1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cảm hứng hoài cổ trong ''quốc âm thi tập của nguyễn trãi

65 1,8K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cảm hứng hoài cổ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
Tác giả Nguyễn Trãi
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1980
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 224 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vấn đề Cảm hứng hoài cổ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã đợc một số nhà nghiên cứu nhắc đến ở một vài khía cạnh trong những bài viếtcủa mình: - Niềm thao thức lớn trong t

Trang 1

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1 Nguyễn Trãi (1380-1442) là anh hùng dân tộc, là một danh nhânvăn hóa thế giới, đồng thời cũng là một đại thi hào của dân tộc Ông đã đểlại một sự nghiệp sáng tác đồ sộ với những tác phẩm kiệt xuất Một mảngchiếm vị trí rất quan trọng của sự nghiệp sáng tác của ông là thơ Nôm Với

số lợng khá đồ sộ là 254 bài thơ, Quốc âm thi tập đã thể hiện một cách đầy

đủ con ngời của nhà thơ

Hoài cổ nghĩa là hớng về quá khứ, điều này thờng thấy ở những bậcthi nhân xa Viết về quá khứ cũng là cách con ngời bày tỏ thái độ đối vớihiện tại, nhất là trong xã hội phong kiến Đặc biệt đối với các thi nhân xa,tầng lớp trí thức nho học, những ngời đợc đào tạo tại cửa Khổng, sân Trìnhchịu ảnh hởng mạnh mẽ và sâu sắc của văn hoá phơng Đông thì hoài cổkhông chỉ là cảm hứng mà còn là nhu cầu cảm xúc, một hoạt động tinh thầnkhông thể thiếu Nhớ lại quá khứ các thi nhân so sánh với thực tại từ đó

cũng bộc lộ rõ quan điểm của mình đối với thực tại.

2 Quốc âm thi tập là tập thơ nổi tiếng của Nguyễn Trãi gồm 254 bài Phần lớn số bài thơ trong Quốc âm thi tập đợc Nguyễn Trãi sáng tác

trong giai đoạn cuối đời, khi nhà thơ có nhiều tâm sự, vì vậy mà cảm hứnghoài cổ trong tập thơ càng sâu đậm hơn Khi nghiên cứu cảm hứng nàychúng ta có điều kiện tiếp xúc với con ngời thi nhân của Nguyễn Trãi Đó làcon ngời vùa có tầm nhìn xa, trông rộng của một triết gia hiểu thấu mọi xuthế tiến triển của sự vật, biết hớng về những nhân tố mới đang nảy sinh Nh-

ng mặt khác con ngời ấy lại luôn hớng về những giá trị tốt đẹp, hớng vềthiên nhiên, cỏ cây hoa lá, hòa mình vào thiên nhiên để thấy đợc chínhmình, thấy đợc tâm hồn mình

2 Mục đích, yêu cầu của việc giải quyết đề tài

1 Làm sáng tỏ những biểu hiện cụ thể của cảm hứng hoài cổ trong

Quốc âm thi tập Để làm đợc điều này đòi hỏi chúng tôi phải tiến hành khảo sát tất cả các bài thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, khái quát nên

những nội dung chung nhất cụ thể nhất của cảm hứng này

2 Lí giải những căn nguyên của cảm hứng hoài cổ ở tập thơ, đánhgiá cảm hứng này của nhà thơ

Trang 2

3 Lịch sử vấn đề

Cảm hứng hoài cổ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi đã đợc

một số nhà nghiên cứu nhắc đến ở một vài khía cạnh trong những bài viếtcủa mình:

- Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi (Nguyễn Huệ Chi-Trên con đờng tìm hiểu thơ văn Nguyễn Trãi Nxb Văn học, H,1980).

- Một vài nét về Nguyễn Trãi qua thơ Nôm (Hoài Thanh- 600 năm Nguyễn Trãi , Nxb Tác phẩm mới, H, 1980).

- Con ngời cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Trần Đình Sử-Về con ngời cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, Nxb Giáo Dục, H, 1997).

- Anh hùng và cảm quan anh hùng qua thơ văn Nguyễn Trãi (Bùi Duy Tân – Kỉ niệm 600 năm năm sinh Nguyễn Trãi Nxb Khoa học xã hội,

H, 1982)

Những bài viết này đã đề cập đến một số khía cạnh của cảm hứnghoài cổ Nguyễn Huệ Chi đã chỉ ra đợc nỗi luyến tiếc quá khứ thể hiệntrong thơ ông về những gì một đi không trở lại Hoài Thanh, Trần Đình Sửchỉ ra đợc một vài nét riêng trong con ngời cá nhân Nguyễn Trãi Hai tácgiả đã nói lên đợc nỗi niềm của Nguyễn Trãi đối với tuổi trẻ của mình

Tuy nhiên, mặc dù đã đề cập đến một số biểu hiện của cảm hứng hoài cổnhng rõ ràng đó mới chỉ là những khía cạnh nhỏ, cha đầy đủ Thậm chí có ngờichỉ xem đó là một ý để dẫn dắt để từ đó làm rõ một nội dung khác

Trên cơ sở kế thừa những nội dung trên, luận văn này chúng tôi sẽnghiên cứu sâu hơn, rõ hơn biểu hiện của cảm hứng hoài cổ Bởi lẽ cảmhứng này là tổng hòa của nhiều giá trị, nhiều ý nghĩa nhng trong đó lớnnhất là ý nghĩa nhân sinh Nó cũng thể hiện sự gắn bó của nhà thời thơ đốivới đất nớc, con ngời, dân tộc

4 Phơng pháp nghiên cứu

Luận văn này chúng tôi sử dụng các phơng pháp phổ biến nh: Thống

kê, tổng hợp, phân tích, so sánh ( so sánh với cảm hứng hoài cổ trong ức Trai thi tập ) để tìm ra những nét tơng đồng

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chủ yếu của luận văn

đợc chúng tôi trình bày trong ba chơng :

Chơng 1: Nguyễn Trãi viết về tuổi trẻ của mình

Chơng 2: Nguyễn Trãi viết về các nhân vật Việt Nam trong quá khứ

Trang 3

Ch¬ng 3 : NguyÔn Tr·i viÕt vÒ c¸c nh©n vËt trong lÞch sö Trung Hoa

Trang 4

Chơng I

Nguyễn Trãi Viết Về Tuổi Trẻ Của Mình

1.1 Kí ức bằng thơ về tuổi trẻ đầy hoài bão

Hoài cổ nghĩa là nhớ về quá khứ Cảm hứng hoài cổ ở đây chính lànguồn cảm xúc hớng về quá khứ, về một thời đã qua, tìm thấy những giá trị

đẹp đẽ của một thời, từ đó bộc lộ đợc t tởng, tình cảm, cảm xúc của bảnthân mình trớc thực tại

Nguyễn Trãi viết Quốc âm thi tập vào giai đoạn về Côn Sơn ở ẩn, giai

đoạn mà cuộc đời ông đã trải qua bao thăng trầm, sóng gió, sau bao trải

nghiệm 254 bài thơ Quốc âm thi tập thực sự là bản tổng kết đánh giá về

con ngời, tính cách, lối sống, suy nghĩ …Con ngCon ngời Nguyễn Trãi với đầy đủphơng diện đã đợc thể hiện, trong đó có cả nỗi niềm hoài cổ sâu kín của

ông Đó là lòng hoài niệm về quá khứ, tuổi trẻ đẹp đẽ mà hào hùng, cũng làthời đại với đầy đủ những biến cố lịch sử Chính thời đại ấy đã tạo ra biếtbao anh hùng, hào kiệt, những con ngời đã làm nên lịch sử vẻ vang của dântộc Giờ đây khi mái đầu đã bạc, ngoảnh lại nhìn thời oai hùng xa xa lạihiện về đầy đủ nhất nguyên vẹn nhất

Trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi đã ghi lại một chuỗi ký ức bằng thơ

về một thời tuổi trẻ đầy hoài bão, đầy biến động Mở đầu là bài thơ Vô đề nói về

mời năm gió bụi, mời năm phiêu bạt trên con đờng đi tìm minh chủ :

Góc thành nam, lều một căn

No nớc uống, thiếu cơm ăn Con đòi trốn, dờng ái quyến

Bà ngựa gầy, thiếu kẻ chăn

Ao vợi hẹp hòi, khôn thả cá

Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn Triều quan chẳng phải, ẩn chẳng phải, Góc thành Nam, lều một căn.

