1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát thuật ngữ kinh tế trong Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam và sự chuyển dịch tương ứng sang tiếng Anh (từ văn kiện Đại Hội IX - X

99 2,7K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M.A.K.Halliday đại diện cho giới ngôn ngữ học Anh những năm 60 đã từng có quan điểm như sau “ đặc trưng của ngôn ngữ chuyên ngành không phải là các thành tố ngữ pháp mà chính là các đơn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN NGỌC TOÀN

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ KINH TẾ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH TƯƠNG ỨNG SANG TIẾNG ANH

( TỪ VĂN KIỆN ĐẠI HỘI IX- X)

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, tháng 04 năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN NGỌC TOÀN

KHẢO SÁT THUẬT NGỮ KINH TẾ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ SỰ CHUYỂN DỊCH TƯƠNG ỨNG SANG TIẾNG ANH

( TỪ VĂN KIỆN ĐẠI HỘI IX- X)

Luận văn Thạc sỹ Ngôn ngữ học Ngành học: Ngôn ngữ học

Mã ngành: 602201

Hà Nội, tháng 04 năm 2010

Trang 4

Chương 1 Cơ sở lí luận cho việc khảo sát hệ thuật ngữ kinh tế trong văn kiện Đảng cộng sản Việt nam

5

1.1.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới khi bàn về thuật

ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành

5

1.1.2 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học 6 1.2 Việc nghiên cứu lí luận về thuật ngữ trong ngôn ngữ học 8 1.3 Đặc điểm của thuật ngữ theo quan điểm của giới Việt ngữ học 9 1.4 Yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam 14 1.5.1 Cách hiểu về thuật ngữ kinh tế 15 1.5.2 Thuật ngữ kinh tế thời kì đổi mới 15 1.5.3 Các công trình nghiên cứu gần đây 16

Trang 5

2.1.5 Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt 19

2.1.5.2.1 Từ ghép đẳng lập 20 2.1.5.2.2 Từ ghép chính phụ 22

2.1.5.4 Từ ngẫu hợp 24 2.1.5.5 Ngữ (cụm từ cố định) 24 2.1.6 Hiện tượng chuyển di kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt 25

2.1.7 Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt 26 2.2 Khảo sát cấu trúc thuật ngữ kinh tế tiếng Việt trong văn kiện Đảng 27 2.2.1 Thuật ngữ kinh tế tiếng Việt có cấu tạo là một từ đơn 27 2.2.2 Thuật ngữ kinh tế tiếng Việt là từ ghép 28 2.2.3 Thuật ngữ là từ ngẫu hợp 31 2.2.4 Thuật ngữ là từ láy 31 2.2.5 Thuật ngữ là ngữ (cụm từ cố định) 31 2.3 Đặc điểm từ loại của thuật ngữ kinh tế tiếng Việt 32 2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ kinh tế tiếng Việt 34 2.4.1 Các thuật ngữ về kinh tế- chính trị 34 2.4.2 Các thuật ngữ về kinh tế- xã hội 35 2.4.3 Các thuật ngữ về kinh tế-quốc tế 36 2.4.4 Các thuật ngữ về kinh tế- kế hoạch- đầu tư 36 2.4.5 Các thuật ngữ về tài chính- ngân hàng- tín dụng- vốn 36 2.4.6 Các thuật ngữ về nông nghiệp- công nghiệp- du lịch- dịch vụ 37 2.4.7 Các thuật ngữ về quản trị- kinh doanh- thương mại 37 2.4.8 Các thuật ngữ về nhân lực- lao động 38

Trang 6

3.4 Khả năng dịch tương đương các thuật ngữ kinh tế tiếng Việt sang

tiếng Anh

46

3.4.1 Các thuật ngữ kinh tế (trong văn kiện Đảng) được chuyển

dịch tương đương hoàn toàn

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ trước đến nay nói đến KHXH&NV Việt Nam, từ sự hình thành đến sự phát triển sau này luôn luôn không tách rời sự lãnh đạo của Đảng Quả thật thuật ngữ KHXH&NV ở Việt Nam (chữ quốc ngữ) bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỉ XX, đầu tiên trên văn bản Đông Kinh Nghĩa Thục, Tân thư, Tân văn, phong trào Duy Tân, rồi trên các báo Đông dương tạp chí

1913, Nam Phong tạp chí 1917 rồi đến văn kiện tiền thân của Đảng, rồi đến văn kiện chính thức của Đảng Thuật ngữ ra đời sớm nhưng thuật ngữ kinh tế rất lâu sau đó mới xuất hiện Tác phẩm Đường Kách Mệnh mới định nghĩa thế nào là tư bản, thế nào là kinh tế tư bản rồi văn kiện Đảng mới giải thích các định nghĩa về kinh tế Ngày nay nước ta đang trên đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) dưới sự lãnh đạo của một chính Đảng duy nhất, do đó nói đến KHXH&NV là nói đến lập trường quan điểm của Đảng Chính vì vậy mà khi tìm hiểu về KHXH&NV thì không thể không chú ý tới văn kiện Đảng Phải nói rằng văn kiện Đảng là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của KHXH&NV nước nhà mà thuật ngữ kinh tế- chính trị-xã hội trong đó là nơi tập trung thể hiện nội dung đường lối quan điểm của Đảng

Từ khi Đảng thực hiện chính sách đổi mới (năm 1986) đã tạo ra những bước phát triển toàn diện nhưng trong đó bước phát triển thể hiện

rõ nhất và quan trọng nhất là về kinh tế Cũng trong bối cảnh như vậy, hệ thuật ngữ (HTN) khoa học xã hội (KHXH) và kinh tế (KT) biến đổi rất nhanh vì xã hội có sự chuyển đổi về cơ chế từ tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường, kéo theo đó là những nhận thức và quan điểm về chính trị, xã hội có nhiều thay đổi Sự thay đổi có nhiều dạng và trên nhiều lĩnh vực trong đó quan trọng nhất là ở sự lãnh đạo và định hướng phát triển đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Để hiểu rõ

Trang 8

những định hướng ấy không có cách nào khác hơn về mặt ngôn ngữ là khảo sát những khái niệm, thuật ngữ, phạm trù liên quan đến kinh tế có tính chất chính thống được thể hiện trong Văn kiện Đại Hội (ĐH) Đảng

Trong thực tiễn công tác, bản thân chúng tôi nhiều khi cũng phải dịch tài liệu kinh tế sang Anh ngữ và thực tế thì chuyển dịch ngôn ngữ từ Anh sang Việt đã khó nhưng chuyển dịch ngôn ngữ từ Việt sang Anh còn khó khăn hơn bởi vì nó phải đảm bảo màu sắc định hướng chính trị

xã hội của ta Chính vì thế trong giới hạn cho phép, luận văn này sẽ nghiên cứu khảo sát hệ thuật ngữ Kinh tế trong văn kiện Đảng Cộng Sản Việt Nam, có so sánh chuyển dịch ra tiếng Anh với mong muốn góp phần hiểu định hướng kinh tế trong Văn kiện Đảng, đồng thời có khả năng dịch Anh- Việt, Việt- Anh chính xác

