kẻ ham

( Bảo Kính Cảnh Giới 06)

Làm người mạ cậy khi quyền thế,

Có thủa bàn cờ tốt đuổi xe

( Trần tình 08)Tuy nhiên, ở chỗ đàm nhàn, tự hứng, bút pháp của tác giả cũng lại có màu bóngbẩy, điệu êm ái, gây một thi vị súc tích cổ kính:

Trang 16

Trì thanh, cá lội, in vầng nguyệt, Cây tĩnh, chim về, rợp bóng xuân

( Bảo Kính Cảnh Giới 38)

Về thể cách: Các bài trong Quốc Âm Thi Tập đều thể thất ngôn hoặc tứ tuyệt,

nhưng có nhiều bài có câu sáu chữ xen vào, có bài đến 6,7 câu sáu chữ Đặc biệt như

Thủ vĩ ngâm (bài Góc Thành Nam), liên hoàn (bài Vịnh Trúc).

1.2.2 Những giá trị nổi bật của “Quốc Âm Thi Tập”

1.2.2.1 Về nội dung

Tác phẩm có vị trí đặc biệt và có tác dụng hết sức lớn lao trong sự nghiệp giảiphóng dân tộc, xây dựng đất nước, trong việc củng cố ý thức dân tộc, lòng tự hào vềtruyền thống dân tộc, tin tưởng và hướng tới tương lai Tư tưởng hòa bình của NguyễnTrãi vừa giàu tình nhân ái, vừa hừng hực tính chiến đấu Tác phẩm chủ yếu nói với ngư

ời đọc về những cái chưa làm được, về sự trăn trở, băn khoăn, day dứt, sự nỗ lực vĩ đạimong tìm ra một giải pháp cho một thực tại đầy kịch tính

Những bài thơ trong Quốc Âm Thi Tập có tính cách giáo huấn luân lý rõ rệt, những

bài học luân lý răn đời Có nhiều bài với đề tài là vịnh cảnh vật, cây cỏ, chim muông.Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi hết sức đa dạng Ta thường bắt gặp trong thơ TrungHoa hay thơ chữ Hán của ông các hình ảnh như: tùng, cúc, trúc, mai, hạc, nhạn… Thơông tập trung thể hiện là những tâm sự, tình cảm, khí tiết được bộc lộ trước muôn hình,muôn vẻ của cuộc sống, giang sơn, đất nước, cỏ cây và muông thú

Ao quan thả gởi hai bè muống

Đất bút ương nhờ một luống mùng

(Quốc Âm Thi Tập, thuật hứng 23)

Trong Quốc Âm Thi Tập có đến hàng trăm lần Nguyễn Trãi nhắc đi nhắc lại mình

là nhà nho, đề cập đến trách nhiệm của “kẻ tư văn”, “người quân tử”, “đọc sách”,

“thông đòi nghĩa sách” Nói nhiều đến ơn chúa như là công việc trọng đại hàng đầu

Trang 17

Bui có một niềm chẳng nỡ trễ

Đạo làm con lẫn đạo làm tôi

(Quốc Âm Thi Tập, Ngôn chí 01)

Tơ hào chẳng có đền ơn chúa

(Quốc Âm Thi Tập, Ngôn chí 15)

Qúa nửa số bài trong Quốc Âm Thi Tập nói về sự dùng dằng “đi chẳng nỡ, ở không

xong” của Nguyễn Trãi Tư tưởng nhân nghĩa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt thơ văn NguyễnTrãi, nhân nghĩa là một chuẩn mực văn hóa chính trị, của chính sách cai trị dân Nhữngcâu thơ của ông về vấn đề này vang lên như những châm ngôn, những triết lý chắc gọn,đanh thép Triết học lịch sử của Nguyễn Trãi thật minh bạch: Nhân nghĩa là đạo người

mà cũng là đạo trời Có nhân nghĩa sẽ được người, trời ủng hộ, sẽ thành công Bất nhânbất nghĩa sẽ thất bại Nội dung tư tưởng của Nguyễn Trãi còn là sự kết hợp của hai yếu

tố là bộ phận tích cực của nho giáo và truyền thống dân tộc Ông đã tiếp thu và vậndụng hầu hết những mặt tích cực của nho giáo trong quan hệ với nhân dân, tư tưởng nộidung được thể hiện phong phú nhất, tần số cao nhất khi bàn đến người dân bìnhthường, chủ yếu là nhân dân

Về một phương diện khác, Nguyễn Trãi coi dân là một thực thể chất phát, thuầnhậu, bí ẩn và ở điểm đó dân gần với đạo Văn Tân, Trần Huy Liệu, Thanh Bá cho rằngNguyễn Trãi quan niệm nhân dân không những là người sáng tạo ra tất cả của cải vậtchất mà còn là động lực thay đổi của triều đại nữa Trong thời kỳ kháng chiến, tư tưởngcủa Nguyễn Trãi bao trùm toàn bộ những phát ngôn và hành động của ông là an dân,nhưng trong thời bình nó lại gặp rất nhiều khó khăn Về bản sắc dân tộc, ông phản ánhmột chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ở mức độ chín muồi, thành thục Ông có một cáinhìn lịch sử, tìm ra trong quá khứ những giá trị tinh thần để hun đúc tự hào chân chínhcủa nhân dân

Trang 18

Mấy kẻ tư văn người đất việt

Đạo này lối lắm để cho dài

(Quốc Âm Thi Tập, Thuật hứng 22)

Nội dung của Quốc Âm Thi Tập còn được Nguyễn Trãi bộc lộ rõ qua những lời

thơ, đây có thể nói là những lời thơ cho người đọc cảm nhận sâu hơn về tư tưởng, tâmhồn của con người ông

Tư tưởng nhân nghĩa của Ức Trai luôn luôn gắn liền với lòng “trung hiếu” và niềm

“ưu ái”(lo nước, thương dân)

Bui một tấc lòng ưu ái cũ,

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông

(Quốc Âm Thi Tập, Thuật hứng 05)Thể hiện tấm lòng, tình yêu thắm thiết đối với thiên nhiên, đối với quê hương, giađình:

Hái cúc, ương lan, hương bén áo Tìm mai, đạp nguyệt, tuyết xâm khăn

(Quốc Âm Thi Tập, Ngôn chí 15)Trong thơ Nguyễn Trãi cũng có cả những dòng “tươi vui” về một cảnh sống nơithôn dã của những người dân lao động gần gũi với cảnh đời của ông:

Lao xao chợ cá làng ngư phủ

Trang 19

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương

(Quốc Âm Thi Tập, Bảo Kính Cảnh Giới 43)Căn cứ vào những vần thơ tươi vui vừa trích dẫn ở trên, thì chúng ta đều thấy dễdàng thừa nhận rằng “Cả tập thơ của Nguyễn Trãi là thơ của một người yêu đời, yêungười, tâm hồn Nguyễn Trãi sống một nhịp với non sông đất nước tươi vui” Nhưngnhững câu thơ ấy không nhiều, đó chỉ là niềm tươi vui, lạc quan về một triều đại tốt đẹpnhiều khi chỉ là giấc mơ của Nguyễn Trãi trước thực tế phũ phàng