Trang 5

Bài thơ ra đời từ rất sớm Theo Đại Việt sử ký toàn th và theo Di cảo

của Đinh Liệt, sau khi nhà Hồ bị suy sụp Nguyễn Phi Khanh ra đầu thú và

bị giải đi Vạn Sơn Điếm (Hồ Bắc, Trung Quốc) Nguyễn Trãi cùng hai bácruột là Nguyễn Th, Nguyễn Sùng khôn khéo giả đầu hàng rồi chốn đi theoTrần Trùng Quang Lúc bị giặc truy lùng ba bác cháu chạy vào thành Nghệ

An bị chặn lại ở Khả Lu gần Thành Nam, rồi bị quản thúc ở đó từ

1413-1416 mới đợc tha bổng đa ra Đông Quan cải huấn ít lâu sau Nguyễn Trãi

trốn thoát Khoảng năm 1422-1423 lên Lỗi Giang đa Bình Ngô sách cho Lê

Lợi Bài thơ ghi lại thời gian này của ông, một thời rất hào hùng và oanhliệt, từ đó gợi về quá khứ, tuổi trẻ không thể nào quên

Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên giữa lúc xã hội phong kiến Việt Nam

có nhiều biến chuyển sâu sắc Ông nhìn thấy những lãnh địa rộng lớn, sựgiàu có xa hoa cực kỳ của đại quý tộc nhà Trần với hàng nghìn gia nô Rồi

ông lại chứng kiến sự suy tàn của giai cấp quý tộc bởi những cải cách của

Hồ Quý Ly nhất là cuộc đại tàn sát năm 1391 Ông chứng kiến uy thế củanhà Hồ, với những cải cách nh: Phát hành tiền giấy, di dân khẩn hoang …Con ngRồi lại chứng kiến sự thất bại của nhà Hồ khi quân Minh vào xâm lợc, việccha con Hồ Quý Ly và cả ngời cha thân yêu của ông bị giặc Minh bắt giải

về Trung Quốc Ông đã từng nếm trải những năm sống cơ cực dới áchchiếm đóng của giặc Minh Thơng dân, thơng thân đau khổ mà thấy mìnhbất lực Ông đã chứng kiến phong trào đấu tranh anh dũng do nhà Trần lãnh

đạo lần lợt thất bại với những tấm gơng hy sinh bất khuất của những anhquý tộc yêu nớc nhà Trần Ông cũng đợc chứng kiến sự thiết lập chế độchiếm đóng quân sự của bọn xâm lợc Minh với thành lũy và đồn bốt khắpnơi, với chính sách làm kiệt quệ sức ngời, sức của của dân ta, với sự khủng

bố tàn bạo cha từng có Đất nớc tởng nh chìm sâu vào họa diệt vong, bỗngnhiên lại hồi sinh khi rừng núi Lam Sơn nhóm họp trào kháng chiến ChínhNguyễn Trãi đã chứng kiến và tham gia vào một phòng trào kỳ diệu nhấtcủa lịch sử dân tộc- một thời kỳ rực rỡ nhất

Tuổi trẻ của Nguyễn Trãi đã có những lúc thật hăm hở :

Trờng ốc ba thu, uổng mổ danh Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh.

Cuốc cày ớc xáo vờn ch tử, Thuyền mọn khôn đa biển lục kinh

án sách cây đèn hai bạn cũ

Trang 6

Song mai hiên trúc một lòng thanh.

Lại mừng nguyên khí còn thịnh

Còn cậy vì hay một chữ đinh.

( Ngôn chí 6)

Đây là một thời kỳ đầy hào hùng, chí khí, tuổi trẻ tràn đầy sự hăm

hở Nguyễn Trãi muốn đem hết tài mọn của mình ra để phục vụ giang sơn,

đất nớc, phục vụ nhân dân Câu thơ viết về thời còn trẻ, nói đến chuyện họchành, tu dỡng thuở nhỏ Nguyễn Trãi sinh năm 1380 có sách nói là sinh ởNhị Khê, nơi cha dạy học Phần chắc là sinh ở dinh ông ngoại rồi lớn lên ở

đó, vì thế ông đã nhận đợc sự trực tiếp chỉ bảo dạy dỗ của ông ngoại Mờituổi ông ngoại mất ông về ở với cha, đã đợc cha khen:

Lục tuế nhi đồng phả ái th

(Con thơ sáu tuổi đã ham đọc sách)

Thế là trớc đó đã học và tới đó đã rất ham học Không ít chàng thsinh tự bảo: mình nh loài cuốc cằn, nhng cuốc xáo cho chín cái vờn củatrăm nhà (ch tử) chắc cũng gặt hái đợc:

Cuốc cằn ớc xáo vờn ch tử

Mình thì nh thuyền mọn mà bể sáu kinh (lục kinh) của nhà nho thìmênh mông, gắng đua theo bè bạn không thật dễ dàng:

Thuyền mọn khôn đua bể lục kinh

Học ở đây là vừa học vừa tu dỡng, coi bạn bè với mình là đèn vàsách, mai và trúc Là lấy sách và đèn mà luyện chí của mình Học làm ngờicủa chàng th sinh lúc nhỏ tuổi là nh vậy Chàng sĩ tử xa cũng đã trải quabao vất vả vì thi cử Khi xã hội đang trong thời kì rối ren, vua quan nhàTrần bỏ bê công việc triều chính khiến muôn dân lầm than, cơ cực, NguyễnTrãi muốn dâng hiến tài trí của mình, muốn đem sức mình ra để xây dựng

đất nớc Nguyễn Trãi chuẩn bị đi thi thì nhà Hồ lên thay nhà Trần, ông do

dự không muốn đi :

Đã mấy thu qua để lệ nhà Duyên nào đeo đẳng khó chăng tha Một thân lẩn khuất đờng khoa mục Hai chữ mơ màng việc quốc gia.

(Ngôn chí 7)

Nguyễn Trãi là con cháu nhà Trần, giờ nhà Trần suy vong thì tâmtrạng do dự ấy cũng là điều dễ hiểu Thế nhng cảm quan chính trị, lòng yêu

Trang 7

thơng dân chúng đã thúc đẩy ông Năm 1400 Nguyễn Trãi lên kinh ứng thí

và đã đậu, đợc Hồ Quý Ly phong cho chức Chánh chởng đài ngự sử

Ra làm quan với nhà Hồ, ông không tránh khỏi đợc ngời khen kẻ chê:

Tuổi trẻ của Nguyễn Trãi là vậy Ông luôn muốn đem sức mìnhcống hiến cho đất nớc Ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Trãi đã xây dựngcho mình mộng đem tài trí để giúp dân giúp đời

Thế nhng sự nghiệp nhà Hồ tồn tại không đợc bao năm bởi khôngquy phục đợc lòng dân, ý dân Quân Minh dựa vào chiêu bài “lật Hồ phụcTrần” sang cớp nớc ta, nhân dân sống trong cảnh cơ cực lầm than NguyễnTrãi phải thốt lên :

ở thế nhiều phen thấy khóc cời Năm nay tuổi đã ngoại t mơi Lòng ngời một sự yêm chng một

Đèn khách mời thu lạnh hết mời ! (Tự thuật 9) Biết bao nhiêu bài thơ đã phản ánh những suy t ấy, những đau khổ ấy của

Nguyễn Trãi trớc cảnh nớc mất nhà tan, quân thù bạo ngợc:

Độc sinh độc bão u tiên niệm Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên (Hải khẩu dạ bạc hữu cảm) (Suốt đêm ôm mãi tấm lòng “lo trớc”

Chăn lạnh choàng vai thức suốt đêm)Nỗi lo cho dân đã thờng xuyên day dứt Nguyễn Trãi Ông đã đêm

đêm chẳng ngủ, có đêm thức mãi bên ngọn đèn mờ, ngồi mãi bên vầngtrăng lạnh Có đêm tựa mãi bên song suốt ba canh ma gió, thổn thức nhớquê trong cảnh thái bình Có đêm bỗng xô gối ngồi dậy:

Phú quốc binh cờng chăng có chớc

Bằng tôi nào thuở ích chng dân.

(Trần tình 37)

Trang 8

Làm gì đây để giúp cho nhân dân đang sống dới nanh vuốt của quânthù? Nhân dân bao giờ mới đợc giải phóng? Nhân dân bao giờ mới trở lạicuộc sống ấm no an vui, bao giờ hết nỗi sầu thảm oán giận? Những nổi lolắng đối với nhân dân ngày đêm thôi thúc Nguyễn Trãi suy t để tìm ra con

đờng đuổi giặc cứu nớc Ông muốn đem hết trí tuệ, tâm huyết, tài năng đểphục vụ nhân dân, phục vụ đất nớc Ngời thanh niên trí thức ấy thật hăm hởnhiệt tình

May thay ở mảnh đất Thanh Hóa anh hùng xuất hiện một vì tinh tú:Bình Định Vơng Lê Lợi Nguyễn Trãi với tấm lòng yêu nớc thơng dân đã đitheo nghĩa quân, quyết đem sức mình đánh đổ quân thù, giành độc lập cho dântộc Viết về thời gian khổ mà hào hùng oanh liệt ấy, Nguyễn Trãi nhớ lại :

Từ ngày gặp hội phong vân

Bổ báo cha hề đặng mỗ phân

Gánh khôn đơng quyền tớng phủ

Lui ngõ đợc đất nho thần

Ước bề giả ơn minh chúa

Hết khỏe phù đạo thánh nhân

Quốc phú binh quyền chăng có chớc

Bằng tôi nào thuở ích chng dân

(Trần tình 1)

“Hội phong vân” theo Kinh Dịch ý nói rồng mây, hổ gió, ngụ ý vuatôi nhóm họp với nhau Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn phát động từ những năm1416-1418 ban đầu chỉ có một số thành viên tham gia, sau đó phát triển lên.Năm 1422 – 1423 Lê Lợi đặt tổng hành dinh ở Lỗi Giang (Thanh Hóa)

Nguyễn Trãi vào yết kiến nhà vua, và dâng lên nhà vua Bình Ngô sách Đây là

thời điểm đánh dấu sự nghiệp của Nguyễn Trãi Phải chăng đó cũng chính làthời điểm gặp “hội phong vân” mà ông không bao giờ quên Và phải chăng từlúc đó ông nguyện đem hết sức mình để phục vụ cuộc kháng chiến :

Bổ báo cha hề đặng mỗ phân

Gánh khôn đơng quyền tớng phủ Lui ngõ đợc đất nho thần

(Trần tình 1)