2 Nội dung và mục đích nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Điều quan trọng hàng đầu của khảo sát này là xác định thuật ngữ kinh tế được dùng trong Văn Kiện của Đảng, loại văn bản chính thức có

ý nghĩa định hướng cho cả xã hội Vấn đề đặt ra là làm thế nào để hiểu đúng các thuật ngữ dùng chính xác trong Văn Kiện Muốn làm được điều

đó chúng tôi phải hiểu thuật ngữ, phân biệt thuật ngữ với từ thường mà thuật ngữ kinh tế rất dễ nhầm lẫn, sau đó mới tiến hành phân tích, so sánh chuyển dịch Vì vậy trước hết chúng tôi tiến hành xử lí ranh giới từ ngữ để xác định những thuật ngữ kinh tế xuất hiện trong Văn kiện Đảng, sau đó thống kê những thuật ngữ theo trật tự của từ điển (A,B,C…) Tiếp theo là phân theo những tiểu ngành trong kinh tế, phân tích đặc điểm cấu tạo, nội dung của thuật ngữ Cuối cùng tìm cách chuyển dịch sang tiếng Anh và nêu những nguyên tắc, cách thức chuyển dịch để đảm bảo tính chính xác chuyển tải được thực chất nội dung trong Văn kiện Đảng

2.2 Mục đích nghiên cứu

Trang 9

Mục đích cuối cùng là hiểu được một cách chính xác thuật ngữ kinh tế dùng trong Văn kiện Đảng, từ đó có thể chuyển dịch chính xác sang tiếng Anh Và hơn thế nữa, trong một giới hạn cho phép khái quát nêu thành những nguyên tắc dịch trong Văn kiện khác trong văn bản thường, văn bản báo chí Rút ra những bài học cần thiết khi làm việc với

hệ thuật ngữ này

3 Tư liệu

* Nguồn tư liệu và ngữ liệu chính là những xuất bản phẩm chính thức Đó là các văn bản chính thức của Đảng, những văn kiện đã xuất bản Tiếp theo là các ấn phẩm giải thích về văn kiện Đảng bằng tiếng Việt của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cũng như các nhà xuất bản khác Những bài nói chuyện, những giải thích của các nhà lãnh đạo quản

lí trong vận dụng thực hiện nghị quyết của Đảng Những ngữ liệu các bộ ngành liên quan dịch, công bố chính thức ra tiếng Anh

* Các văn kiện Đảng bằng tiếng Việt, tiếng Anh trên trang web chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam: dangcongsan.vn

* Từ điển kinh tế thương mại Anh- Việt, Việt- Anh

* Các bài báo, các bài viết về kinh tế được viết và dịch trên các

trang web chính thức của Nhà nước

4 Phương pháp

Trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng những phương pháp phổ biến trong nghiên cứu ngôn ngữ học áp dụng cho lĩnh vực phân tích từ vựng- ngữ nghĩa như phân tích cấu trúc từ, phân tích ngữ nghĩa và phân tích chuyển dịch Phương pháp phân tích, phân định ranh giới từ, ngữ cũng được vận dụng triệt để Đồng thời các thủ pháp

Trang 10

thống kê định lượng, các biểu bảng trình bày cũng được sử dụng trong phân tích, miêu tả nội dung của luận văn

Song song việc sử dụng các thủ pháp thống kê, định lượng các đơn vị, biểu thức theo định hướng nghiên cứu, chúng tôi cũng áp dụng các thủ pháp định tính trong quá trình khảo sát Thủ pháp này giúp chúng tôi phân tích so sánh và miêu tả hình thái cấu trúc của các thuật ngữ cần nghiên cứu Từ đó tìm ra các đặc điểm cấu tạo và nôi dung cơ bản thuật ngữ kinh tế Trong luận văn này, các thuật ngữ được đánh giá theo các chuẩn mực được qui định của Việt Nam là tính dân tộc, tính khoa học, tính đại chúng và tính hệ thống

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, toàn bộ nội dung nghiên cứu được trình bày trong 3 chương

Chương I: Cơ sở lí luận cho việc khảo sát thuật ngữ kinh tế trong văn

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN CHO VIỆC KHẢO SÁT THUẬT NGỮ KINH TẾ TRONG VĂN KIỆN ĐẢNG CSVN

1 1 Khái niệm thuật ngữ

1.1.1 Quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới khi bàn về thuật ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành

Ngày nay trong tài liệu ngôn ngữ học đã có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa về thuật ngữ Thật khó liệt kê ra hết những cách hiểu đó Dưới đây chúng tôi chỉ lấy ra vài định nghĩa tiêu biểu trong và ngoài nước làm cơ sở cho nghiên cứu

M.A.K.Halliday đại diện cho giới ngôn ngữ học Anh những năm 60 đã

từng có quan điểm như sau “ đặc trưng của ngôn ngữ chuyên ngành

không phải là các thành tố ngữ pháp mà chính là các đơn vị từ vựng”

[23, tr 21]

Theo cuốn Đại từ điển tiếng Đức Langenscheidts “ Ngôn ngữ

chuyên ngành là tất cả những diễn đạt chuyên môn và chuyên biệt được

sử dụng trong một chuyên ngành nhất định (hoặc một nghề nhất định) và đối với những người không thông thạo chuyên môn thì những khái niệm

đó rất khó hiểu hoặc không hiểu được” [1, tr.18]

A.X Gerd, một trong các nhà ngôn ngữ học Xô Viết định nghĩa

như sau: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng- ngữ nghĩa có chức năng

định danh và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa; ở thuật ngữ không có hiện tượng đồng nghĩa hay đồng âm trong phạm vi của một khoa học hay một lĩnh vực tri thức cụ thể” [25, tr.19]

Một số định nghĩa về thuật ngữ khoa học bằng tiếng Anh được đăng tải trên một số trang web

 Thuật ngữ là một từ hoặc ngữ có nghĩa chính xác trong một số ngữ cảnh, hoặc đặc chỉ một ngành, nghề hoặc lĩnh vực khoa học nào đó

Trang 12

(a word or expression that has a precise meaning in some uses or is peculiar to a science, art, profession, or subject)

http://www.merriam-webster.com/dictionary/term[1]

 Thuật ngữ là một từ hoặc nhóm từ có nghĩa chuyên biệt

(A word or group of words having a particular meaning)

 Thuật ngữ là một từ hoặc ngữ được sử dụng trong các lĩnh vực kiến thức chuyên môn

(a word or expression used in a specialized field of knowledge)

http://www.thefreedictionary.com/term

 Thuật ngữ là bộ phận từ vựng chuyên dụng trong một lĩnh vực nào

đó Những thuật ngữ này chỉ các khái niệm cụ thể trong lĩnh vực đó

và nghĩa của thuật ngữ không nhất thiết phải giống với nghĩa của từ được sủ dụng trong văn cảnh thông thường

(Technical terminology is the specialized vocabulary of a field, the nomenclature These terms have specific definitions within the field, which is not necessarily the same as their meaning in common use.)