1.2.2.2 Về nghệ thuật

Sáng tác thơ của Nguyễn Trãi có trên một trăm bài thơ chữ Hán và hai trăm năm

bốn bài thơ chữ Nôm Đặc biệt, qua Quốc Âm Thi Tập ta có thể thấy rõ những đóng

góp đáng trân trọng của Nguyễn Trãi về nhiều phương diện mà tiêu biểu nhất làphương diện thể thơ và ngôn từ

Nguyễn Trãi viết văn bởi mục đích chiến đấu, ông làm thơ ngoài mục đích ấy lạicòn là để bộc lộ tâm sự của mình Văn thơ ông có nội dung tư tưởng nhất quán vớinhững tác phẩm văn chính luận của ông Ông am hiểu ngôn ngữ của nhân dân rất sâusắc, chính vì vậy mà ông đã khai thác được tính tượng hình, tượng thanh rất sinh độngcủa các cặp tiếng đôi cũng như của cấu trúc đối xứng hô ứng, lấp láy trong tiếng Việt,ông đưa ra những khẩu ngữ hàng ngày vào thơ ca và tận dụng khả năng của nhữngkhẩu ngữ ấy để tả cảnh, tả lòng, tả người, tả vật Và ngôn ngữ văn học của Nguyễn Trãi

có một phần bắt nguồn từ ngôn ngữ của văn học dân gian

Qua Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi có thể thấy thơ Nôm Hàn luật (bát cú hoặc

tứ tuyệt) đã khá thành thục tuy nhiên Quốc Âm Thi Tập cũng có ít nhiều có thể cách tự

do

Có thể nói tác phẩm là “thiên cổ hùng văn” (văn hùng của muôn đời) và chắc chắn

là năm trăm năm sau nữa thơ văn của ông vẫn không mất đi giá trị ấy Gía trị vănchương vĩnh cửu đó trước hết nằm trong tư tưởng của tác phẩm, như tư tưởng nhânnghĩa Tác phẩm làm rung động lòng người là sự hòa hợp chặt chẽ, không thể tách rờigiữa tính tư tưởng và tính nghệ thuật

Trước hết đó là thủ pháp “dùng cái lớn để nói cái lớn”, “cái lớn” trong hình tượngnghệ thuật đối với con người là gì? Nếu không phải là núi sông, trời đất, vũ trụ, cànkhôn… (về mặt không gian) và “ngàn xưa”, “mai sau” (về mặt thời gian)…? Những từngữ này được nhắc đến với tần số rất cao

Trang 20

Đêm thanh hớp nguyết nghiếng chén

Ngày vắng xem hoa rẽ cây

(Ngôn chí – bài 10)Thủ pháp “so sánh” và “liên tưởng” cũng được sử dụng phổ biến và nhuần nhuyễn.Trong cuộc sống hôm nay, nhiều người đang băn khoăn về tính tư tưởng, về lối sống,

về nếp văn hóa… Trong văn chương nghệ thuật, cái “đời thường” đang lấn lướt và làmcho văn chương có lúc trở thành “ tầm thường” Việc trở lại với những giá trị đích thực

và lâu bền của văn chương là điều chúng ta có thể học tập rất nhiều ở cha ông ngàyxưa, trước hết là Nguyễn Trãi, người mà “cái tài làm đẹp, làm hay cho non sông đấtnước thì không ai bằng” như lời tự xưng tụng ông từ mấy trăm năm trước Thơ Nômbình dị mà tài hoa, thiết tha đằm thắm, thơ thất ngôn xen lẫn lục ngôn là một dấu ấn kỳ

lạ của nền thơ chữ Nôm dân tộc

Về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi:

Đây là một thể thơ được sáng tác dựa trên quy cách và cấu trúc của thơ Đường luật.Đặc điểm khác biệt là ở hiện tượng xen kẽ những câu sáu tiếng vào các câu bảy tiếngcủa bài thơ bát cú lẫn tứ tuyệt luật Đường

Số lượng các bài thơ được sáng tác theo hình thức này rất lớn (186/254) chứng tỏrằng Nguyễn Trãi hoàn toàn có ý thức khi vận dụng dạng thể thơ này như một sự thửnghiệm cho việc tìm ra một thể thơ mới cho dân tộc, chống lại ảnh hưởng quá sâu sắccủa thi ca Trung Hoa

Xét về tác dụng nghệ thuật, câu thơ sáu tiếng trong bài thơ thất ngôn xen lục ngônkhiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ý thơ mạnh mẽ, sắc sảo, thường phù hợp với việcdiễn đạt những chân lý của đời sống những quyết tâm hoạt động của nhà thơ Ngoài ra,cách ngắt nhịp phong phú của câu thơ sáu chữ khiến nó có khả năng diễn đạt đượcnhững cung bậc tình cảm đặc biệt tinh tế, sâu sắc của con người

Tuy nhiên, sự xuất hiện của các câu thơ sáu chữ đã làm phá vỡ kết cấu hoàn chỉnhcủa bài thơ Đường luật, dẫn đến việc thất niêm thất luật Vì vậy, thể thơ này ngày càng

ít được sử dụng, nhường chỗ cho những thể thơ dân tộc khác hoàn chỉnh hơn về mặtcấu trúc và niêm luật

Trang 21

* Ngôn từ thơ Nôm Nguyễn Trãi:

Bị chi phối bởi quan niệm thẩm mỹ của văn chương, thơ Nôm Nguyễn Trãi vẫnmang tính uyên bác, sử dụng nhiều điển cố và các hình ảnh tượng trưng, ước lệ

Tuy nhiên, nhờ sử dụng chữ Nôm, thơ Nguyễn Trãi đã ngày càng dung dị, tự nhiên,gần gũi hơn với cuộc sống của nhân dân lao động Từ ngữ trong thơ Nôm thường cósức gợi tả mạnh và đặc biệt độc đáo

Nhờ chữ Nôm, Nguyễn Trãi đã thành công trong việc đưa vào thơ ca bác học nguồnthi liệu vô cùng quý giá của tục ngữ, thành ngữ, ca dao

Quốc Âm Thi Tập là tập thơ có tính nhật ký, một tập thơ thể hiện tính riêng trong

con người Nguyễn Trãi, ông nói cho riêng mình, cho nên ta thấy ở đó nhà thơ khá tự

do, cởi mở, thậm chí có phần suồng sã khi bộc lộ những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạngcủa tác giả đối với cuộc sống Tác phẩm thể hiện rõ nhu cầu tự bạch, tự giãi bày, thanhminh mong được hiểu thấu, mong được cống hiến của tác giả Để thấy được tâm trạngcủa nhà thơ hay nội dung các bài thơ, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến chất đối thoại củacác bài thơ đó Mỗi bài thơ được xem như là một lời đối thoại hay đối thoại ngầm Đó

có thể là một lời độc thoại nội tâm, một lời đối thoại với chính mình hay với một nhânvật vô hình nào đó (như với người đối với nhân thế)

và một tình cảm nhân hậu đối với thiên nhiên, con người

Nói Nguyễn Trãi là nói người không chỉ viết Bình Ngô Đại Cáo mà còn là tác giả của 254 bài thơ Nôm trong Quốc Âm Thi Tập và với Quốc Âm Thi Tập ông đã đến

được một tầm cao bất ngờ nơi thượng nguồn nền văn học Nôm dân tộc, vừa mới xuấthiện đã chủ động dấn vào cuộc cạnh tranh quyết liệt để dành quyền tồn tại với chữ Hán,rồi không thua văn học viết bằng chữ Hán Phải có ông, phải từ ông để hơn ba trămnăm sau, xuất hiện Nguyễn Du (1765 – 1820), người đứng ở đỉnh cao chót vót nhữngtiềm năng và vẻ đẹp của ngôn ngữ và tiếng nói dân tộc, cho đến nay sau ngót ba trămnăm vượt nổi Về mặt văn hóa thì cũng có thể khẳng định rằng Nguyễn Trãi đã cắm

Trang 22

một cột mốc quan trọng trên con đường tiến lên của dân tộc ta Cột mốc ấy lại đặc biệtquan trọng đối với lịch sử văn học.