Ta bắt gặp ở đây một hoài bão lớn một trách nhiệm lớn của ngời tri

thức trẻ Thời kỳ hào hùng, ngời thi thức luôn muốn sống trong cảnh vua tôitrên dới một lòng vì dân vì nớc :

Trang 9

Tôi ngơi thì một lòng trung hiếu Mựa để nghìn đời tiếng hổ hang (Tự thán 23)

Bui có một lòng trung lẫn hiếu (Thuật hứng 24)

Gặp đợc Lê Lợi nghĩa là tiếp tục thực hiện đợc hoài bão đã ấp ủ từ

lâu của mình Trải qua mời năm kháng chiến gian khổ, với bao vất vả mànghĩa quân phải chịu nh :

Khi Linh Khôi lơng hết mấy tuần Khi Khôi Huyện quân không một đội (Bình Ngô Đại Cáo)

Thế nhng quân dân với quyết tâm một lòng đã khắc phục khó khănlàm cho quân Minh phải khiếp sợ Đây là giai đoạn hào hùng nhất oanh liệtnhất, cũng là giai đoạn mà Nguyễn Trãi đợc thi thố tài năng, đem hoài bãocủa mình mà phục vụ đất nớc Giọng thơ của ông còn vang vọng một thờirực rỡ :

Mừng thuở thái bình yêu hết tấc

No lòng tự tại quản chi là…

Hay:

Đất thiên tử dỡng tôi thiên tử

Đời thái bình ca khúc thái bình

(Thuật hứng 20)

Thế là bao nhiêu năm mong đợi, bao nhiêu năm nếm mật nằm gai, vấtvả khổ cực nơi rừng sâu nớc độc bây giờ đã đợc đền đáp Giang sơn đã thu vềmột mối, nền độc lập đã trở lại với đất nớc, dân tộc Điều này đồng nghĩa vớiviệc Nguyễn Trãi đạt đợc những ớc mơ, nguyện vọng của mình

Giờ đây khi đang ngồi trên mảnh đất Côn Sơn, với t thế của một ẩn sĩnghĩ về quá khứ, âm vang của thời đại anh hùng lại trào sôi Vì một sựnghiệp to lớn thì “quản chi là …Con ng ở Nguyễn Trãi ta còn bắt gặp một con” ngời hăm hở đem hết sức mình để xây dựng đất nớc, luôn luôn có một suynghĩ :

Tôi Đờng Ngu ở đất Đờng Ngu.

Trong Quốc âm thi tập chúng ta bắt gặp rất nhiều câu, nhiều bài

Nguyễn Trãi nhắc về đất Đờng Ngu Đờng, Ngu là hai nhà nớc phong kiếnthịnh trị Trung Quốc tồn tại dới thời cộng sản nguyên thủy Thời đại ấy có bao

Trang 10

nhiêu nhân tài, Nguyễn Trãi ớc ao mình đợc sống trong thời đó Vì vậy ôngmong muốn một nhà nớc nh thế:

Ngẫm ngột sơn lâm lẫn thị triều Nào đâu chẳng là đất Đờng Nghiêu.

Ông luôn mơ về xã hội Nghiêu Thuấn:

Non phú xuân cao nớc Vị Thanh Mây quyến nguyệt, khách vô tình

Đất thiên tử dỡng tôi thiên tử

Đời thái bình ca khúc thái bình Cơm áo khôn đền Nghiêu Thuấn trị Tóc tơ cha báo mẹ cha sinh

(Thuật hứng 20) Trong bài Tự thán 28 ông viết:

Xin làm đời trị mỗ thái bình

Và:

Giàu những của tự nhiên ấy

Khủng khỉnh dầu lòng ở đất Nghiêu

Đó thực sự là một xã hội thật tốt đẹp:

Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn

Dờng ấy ta đà phỉ sở nguyền

(Tự thán 4)

Xã hội lí tởng nh vậy sẽ đợc thực hiện nhờ vua quan có trách nhiệm,

lo lắng cho hạnh phúc của nhân dân, lắng nghe nguyện vọng của dân

“không lấy điều muốn của một ngời mà cỡng ép muôn ngàn ngời khôngmuốn phải nghe theo Quan lại trị dân phải theo phép công bằng, làm việccần mẫn Lấy việc quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của sinhdân làm điều lo của thiết kỷ”.Quan hệ hòa mục mà ông mong mỏi khôngphải chỉ là vua và dân trong nớc, mà còn là giữa các dân tộc láng giềng vớinhau

Trang 11

Nguyễn Trãi luôn yêu cầu cao đối với ngời cầm quyền, từ vua cho

đến quan.Theo Nguyễn Trãi phải “hòa thuận tông nhân”, “nhớ giữ một lònghữu ái, thơng yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân” Câu nói cóhai vế.ở vế trên là nói đến việc đoàn kết nội bộ trong họ hàng thân thíchnhà vua, nói rộng ra là toàn bộ giai cấp phong kiến, ở vế dới nói đến việc thihành nhân nghĩa đối với nhân dân “Nguời làm vua chớ thởng bậy vì t ân,chớ phạt bừa vì t lợi ; đừng thích tiền của mà buông tuồng xa xỉ, đừng gầnthanh sắc mà bừa bãi hoang dâm” Nói một cách khác là phải tự kiềm chếkhông thả lỏng cho những dục vọng, lúc nào cũng phải chăm chỉ, thậntrọng “dùng nhân tài, nghe can gián, ra một chính sách, một mệnh lệnh,phát một lời nói, một việc làm, đều giữ chính chung” Trong khi không thểquan niệm đợc một nớc mà lại không có vua, thì Nguyễn Trãi lại nhấnmạnh vào trách nhiệm chứ không nhấn mạnh vào quyền hởng thụ của nhàvua và đề ra yêu cầu ràng buộc hành động của nhà vua Ông cũng cảnh báorằng làm vua mà không thi hành nhân nghĩa thì phải coi chừng dân sẽ lật đổ

và trời sẽ không dung Ông viết: “vả lại mến ngời có nhân là dân mà chởthuyền và lật thuyền cũng là dân, giúp ngời có đức là trời mà khó tin vàkhông thơng cũng là trời” Ông khuyên ngời làm vua nên “kính trời chămdân, không dám khinh mất lúc nào”

Ông muốn triều đình không nên quá nặng nề su thuế và trừng phạtchỉ nên chăm lo cho dân học tốt, làm tốt:

Phát biểu về âm nhạc ông nói: “hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm

là văn của nhạc…Con ngDám mong bệ hạ rủ lòng thơng yêu và chăn nuôi muôndân khiến cho trong thôn cùng ngõ xóm vắng không có một tiếng oán giậnsầu than, đó chính là giữ đợc cái gốc của nhạc” Cái gốc của nhạc cũng làcái gốc của toàn bộ đời sống của nhân dân Sao cho nhân dân đợc ấm no,

Trang 12

giầu đủ để không còn tiếng “oán hận sầu than” đó là điều vốn đã theo đuổi

ông từ lúc nhỏ, vẫn tiếp tục thôi thúc ông

Những yêu cầu mà Nguyễn Trãi đề ra nh vậy là nhằm xây dựng một

đất nớc thịnh vợng, ngời dân đâu đâu cũng đợc no đủ Đó cũng chính là nỗiniềm, cũng là hoài bão to lớn nhất trong cuộc đời Nguyễn Trãi Giờ đây khituổi đã xế chiều, mái tóc trên đầu đã bạc mơi phân, nghĩ về thời xa xa ấyNguyễn Trãi thấy một niềm nuối tiếc:

Tiếc thiếu niên qua, lật hạn lành

Hoa hoa, nguyệt nguyệt luống vô tình Biên xanh nỡ phụ cời đầu bạc

Đầu bạc xa nay có thuở xanh (Tích cảnh 4)

“Tiếc thiếu niên” tức là tiếc một thời kì đầy sức sống, một thời ôm ấpbiết bao hoài bão đẹp Bây giờ đây khi thời gian trôi đi, ngoảnh lại nhìn chỉcòn lại là quá khứ, là dĩ vãng cùng với một nỗi niềm hoài niệm sâu xa:

Xuân xanh cha dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên.

(Tích cảnh 3)

Nguyễn Trãi đã ý thức đợc sự trôi chảy của thời gian, sự thay đổi củathiên nhiên vạn vật:

Ngày tháng bằng thoi một phút cời

Chính vì thế ông đã khuyên những ngời trẻ tuổi đừng thấy ngời đầubạc mà chê cời họ:

Biên xanh nỡ phụ cời đầu bạc

Đầu bạc xa nay có thuở xanh.

Vì thu cho nhẫn đầu nên bạc Tha dễ ai đà ba bảy mơi.

(Tích cảnh 5)

Trang 13

Nguyễn Trãi tiếc gì cảnh đã qua? Hay nói một cách cụ thể kí ức tuổitrẻ của ông hiện lên nh thế nào qua niềm hồi tởng.

Trớc hết chúng ta bắt gặp một con ngời trợng phu với một khí pháchhào hùng, cứng cỏi:

Diếp trúc còn khoe tiết cứng

Mợn hình ảnh cây trúc, cùng với khí tiết của nó để nói lên khí tiếtcủa mình Đây vốn là hình ảnh ớc lệ trong thơ văn cổ Nói đến trúc là ngời

ta nghĩ ngay đến khí phách, cốt cách của đấng trợng phu Văn học xa thờng

lấy hình tợng cây tùng, cây trúc để nói đến ngời anh hùng Trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi cũng có đến 3 bài nói đến hình ảnh cây trúc:

Hoa liễu triều xuân cũng hữu tình,

Ưa mi bởi vì tiết mi thanh.