http://en.wikipedia.org/wiki/Technical_terms_and_definitions

1.1.2 Quan điểm của các nhà Việt ngữ học

Các nhà ngôn ngữ học đại diện cho các nhà Việt ngữ học như Hoàng Xuân Hãn, Lê Khả Kế, Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Vũ Quang Hào, Nguyễn Như Ý, Nguyễn Thiện Giáp và một số nhà nghiên cứu khác cũng đã đưa ra những định nghĩa về thuật ngữ

Theo Hoàng Xuân Hãn, “thuật ngữ hay danh từ khoa học là

những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” [16, tr 42]

Lưu Vân Lăng và Nguyễn Như Ý trong khi định nghĩa thuật ngữ

đã khoanh vùng cho các khái niệm mà lớp từ vựng này phục vụ:

Trang 13

“Thuật ngữ là bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính của khoa học, kĩ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ” [21, tr 57]

Nguyễn Văn Tu lại cho rằng: “ Thuật ngữ là từ và cụm từ cố định

để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó,.v v Đặc điểm của thuật ngữ là từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tùy từng ngành)” [28, tr.114] Trong định nghĩa này

Nguyễn Văn Tu đã có quan điểm gần như thống nhất với các nhà ngôn ngữ học Âu-Mỹ về bản chất và đặc điểm của thuật ngữ

Vũ Quang Hào […, tr.124,125] lại tiếp cận thuật ngữ về phương diện ngữ nghĩa Theo ông, trong tiếng Việt, bản thân hai chữ “thuật ngữ” phải được hiểu theo bốn nghĩa:

“Thuật ngữ” được hiểu là nội dung của khái niệm khoa học (nội hàm khái niệm) Theo nghĩa này, thuật ngữ là đơn vị cơ bản của mỗi khoa học chuyên ngành

“Thuật ngữ” được hiểu là hình thức ngôn ngữ, là cái vỏ, là tên gọi của một khái niệm khoa học Theo nghĩa này, thuật ngữ - tên gọi là đơn vị cơ bản trong vốn từ của ngôn ngữ khoa học

“Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ khái niệm trong một khoa học, một lĩnh vực Theo nghĩa này, toàn bộ thuật ngữ - khái niệm làm thành

hệ thuật ngữ - khái niệm của một khoa học

“Thuật ngữ” được hiểu là toàn bộ tên gọi trong một khoa học Theo nghĩa này , toàn bộ thuật ngữ - tên gọi làm thành hệ thuật ngữ - tên gọi của một khoa học Tình trạng của hệ thuật ngữ - tên gọi phản ánh tình trạng ứng dụng lý luận ngôn ngữ học vào việc giải quyết những vấn đề của hình thức ngôn ngữ trong một khoa học

Trong số các định nghĩa về thuật ngữ của các nhà Việt ngữ học, đáng chú ý nhất là định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp, bởi nó mang tính

bao quát và đầy đủ nhất từ trước tới nay: “Thuật ngữ khoa học là một bộ

Trang 14

phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [14, tr.118]

Qua các định nghĩa về thuật ngữ của các nhà nghiên cứu nói trên, chúng ta thấy thuật ngữ là từ và cụm từ nhưng không giống với từ và cụm từ thông thường Từ ngữ thông thường có thể biểu thị sắc thái tình cảm, sắc thái phụ như thái độ đánh giá con người, khen, chê…, có thể mang tính đa nghĩa, có thể có đồng nghĩa, trái nghĩa, có thể có đồng âm, trong khi thuật ngữ thì chỉ đơn nghĩa và chỉ mô tả một khái niệm hay một khách thể Nói cách khác, thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng của một ngôn ngữ, chúng biểu thị khái niệm xác định trong các ngành khoa học kỹ thuật nên thuật ngữ phải tuân thủ tính nghiêm ngặt của nó

Qua đó ta thấy thuật ngữ khoa học chính là một lớp từ trong vốn

từ vựng của một ngôn ngữ Nó không phải là từ vựng chung mà là lớp từ vựng đặc biệt Nét đặc biệt được thể hiện ở chỗ thuật ngữ khoa học là những từ và những cụm từ cố định thuộc một chuyên môn nhất định, chính xác và xác định về nghĩa

Từ việc lĩnh hội và tổng hợp các quan điểm khác nhau về thuật

ngữ chúng tôi đi đến kết luận như sau: Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ

được phân chia theo phạm vi sử dụng, tư duy và các hoạt động khoa học

kĩ thuật để diễn đạt các khái niệm khoa học

1.2 Việc nghiên cứu lí luận về thuật ngữ trong ngôn ngữ học

Thuật ngữ là một bộ phận từ vựng quan trọng của ngôn ngữ Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, thuật ngữ là bộ phận phát triển mạnh nhất so với các bộ phận khác trong từ vựng Và có một thực tế là đối với những chuyên ngành, những lĩnh vực càng được xã hội quan tâm và phát triển thì hệ thống thuật ngữ của chuyên ngành ấy càng hoàn chỉnh và đến lượt nó sẽ quay lại làm tiền đề thúc đẩy cho chính ngành khoa học đó phát triển lên một bậc cao hơn

Trang 15

Ở Việt Nam hiện nay, số lượng các thuật ngữ ngày càng nhiều và đang được hoàn thiện dần, nhưng bên cạnh đó lại tồn tại một số bất cập

Ví dụ, có những khái niệm được biểu thị bằng hơn một thuật ngữ Thí

dụ: Lũ - lũ lớn - hồng thuỷ; phi cơ trực thăng – máy bay lên thẳng, tàu

hỏa- xe lửa Ngay cả cách phiên âm thuật ngữ Ấn Âu ở nước ta cũng

không thống nhất Thí dụ: Cùng một thuật ngữ tiếng Anh acid nhưng sang Việt Nam lại được viết thành axít, a-xít Sở dĩ có điều này là vì

các thuật ngữ của nước ta chưa được đặt trong một hệ thống quy chuẩn chặt chẽ, ít nhiều đâu đó vẫn còn mang tính nôm na Điều này gây không

ít khó khăn cho người nghiên cứu

Bởi vậy hơn bao giờ hết chúng ta đang rất cần một đội ngũ các chuyên gia nghiên cứu thuật ngữ học, rất cần những sự quan tâm thích đáng trong việc nghiên cứu thuật ngữ, xây dựng và tiêu chuẩn hoá các hệ thống thuật ngữ thuộc các ngành khoa học ở nước ta Đây quả thực là một vấn đề cấp thiết vì Việt Nam đang cần những hệ thống thuật ngữ chuẩn xác, khắc phục những nhược điểm như đã nêu trên

1.3 Đặc điểm thuật ngữ theo quan điểm của giới Việt ngữ học

Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam nói chung và các nhà Việt ngữ học nói riêng cũng đã đưa ra rất nhiều ý kiến về những vấn đề, những yêu cầu khi xây dựng thuật ngữ và đặc điểm của thuật ngữ Trong đó có một quan điểm được các nhà Việt ngữ học thống nhất là: Xây dựng thuật ngữ khoa học cho dân tộc mình, chúng ta nên dựa vào phương châm khoa học, dân tộc, đại chúng Bởi vậy, đặt thuật ngữ cần phải xét đến những tiêu chuẩn sau:

