Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng mười đã cổ vũ phong trào đấutranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt lànhân dân các nước thuộc địa.. Cách mạng Tháng M
Trang 1MỞ ĐẦU
Dân tộc ta đã trải qua hơn bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữnước, vượt qua một chặng đường đấu tranh cực kì khó khăn và gian khổ,giành được những thắng lợi vẻ vang Từ thân phận người dân mất nước, nhândân ta đã anh dũng vùng lên, lần lượt đánh bại các cường quốc lớn mạnh, đưađất nước vào kỉ nguyên mới: kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với Chủnghĩa xã hội Lực lượng lãnh đạo nhân dân ta dành được những thắng lợi vĩđại đó là Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là một điều tất yếu lịch sử của cuộcđấu tranh giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong thời đạimới Đảng là kết quả của một quá trình lựa chọn con đường cứu nước, tíchcực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức của một tập thể cách mạng; làmột sự sàng lọc và lựa chọn nghiêm khắc của lịch sử cách mạng Việt Nam từkhi mất nước vào tay Thực dân Pháp Đảng ra đời là một bước ngoặt trọng đạitrong lịch sử cách mạng dân tộc Việt Nam
Trước khi Đảng ra đời đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra nhưngchúng đều bị thất bại trươc sự đàn áp dã man của thực dân Pháp Chỉ đến năm
1924 Nguyễn Ái Quốc trở về thống nhất ba Đảng lúc bấy giờ thành một Đảngduy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam thì cuộc khủng hoảng về đường lối cáchmạng mới được giải quyết Sự ra đời của Đảng gắn liền với tên tuổi củaNguyễn Ái Quốc – người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam.Bác là người Việt Nam đầu tiên nắm bắt Chủ nghĩa Mác- Leenin và vận dụngsáng tạo vào đặc điểm lịch sử cách mạng dân tộc Việt Nam Chính vì lẽ đó,
em lựa chọn đề tài “Vai trò của Hồ Chí MInh trong quá trình thành lập ĐảngCộng sản Việt Nam” để thấy rõ vai trò của Bác trong quá trình thành lậpĐảng cũng như trong quá trình giải phóng dân tộc thống nhất Tổ quốc
Trang 2NỘI DUNG CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT XÃ HỘI VIỆT NAM TRƯỚC KHI ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI 1.1 Tình hình thế giới và tác động của nó tới cách mạng Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên bình diện thế giới xuất hiệnnhững biến cố lịch sử mang tính chất là bước ngoặt của xã hội loại người
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản (CNTB) đã chuyển từ giai đoạn
tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa (ĐQCN) Chính bướcchuyển này đã làm cho mâu thuẫn trong thế giới TBCN ngày càng trở nên gaygắt: Mâu thuẫn vốn có trong CNTB là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất đã phát triển đến mức cần phải giải quyết Mâu thuẫn nàytạo ra tính tất yếu của cách mạng vô sản, phạm trù cách mạng thế giới chuyểnsang phạm trù cách mạng vô sản, cách mạng XHCN Cùng với mâu thuẫn nộitại trong bản thân mỗi nước tư bản thì thời điểm này cũng xuất hiện mâuthuẫn giữa các nước tư bản với nhau do tranh giành thuộc địa, phân chia thịtrường và khu vực ảnh hưởng Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới cuộc đạichiến thế giới lần thứ nhất (1914-1918) Đặc biệt là sự thống trị tàn bạo củaCNĐQ làm cho mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với CNĐQ thực dânngày càng trở nên gay gắt và trở thành một vấn đề mang tính thời đại
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhânquốc tế, một học thuyết cách mạng và khoa học đã khẳng định được vị trí vàđược xem là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, đó là lý luận của Chủnghĩa Mác- Lênin Không những thế, lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênnincũng chỉ ra cho các dân tộc thuộc địa con đường giải phóng mình
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên học thuyết lýluận cách mạng không ngừng, với nội dung cơ bản: Giai cấp công nhân, saukhi đã trưởng thành về trình độ giác ngộ, trình độ tổ chức, có đủ khả năng và
Trang 3điều kiện lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ tư sản trên cơ sở liên minh vớigiai cấp nông dân đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế phong kiến Dưới sựlãnh đạo của giai cấp công nhân, sự liên minh giữa giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân trở thành lực lượng chủ yếu đánh đổ chế độ chuyên chếphong kiến, thành lập nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp côngnhân và giai cấp nông dân (gọi tắt là chuyên chính công nông) Một cuộc cáchmạng như vậy được gọi là cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới Sự hoànthành triệt để cuộc cách mạng đó có nghĩa là tạo lập chiếc cầu trực tiếp đểchuyển sang cách mạng XHCN và giữa chúng không có ''bức tường thànhngăn cách''.
Lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và đặc biệt là Lý luận cách mạngkhông ngừng đã chỉ ra con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa nhưViệt Nam, đó là phải tiến hành một cuộc cách mạng theo con đường cáchmạng vô sản Đồng thời Lênin cũng chỉ ra việc cần thiết phải xây dựng mộtĐảng cộng sản kiểu mới của giai cấp công nhân
Trong lúc phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang phát triểnmạnh mẽ, đặc biệt là khi được trang bị bởi một học thuyết cách mạng và khoahọc, cuộc cách mạng vô sản đầu tiên nổ ra và giành thắng lợi tại Nga năm1917
Thắng lợi của cuộc cách mạng Tháng mười đã cổ vũ phong trào đấutranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, đặc biệt lànhân dân các nước thuộc địa Cách mạng Tháng Mười đã thúc đẩy sự ra đờicủa hàng loạt các đảng cộng sản trên thế giới: Đản cộng sản Đức, Đảng cộngsản Hunggari (1918), Đảng cộng sản Mỹ (1919), Đảng cộng sản Anh, Đảngcộng sản Pháp (1920)…
Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga 1917 cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấutranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới, dẫn tới sự rađời của hàng loạt các đảng cộng sản Tình hình đó đòi hỏi phải có một tổ chức
Trang 4quốc tế đứng ra lãnh đạo, tập trung sức mạnh của phong trào ở tất cả các quốcgia, dân tộc (Quốc tế II đã không còn vai trò tiên phong kể từ sau khiĂngghen qua đời năm 1895).
Tháng 3- 1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập, với khẩu hiệu "Vôsản thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại" đã đánh dấu một giai đoạnmới của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế "Lần đầu tiên trong lịch
sử, quốc tế Cộng sản đã chỉ rõ sự đoàn kết tất yếu, liên minh chiến đấu giữagiai cấp vô sản và các dân tộc thuộc địa đang rên xiết dưới ách thống trị thựcdân" Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của Quốc tế Cộng sản đối với cáchmạng Việt Nam: "Xem trong cách tổ chức Đệ tam quốc tế, có đặt ra một bộriêng, chuyên nghiên cứu và giúp đỡ cho cách mệnh bên Á- Đông… Xemkhẩu hiệu Đệ tam quốc tế, chẳng những rằng "vô sản giai cấp" mà lại thêmcâu "… và dân tộc bị áp bức trong thế giới liên hiệp lại"… Xem những việc
ấy thì đủ biết rằng An Nam muốn làm cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ
Đệ tam quốc tế"
Như vậy, tình hình thế giới và những đặc điểm trên đây của thời đại cóảnh hưởng to lớn tới cách mạng Việt Nam đặc biệt là quá trình hình thànhĐảng cộng sản Việt Nam
1.2 Tình hình xã hội Việt Nam
Năm 1858, thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược Việt Nam tại cửa biển
Đà Nẵng Nhân dân ta đã đứng lên, anh dũng đấu tranh chống thực dân Phápxâm lược, song các phong trào đấu tranh đều lần lượt thất bại Đến 1897, thựcdân Pháp đã áp đặt xong bộ máy cai trị ở nước ta và bắt đầu tiến hành khaithác thuộc địa với những chính sách phản động và hà khắc
Về chính trị, Pháp thực hiện chính sách chuyên chế với bộ máy đàn ápnặng nề, mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị ngườiPháp: Toàn quyền Đông Dương, Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ,Khâm sứ Trung Kỳ, Công sứ các tỉnh Biến vua quan Nam Triều thành bù
Trang 5nhìn tay sai Biến Việt Nam từ một nước phong kiến thành nước thuộc địanửa phong kiến.