Đã từng có tiếng trong đời nữa, Quân tử ai chẳng mãng danh?

Từ thuở hóa rồng càng lạ nữa, Chúa xuân gẫm càng huyễn thay (Trúc bài 3)

Cốt cách của trúc cũng chính là cốt cách của Nguyễn Trãi, một anhhùng lỗi lạc của dân tộc

Tóm lại: Qua những vần thơ đầy chất trữ tình trong Quốc âm thi tập ta

bắt gặp Nguyễn Trãi đầy khí phách, đầy hoài bão Đó là hoài bão của mộtthanh niên yêu nớc, ý thức đợc trách nhiệm của mình trớc vận mệnh củaquốc gia dân tộc Hoài bão đợc cứu nớc, giúp đời, hoài bão là làm sao

“trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu” Hoài bãonày luôn là niềm trăn trở trong suốt cuộc đời ông

1.2 sự đối chiếu giữa hoài bão và thực tế

Trang 14

Thế nhng thực tế thì sao? Một hoài bão vô cùng to lớn đẹp đẽ của một ttởng vĩ đại trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ liệu có trở thành hiện thực?Nguyễn Trãi luôn ôm ấp một hoài bão lớn song hoàn cảnh lúc bấy giờ đãlàm ông không thể thực hiện đợc hoài bão Ngay từ khi còn trẻ ông đã luônmong muốn thực hiện đợc lý tởng của mình là trở thành một nhà nho giúp

đời Một ngời chỉ luôn xem bạn của mình là “ án sách cây đèn”, muốn đemhết tài năng của mình để xây dựng một đất nớc giàu đẹp Có thể nói rằng cảcuộc đời Nguyễn Trãi đã sống và thực hiện bằng đợc hoài bão, khát vọng

đó

Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên giữa khung cảnh xã hội loạn lạc NhàTrần đã không còn đủ khả năng lãnh đạo đất nớc Giữa lúc ấy Hồ Quý Ly

đứng lên lật đổ nhà Trần lập nên nhà Hồ Nguyễn Trãi ý thức đợc rằng đây

là một tất yếu lịch sử , nhìn thấy đợc những điều mà nhà Hồ có khả năngxây dựng nên trong khi nhà Trần chỉ lo ăn chơi sa đọa Vì thế Nguyễn Trãiquyết định cống hiến sức mình : tháng 8 năm 1400 nhà Hồ đã mở khoa thihội, Nguyễn Trãi đậu tiến sĩ Năm 1401 ông ra làm quan cho nhà Hồ Làcon cháu, dòng dõi nhà Trần mà làm quan cho nhà Hồ ông không tránhkhỏi những lời thị phi gièm pha, chế giễu Nhng vì lý tởng, vì hoài bão giúp

đời ông đã vợt lên tất cả

Quân Minh đem quân sang xâm lựợc, nhà Hồ không đủ sức bảo vệnền độc lập dân tộc Nhân dân ta chìm đắm trong khói lửa, lầm than Haimơi năm dới ách thống trị của kẻ thù bạo ngợc đời sống nhân dân vô cùngcơ cực Nguyễn Trãi đã than thở:

Phợng những tiếc cao diều hay lợn Hoa thờng hay héo cỏ thờng tơi.

(Tự thuật 9)

Nh vậy ngay từ đầu khi Nguyễn Trãi mới bắt đầu thực hiện hoài bão

của mình thì đã gặp phải rào cản của lịch sử Đất nớc chìm đắm trong vòngnô lệ Mất nớc phải chăng lại là điều kiện giúp Nguyễn Trãi có thể nhìnnhận rõ hơn về thời cuộc và về bản thân mình Mời năm ông “im hơi lăngtiếng” đi tìm minh chủ là mời năm trải nghiệm, tìm tòi, tìm cho mình mộthớng đi đúng đắn

Nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu ngày càng lớn mạnh đã thuhút đợc đông đảo nhân dân tham gia, nhân tài khắp nơi quy tụ về đây.Nguyễn Trãi với “cặp mắt xanh” đã nhìn thấy đợc điều này và tìm đến với

Trang 15

nghĩa quân Một lần nữa ông lại đem hết tài trí, tâm lực của mình ra để thựchiện hoài bão phục vụ nhân dân, phục vụ đất nớc ông cùng với Lê Lợi vànghĩa quân đã vợt qua mọi gian khổ, khó khăn Cùng với đờng lối quân sựsáng suốt, nghĩa quân Lam Sơn đã làm nên một trang sử mới, đuổi hết quânxâm lợc Minh ra khỏi bờ cõi Vậy là:

Xã tắc từ đây vững bền Giang sơn từ đây đổi mới (Bình Ngô đại cáo)

Và thế là từ nay nhân dân ta có thể hởng một nền thái bình thịnh trị

và vị anh hùng của chúng ta-Nguyễn Trãi có thể tha hồ vẫy đôi cánh củamình, có mọi điều kiện để tiếp tục đợc thi thố tài năng, đem sức của mìnhphục vụ giang sơn đất nớc:

Phúc của chung thì họa của chung Nhằm thì họa khỏi , phúc về cùng Văn chơng chép lấy đòi câu thánh

Sự nghiệp nên gìn giữ đạo chung Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngợc

Có nhân, có trí, có anh hùng Mặc cho biết nơi dờng ấy Chẳng thấp thì cao ắt đợc dùng.

Rỗi, hóng mát những ngày trờng, Hòa mục đùn đùn tán rợp giơng.

Thạch lựu, hiên còn phun thức đỏ, Hồng liên, trì đã tịn mùi hơng Lao xao chợ cá làng ng phủ,

Trang 16

Dặng dõi cầm ve, lầu tịch dơng.

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng, Dân giùu đủ khắp đòi phơng.

(Bảo kính cảnh giới 43)

Đúng là phong cảnh chiều hè của đất nớc thanh bình, có hòe biếc, cólựu đỏ, có sen hồng, có tiếng chợ cá lao xao, có tiếng ve kêu dặng dõi…Con ng vớicảnh thanh bình đó Nguyễn Trãi ớc cho “dân giàu đủ khắp đòi phơng”

Tuy nhiên chỉ vậy thôi cũng khó thực hiện ngay sau họ bình lặp lại,

sau khi Bình Ngô đại cáo đợc công bố Đành rằng sau chiến tranh có bao

nhiêu khó khăn cần giải quyết, nhng cái khó khăn lớn nhất vẫn là giải quyếtnội bộ: nội bộ gia đình nhà vua, gia đình các đại thần, nội bộ triều đình, nội

bộ các tầng lớp dân chúng “Tâm công” đối với giặc tuy khó nhng còn dễhơn so với “tâm công” đối với chính ta Quả nhiên khi Lê Lợi chính thức b-

ớc lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Thuận Thiên, chính thức trao nhữngchức cao cho Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Trãi lại chính làkhi đầu Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo sắp rơi, và thêm Nguyễn Trãisắp vào tù! Cũng chẳng riêng gì các đại thần nh Hãn, Xảo bị oan trái, ngaycon trởng nhà vua giữ chức T đồ thời kháng chiến, đợc tặng Hữu tớng quốcrồi Quốc vơng nhng mới làm mấy ngày hôm trớc thì mấy ngày hôm sau đã

bị hạ bệ! Có gì đâu? Sự nội bộ trong cung phản ánh sự lục đục giữa hai phe

đại thần thân thích: một đứng về phía Hoàng hậu (đã mất) mẹ của T đồ, một

đứng về phía thứ phi (cũng đã mất) mẹ của Nguyên Long Phái nào nắm

đ-ợc ngai vàng thì phái đó có quyền lợi Có điều khi Lê Lợi còn sống, NguyễnTrãi cố gắng tham gia cũng cố chính quyền, nh giúp vua thảo ra các tờchiếu: chiếu cầu hiền tài, chiếu sửa đổi tiền tệ, đặc biệt là chiếu cấm cácquan đại thần, các tổng quản cùng các quan ở viện, sảnh, cục…Con ng không đợctham ô, không đợc lời biếng Nguyễn Trãi vẫn xây dựng đợc cái mộng vuasáng tôi hiền, với một đội ngũ quan lại liêm khiết, cần mẫn từ trên xuống d-

ới Nhng đó chỉ là hoài bão Còn thực tế đã có những âm mu tranh giành địa

vị từ khi chiến tranh cha kết thúc, rồi còn một phe lũ nịnh thần gồm cả concháu bên nội, bên ngoại của Lê Lợi xoay quanh ngai vàng nh Đinh BangBản, Lê Quốc Khí, Trịnh Bá Hoành…Con ng Trong khung cảnh ít sáng sủa đó củatriều đình Lê Lợi lại mất sớm, mới có 49 tuổi Nguyên Long-ngời kế vị lạivừa mới 11 tuổi, quyền hành tập trung trong tay Nhiếp chính đại t đồ Lê Sát

và phụ tá nhiếp chính đô đốc Lê Vấn, cả hai đều là nhạc phụ của nhà vua

Trang 17

Bọn nịnh thần Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí…Con ngxẹp đi thì bọn nịnh thần mới

Lê Cảnh Xớc, Nguyễn Thúc Huê…Con ng một thứ đào kép mới trên sân khấu triều

đình! Đáng phục thay Nguyễn Trãi! Trớc sau ông vẫn một dạ kiên trinh,vẫn một lòng u ái Ông vẫn chứa tâm huyết lo xây dựng nền nếp cho quốcgia Có bốn vấn đề đợc lu ý là: lễ, nhạc, hình, chính Ông soạn sách tự đại lễnghiên cứu về nhạc, về sơ đồ khánh đá, kèm theo lời tâu về nhạc, soạn luật

th, coi việc soạn sách in sách ở Tam quán, tham gia các kỳ thi tuyển chọnnhân tài cho đất nớc…Con ng Với mộng xây đời thái bình dờng nh cứ rõ dần, rõdần theo độ tuổi của vua Thái Tông Oái oăm thay! Việc đời đâu có đơngiản Việc hình chính Nguyễn Trãi vấp phải bọn Lê Cảnh Xớc, NguyễnThúc Huệ…Con ngVề lễ nhạc vấp phải bọn Lơng Đăng…Con ng Cũng phải mất gần trọncuộc đời Nguyễn Trãi mới rút đợc bài học thấm thía, dới chế độ phong kiến

về cách làm ăn nơi “cửa quyền”, về bí mật của “biên triều quan”:

Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc Cho hay đờng lợi cực quanh co (Ngôn chí 19)

Trong ẩn dật có cơ mầu.