Về thơ văn Nguyễn Trãi là đỉnh cao chói lọi trong nền văn học dân tộc Thơ chữHán của Nguyễn Trãi là một thế giới thẩm mỹ phong phú vừa trữ tình, trí tuệ vừa hàohùng lãng mạn Về thơ chữ Nôm, Nguyễn Trãi là người tiên phong, để lại tập thơ xưanhất và nhiều bài nhất Đó là những bài thơ giàu trí tuệ, sâu sắc, thấm đẫm trí nghiệm

về cuộc đời, được viết bằng ngôn ngữ tinh luyện trong sáng, đăng đối một cách cổ điển.Nguyễn Trãi là nhà thơ đã sớm đưa tục ngữ vào tác phẩm, ông cũng là người đã sángtạo hình thức thơ thất ngôn xen lẫn lục ngôn, một hình thức khác với đường luật Cóthể nói Nguyễn Trãi là một nhân vật tài đức có đủ, trí dũng song toàn trong lịch sử ViệtNam thời phong kiến

Nguyễn Trãi là danh nhân văn học lỗi lạc và cũng là người có số phận bi thươngnhất trong lịch sử Việt Nam Ông chẳng những góp phần viết nên các trang hào hùngtrong lịch sử giữ nước mà còn góp phần xây đắp nền móng vững chãi cho văn học dântộc Nguyễn Trãi nêu cao tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân, gắn bó thiết thavới cảnh vật thiên nhiên đất nước, thể hiện tình yêu ngôn từ Việt nồng thắm Năm

1980, Nguyễn Trãi được tổ chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hóa của Liên Hợp QuốcUNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐIỂN CỐ TRONG “QUỐC ÂM THI TẬP” CỦA NGUYỄN TRÃI2.1 Sơ lược về điển và điển cố ( 典 - 典 故)

2.1.1 Điển 典

Có lẽ việc sử dụng điển là một nét đặc thù trong văn học trung đại của phươngĐông nói chung và của Việt Nam nói riêng, không chỉ trong văn thơ chữ Hán mà cảtrong văn thơ chữ Nôm Các nhà nghiên cứu cho rằng, điển là một khái niệm rộng baogồm điển tích và điển cố được các nhà văn, nhà thơ rút gọn từ những chuyện xưa, tích

cũ hay từ một câu thơ, câu văn rút từ những kinh sách của các đời trước thành một từ,một ngữ hay một câu Đó có thể xem là một sự “mã hóa” vào quá trình sáng tác vănchương, thơ phú, đối liên của các văn nhân Và nhờ sự “mã hóa” người đọc sẽ thấyđược ý nghĩa biểu trưng của điển, cũng như thấy được ngụ ý của tác giả thông qua điểntrong tác phẩm văn học

Trang 24

Chính do vậy, điển được xem như biện pháp tu từ đặc biệt giúp nhà văn, nhà thơxây dựng hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, tượng trưng mà sinh động, làm choviệc sử dụng ngôn từ nghệ thuật được cô đọng, hàm súc, đạt được “ý tại ngôn ngoại”bảo đảm cho tác phẩm có kết cấu ngắn gọn, súc tích, hợp lý nhất là khi làm cho các thểthơ có niêm luật chặt chẽ (như đường luật thi phú) hoặc câu đối.

Chúng ta cùng xét một số điển thường gặp như:

Nhạn: Chim nhạn, đời Hán, Tô Vũ đi xứ Hung Nô bị Thiền Vu bắt giữ đày đi chăn

dê ở Bắc Hải, nói dối là Tô Vũ đã chết Vua Hán không tin sai sứ giả sang đòi, đặtchuyện vua Hán đi săn ở vùng Thượng Lâm, có bắt được một con nhạn, châm chim cóbuộc thư của Tô Vũ gửi vua Hán Thiền Vũ tưởng thực phải cho Tô Vũ về

Đoạn tràng: Đức ruột Theo Sưu thần ký, có người bắt được hai con vượn con,thường đem ra sân đùa giỡn, vượn mẹ ngày nào cũng đến ở trên cây gần đầu nhà trôngthấy kêu thảm thiết Ít lâu sau vượn mẹ chết, xác rơi xuống gốc cây Người ta đem mổthì thấy ruột đứt ra từng đoạn Từ đấy, văn học cổ dùng từ đoạn trường, để nói sự đauđớn, khổ lão trong cuộc đời

Phong sắc: Tức bỉ sắc tư phong Kém cái này hơn cái kia, theo quan niệm duy tâmcủa thuyết thừa trừ thì ở đời không ai được đầy đủ điều lành và thường xấu tốt bù chonhau, ví dụ như có tài thì không có sắc hoặc có sắc mà không có duyên

Sông Tiền Đường: Con sông trong truyện Kiều của Nguyễn Du, nơi Thúy Kiều tựvẫn Ở đây Tiền Đường dùng để chỉ nơi quyên sinh của những người con gái

2.1.2 Giới thuyết về điển cố 典 故

Trước khi đưa ra khái niệm chi tiết về điển cố, chúng ta hãy cùng nhau thảo luận vềnhững ý kiến, những nhận xét của các nhà nghiên cứu xung quanh khái niệm này.Trước hết, ta nên biết: Điển 典 là kinh sách thời xưa Cố 故 là cũ, xưa Tích 跡 làchuyện xưa Văn học cổ và trung đại thường dùng rất nhiều điển cố

Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp điển cố trong rất nhiều những trường hợpkhác nhau Hai từ mà chúng ta hay nhắc đến và dùng nhiều là “điển tích” và “điển cố”.Theo từ điển của Nguyễn Văn Khôn viết: “điển” là kinh điển thường nói phép tắc, chủtrương, coi sóc việc gì đó, cầm cổ Họ tích là xưa, trước, lâu, ban đêm Họ cố là bền,vững bền, kín đáo, sẵn, vốn đã có, nhiều lần bỉ lậu, cố nhiên, tất nhiên Họ điển tích là

sự tích chép trong sách vở xưa Điển cố là điển cũ tích xưa, sự tích, luật lệ cũ Như vậy

Trang 25

“điển cố” là khái niệm rộng hơn và không chỉ bao gồm những sự tích chép trong sách

vở Tuy nhiên trong thực tế hai từ này vẫn được dùng lẫn lộn Từ điển Tiếng Việt(NXB Khoa Học Xã Hội, 1977) định nghĩa điển cố là “chuyện chép trong sách cũ” vàđiển tích là “sự việc trong kinh sách cũ” Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường viếttrong từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX: “điển cố” là thuật ngữcủa giới nghiên cứu nhằm mô tả một trong những đặc điểm nổi bật của văn học trungđại Việt Nam vốn chịu ảnh hưởng của văn học cổ và trung đại Trung Hoa Do nhữngnguyên nhân khác nhau đã hình thành một tâm thế, một phong cách của những ngườilàm văn: trong hành văn thường hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ,câu văn cổ để diễn tả ý mình, nhưng đây không phải là trích dẫn nguyên văn, mà là lốidùng lại vài chữ cốt gợi nhớ được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy Lối này được gọichung là dùng điển cố bao gồm phép dùng điển và dùng chữ