Thực dân pháp ra sức thi hành chính sách “ chia để trị “, chúng trựctiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước, thi hành chínhsách cai trị chuyên chế, biến một bộ phận của giai cấp tư sản mại bản và địachủ phong kiến thành tay sai đắc lực, tạo nên sự cấu kết giữa chủ nghĩa đếquốc và phong kiến tay sai, đặc trưng của chế độ thuộc địa Sự cai trị củachính quyền thuộc địa đã làm cho nhân dân ta mất hết quyền độc lập, quyền
tự do dân chủ; mọi phong trào yêu nước bị đàn áp dã man; mọi ảnh hưởng củacác trào lưu tiến bộ từ bên ngoài vào đều bị ngăn cấm
Về kinh tế, 1897 Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần 1, sau chiến
tranh thế giới I (1914- 1918), chúng khai thác lần 2 - để bù vào những tổn thấttrong chiến tranh (vốn đầu tư với tốc độ nhanh, giai đoạn 1924 - 1928 hơn 6lần 1847 - 1918), tập trung vào hai khu vực chủ yếu là đồn điền cao su và mỏthan
Tăng cường ngân hàng để cho vay nặng lãi và thâu tóm để kiểm soátcác hoạt động kinh tế ở Đông Dương Chúng tăng thuế lên 2 - 3 lần so vớitrước, độc quyền thuốc phiện, rượu, muối
Chúng thực hiện chế độ mộ phu cực kỳ man rợ và chiếm đoạt ruộng đấtcủa nông dân làm 50% nông dân ta mất ruộng đất Đời sống nhân dân vôcùng cực khổ Chúng du nhập phương thức sản xuất TBCN làm cho quan hệkinh tế ở nông thôn bị phá vỡ và hình thành nên những đô thị, khu dân cư vàtrung tâm kinh tế mới Chúng duy trì phương thức sản xuất phong kiến, kếthợp hai phương thức sản xuất để thu lợi nhuận siêu ngạch Chúng không dunhập phương thức sản xuất TBCN một cách hoàn chỉnh, chính vì thế mà ViệtNam không thể tiến lên TBCN bình thường được Vì vậy nền kinh tế ViệtNam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu - vừa mang tính chất tư bản thực dân -vừa mang tính chất phong kiến
Trang 6Về văn hóa, Thực dân Pháp thực hiện chính sách văn hóa nô dịch, ngu
dân, gây tâm lý tự ti, vong bản để chúng dễ bề thống trị đồng thời chúngcòn tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn không cho ảnh hưởng đến văn hóatiến bộ trên thế giới vào Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đó nói rõ về chính sáchnày: "Chủ nghĩa tư bản Pháp đó vào Đông Dương từ nửa thế kỷ nay; vì lợi íchcủa nó, nó đã dựng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi Từ đó, chúng tôikhông những bị áp bức và bóc lột một cách nhục nhã, mà còn bị hành hạ vàđầu độc một cách thê thảm Tụi xin nhấn mạnh từ "đầu độc" bằng thuốcphiện, bằng rượu Chúng tôi không có quyền cư trú và du lịch ra nước ngoài;chúng tôi phải sống trong cảnh ngu dốt tối tăm và chúng tôi không có quyền
tự do học tập"
Sự thống trị của thực dân Pháp đã để lại nhiều hậu quả trong nền kinh tế- xã hội Việt Nam.