(Bảo kính cảnh giới 32) Thấy biển triều quan đà ngại vợt

Trong dòng phẳng có phong ba.

(Bảo kính cảnh giới 41)

Dần dần Nguyễn Trãi mới ngẫm ra đợc là: tìm đợc đạo chính đã khó,nhng thực hiện chính đạo lại là chuyện khó hơn, và có khi không làm đợc:

Biển học, trờng văn hằng nhặt bới,

Đờng danh lối lợi hiểm không tìm.

(Tự thuật 6)

Trang 18

ở trong triều đình lúc bấy giờ, ông làm quan mà cứ nh không, lòngtrống mà nhà cũng trống không Phải chăng vì :

Quốc phú binh cờng chăng có chớc Bằng tôi nào thủơ ích chng dân?

(Trần tình 1)

Của nhiều sơn dã, đem nhau đến Khó ở kinh thành, thiếu kẻ han (Bảo kính cảnh giới 6)

Tài năng của ông là chuyện không thể nghi ngờ Nhng lại không đợcdùng.Vì sao vậy? Thì vẫn là chuyện muôn thuở Có ngựa hay, có gơm quýlại còn phải có ngời biết nhìn ngựa, nhìn gơm:

Bà ngựa giầu lành, nào Bá Nhạc?

Cái gơm nhẫn có, thiếu Trơng Hoa.

(Tự thuật 3)

Trong nhiều năm, Nguyễn Trãi từng gặp đợc ở Lê Lợi một cái nhìn

nh thế Nhng giờ đây một cái nhìn nh thế không còn nữa Do đó mà bỗngthấy ở chung quanh mình:

Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn Lòng ngời quanh nữa nớc non quanh (Bảo kính cảnh giới 9)

Cả bạn bè bà con cũng bỗng trở nên lạnh nhạt, không ai tìm đếnmình, mà mình có muốn đến với ai cũng không dễ:

Một phen bạn đến còn đằm thắm, Hai bữa mừng nhau một mặt không.

(Bảo kính cảnh giới 5)

Khó khăn thì mặc có màng bao, Càng khó bao nhiêu chí mới hào.

Đại địa dày, Nam nhạc khỏe, Cửu tiên vắng, Bắc thần cao.

( Thuật hứng 21)

Thế gian những ai đã trải qua cảnh đoạn trờng này chắc đều hiểu tất cảcái tủi cực trong cảnh ấy đối với một ngời nh Nguyễn Trãi, ngời từng cócông đầu trong sự nghiệp lay trời chuyển đất Nhng thái độ của NguyễnTrãi trong cảnh ấy vẫn khách quan và bình tĩnh:

Mựa trách thế gian lòng đạm bạc

Trang 19

Thế gian đạm bạc đấy lòng thờng.

(Tức sự 3)

Và tuy biết thói đời là nh thế, tự mình chớ đi theo thói đời đen bạc:

Lều không con cái hằng tình phụ, Bếp lạnh anh tam biếng hỏi han.

Lòng thế bạc đen dầu có biến,

Ta gìn nhân nghĩa chớ loàn đan.

(Bảo kính cảnh giới 12)

Phần ta, ta cứ tự khuyên mình và khuyên ngời những lời trung hậu Tụcngữ có câu:

Khôn ngoan chẳng lọ thật thà Lờng lng tráo đấu, chẳng qua đong đầy.

Thơ Nguyễn Trãi cùng chung một ý:

Nhiều khôn chẳng đã bề khôn thật, Trăm khéo nào qua chớc khéo đầy.

(Bảo kính cảnh giới 44).

Muốn thật thà, muốn trung hậu phải chú ý giữ mình từ trong chuyện ăn,

chuyện mặc Nguyễn Trãi rất thực tế Ông nói đi nói lại chuyện ăn chuyệnmặc và cũng nói rất hay:

ở Côn Sơn, nơi ông đợc sống những ngày tuổi trẻ Có lần đang sống ở Kinh

đô ông mơ thấy mình đã trở về quê và giấc mơ diễn ra nh thật, thật đếntrong từng chi tiết:

Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng Chiêm bao giờ đã đến trong.

Chè tiên, nớc kín bầu in nguyệt,

Trang 20

Mai rụng, hoa đeo bóng cảnh song.

(Thuật hứng 6) Cả lúc tỉnh rồi vẫn còn mơ cha ai quét nơi cái cửa có gốc thông:

Thức nằm nghĩ ngợi còn mờng tợng Lá cha ai quét cửa thông.

(Thuật hứng 6).

Vậy vì sao không xin về để thỏa ớc mơ? Hay là lòng vẫn nặng với côngdanh phú quý? Không:

Phú quý treo sơng ngọn cỏ Công danh gửi kiến cành hòe.

(Tự thán 3).

Phú quý bao nhiêu ngời thế gian Mơ mơ bằng thuở giấc Hòe An.

(Thuật hứng 18) Danh chăng chuốc, lộc chăng cầu.

Đợc ắt chẳng mừng mất chẳng âu.

(Thuật hứng 10) Công danh phú quý đối với ông tựa giấc mộng Hòe An, nó chỉ là trong mơ chứ không có thực Bởi vậy ta bắt gặp trong Quốc âm thi tập một

Nguyễn Trãi rất ung dung và nói nhiều đến cuộc sống ẩn dật, một cuộcsống tao nhã, hòa mình vào thiên nhiên Tuy thế đi sâu vào từng câu chữ, đisâu vào tấm lòng Nguyễn Trãi ta lại thấy một niềm u ái lớn, một niềm thiếttha với hoài bão của mình

Ông từng nói trăm năm chỉ là chuyện khách qua đờng Nếu chỉ nhìn vào

sự nghiệp cá nhân thì đối với ông thật chẳng có gì đáng để bụng Nhng đốivới trách nhiệm với sự nghiệp chung thì lại là một vấn đề hoàn toànkhác.Tiếp theo cái ý “trăm năm chỉ là chuyện khách qua đờng” là lời tâm sự

“cha từng một bữa ăn nào nỡ không nhớ đến vua”:

Mỗi thán bách niên đồng quá khách,

Hà tằng nhất phạn nhẫn vong quân.

(Thơ chữ Hán 61)

Thực sự là ông cha muốn về, hoặc có ngời nghĩ tài năng của ông giờ đãlỗi thời rồi nhng tấm lòng của ông, ông biết thì vẫn son sắc nh xa:

Trang 21

Ngời hiềm rằng cúc qua trùng cửu,

Kể hãy bàng quỳ hớng thái dơng.

(Tự thán 1)

Cho nên : Non quê ngày nọ chiêm bao thấy

Viên hạc chăng hờn lại những thơng

Thừa chỉ ai rằng thì khó ngặt Túi thơ chứa hết mọi giang san

(Tự thán 2)

Cũng không hề băn khoăn vì thói đời tráo trở :

Khóng khảy kẻ còi cùng kẻ thốt Khó khăn ngời rẽ liễn ngời roi.

Nhân gian mọi sự đều nguôi hết, Một sự quân thân chẳng khứng nguôi.

( Tự thán 36)

Tấm lòng u ái không nguôi đó ngay trong hoàn cảnh khó khăn chính là

biểu hiện của một tâm hồn vĩ đại Trong thơ của Nguyễn Trãi không biết

bao nhiêu lần ông nói lên niềm thiết tha lớn nhất, có thể nói là duy nhất đócủa ông :

Bui có một lòng u ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông.

(Thuật hứng 5) Còn có một lòng âu việc nớc

Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung

(Thuật hứng 23)

Trang 22

Chữ học ngày xa quên hết dạng

Chẳng quên có một chữ cơng thờng

(Tự thán 12) Trong Quốc âm thi tập có hơn một lần Nguyễn Trãi so sánh mình với

Trơng Lơng Lúc ông thấy mình giống nh Trơng Lơng vậy, lại có lần tựthấy mình không thể sánh đợc với Trơng Lơng :

Kham hạ Trơng Lơng chăng khứng ở Tìm tiên để nộp ấn phong hầu

(Bảo kính cảnh giới 35)

Thực ra nhìn vào tấm lòng của ông đối với ngời cùng khổ, một tấm lòng

nh nớc triều ngày đêm cuồn cuộn, một tấm lòng luôn luôn nóng bỏng nhlửa trong lò, ta thấy với tấm lòng ấy ông vợt rất xa Trơng Lơng và tất cảnhững ngời tu tiên học đạo

Dới chế độ quân chủ chuyên chế, trong khi nhà vua không còn tin mình,chung quanh lại rặt những kẻ ganh ghét với tài năng, với công trạng củamình mà giữ vững đợc tấm lòng u ái ấy, vẫn muốn ở lại giúp vua, đâu phải

là chuyện dễ, nhất là khi mình vẫn rất thích thú với non nớc cỏ cây chốn

quê hơng Nhng Nguyễn Trãi từng phân biệt rõ Trong bài thơ Tự thán 9 sau

khi gợi lên cảnh gió, trăng, mai, trúc, cùng với non cao nớc biếc, ông viếtthêm :

Tiêu sái mấy lòng đà mạc đợc Bảo chăng khứng mạc một lòng thơm.