Trang 16

Trong đó có ba tiêu chuẩn quan trọng nhất đối với thuật ngữ tiếng

Việt là tính chính xác, tính hệ thống và tính quốc tế chúng tôi xin được

bàn kĩ dưới đây:

Tính chính xác

Thuật ngữ là một lĩnh vực khoa học nghiêm cẩn nên tính chất cơ bản nhất của nó là tính chính xác, rõ ràng trong khoa học Chúng tôi xin được trích dẫn lại quan điểm của Lưu Vân Lăng về tính chính xác của

thuật ngữ: “Mức chính xác khoa học yêu cầu thuật ngữ phải thể hiện

đúng nội dung, khái niệm khoc học một cách rõ ràng, rành mạch Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này qua khái niệm khác”

Nguyễn Thiện Giáp cũng hoàn toàn tán thành quan điểm này: coi tính chính xác là một trong ba đặc điểm quan trọng nhất, cơ bản nhất và

là ưu tiên số một của thuật ngữ

Cũng theo Lưu Vân Lăng thì nên “ mỗi khái niệm có một thuật

ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ một khái niệm”, tránh tuyệt đối các hiện tượng

đồng âm, đồng nghĩa trong cùng một lĩnh vực chuyên môn.[21, tr 43]

Ví dụ 1

Thuật ngữ “Annual allowances” nếu trực dịch chắc nhiều người

sẽ không ngần ngại dịch ghép các thành tố nghĩa là chiết khấu hàng năm nhưng thực tế thuật ngữ này phải được dịch chính xác phải là miễn thuế

hàng năm

Ví dụ 2

Trong tiếng Anh, từ “call” phải tùy từng ngữ cảnh, từng lĩnh vực chuyên môn mà dịch thì mới chính xác được Ví dụ:

Phone call: cuộc gọi bằng điện thoại (thông dụng)

Call goods: hàng không có sẵn: muốn có phải gọi điện thoại đặt hàng (thương mại)

Call loan: tiền vay không kì hạn: số tiền vay phải trả ngay khi bị đòi hay yêu cầu ( tài chính)

Trang 17

Vậy nên muốn giải thích đúng nội dung của thuật ngữ, ta phải có

sự hiểu biết tường tận về ngành khoa học có thuật ngữ đó và phải biết ta đang dịch nghĩa cho ngành khoa học nào Sử dụng chính xác thuật ngữ không dễ dàng gì đối với những người không có chuyên môn Muốn làm tốt được điều này, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ với những nhà chuyên môn thuộc lĩnh vực đó

Lăng đã khẳng định “ yêu cầu thuật ngữ khoa học phải được thống

nhất là nói đến cách biểu đạt thống nhất một khái niệm nhất định trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định”.[21, tr 65] Từ những vấn đề đặt ra

nên khi xây dựng một thuật ngữ hay thực hiện một sự chuyển dịch một thuật ngữ từ tiếng nước ngoài vào tiếng Việt, chúng ta cần đặc biệt chú ý đến tính hệ thống của thuật ngữ để tạo thuận lợi cho những người làm việc với thuật ngữ hoặc quan tâm tới thuật ngữ

Ta tham khảo một ví dụ về hệ thống thuật ngữ sau:

Economic cost Chi phí kinh tế

Economic growth Tăng trưởng kinh tế

Economic good Hàng hoá kinh tế

Economic planning Hoạch định kinh tế

Economic policy Chính sách kinh tế

Economic price Giá kinh tế

Trang 18

Economic profit Lợi nhuận kinh tế

Economic surplus Thặng dư kinh tế

Economic union Cộng đồng kinh tế

Economic welfare Phúc lợi kinh tế

Cách đặt thuật ngữ như trên là một ví dụ cụ thể đảm bảo được tính

hệ thống của thuật ngữ Có thể nói, tính hệ thống của thuật ngữ là một thách thức đối với người dịch các văn bản chuyên ngành Khi sáng tạo ra một thuật ngữ mới thì thuật ngữ đó cần đảm bảo được tính hệ thống để thuận lợi cho người học và người sử dụng thuật ngữ

Tính quốc tế

Ngoài đặc điểm chính xác và tuân theo một hệ thống nhất định, thuật ngữ còn mang tính quốc tế Tính quốc tế là một vấn đề đang được tranh luận nhiều trong giới ngôn ngữ học và thuật ngữ học, bởi vì khái niệm khoa học của thuật ngữ mang tính phổ niệm, tính quốc tế vì nó là tài sản chung của toàn nhân loại nhưng ngôn ngữ lại mang tính dân tộc Trong khi đó, hầu hết tất cả các thuật ngữ đều là của nước ngoài nên khi được chuyển dịch hoặc phiên âm vào tiếng Việt thì phải làm sao để vừa đảm bảo tính khoa học, tính quốc tế nhưng vẫn phải mang tính dân tộc Đây là một bài toán rất khó giải cho các nhà Việt ngữ học cũng như các dịch giả thuật ngữ Việt Nam Thông thường, nói tới tính quốc tế của thuật ngữ người ta thường chú ý tới hình thức cấu tạo của nó về mặt âm, mặt nghĩa Nhưng thực tế, quan trọng hơn, nó còn thể hiện ở mặt hình thái bên trong của nó (có nghĩa là cách chọn đặc trưng của sự vật, khái niệm làm cơ sở định dạng cho việc đặt thuật ngữ Và theo như Lê Hoài

Ân “ tính quốc tế của thuật ngữ chính là sự giống nhau, gần nhau ở mặt

Trang 19

âm, mặt chữ của thuật ngữ và có các đặc trưng hình thái bên trong của khái niệm định danh cho thuật ngữ” [1, tr 35] Ví dụ:

Tiếng Anh: Economic planning

Kinh tế việc lập kế hoạch

Tiếng Việt: Hoạch định kinh tế

Tiếng Đức: Ausfuhr vertrag

Xuất khẩu hợp đồng

Tiếng Anh: Export contract

Xuất khẩu hợp đồng

Tiếng Việt: Hợp đồng xuất khẩu

Các đặc trưng này là các điểm cơ bản biểu hiện tính quốc tế, nhưng trong thực tế do niềm tự hào dân tộc mà thuật ngữ bao giờ cũng được cải biên đi một chút về mặt âm, mặt chữ nếu có thể để phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ dân tộc, chỉ giữ lại khái niệm khoa học mà thôi Nhưng bên cạnh đó cũng có những trường hợp bắt buộc thì phải copy hoàn toàn thuật ngữ nước ngoài Ví dụ:

Tiếng Anh: radio

Tiếng Pháp: radio

Tiếng Đức: radio

Tiếng Việt: ra-đi-ô

Trong quá trình chuyển dịch, tiếp thu các hệ thuật ngữ quốc tế nhằm xây dựng và phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt là một việc làm vô cùng ý nghĩa Trong quá trình chuyển dịch đó, chúng ta có thể “gia công” để làm giàu cho hệ thuật ngữ tiếng Việt còn non trẻ nhưng trong mọi trường hợp phải đảm bảo nguyên tắc chính xác, khoa học cho thuật ngữ Nếu vì tính dân tộc đại chúng mà phải chuyển dịch thuật ngữ một cách khiên cưỡng, rườm rà gây khó hiểu, không đảm bảo được tính chính xác khoa học thì nhất thiết chúng ta không làm