Về kinh tế, nền kinh tế Việt Nam không thể tiến lên TBCN bình thường
được, trái lại nó phát triển chậm chạp, què quặt, mất dần tính độc lập, ngàycàng lệ thuộc vào kinh tế Pháp; nó bị kìm hãm trong vòng lạc hậu - vừa mangtính chất TB thực dân - vừa mang tính chất phong kiến
Về xã hội, Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập đã trở thành một
nước thuộc địa nửa phong kiến, mâu thuẫn trong xã hội cũng bị chi phối bởiđặc điểm này; xã hội Việt Nam hình thành nhiều mâu thuẫn đan xen lẫn nhau,song mâu thuẫn chủ yếu nhất nổi lên lúc này là mâu thuẫn giữa toàn thể dântộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động
Về giai cấp cũng bị phân hóa triệt để do chính sách khai thác thuộc địa
của thực dân Pháp, ngoài những giai cấp vốn có (địa chủ phong kiến và nôngdân), xã hội Việt Nam xuất hiện những giai cấp mới như tư sản, tiểu tư sản,
vô sản
Thái độ chính trị của các giai cấp cũng có sự phân hoá sâu sắc, theo đótrong các giai cấp địa chủ phong kiến và tư sản đều có những bộ phận có thể
Trang 7lôi kéo, lợi dụng trong lực lượng cách mạng ; các giai cấp tiểu tư sản và nôngdân đều có tinh thần hăng hái cách mạng, là lực lượng quan trọng của cáchmạng Đặc biệt là công nhân, tuy chiếm khoảng 1% dân số nhưng là lựclượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng nếu được trang bị Chủ nghĩaMác- Lênin.
Trong bối cảnh đó, các phong trào yêu nước theo nhiều khuynh hướngkhác nhau đã diễn ra: Phong trào Cần Vương (1885 – 1896), Khởi nghĩa củanông dân Yên Thế (1885 – 1913), Phong trào Đông Du (1906 – 1908), Phongtrào Duy Tân (1906- 1908), Phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925 -1926), Phong trào cách mạng quốc gia tư sản, gắn liền với hoạt động của ViệtNam Quốc dân đảng (1927 - 1930) Nhưng tất cả các phong trào đều lần lượtthất bại, cách mạng Việt Nam rơi vào cuộc khủng hoảng về đường lối cứunước và giai cấp lãnh đạo cách mạng
Trang 8CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG VIỆC THÀNH LẬP
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
2.1 Tiểu sử vắn tắt của chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đihọc là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đâylấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19-5-1890 ở làng Kim Liên, xã NamLiên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2-9-
1969 tại Hà Nội Người sinh ra trong một gia đình: Bố là một nhà nho yêunước, nguồn gốc nông dân; mẹ là nông dân; chị và anh đều tham gia chốngPháp và bị tù đày
Ngày 5-6-1911, Người ra nước ngoài, làm nhiều nghề, tham gia cuộcvận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấutranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngườiViệt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ởchủ nghĩa Mác- Lênin con đường giải phóng của giai cấp công nhân và nhândân các nước thuộc địa Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sảnPháp tại Đại hội Tua Năm 1921, người tham gia thành lập Hội Liên hiệp cácdân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922) Năm
1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân Năm 1924,Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là
Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam.Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bứcchâu á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)
và Đường cách mệnh (1927)
Trang 9Năm 1925, Người thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chíHội ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức “Cộng sản đoàn” làm nòng cốtcho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩaMác-Lênin vào Việt Nam.
Ngày 3-2-1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại CửuLong (gần Hương Cảng) Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sáchlược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo Người ra lời kêu gọinhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản ĐôngDương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam )
Từ năm 1930 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho
sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức kháctrong những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn
Năm 1941, Người về nước, triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấphành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đường lối cứunước, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Việt Minh), tổ chức lựclượng vũ trang giải phóng, chính sách căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân khởinghĩa từng phần và chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cảnước
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thắng lợi, ngày 2-9-1945, tại Quảngtrường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bốthành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tổ chức Tổng tuyển cử tự dotrong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên củaViệt Nam Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa (1946) Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minhlãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đếquốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng
Trang 10Ngày 19-12-1946, người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dânPháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển nhữngthành quả của Cách mạng Tháng Tám.
Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịchBan Chấp hành Trung ương Đảng Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng,đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Namchống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằngchiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (1954) Sau khi miền Bắc được hoàn toàngiải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hainhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hộichủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giảiphóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dântộc dân chủ nhân dân trong cả nước Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đãnhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trungương Đảng Lao động Việt Nam Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làmChủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cùng với Ban Chấp hành Trungương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của nhândân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; lãnh đạo sựnghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vàođiều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng ViệtNam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Người sáng lập ra Đảng Mácxít-Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sánglập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước ViệtNam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế Người là tấmgương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng Chủtịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kínhyêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc,
Trang 11một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giảiphóng dân tộc.
2.2 Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị những điều kiện cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và sự chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức
2.2.1 Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị những điều kiện cho sự thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứunước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũthì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn ÁiQuốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướngmới Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước,Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nướccủa châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủnghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dânlao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa
Cuối năm 1917, Người từ nước Anh trở lại nước Pháp và tham gia cáchoạt động xã hội Năm 1919 Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chínhđảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp Vào tháng 6-1919, nhân các nước thắng trậnhọp Hội nghị Vecxay (Versailles), Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt những ngườiViệt Nam yêu nước ở Pháp gửi tới Hội nghị Bản yêu sách của nhân dân ViệtNam, gồm 8 điểm đòi Chính phủ Pháp thực hiện quyền tự do, dân chủ, bìnhđẳng cho dân tộc Việt Nam
Tháng 7-1920, Người đã đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương vềvấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo L'Humanite (Nhân đạo)của Đảng Xã hội Pháp Qua Luận cương, Người đã tìm thấy con đường giảiphóng dân tộc Cuối tháng 12-1920, tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hộiPháp họp ở Tua (Tours) Người đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế thứ ba
và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp
Trang 12Sự kiện đó đã đánh dấu bước chuyển biến tư tưởng chính trị củaNguyễn Ái Quốc, từ lập trường yêu nước chuyển sang lập trường cộng sản.Đồng thời cũng mở ra cho cách mạng Việt Nam một giai đoạn phát triển mới
"giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhânquốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trảiqua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin"
Sau khi đã tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, từ năm
1921 Người tiếp tục học tập để bổ sung hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồngthời tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam nhằm chuẩn bịtiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời chính đảng tiên phong ởViệt Nam
2.2.2 Sự chuẩn bị của Nguyễn Ái Quốc về chính trị, tư tưởng, tổ chức để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Bằng nhiều hoạt động, trong giai đoạn 1921 - 1929, lãnh tụ Nguyễn ÁiQuốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị vềchính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng:
Về chính trị: Người tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vàotrong nước Nguyễn Ái Quốc đã phác thảo những vấn đề cơ bản về đường lốicứu nước đúng đắn của cách mạng Việt Nam, thể hiện tập trung trong nhữngbài giảng của Người cho những cán bộ cốt cán của Hội Việt Nam cách mạngthanh niên tại Quảng Châu (Trung Quốc) Năm 1927, những bài giảng củangười trong các lớp huấn luyện được in thành sách lấy tên là Đường Káchmệnh Tác phẩm chỉ ra vấn đề then chốt có tác dụng lớn không chỉ đối vớiViệt Nam, mà còn đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân cácnước thuộc địa Phương Đông Những vấn đề đó là: cách mạng là sự nghiệpcủa quần chúng, chủ yếu là công nông, vì vậy phải tổ chức quần chúng lại;cách mạng muốn thành công phải có một Đảng Cộng sản lãnh đạo; phải có