(Tự thán 9)

Lòng thơm là tấm lòng vì dân vì nớc, với ông đó mới là điều quý nhất.Nhng ở trong triều, chung quanh ông, ngày ngày vẫn diễn ra bao nhiêucảnh dơ dáy Nội hai câu thơ về hoa mai cũng đủ nói ông đã khổ tâm nh thếnào trong vòng vây của những cảnh đời dơ dáy đó :

Xuân đến hoa nào chẳng tốt tơi

Ưa mi vì tiết sạch hơn ngời

Trang 23

Bằng ta sinh uổng có làm chi

(Tự thán 30)

Đó là bi kịch lớn của Nguyễn Trãi, một bi kịch tồn tại mãi mãi cùnglịch sử Vụ án Lệ Chi Viên mãi là bản án lên án chế độ phong kiến thối nát,tàn bạo Bản án ấy cũng khép lại một cuộc đời mà lòng u ái với dân với nớc,luôn luôn “ đêm đêm cuồn cuộn nớc triều dâng”

Nh vậy ta có thể thấy ở Nguyễn Trãi là một hoài bão lớn, một tấm lònglớn nhng thực tế lại không chấp nhận hoài bão đó, ngợc lại nó đã phủ phàngchà đạp lên, dã man hơn là nó đã thủ tiêu hoài bão ấy Đó là thực tế đầy cay

đắng và đau xót!

Trớc thực tế nghiệt ngã ấy thái độ của Nguyễn Trãi nh thế nào? Đốidiện với hoàn cảnh đầy trớ trêu ta bắt gặp ở Nguyễn Trãi một mâu thuẫngiữa xuất và xử, giữa làm quan và quy ẩn Thực tế thì ông đã lui về ở ẩnsong ở ẩn nhng vẫn mang nặng tâm sự của một ngời yêu nớc, thơng dân,luôn mang nặng suy t về lẽ hng thịnh của quốc gia, dân tộc Đó thực sự làniềm u ái lớn, một kết tinh truyền thống yêu nớc của dân tộc

Thực tại thì nghiệt ngã Thực tế của lịch sử, những điều mà ông không

thể dự liệu cho hoài bão của mình ngày càng hiện diện một cách bi đát,chua xót nh Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo những bậc khai quốc côngthần, thác oan dới lỡi gơm của chính họ xa kia chinh phạt giặc nớc ChínhNguyễn Trãi cũng vào tù ra tội, sống nơm nớp giữ thân, đã thốt lên mộttiếng kêu công lý thấm đợm nỗi buồn và trách móc :

Tội ai cho nấy cam đành phận

Và rồi cũng phải chấp nhận sự đạm bạc đó nh một lẽ thờng, một lẽ

th-ờng không thể phủ nhận đầy đau xót :

Mựa trách thế gian lòng đạm bạc Thế gian đạm bạc ấy lòng thờng.

Thế nhng tất cả sự liên lụy đến bản thân và từng cá nhân cụ thể nh vậy

cha phải là điểm khởi đầu của tâm sự bi kịch Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi đặt mình trớc dân tộc, lịch sử, trớc nhân dân để hành động.Chính vì vậy sự đổ vỡ của ông mang tính bi kịch lớn Bao nhiêu kiến thức

cổ kim đúc rút ra từ sách vở, từ thực tế cuộc sống, từ trong cả truyền thốngdân tộc…Con ng Dồn nén Nguyễn Trãi hình thành và thực hiện một dự đồ tơng lai,cuối cùng đành phải làm một : “chim hồng hộc tránh tên lánh nạn” NguyễnTrãi đã góp công lớn cho cuộc kháng chiến vĩ đại, đã làm cho nớc nhà đi

Trang 24

vào quỹ đạo phát triển, nhng với công việc giải phóng đất nớc chỉ là mộtphần của công vụ Vấn đề là sau chiến tranh giải phóng, đất nớc dân tộc sẽtiếp tục tồn tại nh thế nào? Vì thế Nguyễn Trãi vẫn làm việc với niềm say

mê hết mình:

Say hết tấc lòng hồng hộc

Và: Chỉ th nấy chép việc càng chuyên

Và trong ý thức của ông luôn tồn tại trạng thái “đêm đêm cuồn cuộn nớctriều đông” khi nghĩ về nợ quân thân, lòng trung hiếu nhng dần dần nhìn thấymình “đợc tiên u” và “vu khoát” (ảo tởng) Thêm vào đó là sự đụng chạm vớithực tế đau lòng của xã hội chuyên chế sâu xa làm Nguyễn Trãi phản tỉnh:

Say hết tấc lòng hồng hộc Hỏi làm chi sự cổ câm (kim) (Tự thuật 25) Hay: Nhẫn thấy ngu công tua sá hỏi

Non từ nay mựa tốn công dời

(Tự thuật 14)

Trong Nguyễn Trãi thực sự bắt đầu có sự xung đột giữa đòi hỏi tất yếu

về mặt lịch sử với “khả năng không thể thực hiện đòi hỏi đó về mặt thựctiễn”

Thao thức của Nguyễn Trãi sau khi nhận thấy sự đổ vỡ của lý tởng trớcthực tại phũ phàng, chua chát là cái thao thức của một triết gia trớc một vấn

đề của thời đại, của chúng sinh và của chính mình Ngời nghệ sĩ bắt đầu ghilại sự nhức nhối, giằng xé, tiếng nấc của cõi lòng Không còn những ngày

“nói tất nghe và kế tất theo”, và xa vời vợi cái ngày Nghiêu tháng Thuấn

“khắp thôn cùng ngõ hẻm không có tiếng giận hờn oán sầu” Ông chỉ thấylòng ngời cực hiểm “còn miệng tựa bình đà chỉn giữ” :

Trang 25

Cuối đầu xuống mò bang, ý khôn nói xiết)

Cứ tởng đó là nỗi đau của sự mất đi cái đã có Bây giờ Nguyễn Trãi

“hồi đầu” là hớng về quá khứ để nói về tơng lai chứ không hoài vọng

Bế tắc với hớng mở tơng lai Nguyễn Trãi hay nói đến hồi đầu (quay

đầu lại), dõi nhìn quá khứ, thao thức với cái sót lại trong ý thức:

Còn có một lòng âu việc nớc

Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung.

(Thuật hứng 23)

Đó là những cơn bão lòng, dứt đợc nó thì nghìn năm đều dứt “Nhất

niệm tức lại thiên niệm tức”, nhng nó cứ giằng xé Nguyễn Trãi, hủy hoại cơ

thể ông thành “bệnh lắm xơng gầy”, “ tóc nên bạc”

Trong kháng chiến và khi mới chiến thắng, trong ớc mong về một xã hội

lý tởng, hai đối tợng phục vụ đó của Nguyễn Trãi không có sự đối lập, chỉ

có sự hòa mục trên dới nh một lẽ tất nhiên :

Bốn dân nghiệp có cao cùng thấp

Đều hết làm tôi thánh thợng hoàng

ngủ một mình tự xót thơng “Trung tiêu bất mỵ độc thơng tình”, nhìn lên,

tóc đã bạc; nhìn vào xã hội : “Một trờng ân oán những hằm hè”, “Chim có

miệng kêu âu ngại ngậm Cáo khuyên lòng ở miệng còn ngờ.” Nguyễn Trãi

bế tắc trong cái đêm đen của xã hội, cái bế tắc bất lực của ngời tìm đờng:

Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ Trời ban tối ớc về đâu?

(Ngôn chí 13).

Trang 26

Qua những suy t những suy ngẫm trong con ngời Nguyễn Trãi ta có thểthấy ngay một mâu thuẫn gắn liền với toàn bộ lịch sử đấu tranh của dân tộc.