Trang 20

1.4 Yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam

Nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học, dần dần tiêu chuẩn hoá và thống nhất thuật ngữ trong các ngành chuyên môn, cuối tháng 12 năm 1964, Uỷ ban Khoa học Nhà nước đã

triệu tập Hội nghị bàn về vấn đề Xây dựng thuật ngữ khoa học Có rất

nhiều bản báo cáo đã đề cập tới nguyên tắc xây dựng thuật ngữ khoa học, nêu ra những tiêu chuẩn có quan hệ khăng khít chặt chẽ của thuật ngữ khoa học Nhìn chung, các tác giả đã nhất trí với nhau về các tiêu chuẩn Thuật ngữ khoa học Việt nam trước tiên phải thỏa mãn các tiêu chuẩn chung về thuật ngữ như đã nêu trên, sau đó phải có màu sắc dân tộc, đảm bảo tính khoa học, tính đại chúng (ngắn gọn và dễ dùng) Muốn đảm bảo được mức độ chính xác thì khi đặt một hệ thống thuật ngữ, trong cùng một lĩnh vực chuyên môn, nên tránh các hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa (những hiện tượng ngày nay thường thấy trong ngôn ngữ),

muốn thế thuật ngữ khoa học phải cố gắng tiến tới nguyên tắc: mỗi khái

niệm có một thuật ngữ và mỗi thuật ngữ chỉ có một khái niệm [12 tr.41]

Theo các nhà khoa học, tính chính xác là đặc điểm quan trọng nhất, cơ bản nhất trong các đặc điểm của thuật ngữ

Để đảm bảo màu sắc dân tộc và tính đại chúng của các thuật ngữ,

các nhà khoa học đều đi đến thống nhất: trước hết phải tận dụng kho tàng từ vựng của tiếng Việt, đó là những từ mà mọi người dân thường dùng Điều này vừa bảo vệ, phát triển được ngôn ngữ dân tộc vừa hạn chế các yếu tố ngoại lai không cần thiết khiến cho một số thuật ngữ trở nên xa lạ và khó hiểu đối với người sử dụng Điều này đã sớm được

khẳng định bởi Lưu Vân Lăng: “Thuật ngữ dù là thuộc lĩnh vực khoa

học, chuyên môn nào, cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó thuật ngữ phải có tính dân tộc và phải mang màu sắc ngôn ngữ dân tộc.[22 tr 28]

Bảo đảm tính chất ngôn ngữ dân tộc của thuật ngữ là góp phần xây dựng tính đại chúng của thuật ngữ Khoa học kĩ thuật không thể tách

Trang 21

rời quần chúng, tách rời người sử dụng, nhất là trong thời đại mà nền kinh tế tri thức đang được tiếp nhận trên phạm vi toàn cầu Khoa học công nghệ phải thực sự xâm nhập sâu rộng vào quần chúng Muốn vậy thuật ngữ không thể là những từ, ngữ cao siêu, xa lạ với quần chúng, chỉ dành riêng cho các nhà chuyên môn mà phải dễ dùng đối với đông đảo quần chúng Như vậy, thuật ngữ phải được hình thành từ ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ đọc, dễ viết

1.5 Cách hiểu về thuật ngữ kinh tế

Thực ra cho đến bây giờ các nhà Việt ngữ học vẫn chưa đưa ra được một khái niệm thống nhất về thuật ngữ khoa học Nhưng trong quá trình nghiên cứu, chọn lọc chúng tôi cảm thấy khái niệm về thuật ngữ khoa học của GS Nguyễn Thiện Giáp là ngắn gọn, súc tích và khoa học nhất, và dựa theo cách hiểu đã được phân tích dẫn giải trên có thể coi

“thuật ngữ kinh tế là những từ và cụm từ cố định gọi tên chính xác các khái niệm và các đối tượng thuộc ngành kinh tế” Nói cách khác thuật

ngữ kinh tế là vốn từ (từ, ngữ) để chỉ các khái niệm kinh tế, chẳng hạn như các khái niệm liên quan đến công nghiệp, nông nghiệp, thương mại,

kế hoạch đầu tư, xuất nhập khẩu

1.5.1 Thuật ngữ kinh tế thời kì đổi mới

Ngày nay kinh tế thế giới đang trong thời kì hội nhập toàn cầu nên phát triển rất nhanh, rất mạnh và rất rộng lớn Do vậy, xét trên phương diện toàn thế giới, kinh tế đang phát triển từng ngày từng giờ vậy nên hệ thuật ngữ kinh tế cũng đang liên tục phát triển

Việt Nam ta từ trước năm 1986 thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp Hơn thế nữa đối ngoại, giao lưu kinh

tế của Việt Nam thời gian đó cũng chỉ bó hẹp ở khối xã hội chủ nghĩa, không quan hệ thông thương với các nền kinh tế khác trên thế giới nên nền kinh tế của ta lúc đó rất yếu kém, lạc hậu và trì trệ Do đó hệ thuật ngữ kinh tế của ta thời gian này còn rất đơn giản, sơ sài, thiếu hẳn tính quốc tế

Trang 22

Từ sau 1986 đến nay Đảng thực hiện mô hình kinh tế thị trường có

sự định hướng của Nhà nước, mở ra một thời kì phát triển rực rỡ, đáng ghi nhận của nền kinh tế nước nhà Kinh tế Việt Nam nay đã hội nhập với kinh tế khu vực và toàn cầu, đóng vai trò là lĩnh vực chủ chốt nhất trong quá trình phát triển và hiện đại hóa đất nước Chưa bao giờ trong lịch sử ngành khoa học kinh tế được quan tâm và phát triển như ngày nay Trong đó, đi đầu trong việc hoàn thiện, chuẩn hóa hệ thống cơ sở lí luận khoa học về kinh tế là việc hoàn thiện và chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ kinh tế với đầy đủ những tiêu chí: chính xác, khoa học, đầy đủ, hệ thống, quốc tế, cập nhật

1.5.2 Các công trình nghiên cứu gần đây

Bên cạnh các hướng nghiên cứu về thuật ngữ như nêu trên, gần đây tại Việt Nam đã có một số đáng kể luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ nghiên cứu về thuật ngữ Điều này chứng tỏ vấn đề thuật ngữ, nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ đã và đang càng ngày càng được quan tâm

Trang 23

Tiểu kết

- Trong các mục trước của chương I, luận văn đã nêu lên quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới và các nhà Việt ngữ học về thuật ngữ và ngôn ngữ chuyên ngành Tổng hợp lại các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học, chúng tôi đã mạnh dạn đưa ra một khái niệm chủ quan về

thuật ngữ là: Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ được phân chia theo

phạm vi sử dụng, tư duy và các hoạt động khoa học kĩ thuật để diễn đạt các khái niệm khoa học