Điển cố hay điển tích là những tích truyện xưa cũ (thường là của Trung Quốc) kể vềnhững tấm gương hiếu thảo, anh hùng liệt nữ và các tấm gương khác trong lịch sử(cũng thường là lịch sử của Trung Quốc) Những nhà văn Trung Quốc và Việt Namxưa hoặc theo phong cách cổ điển thường coi việc biện dẫn điển tích, điển cố vừa làmột cách khẳng định sự hiểu biết của mình vừa được coi là một chuẩn mực cho việcviết văn, làm thơ

Một cách nói khác của các nhà nghiên cứu thì cho rằng điển cố đồng nghĩa với điểntích là chỉ những việc có chép trong các sách vở thời xưa, được cô đọng lại trong một

từ ngữ hay một thành ngữ để nói lên ý nghĩa của chuyện đó Và ví dụ như sau: Huỳnh

Lương một giấc cuộc đời in nghĩa là cuộc đời giống hệt một như một giấc huỳnh lương

và nếu chúng ta không biết điển tích “giấc huỳnh lương” 聀 滎 糧 thì chúng ta khôngthể hiểu được câu thơ trên Giấc huỳnh lương là giấc mộng của ông Lữ Đồng Tân, khinằm trên chiếc gối của ông Hớn Chung Ly đưa cho, bên cạnh nồi huỳnh lương (bắpvàng) mà Hớn Chung Ly đang chụm lửa nấu nhưng chưa chín Trong giấc mộng đó, LữĐồng Tân thấy mình đi thi đậu Trạng Nguyên, cưới được vợ đẹp và giàu, được vua bổlàm quan, thăng quan tiến chức trong năm mươi năm, lên chức tể tướng, vinh hiển tộtbực, con cháu đầy nhà Sau bị gian thần hãm hại, vua bắt tội, tịch thâu hết gia sản, đày

đi xa thật vô cùng cực khổ Kế giật mình thức dậy, nồi bắp vàng nấu nãy giờ vẫn chưachín Từ đó rút ra thành ngữ “giấc huỳnh lương” là để chỉ sự giàu sang, quyền tước nơicõi đời này không bền vững và ngắn ngủi như một giấc chiêm bao

Trang 26

Theo một nghiên cứu khác, trong các từ điển hoặc trong sách giáo khoa, điển tíchthường được định nghĩa như là những câu chuyện ghi chép trong sách vở và được tríchdẫn hoặc dẫn ý Cuốn sổ tay văn học (A Hanbock to literature) của C.Huge Holman vàWilliam Harmol chẳng hạn, định nghĩa điển tích là “lối nói dẫn chiếu vắn tắt đến mộthình tượng, sự kiện hay đề tài lịch sử và văn học” Ta thường dùng hai từ “điển cố” và

“điển tích”, có sự sử dụng lẫn lộn Sự lẫn lộn này không phải là trầm trọng và có lẽ nóbắt nguồn từ thực tế là khái niệm “văn” trong các nền văn hóa chịu ảnh hưởng củaTrung Quốc rộng hơn nhiều so với khái niệm văn học trong các nền văn hóa phươngTây

Vì lẽ đó, nên trong bài nghiên cứu này tôi dùng thuật ngữ “điển cố” thì cũng xinđược hiểu theo nghĩa rộng hơn này Tuy nhiên, tôi chỉ có thể đồng ý một nửa so vớinhận xét trên của Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường Trước hết, quả thật làtrong văn học cổ đại và trung đại Việt Nam cũng như ở một số nước Viễn Đông, điển

cố được sử dụng rất thường xuyên Nhưng trong văn học của phương Tây hay bất cứmột khu vực nào khác, điển cố cũng được sử dụng nhiều không kém Ta có thể khẳngđịnh rằng điển cố là một hiện tượng phổ quát, nó được sử dụng rộng rãi ở mọi thời,trong mọi nền văn học Hơn nữa, mặc dù Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cườngcũng như nhiều nhà nghiên cứu văn học ở các nước phương Tây đã không sai khi đềcập đến điển cố như một cảm hứng sáng tạo, một kho môtip hoặc như một thủ thuậttrong cách hành văn

Theo Bửu Kế: điển cố là sách sử, cố là cũ Chuyện cũ đã từng chép trong sách xưa[23, tr 566]

Theo Phan Văn Các: Điển cố là câu chuyện hoặc từ ngữ trong sách cổ nay dùng lại[25, tr 148]

Theo Nguyễn Lân: Điển cố là những câu chuyện chép trong sách cũ [24, tr 624]

Ta có thể khái quát lại như sau: “Điển cố là những câu chuyện, câu chữ đã đạt đếnmẫu mực trong kho tàng văn hóa Trung Hoa được nhiều người biết đến và sử dụng lạitrong tác phẩm mới nhằm tăng cường sức biểu hiện, mở rộng, đổi mới ý thơ”

Trang 27

(1) Ngụy Vũ Tử đời nhà Tấn rất yêu quý người vợ lẽ nên khi hấp hối thì dặn contrai là Ngụy Khỏa không đành lòng nên sau khi cha chết, cho vợ lẽ của cha đi lấy chồngkhác, về sau, Ngụy Khỏa lĩnh lệnh vua đi đánh giặc trong lúc đang giao đấu kiệt sứcsắp thua tướng giặc nhà Tần là Đỗ Hồi thì bỗng dưng thấy Hồi bị vấp vướng cỏ màngã Nhờ thế, Ngụy Khỏa bắt được Đỗ Hồi Đêm về Khỏa nằm mộng, chiêm bao thấy

có một ông già đến cầm tay ân cần mà nói “Cảm vì ông đã không chôn sống con gái tôinên sáng nay tôi đã kết cỏ mà làm vướng chân giặc để cứu ông” Đó là tích kết cỏ.(2) Sau đây là chuyện ngậm vành: Đời nhà Hán có Dương Bảo mới lên chín tuổi đichơi ở phía Bắc núi Hoa Âm, thấy một con chim sẻ vàng bị chim cắt cắn gần chết, Bảođuổi chim cắt đi, đem sẻ về nhà nuôi gần một trăm ngày chim mới khỏe lại rồi bay đi.Đêm ấy có một đồng tử ảo vàng miệng ngậm bốn chiếc vòng ngọc đến bài tạ mànói:“Ta là sứ giả của Tây Vương Mẫu, trước đã nhờ ngươi ra tay cứu vớt nên nay đếnđền ơn ngươi đây Cầu cho con cháu nhà ngươi sau này cũng sẽ vinh hiển” Qủa nhiên

về sau con của Bảo là Chấn, cháu là Bỉnh, chắt là Tứ và chít là Bưu đều được vinhhiển

Thành ngữ Kết cỏ ngậm vành về sau thường được dùng như một lời nguyền đền ơn

đáp nghĩa trong hậu thế Tất nhiên, làm ơn cho ai, ta đâu há dễ trông người trả ơn Tuyvậy chuyện xưa vẫn vẹn nguyên giá trị giáo huấn lối sống đẹp cho con người hôm nay,sống là phải ghi ân những thành quả cuộc sống mà người khác đã tạo ra cho mình Biếtgiúp người, biết tri ân là bài học làm người căn bản nhất