Nh chúng ta thấy nhân dân luôn là lực lợng chính trong công cuộc đấutranh giải phóng dân tộc, hoặc bảo vệ Tổ quốc Bất cứ một tập đoàn phongkiến nào, nếu không tập hợp đợc đông đảo nhân dân thì không thể nàothắng lợi đợc Nhng bao giờ cũng thế, sau khi đánh đuổi đợc giặc ngoạixâm, thì nhân dân lại sống dới ách áp bức, bóc lột của giai cấp địa chủphong kiến Triều đại nhà Lê cũng nh triều đại nhà Trần, không triều nào

“nhân đạo” với nhân dân hơn triều nào Nguyễn Trãi với t cách là nhà yêunớc và nhà nghệ sĩ chân chính xa nay- là ngời đại biểu cho hệ t tởng củagiai cấp bóc lột Bao giờ những ngời nghệ sĩ chân chính cũng đấu tranh chocái Chân, Thiện, Mĩ dù có bị thế giới quan giai cấp hạn chế Nguyễn Trãi làmột nghệ sĩ phong kiến- không có gì nghi ngờ điều đó- nhng ông vẫn tin t-ởng một cách ngây thơ ở một xã hội tốt đẹp, có minh quân hiền tớng, nhândân no ấm, hạnh phúc, một xã hội đầy “tình nghĩa”, “nhân ái” giữa vua tôi,

đồng liêu, bạn bè Và lí tởng nhân đạo ấy của Nguyễn Trãi, một nghệ sĩphong kiến đã đụng vào toàn bộ chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu, sâumọt Vì thế ông trở thành bi quan, hoài nghi, phản ứng tiêu cực đối với toàn bộchế độ quan liêu Chế độ ấy trở thành cạm bẫy hại ngời, và bọn quan lại trởthành những kẻ ăn thịt ngời: “triều quan cả sóng”, “đờng danh lợi hiểm”, “củaquyền hiểm hóc”, “ lòng ngời cực hiểm”, “danh h mà họa thực”…Con ngÔng ra sức

đấu tranh chống lại bọn tham quan ô lại về chính sách thuế khóa, su dịch nặng

nề, trút lên đầu nhân dân Cả Nguyễn Trãi, vua và bọn quan liêu đâu có thểvận dụng giống nhau những t tởng “nhân ái” của Mạnh Tử, thật chất là khácnhau cơ bản: Nguyễn Trãi thành thực tin ở những điều đó và nghĩ rằng có thểthực hiện đợc, trong khi đó đối với bọn vua quan phong kiến, đó chỉ là mị dân,che đậy, nói suông

Những yêu cầu của Nguyễn Trãi là không tởng nhng đó lại là lí tởngnhân đạo của một nghệ sĩ chân chính mang nặng tấm lòng u ái, yêu nớc th-

ơng dân, khát vọng một xã hội nhân đạo.Và chính điều này đã tạo nên mộtnhân cách cao đẹp của Nguyễn Trãi

Chơng 2

Nguyễn Trãi viết về các nhân vật việt nam trong quá khứ

Các nhân vật Việt Nam mà Nguyễn Trãi nhắc đến hầu hết là những

nhân vật anh hùng những ngời có công với nớc, với vua, những ngời đã góp

Trang 27

sức mình vào sự nghiệp chung của dân tộc Đó cũng là ngời có chí lớn, tàicao, tiêu biểu cho nền văn hiến dân tộc Viết về họ cũng là viết về chính

mình, một con ngời u tú của thời đại Trong Quốc âm thi tập ta bắt gặp

nhiều câu thơ, vần thơ, viết về các nhân vật này

2.1 Nguyễn Trãi viết về các nhân vật anh hùng và các danh nhân văn hóa tiền bối

Trớc hết chúng ta cần làm rõ khái niệm anh hùng và quan niệm anhhùng trong cảm quan của Nguyễn Trãi Trong thơ văn Nguyễn Trãi nóiriêng và văn học thời đại nói chung chủ nghĩa anh hùng luôn gắn liền vớichủ nghĩa nhân đạo Trong thơ Nguyễn Trãi ông không dùng nhiều lời nói

đến anh hùng hay quan niệm anh hùng, nhng qua thơ văn vẫn thấy đợc cảmquan của tác giả Anh hùng mà tác giả nhắc đến ở đây thờng là những conngời có tài năng, đức độ và phần lớn dùng để chỉ anh hùng vệ quốc nh: NgôQuyền, Trần Quốc Tuấn, Hồ Quý Ly, đặc biệt là Lê Lợi Nh vậy trong thơ

Quốc âm của ông, phạm trù cái anh hùng cũng nổi rõ và những hình tợng

anh hùng ấy rõ ràng không phải đợc ông phát biểu một cách trực tiếp, nhắc

đến một cách trực tiếp trong thơ mà chỉ đợc nhìn nhận gián tiếp thông quanhững lời thơ đầy thâm trầm, sâu kín của mình

Trong Quốc âm thi tập Nguyễn Trãi nói nhiều đến thiên nhiên, cỏ cây,

hoa lá Song không phải vì thế mà cảm quan anh hùng không đợc thể hiện.Các bậc tiền bối mà Nguyễn Trãi nhắc đến trong thơ của mình phần lớn lànhững danh nhân văn hóa, những ngời có công với nớc, với vua, những conngời đức độ, một lòng vì dân vì nớc Nhắc đến họ cũng chính là hớng vềquá khứ tơi đẹp, về một hoài bão đầy hào hùng Đáng chú ý nhất là những

từ “anh hùng”, “hào kiệt” ở đây thờng là để chỉ những ngời anh hùng vệquốc nh Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Hồ Quý Ly, Lê Lợi…Con ngTrong thơ văn

Nguyễn Trãi nói chung, Quốc âm thi tập nói riêng hai tiếng anh hùng đợc

nhắc đến nhiều, ở đó có phạm trù cái anh hùng, có nhân vật anh hùng xuấtphát từ quan niệm riêng của ông

Quan niệm anh hùng của Nguyễn Trãi, theo cách phát biểu trực tiếphoặc gián tiếp về mặt phẩm chất có những đòi hỏi rất cao:

Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngợc

Có nhân, có trí, có anh hùng.

Hai câu thơ vừa nói lên lý tởng, vừa nói lên phẩm chất và chức năng củangời anh hùng “Nhân” và “trí” là phẩm chất hàng đầu của ngời anh hùng

Trang 28

Ngời anh hùng dùng “nhân”(đức độ),“trí”(tài năng) của mình, trong đó

“nhân” là cao nhất để “khử bạo”, “trừ tham”, hiểu theo cách nói của NguyễnTrãi là tham bạo từ ngoài tới (ngoại xâm) mà cũng có nghĩa là tham bạo sinh

ra từ nhà nớc phong kiến, từ vua và tớng,v.v…Con ng Nếu cho rằng nhân nghĩatrong tác phẩm của Nguyễn Trãi thực chất là “yêu nớc, thơng dân, cái nhân,cái nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại xâm, diệt tàn bạo, vì

độc lập của đất nớc, hạnh phúc của dân” (Phạm Văn Đồng), thì khi nói :

“có nhân, có trí, có anh hùng” Nguyễn Trãi đã khẳng định lý tởng giảiphóng dân tộc – một lý tởng có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc của ngờianh hùng Đồng thời cũng lại khẳng định lý tởng đấu tranh cho công lý xãhội, chống áp bức, xây dựng xã hội văn trị, thái bình, giành quyền sống cho

dân: Lòng thánh muốn cho dân yên nghỉ, rút cuộc phải xây dựng thái bình bằng văn trị (dịch thơ chữ Hán).

Quan niệm anh hùng của Nguyễn Trãi có mang tính chất phong kiến,song tính dân tộc và nhân dân là nổi bật, quan niệm ấy vẫn là dựa trên lý t-ởng giữ nớc và dựng nớc Qua những dòng viết về ngời anh hùng, nhất làqua việc phản ánh cuộc kháng chiến chống Minh và Lê Lợi – một đại anhhùng, một chân chủ của dân tộc Nguyễn Trãi đã khẳng định nhiều phẩmchất cao cả của chủ nghĩa anh hùng và nhân vật anh hùng Nổi bật là trí lớn,tài cao trong sự nghiệp giải phóng đất nớc, biết dấu trí, đợi thời, chịu đựnggian khổ, khắc phục hiểm nguy, quyết chiến quyết thắng, son sắt một lòng,tin tởng tuyệt đối vào nghĩa lớn Tức là khẳng định lý tởng và phẩm chấtngời anh hùng giải phóng mà văn học trớc Nguyễn Trãi cha hề có Đó lànhững suy ngẫm mới mẻ về ngời anh hùng Thông qua ngời “anh hùng di

hận”, ngời “anh hùng hữu hận” (Anh hùng di hận kỷ thiên niên), (Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu), niềm cảm khái về sự nghiệp của ngời anh hùng trên

dòng vận động của thời gian và trong mối quan hệ với cuộc sống, NguyễnTrãi dờng nh thấy bi kịch của ngời anh hùng trong xã hội cũ Có thể nói,Nguyễn Trãi đã mở rộng quan niệm về chủ nghĩa anh hùng, về nhân vật anhhùng, đã thêm vào những quan niệm mới phù hợp với sự phát triển mẫu ng-

ời anh hùng của thời đại

Quan niệm này đã chi phối mạnh mẽ sáng tác của Nguyễn Trãi Ôngkhông tìm thấy anh hùng trong cuộc sống thực tế đầy nghiệt ngã này nênquay đầu ngoảnh lại, nhìn về quá khứ để tìm cho mình mẫu ngời anh hùng

lý tởng, một mẫu ngời anh hùng có đầy đủ nhiệt huyết với cuộc sống

Trang 29

Vậy những ngời anh hùng đó là ai? Nguyễn Trãi nhớ ai? Trớc hết đó lànhững bậc danh nhân văn hóa tiền bối, những ngời đã có đóng góp to lớn

đối với lịch sử, văn hóa của dân tộc Tiêu biểu nh Trơng Hán Siêu, ngời đãgóp nhiều công sức vào việc xây dựng, tạo lập một nền văn hóa đậm đà bảnsắc Đại Việt Viết về họ, trong Nguyễn Trãi trào dâng một niềm phấn khởi,hoài bão của tuổi trẻ nh đợc sống lại

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi ta có thể dễ dàng nhận ra niềm hoài

cổ ngời xa thông qua việc nhắc đến tên từng địa danh, từng tên xóm, tênlàng gắn với những chiến công hiển hách xa, từ đó mà hình ảnh của ngời xahiện về rõ ràng nhất, nguyên vẹn nhất Qua Lam Sơn Nguyễn Trãi nhớ về