- Tiếp theo trong chương I, chúng tôi đã trình bày đặc điểm của thuật ngữ theo quan điểm của các nhà Việt ngữ học Với các nhà Việt

ngữ học thì thuật ngữ phải có ba tiêu chuẩn quan trọng nhất là tính chính

xác, tính hệ thống và tính quốc tế

- Một nội dung quan trọng khác cũng được bàn đến trong chương I

là yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam Các nhà Việt ngữ học

thống nhất rằng, ngoài ba tiêu chuẩn tính chính xác, tính hệ thống và tính

tính quốc tế, thuật ngữ phải có màu sắc dân tộc và đảm bảo tính khoa học, đại chúng

- Cuối cùng trong chương I, chúng tôi đã dựa vào các quan điểm

và định nghĩa của các nhà ngôn ngữ học thế giới cũng như các nhà Việt ngữ học để đưa ra khái niệm về thuật ngữ kinh tế, sau đó nêu lên những đánh giá ban đầu về thuật ngữ kinh tế thời kì đổi mới

Trang 24

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ KINH TẾ TIẾNG VIỆT TRÊN VĂN KIỆN ĐẢNG CSVN 2.1 Cấu tạo từ

2.1.1 Khái niệm từ:

“Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Nói chung không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thỏa mãn Với tư cách là định nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết để làm việc, có thể chấp nhận

định nghĩa từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý

nghĩa và hình thức.” [12, tr 61]

2.1.2 Vai trò của phân tích cấu tạo từ

Trong bất kì một ngôn ngữ nào cũng vậy, trước khi tiến hành nghiên cứu từ hay các vấn đề liên quan đến từ thì phân tích cấu tạo từ phải là một trong những công việc mang tính tiền đề bởi vì nó mang tính

cơ sở nhất, nền móng nhất Trong việc nghiên cứu ngôn ngữ nói chung

và nghiên cứu thuật ngữ nói riêng, việc phân tích cấu tạo từ giúp làm sáng rõ bản chất cấu trúc của từ, từ đó giúp ta nghiên cứu, hiểu rõ và có thể giải quyết một loạt các vấn đề liên quan đến từ như vấn đề ngữ nghĩa, ngữ dụng của từ, vấn đề từ loại, vấn đề lịch sử, vấn đề về các biến thể, các trường nghĩa, ngữ âm

Trong phạm vi luận văn của chúng tôi, chúng tôi dành một phần lớn thời gian và sự quan tâm để nghiên cứu thật kĩ đặc điểm cấu trúc của thuật ngữ Bởi hơn ai hết chúng tôi ý thức được rằng đặc điểm cấu trúc của thuật ngữ là biểu hiện bề ngoài, bề nổi của mọi cấu trúc chìm bên trong; và một khi làm sáng rõ được cấu trúc của thuật ngữ thì chúng tôi

có thể trong một phạm vi nào đó, nghiên cứu sâu hơn để làm sáng tỏ quá trình hình thành của thuật ngữ, các vấn đề nguồn gốc lịch sử, các vấn đề

về phương thức cấu tạo, các vấn đề về từ loại, các vấn đề về ngữ nghĩa, các vấn đề về ngữ dụng và các vấn đề về so sánh đối chiếu, chuyển dịch thuật ngữ

Trang 25

2.1.3 Đơn vị cấu tạo từ

Đỗ Hữu Châu cho rằng “ Các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất – tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu tố nhỏ hơn nữa mà cũng có nghĩa- được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt” [5, tr 57]

Và theo Nguyễn Tài Cẩn thì yếu tố này được gọi bằng tên gọi quốc tế là

hình vị, trong tiếng Việt được gọi là tiếng [3, tr 37]

2.1.4 Phương thức cấu tạo từ

Theo quan điểm của Đỗ Hữu Châu, phương thức cấu tạo từ “là cách thức mà ngôn ngữ tác động vào hình vị để cho ta các từ” Từ trong tiếng Việt chủ yếu được cấu tạo theo các phương thức sau:

Từ hóa hình vị: Là phương thức tác động vào bản thân một hình

vị, làm cho nó có đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì vào hình thức của nó

Ví dụ: những từ như: vốn, thuế, mua, bán, là những từ được

hình thành do sự từ hóa hình vị của các hình vị trên

Ghép: Là phương thức tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có

nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ)

Ví dụ: Phương thức ghép tác động vào hình vị “thương” và hình vị

“mại” để tạo thành từ “thương mại”, tác động vào hình vị “thuế” và hình

vị “đất” để thành từ “thuế đất”

Láy: Là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất

hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh Cả hình

vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ (mang đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từ)

Ví dụ: Dùng phương thức láy tác động vào hình vị “trắng” cho ta

từ láy “trăng trắng”, tác động vào hình vị “đen” cho ta từ láy “đen đen”

2.1.5 Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt

Trang 26

Các nhà Việt ngữ học khi nghiên cứu về mặt cấu tạo từ thường dựa vào các tiêu chí sau để phân loại các kiểu cấu tạo từ:

- Sự đồng nhất và khác biệt về phương thức cấu tạo

- Sự đồng nhất và khác biệt về hình vị, chủ yếu là về tính độc lập hay không độc lập, về tính từ loại của hình vị

- Sự đồng nhất và khác biệt về quan hệ cú pháp giữa các hình vị

Sau đây chúng tôi xin trình bày quan điểm phân loại kiểu cấu tạo

từ tiếng Việt được xem là phổ biến trong xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ hiện nay

2.1.5.1 Từ đơn: là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập

Ví dụ: cung, cầu, lương, vốn, thuế

- Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời Một số

từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,…

- Xét về mặt ý nghĩa, từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm,…

- Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy (Theo thống kê của A.Derode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt) nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt

2.1.5.2 Từ ghép: là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với

nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa

Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:

2.1.5.2.1 Từ ghép đẳng lập :

Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:

- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng,

- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:

Trang 27

Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó :

Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt Ví dụ : bạn

hữu, bụng dạ, máu huyết,…

Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt Ví dụ : tư duy, thổ địa, tiện lợi,

cốt nhục,…

Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt Ví dụ : đợi chờ, máu mủ, xinh

đẹp,…

 Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vốn là từ địa phương Ví

dụ: Chân cẳng, bát đọi, chợ búa,…

Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau Ví dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo

quần, ăn uống, đi đứng, …

Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau Ví dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ,

gần xa, trong ngoài,…

Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp (tức biểu thị

sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát)

Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến

hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập

Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm

vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là

từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa

* Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô

hình ngữ nghĩa AB = A+B Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố Chẳng hạn, từ quần

áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo

Trang 28

Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe,

xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn, thầy trò, vợ con,

* Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ

nghĩa AB = A hoặc B Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ

ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ Ví dụ: núi

non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,

Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa (chợ búa), pheo (tre pheo), chóc (chim chóc) chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này

Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa,

đường sá, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách,…

* Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: bao gồm những từ ghép nằm trong mô hình ngữ nghĩa AB > A+B Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không phải chỉ là phép cộng đơn thuần nghĩa của các thành tố, mà nó là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo sự trừu tượng hóa dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hay hoán dụ Do đó nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố Ví dụ, “đất nước” không phải chỉ “đất” và