2.2 Vấn đề sử dụng điển cố trong thơ văn trung đại

Việc dùng điển cố trong văn học phương Đông (chủ yếu là văn học Trung Hoa vàViệt Nam) cơ bản dựa trên nguyên tắc thể hiện bằng nguồn vay mượn ý, lời từ câu văn,câu thơ hoặc trong kinh, sử, truyện… của người xưa Trong những tác phẩm đầu tiêncủa văn học Trung Hoa như Kinh Thi hầu như chưa có điển cố Nhưng sau khi đượcKhổng Tử san định và phổ biến thì chính nó trở thành kho tàng điển cố của những tácphẩm văn học sau đó Trong thời Chu Tần, văn học Trung Hoa phát triển mạnh mẽ,nhất là tản văn triết học Những tác phẩm của Chu Tử các giai đoạn này trở thànhnhững mẫu mực cho thời đại nối tiếp, nhất là thời Đường Tống, cả văn học lẫn triết họcTrung Hoa đều rất phát triển Những tác phẩm ưu tú nhờ các phương tiện in ấn phổbiến rộng rãi và đến lượt nó bổ sung thêm nguồn điển cố mới cho văn học Trung Đại

Trang 28

Điển cố trong văn học phương Đông nói chung và văn học Trung Hoa, Việt Namnói riêng được xem như là chất liệu mang chức năng xây dựng hình tượng một cách sâusắc, nhiều ý nghĩa Sự hình thành và thể hiện điển cố văn học không đơn thuần là mộtbút pháp tu từ mà thực tế do quan niệm triết học chi phối.

Trong văn học Trung Đại, điển cố được sử dụng phổ biến và mang ý nghĩa sâu sắc.Điển cố giúp nâng câu thơ thành tư tưởng với ý nghĩa phong phú hơn Trần Danh Án

trong Tự Thuật bày tỏ nỗi lòng đau đớn của người con yêu nước trước thảm trạng đất

nước bị xâm lược

Do hữu ky thần lệ ám lưu, Quốc tình, gia tứ, lưỡng du du

Tha hương khởi tất phùng thanh nhãn,

Nghịch cảnh thùy trung Thục thừa tướng, Báo cừu thốn thiệt Trương Lưu Hầu.

Nam nhi bất tố oanh thiên sự,

Hư độ phù sinh, tử tiện hưu

Nỗi nước, tình nhà bận cả hai, Khóc thầm đất khách một than tôi.

Quê xa chắc gặp trông xanh mấy, Cảnh nghịch mà không tóc bạc ai.

Dây nước, lòng trung ông Lượng sẵn,

Báo thù, khoa nói họ Trương Tài, Trai không làm việc vang trời được, Sống kiếp sông suồng để… chết thôi

(Đông Xuyên dịch)

Thục thừa tướng tức Gia Cát Lượng tài trí tuyệt vời, làm chức thừa tướng, giúp Lưu

Bị nước Thục thời Tam Quốc lập vương nghiệp Trương Lưu Hầu tức Trương Lươnggiúp Hán Cao tổ thống nhất thiên hạ lập lên nhà Tây Hán, được phong Lưu Hầu, tác giả

là người có chí lớn, mong muốn được như Gia Cát Lượng và Trương Lương ra tay cứunước, lập lại vương triều xưa

Việc mượn ý, lời của người trước mặc nhiên được chấp nhận và nên làm vì đó làkhuôn mẫu, là quy phạm

Trang 29

Về nội dung, được quan tâm hơn là hình thức trau chuốt Từ hình thức một sự vật,người ta nhìn thấy và nói tới ngụ ý bên trong Từ hiện tượng đi vào bản chất bên trong,thể hiện bản tính, phẩm chất con người trong văn học Trung Đại, điển cố chứng minhrất rõ điều này Đọc câu thơ có điển cố, người đọc không thể lướt qua theo lối hiểuthông thường Bởi vì điển cố luôn luôn là thành phần mang hai nghĩa, nghĩa đen vànghĩa bóng như cấu tạo hai mặt âm dương của vũ trụ Như Nguyễn Du khi mô tả tâmtrạng Kiều nhớ nhà đã dùng nhiều điển cố, nếu hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của nhữngđiển cố trong đoạn thơ ấy, người đọc chắc chắn sẽ cảm nhận sâu sắc hơn nỗi nhớthương gia đình luôn ở trong lòng Kiều và qua đó thấy được tấm lòng hiếu thảo, thủychung của Kiều.

Bên trời góc bể bơ vơ, Tấm son (1) gột rửa bao giờ cho phai

Xót người tựa cửa hôm mai (2)

Quạt nồng ấp lạnh (3), những ai đó giờ?

Sân lai (4) cách mấy nắng mưa,

Có khi gốc tử (5) đã vừa người ôm

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)(1) Tấm son do chữ “đan tâm”, chỉ tấm lòng trung trinh; (2) chỉ người mẹ Chiếnquốc sách chép rằng Vương Tôn Giả - người thời Chiến Quốc thờ vua Tề Mân Vương.Thấy tướng nước Sở giết vua, Tôn Giả sợ bỏ chạy về nhà, người mẹ thấy vậy mắng conrằng “Buổi sớm con về muộn thì mẹ tựa cửa đứng trông Buổi tối con chưa về thì mẹtựa cửa mà mong Nay con thờ vua, vua chạy trốn mà không biết ở đâu thì con về đâylàm gì?” (3) do chữ trong Kinh Lễ :“Phàm vi nhân tử chi lễ, đông ôn nhi hạ sảnh” –(theo lễ làm con, quạt nồng ấp lạnh); (4) chỉ sân nhà cha mẹ Cao sĩ truyện chép tíchLão Lai, người đời nhà Chu, đã bảy mươi tuổi vẫn thờ cha mẹ hiếu thảo Có khi ông giảmặc áo ra sân múa hát, đóng tuồng như trẻ con cho cha mẹ vui; (5) Tử là tên một thứcây, chỉ quê hương xứ sở Do câu trong Kinh Thi :“duy tang dữ tử Tất cung kính chỉ”(cây dâu, cây tử ắt phải kính trọng)

Điển cố sử dụng trong thơ văn Trung Đại có thể nhận thức được bằng sự cảm nhận

và quan sát cái thể hiện bên trong, cái bản chất của vật thể Là cách nói có vẻ thu hẹp,nhưng đằng sau đó là sự mở rộng một tầng ý nghĩa sâu xa hơn Là cách nói thâm thúy,

Trang 30

chỉ gợi ý để người đọc tự mình liên tưởng, cảm nhận và tìm đến ý nghĩa đúng đắn nhất,xác thực nhất.