Lê Lợi, qua Thần Phù ông nhớ tới Hồ Quý Ly, qua sông Bạch Đằng ôngnhớ tới Ngô Quyền…Con ngmỗi địa danh đều gắn với một vị anh hùng trong lịch

sử Ông viết khi qua Bạch Đằng:

Sóc thủy xuy hải khí lăng lăng Khinh khỉ ngâm phàm quá Bạch Đằng

(Bạch Đằng hải khẩu) Còn trong Quốc âm thi tập cảm hứng hoài cổ về ngời xa, về anh hùng

không thể hiện một cách trực tiếp và rõ ràng nh vậy mà phần lớn là thôngqua những suy ngẫm, những suy t của một con ngời “tâm nhàn nhng thânkhông nhàn” luôn canh cánh một nỗi niềm vì dân vì nớc

Nguyễn Trãi học rộng biết nhiều, ham học sách thánh hiền nên hiểu biếtrất sâu xa lịch sử dân tộc Lẽ vì thế mà các bậc tiền bối- những danh nhânmột thời luôn đợc ức Trai xem nh những tấm gơng sáng Không thể tồn tạivới xã hội đầy nghiệt ngã, bất công, ông quay về với quá khứ để tìm một sự

đồng cảm, một niềm an ủi cho mình Nguyễn Trãi tìm đến ai? Ông quay vềquá khứ và bắt gặp Trơng Hán Siêu, một nhà thơ tiêu biểu của dân tộc, ngời

đã sáng tác bài Bạch Đằng giang phú mãi mãi là bản hùng ca của dân tộc Trơng Hán Siêu tự là Thăng Phủ, quê ở Phúc Thành, huyện Yên Ninh,

phủ Trờng Yên nay là thôn Phúc Am, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình

Ông từng làm môn khách của Trần Hng Đạo, sau làm quan trong triều TrầnAnh Tông đến Trần Dụ Tông Trơng Hán Siêu tính tình cơng trực, học vấnuyên thâm sinh thời đợc các vua Trần rất tin cậy, nhân dân kính trọng Thơvăn của ông còn lại không nhiều nhng đều là những tác phẩm hay trong đó

nổi tiếng nhất là Bạch Đằng giang phú:

Sông Đằng một dải dài ghê

Trang 30

Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông Những ngời bất nghĩa tiêu vong

Nghìn thu chỉ có anh hùng lu danh

Tài đức thì cho lại có nhân,

Tài thì kém đức một vài phân.

(Bảo kính cảnh giới 57)

Nguyễn Trãi và Trơng Hán Siêu có cùng một quan niệm, đó chính làquan niệm đề cao cái đức cái tài của con ngời Ngời anh hùng trớc hết phải

là ngời có đức, có tài, tài đức trọn vẹn để làm nên sự nghiệp lớn

Nhớ đến Trơng Hán Siêu còn nhớ đến một nhà thơ lỗi lạc của đời Trần.Nguyễn Trãi đã từng có bài thơ chữ Hán ca ngợi tài đức của ông Trong bài

Dục Thúy Sơn Nguyễn Trãi viết:

Hải khẩu hữu tiên san Tiền niên lũ vãng hoàn Liên hoa phù thủy thơng Tiên cảnh trong trần gian Tháp cảnh trâm thanh ngọc

Ba quang kính thúy hoàn Hữu hoàn Trơng Thiếu Bảo Bia khắc tiễn hoa lan

( Nơi cửa biển có ngọn núi tiênNăm trớc đã nhiều lần đi về nơi đấy

Nh hoa sen nổi trên mặt nớc

Nh cảnh tiên rớt xuống trần gianBóng tháp nh hình trâm ngọc xanh cài vào

ánh nớc nh gơng chiếu búi tóc biếcThấy cảnh nhớ đến Trơng Thiếu BảoBia khắc đã lốm đốm hoa rêu)

Trang 31

Dục Thúy là tên một ngọn núi ở gần Hoa L, Ninh Bình, bên cạnh là consông Vân Sàng uốn dòng ba khúc Đứng đằng xa thấy đá nhẵn nh gọt, ngọnnúi có vẻ mát lạnh Vốn tên là Sơn Thủy đợc Trơng Thiếu Bảo đổi tên làDục Thúy Khi về già Trơng Thiếu Bảo quê ở huyện này, đã đến đây ở lạikhắc một bài thơ ca tụng Dục Thúy, vì thế Nguyễn Trãi khi đến thăm cảnh

Dục Thúy đã nhớ đến ngời xa Vũ Nh Tô khi đọc bài thơ Dục Thúy Sơn của

Nguyễn Trãi đã rất tâm đắc “Bài thơ đọng lại ở hai câu kết với tấm lònghoài cổ chân thực, đậm đà của Nguyễn Trãi Cuối cùng cái đẹp của thiênnhiên dù là tiên cảnh hay hình hài của thế tục đều thể hiện cảm hứng sâukín nhất của thi nhân Nguyễn Trãi nhớ đến Trơng Hán Siêu có thơ vănkhắc trên núi, thời gian làm cho nó hoen ố đi Đó là nỗi luyến tiếc cái gìthiêng liêng đang bị thời gian tan phá, đúng hơn là nó phải chịu cái luật hngphế của tạo hóa, có luyến tiếc cũng không đợc Nhng đứng trớc một cảnhvật mang dấu ấn của đất nớc đang bị thời gian làm cho hng vong làm sao

mà không nghĩ khi Nguyễn Trãi là ngời có tâm hồn yêu thiên nhiên đất nớc

đến cả cuộc đời mình” [10; 113-114]

Nhớ đến Trơng Hán Siêu, Nguyễn Trãi lại nghĩ đến tâm trạng của mình.Cũng văn hay, thơ giỏi vậy mà giờ đây phải sống trong cảnh chen chân bógối, xung quanh những âm mu, tranh quyền đoạt chức vô cùng rối ren Ông

phải thốt lên:

Dễ hay ruột biển sâu cạn, Khôn biết lòng ngời vắn dài.

Sự thế dữ lành, ai hỏi đến Bảo rằng ông đã điếc hai tai.

(Ngôn chí 18)

Đặc biệt ông luôn ngẩng cao đầu trớc thực tại dù thực tại đó phủ phàngnhất Đó cũng là thái độ của ngời trí thức ý thức một cách sâu sắc giá trị

Trang 32

của mình Nhớ về họ Nguyễn Trãi cảm thấy đợc phần nào sự an ủi ở nhữngcon ngời cùng cảnh: những con ngời ý thức đợc xã hội đơng thời.

Nhớ về Trơng Hán Siêu là nhớ lại những chiến công vang dội của quândân nhà Trần trên sông Bạch Đằng Và rồi khi hào khí Đông A ấy khôngcòn, chỉ còn lại một triều đình mọt ruỗng, thối nát thì thi nhân lại tiếc thơngcho những kiếp ngời

Nguyễn Trãi không chỉ nhớ Trơng Hán Siêu, mà còn rất nhiều, rất nhiềunhững con ngời khác, những ngời mà Nguyễn Trãi tôn thờ kính trọng Hình

ảnh ngời ông ngoại Trần Nguyên Đán luôn luôn xuất hiện trong tâm trí,trong từng trang viết của ông Nguyễn Trãi đã có hẳn một bài viết bằng chữ

Hán nói lên công lao to lớn của Trần Nguyên Đán là Câu chuyện cũ về cụ Băng Hồ ở bài văn này Nguyễn Trãi đã bộc lộ rõ thái độ với ngời ông

ngoại kính yêu của mình, một ngời không chỉ có cái nhìn “thấu suốt muôntrùng” mà còn có cảm quan lịch sử nhạy bén Trong 254 bài thơ, NguyễnTrãi rất ít nhắc trực tiếp đến công lao hay sự nghiệp của Trần Nguyên Đán,nhng thông qua biểu hiện, thông qua những lời lẽ cũng nh cuộc sống của

ông đợc thể hiện trong những năm tháng sống ở Côn Sơn này ta cũng có thểcảm nhận đợc tình cảm mà ông dành cho cụ Băng Hồ Trần Nguyên Đán làbậc quốc công của nhà Trần, ông là ngời có công rất lớn trong việc dẹp yên

bờ cõi khi có loạn lạc Vậy mà trớc cảnh triều thần, vua quan tranh giànhquyền lực, đành bất lực Nhìn thấy cảnh xã hội ngày càng suy tàn và nhìnthấy sự sụp đổ của một triều đại mà cha ông mình đã dày công xây dựngbản thân ông không thể làm khác đợc Ông lui về Côn Sơn ở ẩn Cuộc sống

ẩn của ông ở đây đã đợc Nguyễn Trãi trực tiếp cảm nhận qua tuổi trẻ củamình Sau này chính ông lại cũng chọn Côn Sơn để an dỡng tuổi già, tránh

xa cuộc sống bon chen Ông ca ngợi cuộc sống an nhàn, ca ngợi Côn Sơncũng chính là hớng về ông ngoại của mình:

Chèo thuyền đêm nguyệt song biếc Cây đến ngày xuân lá tơi

Phú quý chẳng ham, thanh tựa nớc Lòng nào vây mỗ hơi hơi.

(Ngôn chí 21)

Côn Sơn không phải là nguyên quán của ông, cũng không phải lànguyên quán của ông ngoại Trần Nguyên Đán Năm ất Sửu 1385 TrầnNguyên Đán nghỉ quan chọn nơi này làm nơi dỡng tuổi già Núi không cao

Ngày đăng: 18/12/2013, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w