“nước” nói chung hay chỉ “đất” hoặc “nước”, mà hai yếu tố được hợp lại

để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong đó có những nét tiêu biểu là đất

và nước Trường hợp non sông, sông núi, sơn hà cũng vậy

2.1.5.2.2 Từ ghép chính phụ

Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở

vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp Loại này có những đặc điểm sau:

Trang 29

Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể

Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại

sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ thường được dùng để cụ thể hoá loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó

Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:

* Từ ghép chính phụ dị biệt : là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật, hoạt động, đặc trưng cụ thể Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại Ví dụ:

- máy may, máy bơm, máy nổ, máy tiện,…

- làm việc, làm thợ, làm duyên, làm ruộng, làm dâu,…

- vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,…

Ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán - Việt Việt hoá khác từ ghép Hán - Việt Ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước

Ví dụ: vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,

Ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước

Ví dụ : hải phận, không phận, hoả xa, thi sĩ,…

* Từ ghép chính phụ sắc thái hoá: là những từ ghép trong đó thành

tố phụ có tác dụng bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hoá này khác với từ ghép sắc thái hoá

khác về ý nghĩa Ví dụ: so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc,…

Trang 30

b Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố

Theo ý kiến thứ nhất chỉ mới có thể lí giải được một số từ láy xác định được tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không

xác định được tiếng gốc (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, bủn rủn, lã

chã, ), hoặc những từ có dạng láy nhưng thực ra chúng vốn được tạo ra

từ phương thức ghép (ví dụ: hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc, )

Nhìn nhận từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy được những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ này, không thấy được nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động, biểu cảm nhất Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu

ra được những từ láy chân chính trong tiếng Việt Tuy nhiên cần nhận thức được rằng ngôn ngữ không đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy và những từ láy chân chính đã hòa lẫn vào nhau mà ngay cả những nhà ngôn ngữ học cũng khó phát hiện và phân biệt được chúng trong nhiều trường hợp Gần đây trong nhiều bài viết, các tác giả đã khôi phục được nghĩa của nhiều từ ghép có dạng láy bị mất nghĩa Dẫu sao những

từ này hiện nay cũng đã mang nhiều đặc điểm của từ láy (về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm) Trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đầy đủ hơn nữa, có thể xem chúng là từ láy Do vậy, đứng trên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan

hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa

Trang 31

Ngữ là cụm từ sẵn có trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với

từ, có nhiều đặc điểm giống với từ và mang một số đặc điểm sau:

- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ

- Về mặt ngữ pháp, chúng cũng có thể làm thành phần câu, cũng

có thể là cơ sở để cấu tạo các từ mới

- Về mặt ngữ nghĩa chúng cũng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người

Đặc trưng cơ bản nhất của ngữ là tính cố định và tính thành ngữ Người ta căn cứ vào thành tố chính (thành tố trung tâm) của ngữ

mà phân ra thành các loại ngữ như: ngữ danh từ (danh ngữ), ngữ động từ (động ngữ), ngữ tính từ (tính ngữ) hay ngữ trạng từ (trạng ngữ)

2.1.6 Hiện tƣợng chuyển di kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt

Không kể từ đơn và từ ngẫu hợp, tiếng Việt có 3 kiểu cấu tạo từ

cơ bản cùng với các kiểu nhỏ là:

- Từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, hợp nghĩa, đơn nghĩa

- Từ ghép chính phụ: dị biệt, sắc thái hóa

- Từ láy: phỏng thanh, sắc thái hóa, cách điệu

Xét các đơn vị trên trục đồng đại hay lịch đại, ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói, việc nhận thức về kiểu cấu tạo lớn nhỏ của chúng có thể

di chuyển khá phức tạp, làm cho con đường phân giới giữa chúng có thể

bị nhòe đi Trong những trường hợp đó, nếu thiên về mặt này thì từ đang xét được xếp vào kiểu cấu tạo này, nhưng nếu thiên về mặt khác thì nó thuộc kiểu cấu tạo khác

Chẳng hạn từ chùa chiền, đất đai, hỏi han, xét về mặt lịch sử chúng là từ ghép đẳng lập, tuy nhiên do sự tác động của phương thức cấu tạo từ và mô hình ngữ nghĩa (nghĩa khái quát của A+B = A hoặc B) đã làm cho nghĩa của một trong hai yếu tố bị mờ nghĩa Ngoài ra do sự trùng hợp ngẫu nghiên về mặt ngữ âm đã làm cho người bản ngữ hiện đại nhận diện chúng như là những từ láy Xuất phát từ đặc điểm vừa nêu,

Trang 32

trong tiếng Việt ngày nay tồn tại nhiều từ có thể có hai hướng nhìn nhận như học hành, hình hài, nhăn nheo, chăm chú, đền đài, Như vậy, để biện luận kiểu cấu tạo của một từ, cần dựa vào một tiêu chí rõ ràng, dứt khoát Trong khi chờ đợi những phát hiện mới mẻ hơn nữa của ngôn ngữ học lịch sử, ta có thể dựa vào tiêu chí đồng đại để xác định kiểu cấu tạo của từ

Việc nhận thức các tiểu loại trong từ ghép đẳng lập cũng không nhất thành bất biến nếu xét từ ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói Trong

sử dụng có thể xảy ra hiện tượng chuyển di từ tiểu loại này sang tiểu loại khác đối với những từ cụ thể Ví dụ:

- Cửa hàng ăn uống (gộp nghĩa); ở đây ăn uống khá thật (rất có thể là

đơn nghĩa, chỉ nói về ăn đối với các nhà ăn tập thể)

- Cơm nước đã sẵn sàng (gộp nghĩa); cơm nước chán quá (rất có thể đơn

2.1.7 Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt

Như ta đã biết, vốn từ tiếng Việt vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định Các kiểu cấu tạo từ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ Chính vì vậy, trong chương trình Tiếng Việt ở bậc phổ thông cơ sở và trung học, nội dung xác định các kiểu cấu tạo từ rất được những nhà giáo dục quan tâm Tuy nhiên ở các cấp học này vấn đề tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ không phải đã sáng rõ, đặc biệt là ranh giới giữa từ láy và từ ghép Ðể có thể xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt một cách nhất quán, cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng Dựa vào những vấn đề có tính chất lí thuyết về các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt

Trang 33

đã nêu, ta có thể nêu lên và áp dụng một cách tuần tự các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt sau đây

- Về góc nhìn, trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đủ rõ, ta có thể xét từ tiếng Việt dựa trên quan điểm đồng đại, tức dựa vào sự nhận thức chung của người bản ngữ đương đại về nghĩa của các yếu tố cấu tạo

nghĩa thực thì đó là từ láy (ví dụ: vắng vẻ, dễ dàng, sạch sẽ, ) Tiêu chí

này sẽ loại trừ các trường hợp các từ ghép có quan hệ ngẫu nhiên về mặt

ngữ âm (như hầm hố, máu mủ, tốt tươi, ) Ở những từ láy ta lại tiếp tục

dựa vào số lượng tiếng, dựa vào các bộ phận giống nhau trong từ để xác định các từ láy đôi, láy ba, các từ láy bộ phận hay hoàn toàn, láy âm hay láy vần

Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa thì đó là từ ghép Ở từ ghép, ta lại tiếp tục dựa vào các mô hình ngữ nghĩa cụ thể của từng từ để xác định các kiểu cấu tạo cụ thể Nếu một tổ hợp tiếng gợi lên các sự vật mang ý nghĩa khái quát, tổng loại thì đó là từ ghép đẳng lập Còn nếu một tổ hợp nêu lên một phạm vi

Trang 34

Bên trên chúng tôi đã trình bày đặc điểm của từ đơn trong tiếng Việt Về mặt cấu tạo thì nó được cấu tạo bởi một tiếng (hình tiết) độc lập, về mặt lịch sử thì đó là các từ có lịch sử lâu đời; về ý nghĩa thì chúng biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội, các số đếm, các bộ phận cơ thể

Chính vì các đặc điểm về ý nghĩa và lịch sử này mà chúng ta có thể dự đoán rằng số lượng các thuật ngữ kinh tế tiếng Việt là từ đơn là không nhiều

Thực tế khảo sát 342 thuật ngữ kinh tế trong văn kiện Đảng, chúng tôi chỉ thu được 8 thuật ngữ là từ đơn, chủ yếu được cấu tạo theo phương thức từ hóa hình vị, còn lại là do vay mượn Đó là:

2.2.2 Thuật ngữ kinh tế tiếng Việt là từ ghép

Chỉ xét riêng về vai trò định danh thì từ ghép là loại từ có chức năng định danh một cách phong phú, đầy đủ và chính xác nhất Bởi vậy khi xem xét bất kì một hệ thuật ngữ nào của bất kì ngôn ngữ nào trên thế giới chúng ta đều nhận thấy rằng số lượng thuật ngữ là từ ghép chiếm số lượng rất lớn

Qua khảo sát thuật ngữ kinh tế trong văn kiện Đảng chúng tôi nhận thấy: trong tổng số 342 thuật ngữ từ ghép chiếm số lượng 109 từ Ví dụ:

Năng suất

Trang 35

Đối với các từ ghép chính phụ chúng tôi cũng nhận thấy chủ yếu

là từ ghép Hán- Việt Bên cạnh đó chúng tôi khảo sát thêm về phương thức ghép trong kiểu loại từ ghép này

 Phương thức ghép phụ- chính: Đa số từ ghép chính phụ được ghép theo trật tự này, có nghĩa là thành tố phụ đứng trước, thành tố

Trang 36

chính đứng sau Đây là trật tự điển hình cho các từ ghép Hán- Việt Ví dụ:

Trang 37

Nhìn vào bảng tổng kết chúng ta thấy rằng trong hệ thuật ngữ kinh

tế tiếng Việt, tương quan giữa từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ là không lớn So sánh tương quan thì ta thấy ghép chính phụ chiếm gần 52%, ghép đẳng lập chiếm 48% Và theo như đặc điểm tính chất nghĩa của từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập (đã được trình bày ở trên) thì

ta có thể đưa ra nhận xét chủ quan rằng, trong phạm vi các thuật ngữ kinh tế là từ ghép thì một nửa mang nghĩa cụ thể, chuyên sâu; nửa còn lại mang nghĩa tổng quát

2.2.3 Thuật ngữ là từ ngẫu hợp

Theo Nguyễn Tài Cẩn: “ Có thể nói bất kì từ ngoại quốc nào, nếu được du nhập vào tiếng Việt theo lối phiên âm thì cũng đều thuộc vào loại từ ghép ngẫu hợp” [3, tr140] Chúng tôi tìm được 4 thuật ngữ là từ ngẫu hợp trong tổng số 342 thuật ngữ kinh tế trong văn kiện Đảng, các

từ này hoàn toàn là do vay mượn từ tiếng Anh

Trang 38

Qua khảo sát 342 đơn vị thuật ngữ kinh tế trong văn kiện Đảng chúng tôi thu được 221 đơn vị thuật ngữ là ngữ

Về cấu tạo của thuật ngữ kinh tế là ngữ: gần như toàn bộ (220/221) ngữ này là ngữ danh từ, có nghĩa là đại đa số có cấu tạo bởi thành tố chính là danh từ, còn lại có 1 động ngữ với thành tố chính là động từ

Về số lượng hình vị trong một ngữ: chúng tôi nhận thấy số lượng hình vị trong một ngữ là rất đa dạng, ít nhất là 3 hình vị, 4 hình vị, cá biệt có ngữ bao gồm 10 hình vị và 11 hình vị Ví dụ:

Giá quy định ( 2 từ-3 hình vị)

Hạ tầng cơ sở (2 từ- 4 hình vị)

Doanh nghiệp tư nhân (2 từ- 4 hình vị)

Tổng sản phẩm trong nước (4 từ- 5 hình vị)

Ủy ban chứng khoán nhà nước (3 từ- 6 hình vị)

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (4 từ- 10 hình vị) Kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước (6 từ-11 hình vị)

Qua tổng khảo sát về đặc điểm cấu trúc của 342 thuật ngữ kinh tế trong văn kiện Đảng, chúng tôi có bản tổng kết sau đây:

Trang 39

Do tính chất định danh của thuật ngữ nên số lượng thuật ngữ kinh

tế làm danh từ và ngữ danh từ chiếm số lượng rất lớn Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy trong tổng số 342 thuật ngữ thì có tới 314 thuật ngữ làm danh từ và ngữ danh từ, có 27 thuật ngữ làm động từ và ngữ động từ (đây chủ yếu là các động từ rất cơ bản trong kinh tế), chúng tôi thu được duy nhất 1 thuật ngữ làm tính ngữ và không thu được đơn vị thuật ngữ nào làm trạng từ/ trạng ngữ

Một số ví dụ thuật ngữ làm danh từ hoặc danh ngữ:

Cải cách nông nghiệp

Đại diện kinh tế

Đầu tư xanh

Trang 40

2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ kinh tế tiếng Việt

Như đã trình bày ở chương I, có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ Chúng tôi xin trích dẫn quan điểm về thuật ngữ của Achmanova như sau: “thuật ngữ là toàn bộ những từ chuyên biệt của một ngành sản xuất hoặc một lĩnh vực hoạt động trí tuệ Những từ chuyên biệt và lớp từ vựng đặc biệt này có thể được điều chỉnh, sắp xếp một cách có ý thức” [1, tr 34]

Định nghĩa này khẳng định tính quan trọng đặc biệt về ý nghĩa của thuật ngữ Dựa trên kết quả khảo sát nội dung ý nghĩa, đặc biệt là nghĩa nội hàm của các khái niệm thuật ngữ kinh tế tiếng Việt, chúng tôi phân loại các thuật ngữ kinh tế tiếng Việt thành những nhóm sau:

2.4.1 Các thuật ngữ về kinh tế- chính trị

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w