Một nội dung của điển cố có thể mang nhiều ý nghĩa, sự lựa chọn một ý nghĩa thiếtthực nhất, gần gũi nhất, đúng nhất cho văn cảnh là điều mà người đọc tự vận động để

có sự thông đạt cuối cùng và duy nhất về câu thơ Nguyên tắc của điển cố là “ý tại ngônngoại” dựa trên cơ sở gợi mở để người đọc hòa nhập vào trong mà cảm nhận và tìmhiểu Khi bị thu hút vào thế giới đó, người đọc hòa nhập vào trong và cảm nhận tốt hơnlại còn có thể nối tiếp tư tưởng, đồng thời sáng tạo thêm một hình tượng hoặc một ýtưởng đặc sắc nhất Qúa trình đặt để hình tượng hoặc ý tưởng hóa để hòa nhập vào bốicảnh chung rộng lớn hơn Cơ cấu của quá trình này tựa như bức tranh mộc mạc, màusắc, đường nét giản đơn nhưng bên trong chứa đựng tất cả những gì đang biến độngkhôn lường Truyện Kiều có câu:

Thưa rằng :“Lượng cả bao dong,

Tấn Dương được thấy mây hồng có phen

Điển “Tấn Dương” khiến người đọc hiểu rằng Kiều tin tưởng Từ Hải sẽ làm nênđược nghiệp đế như Đường Cao Tổ lập nghiệp đế từ đất Tấn Dương

Bên cạnh đó, trong thời trung đại điển cố còn kích thích người đọc cảm thụ thơbằng hình tượng đạt hiệu quả, hấp dẫn hơn rất nhiều lần Điển cố làm người đọc phátsinh sự kích thích muốn tìm kiếm, phát hiện một ý nghĩa tiềm ẩn bên trong và niềmhứng thú khi hiểu được ý nghĩa đứng sau lớp ngôn từ tưởng chừng rất đơn giản Và vìvậy, điển cố không chỉ là một thủ pháp văn học mà là một thế giới quan, nhân sinhquan sâu xa

Trong văn học trung đại Việt Nam, các nhà thơ, nhà văn sử dụng điển cố thường

xuyên nhất phải nói đến các tác giả như Nguyễn Trãi tiêu biểu với Quốc Âm Thi Tập;

Nguyễn Du với Truyện Kiều…

2.3 Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”

2.3.1 Điển cố trong “Quốc Âm Thi Tập”

2.3.1.1 Số lượng sử dụng

Trong Quốc Âm Thi Tập, Nguyễn Trãi đã sử dụng một trăm tám mươi sáu điển cố

trong hai trăm năm mươi bốn bài thơ chữ Nôm, số lượng sử dụng điển cố nhiều, dàyđặc, phân bố rải rác trong các bài thơ Trong các chủ đề đều có Trong bài nghiên cứu

Trang 31

này tôi thống kê được một trăm sáu mươi sáu điển cố cụ thể trong từng chủ đề như sau:

Vô đề có 138 điển cố; thời lệnh môn có 11 điển cố; hoa mộc môn có 13 điển cố; cầmthú môn có 04 điển cố

Với số lượng điển cố mà Nguyễn Trãi đã sử dụng như vậy làm cho tập thơ Quốc

Âm Thi Tập mang nhiều ý nghĩa, nghĩa rộng hơn, khái quát cao hơn.

2.3.1.2 Tần xuất sử dụng

Quốc Âm Thi Tập là tập thơ Nôm được Nguyễn Trãi sáng tác vào thời gian có thể nói là êm đềm của ông Trong Quốc Âm Thi Tập nghệ thuật nổi bật mà Nguyễn Trãi

sử dụng là nghệ thuật điển cố Điển cố được ông sử dụng rất thường xuyên, liên tục và

có thể khẳng định là dùng nhiều trong tập thơ Nôm này Điển cố hầu hết được sử dụng

ở các môn đề và trải khắp các bài đều có

Xét tác phẩm, ta thấy điển cố được sử dụng phổ biến trong các câu thơ, NguyễnTrãi dùng điển cố thường là những tên riêng, tên người, tên địa danh…như đã nói ởtrên Nguyễn Trãi sáng tác tập thơ này là vào khoảng thời gian ông an nhàn khi ông về

ở ẩn ở Côn Sơn, đây là những trăn trở, những ý kiến hay những nhận xét, những cảmnhận của tác giả về thời thế của đất nước, con người, về thiên nhiên… nên trong cách

sử dụng nghệ thuật điển cố, Nguyễn Trãi cho người đọc thấy con người ông rõ hơn.Với cách thể hiện điển cố như vậy chúng ta thấy thành công của ông trong việc dùngnghệ thuật điển cố rất thiện nghệ và trau chuốt Đọc tập thơ chúng ta nhận thấy điển cốđược tác giả dùng nhiều trong một tứ thơ, trong một bài thơ, trong một câu thơ haytrong một ý thơ Chúng ta có thể nhận thấy tiêu biểu như:

Trong bài Ngôn Chí 03 có tới ba điển cố xuất hiện:

Trang 32

Túi thơ bầu rượu quản tình suông

Quảy dụng đầm hâm mấy dặm đường.

Đài Tử Lăng cao, thu mát,

Bè Trương Khiên nhẹ, khách sang.

Tằm ôm lúc nhúc, thuyền đậu bãi, Hàu chất so le, khóm cuối làng.

Ngân sách thằng chài trong thuở ấy, Tiếng trào dậy khắp Thương Lang

Với ba điển cố “Đài Tử Lăng” “bè Trương Khiên” “Thương Lang” được NguyễnTrãi sử dụng rải rác trong bài thơ, có thể thấy được cuộc sống trong sạch của tác giả giữlòng trong sáng như điển cố Đài Tử Lăng – một tên địa danh ở Trung Quốc Tử Lăng lànhân vật nổi tiếng, một viên quan thanh bạch, vì thời thế thay đổi thì ông về ở ẩn ở quê,quê ông về ở ẩn là một vùng thanh tịnh thuộc miền núi Phú Xuân của tỉnh Triết Giang(Trung Quốc), nơi có ruộng, có vườn, có chỗ để ông câu cá… Trương Khiên là nói đếnmột nhà thám hiểm nổi tiếng đời Hán, ông đã đi sứ nhiều nơi với cuộc sống thanh nhàn,không phải vướng bận, lo nghĩ nhiều về thời thế Thương Lang là tên một ca khúc đồngthời là tên một dòng sông, được tác giả cảm nhận như một ngư phủ ung dung với tiếnghát trào lộng có ý nhạo đời vang khắp trên sông Thương Lang Bài thơ sử dụng cácđiển là tên riêng của Trung Quốc nhưng đặt trong văn cảnh Việt Nam nhất là đối vớitrường hợp của Nguyễn Trãi thì chúng ta nhận thấy được tâm hồn ông muốn gởi gắmrất sâu sắc

Trong bài Tự Thán 04 có ba điển cố xuất hiện:

Trang 33

Non nước cùng ta đã có duyên, Được nhàn xá dưỡng tính tự nhiên.

Trường Canh hỏi nguyệt tay dừng chén,

Pha lão chơi thu khách nổi thuyền.

Lòng chẳng mắc tham là của báu,

Người mà hết lụy ấy thần tiên.

Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn

Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền

Bài thơ nói về đời sống của một nhà thơ đời Tống của Trung Quốc, sống trong sạchmột đời không màng công danh, không tham lam, sống trong sáng như sao Thái Bạchvới điển cố “Trường Canh” được hưởng phúc, ích lợi của vua, vẻ vang như những ôngvua Nghiêu, Thuấn là những ông vua thần thoại xưa với hai điển cố “Nghiêu Thuấn”,tiêu biểu cho một đất nước thái bình, thịnh trị mang cho người dân trong đất nước đượcsống yên bình

Có thể nói việc sử dụng điển cố với một hệ thống dày đặc, với tần xuất sử dụng liêntục như trên làm tăng hiệu quả cho bài thơ về mặt ý nghĩa nội dung cũng như nghệthuật, làm cho bài thơ tăng tính thuyết phục người đọc và thành công hơn

Ngoài ra, ta còn thấy nhiều điển cố còn được sử dụng rất nhiều, ít nhất ba lần lặp đi

lặp lại trong một bài thơ và nhiều bài thơ Lặp lại trong một bài thì ta đã thấy ở bài Tự thán 04 mà ta đã xét ở trên với điển cố “Nghiêu Thuấn” Điển cố này cũng được lặp lại

ở các bài khác như Thuật hứng 20, Bảo Kính Cảnh Giới 16.

Trong Thuật hứng 20 với câu:

Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị Tóc tơ chưa báo mẹ cha sinh

Trang 34

Trong Bảo Kính Cảnh Giới 16 với câu:

Chúc thánh cho tày Nghiêu Thuấn nữa

Được về ở thú điền viên

Điển cố “Nghiêu Thuấn” này được sử dụng trong các bài thơ đều để nói về mộtmong muốn có được một đất nước với cuộc sống an lành, ví đất nước với đất nước củanhững vị vua trong truyền thuyết Trung Hoa xưa, có những vị vua thánh như ĐườngNghiêu và Ngu Thuấn, đã mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân

Ta cũng có thể kể đến một vài điển cố được Nguyễn Trãi sử dụng lặp lại nhiềutrong các bài thơ như:

Điển cố “Nhan Uyên” trong bài Ngôn chí 11 với câu:

Nhan Uyên nước chứa bầu còn nguyệt,

Đỗ Phủ thơ nên bút có thần

Trong bài Thuật hứng 12 với câu:

Lều tiện Nhan Uyên tìm đến đỗ,

Đường cùng Nguyễn Tịch khóc làm chi

Trong bài Tự thuật 11 với câu:

Vũ Truyền thiên hạ Nhan Uyên ngặt,

Đổi đất song thì có khác nao

Trang 35

Nhan Uyên là nói tới tên một học trò của Khổng Tử, học giỏi nhà rất nghèo, sốngthanh bạch cơm một giỏ, bầu một nước Sử dụng điển cố trong các trường hợp này để

ca ngợi danh nhân

Điển cố “Chu Dịch” trong bài Tự thán 09 với câu:

Tỏ tường phiến sách con Chu Dịch Bàn bạc lòng nhân cách quých chòe

Trong bài Ngôn chí 19 với câu:

Ngày nhàn mở quyển xem Chu Dịch

Đêm vắng tìm mai bạn Lão Bô

Trong bài Tự thuật 08 với câu:

Nha tiêm tiếng động án Chu Dịch Thạch đỉnh hương tàn khỏi thủy trầm

Điển cố “Chu Dịch” nói về sách kinh dịch, sử dụng nhiều ở Trung Hoa xưa

2.3.1.3 Một số điển cố tiêu biểu trong “Quốc Âm Thi Tập”

Chúng ta cùng xét những điển cố tiêu biểu mà tác giả Nguyễn Trãi đã sử dụng trong

Quốc Âm Thi Tập để thấy rõ hơn việc sử dụng điển cố của ông trong thơ chữ Nôm của

ông nói riêng và trong thơ văn trung đại nói chung

Trong Tự thán 15:

Lòng người Man Xúc ngọc đua hơi,

Trang 36

Chẳng cóc người sinh gửi chơi

Điển cố “Man Xúc” theo sách điển trong sách Trang Tử :“có một nước ở cái sừngbên tả con ốc sên gọi là Man, một nước ở cái sừng bên hữu gọi là họ Xúc, hai bên tranhđất đánh nhau” Do đó về sau trong văn học dùng điển này để chỉ cuộc tranh chấp nhỏmọn

Trong Tự thán 26:

Cưu lòng nhụ tử làm thơ dại

Ca khúc Thương Lang biết trọc thanh

Điển cố “Thương Lang” nói đến ca khúc Thương Lang trong bài “Ngư Phủ” củaKhuất Nguyên “Thương Lang chi thủy thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh; Thương Lang chithủy trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc” (nước sông thương Lang mà trong thì có thể giặt giải

mũ của ta, nước sông Thương Lang mà đục thì có thể rửa chân ta), lời hát có ý tràolộng, nhạo đời cho nên ở trên hiểu trào là trào lộng Khi đọc bài “Ngư Phủ” của KhuấtNguyên cảm thấy như tiếng hát trào lộng của người ngư phủ vang lên khắp sôngThương Lang

“Thanh xuất ư lam nhi thanh ư lam” – màu xanh từ màu lam ra, nhưng lại xanh hơnmàu lam Ý nói Chu Đôn Di theo học thọ Nham thiền sư, mà phát minh được đạo lýhọc cao hơn thầy

Trang 37

từ truyền thuyết thời cổ đại Trung Quốc là người vạch ra bát quái, sau đó người các đời

bổ sung, hoàn chỉnh thành kinh dịch, do đó hy kinh cũng tức là kinh dịch Ý hai câu cóthể hiểu như sau: Tại đình Thấu Ngọc nấu xanh tuyết bám ở nhũ đá để lấy nước pha trà,bên cửa sổ có trồng hoa mai, ngồi đọc kinh dịch

Trong Tự thuật 03:

Bà ngựa dầu lành nào Bá Nhạc

Cái gươm nhẫn có thiếu Trương Hoa

Trang 38

Hai điển cố “Bá Nhạc” và “Trương Hoa”, theo sách “Dự Chương Ký” thì TrươngHoa là người đời Tấn, xem thiên văn biết ở huyện Phong Thành có bảo kiếm bèn saiLôi Hoàn đi tìm Lôi Hoàn đào dưới nhà ngục huyện Phong Thành được hai thanhkiếm, một khắc chữ Long Tuyền, một khắc chữ Thái A, Trương Hoa và Lôi Hoàn mỗingười nột thanh Sau khi hai người chết, hai thanh kiếm hóa thành hai con rồng lặnxuống nước (theo bản dịch của Trần Văn Giáp).

Trên đây là một số điển cố tiêu biểu mà tác giả đã sử dụng trong tập thơ Nôm Quốc

Âm Thi Tập.

2.3.2 Điển cố trong thơ Nôm “Quốc Âm Thi Tập” gắn liền với tư tưởng của Nguyễn Trãi

Khảo sát ý nghĩa điển cố trong thơ Nôm Quốc Âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, ta

càng thấy được tác giả sử dụng điển cố để nói lên tư tưởng và tâm trạng của chính conngười mình Thông qua việc thể hiện điển cố ta thấy được con người ông gắn với nhiều

ý nghĩa lịch sử trải dài trong cuộc sống của ông, ta còn thấy nhiều điển cố Nguyễn Trãithể hiện là ông muốn so sánh mình với các bậc tiền bối

Nguyễn Trãi tỏ ra là người chiến sĩ kiên cường, tích cực đấu tranh cho nền độc lậpdân tộc, cho sự tự cường và sự thịnh vượng của đất nước Ông đã chứng minh văn học

là vũ khí lợi hại Bằng ngòi bút, bằng lời lẽ hùng hồn ông đã cho thấy tư tưởng nhânnghĩa của Nguyễn Trãi mang màu sắc Việt Nam, thể hiện lòng yêu nước, thương dânthắm thiết của Ức Trai

Nếu chúng ta chịu khó bỏ ra đôi chút thì giờ để cho tâm hồn lắng xuống, để tậptrung thông cảm sâu sắc với người xưa, thì tôi nghĩ thơ Nguyễn Trãi có thể làm ta rungđộng xao xuyến Cái đau xót của nhà thơ sẽ nâng cao tình cảm của chúng ta Cái buồntrong thơ Ức Trai vẫn thêm ý nghĩa cho cái vui của chúng ta ngày nay và con cháuchúng ta mai sau, vì nó nhắc nhở chúng ta tính chất trung cổ ghê tởm của xã hội phongkiến, tăng cường mối căm thù của chúng ta đối với mọi xã hội người áp bức người, cho

ta thấy rõ hơn tính chất ưu việt của chế độ hiện tại của chúng ta

Trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi, ta thấy nhiều lúc ông đang mải than thở về nỗiđau xót của mình thì tự nhiên như có cái gì nhói lên trong tâm hồn ông, bắt ông nghĩđến trách nhiệm của mình, của người trượng phu khiến ông nhớ đến đạo cương thường,phò vua giúp nước:

Trang 39

Ao quan thả gửi hai bè muống

Đất bụt ương nhờ một luống mùng

(Thuật hứng – 23)Ông từng thức trắng đêm vì lòng ưu ái, vì nỗi lo cho nhân dân, cho đất nước làmông thao thức Đương nhên bị điều kiện lịch sử hạn chế, Nguyễn Trãi không thể nàonhìn thấy bản chất phản động của giai cấp phong kiến thống trị, tình trạng bế tắc củachế độ phong kiến quan liêu Suốt đời mình, Nguyễn Trãi hằng mơ ước một xã hội lítưởng trên thì vua hiền, dưới thì tôi thảo, trong đó mọi người đều sống no ấm thanhbình bằng sức lao động của mình:

Cày ruộng cuốc vườn dầu hết khỏe,

Tôi Đường Ngu ở đất Đường Ngu

Đường Ngu tức là hai triều đại Nghiêu Thuấn, theo truyền thuyết Trung Quốc tươngtruyền là thời kỳ thái bình lý tưởng, thuở ấy nhà không ai đóng cửa, của rơi dọc đườngkhông ai nhặt, tất cả mọi người đều sống yên vui trong tình yêu thương, đùm bọc lẫnnhau

Thơ Nôm Nguyễn Trãi nói nhiều đến những khó khăn ông đã vấp phải sau chiếnthắng, những khi không được nhà vua tin dùng và rõ ràng có những hoàn cảnh rất khó:

Góc thành Nam, lều một gian,

No nước uống, thiếu cơm ăn

(Thủ vĩ ngâm)Đất nước vừa trải qua hơn hai trăm năm bị quân thù tàn phá biết bao công việc phảilàm:

Trang 40

Quan thanh bằng nước, nhà bằng khánh, Cảnh ở tựa chiền, lòng tựa sàng

(Tự thuật 06)Nói một cách khác: chức quan rỗng không, nhà rỗng không và lòng cũng rỗngkhông Lời thơ của Nguyễn Trãi vừa chua chát vừa đắng cay Cũng có lần tác giả nóithẳng:

Vệ Nam mãi mãi ra tay thước

Điện Bắc đà đà yên phận tiên

(Bảo Kính Cảnh Giới 56)Tác giả đã dùng điển cố gắn với những chiến tích lịch sử, đánh dẹp phương Bắc,dẹp giặc Minh, bảo vệ nước Nam với các điển cố “Vệ Nam, Điện Bắc”

Trương Lương sau khi giúp Hán Cao Tổ thì đi tu tiên Ở đây, Nguyễn Trãi cũngmuốn sánh mình với Trương Lương Điều này không có gì lạ, tài năng của ông làchuyện không thể nghi ngờ Vậy thì tại sao lại không được dùng? Vẫn là chuyện muônthuở Có ngựa hay, có gươm quý, lại phải có người biết nhìn ngựa, nhìn gươm:

Bà Ngựa dầu lành, nào Bá Nhạc

Cái gươm nhẫn có, thiếu Trương Hoa

(Tự thuật 03)Trong nhiều năm, Nguyễn Trãi từng gặp được ở Lê Lợi một cái nhìn như thế.Nhưng giờ đây một cái nhìn như thế đối với ông không còn nữa Cũng qua thơ Nôm

Quốc Âm Thi Tập ta cũng thấy Nguyễn Trãi rất thích sống giản dị, sống thảnh thơi

giữa non xanh cảnh vắng ở Côn Sơn, hơn nữa thơ ông còn thể hiện tấm lòng ưu ái

Ngày đăng: 08/04/2018, 22:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
01. Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Văn Toàn, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội – 1976 Khác
02. Đào Duy Anh, Hán Việt từ điển, NXB Văn hóa thông tin – 2005 Khác
03. Nguyễn Kim Châu, Bài giảng văn học trung đại Việt Nam, Đại học Cần Thơ – 2004 Khác
04. Mai Cao Chương, Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Văn học Việt Nam (thế kỷ X – nửa đầu thế kỷ XVIII), NXB Giáo Dục – 1997 Khác
05. Đoàn Lê Giang, Khoa khoa học và ngôn ngữ trường Xã Hội và Nhân Văn Khác
06. Nguyễn Văn Hoài, Hán Nôm 02, Cần Thơ – 2003 Khác
07. Đinh Gia Khánh, Điển cố văn học. NXB Hà Nội – 2001 Khác
08. Mai Quốc Liên chủ biên, Kiều Thu Hoạch, Vương Lộc, Nguyễn Khuê, Quốc Âm Thi Tập – Tân Biên, NXB Văn Hóa Thông Tin Quốc Học – 2001 Khác
09. Đặng Thai Mai, Trên con đường nghiên cứu và giảng dạy văn chương, NXB Giáo Dục – 2004 Khác
10. Bùi Văn Nguyên chủ biên, Nguyễn Sĩ Cẩn, Hoàng Ngọc Trì Văn học Việt Nam (thế kỷ X – XVIII), NXB Giáo Dục – 1990 Khác
11. Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm: NXB Giáo Dục - tháng 12 năm 2007 Khác
13. Trần Đình Sử, Mấy vấn đề thi pháp văn học Việt Nam: NXB Giáo Dục – 1999 Khác
14. PGS.TS Trần Ngọc Thêm, Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội Khác
15. PGS.TS Trần Nho Thìn, Văn học Trung Đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa: NXB Giáo Dục – tháng 10 năm 2003 Khác
16. Tạ Đức Tú, Bài giảng Hán Nôm 01 Đại học Cần Thơ – tháng 06 năm 2005 Khác
17. Trần Ngọc Vương, Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung: NXB Giáo Dục – tháng 01 năm 1998 Khác
18. Giáo sư Lê Trí Viễn, Đặc trưng văn học Trung Đại Việt Nam, NXB Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh – 2001 Khác
19. Giáo sư Lê Trí Viễn, Quy luật lịch sử văn học Việt Nam, NXB Giáo Dục – 1998 Khác
20. Lê Thị Thu Yến chủ biên, Đoàn Thị Thu Vân, Lê Văn Lực, Phạm Văn Nhu, Văn học Việt Nam, NXB Giáo Dục – tháng 08 năm 2003.Cùng một số tài liệu và trang web Khác
21. Ngô Tự Lập, Điển tích cuộc sống và văn học – bài viết mạng 22. Tạp chí nghiên cứu văn học số 12/2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w