Đáng chú ý là: Đề tài cấp Nhà nước Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Ban Kinh tế Trung ương, năm 1997; Đề tài cấp Bộ Nghiên cứu tác động kinh tế của Nhà nước nhằm g
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2000 19
1.1 Những yếu tố tác động đến quá trình hoạch định chủ trương của Đảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 19
1.1.1 Yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội 19
1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam 10 năm đầu đổi mới (1986 - 1995) 30
1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng 42
1.2.1 Những quan điểm, chủ trương của Đảng 42 1.2.2 Quá trình hiện thực hóa chủ trương của Đảng 53
Chương 2: Lãnh đạo đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2006 72
2.1 Chủ trương mới của Đảng 72
2.1.1 Những điều kiện mới trong những năm đầu thế kỷ XXI 72
2.1.2 Những chủ trương mới của Đảng 80
2.2 Chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 97
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 105
2.2.2 Chuyển dịch cơ cấu nội ngành 113
Chương 3: Đánh giá chung và một số kinh nghiệm lịch sử 143
3.1 Đánh giá chung 143
3.1.1 Những ưu điểm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo 143
3.1.2 Một số hạn chế 157
3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 174
KẾT LUẬN 196
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 201
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 202
PHỤ LỤC 217
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước Hiện nay, là nước nông nghiệp đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (2006) khẳng định: “Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” [69, tr.190] Trong phát triển nông nghiệp thì chuyển dịch CCKTNN đóng vai trò quan trọng hàng đầu Vấn đề này nếu được đặt đúng vị trí của nó và giải quyết một cách khoa học, sẽ trở thành những yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững, không chỉ riêng của ngành nông nghiệp, sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã dành nhiều tâm sức và trí tuệ để lãnh đạo phát triển nền nông nghiệp theo hướng phát triển toàn diện, hiện đại và tiến tới bền vững, xây dựng nông thôn phát triển theo hướng văn minh, hiện đại Xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, tư duy ngày càng được đổi mới của Đảng về nông nghiệp, về CCKTNN theo hướng CNH, HĐH thể hiện qua các chủ trương, đường lối, đã giải đáp đúng và trúng những vấn đề bức xúc do thực tiễn đặt ra
Sau 20 năm đổi mới (1986-2006), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, nông nghiệp - với tư cách là một bộ phận cấu thành nền kinh tế, đã có được những thay đổi lớn, trong đó dấu ấn quan trọng là sự chuyển dịch CCKTNN Điều đó thể hiện rõ, từ một nền nông nghiệp được quản lý theo cơ chế kế
Trang 4hoạch hóa tập trung, đã chuyển sang nền nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước; từ một nền sản xuất tự cung, tự cấp, khép kín, chuyển sang nền sản xuất hàng hóa theo hướng xuất khẩu; từ phát triển theo chiều rộng, lấy khai thác tự nhiên làm động lực, chuyển sang phát triển theo chiều sâu, lấy chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững làm mục tiêu; từ nền nông nghiệp truyền thống, trồng trọt là chủ yếu, trong đó cây lúa giữ vai trò chủ đạo, chuyển sang nền nông nghiệp hàng hóa đa ngành đa nghề; ngành chăn nuôi trở thành một ngành sản xuất chính; tỷ trọng thủy sản trong CCKTNN ngày một tăng cao Nền nông nghiệp được phát triển theo hướng CNH, HĐH, sản xuất hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và hướng tới phát triển bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao Có được kết quả đó là do nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố quan trọng, tiên quyết
là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quá trình tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành và sự đón nhận của người nông dân Tất cả những yếu tố đó đã làm nên thắng lợi của quá trình chuyển dịch CCKTNN thời kỳ đổi mới
Nông nghiệp được hiểu theo nghĩa mở rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Theo nghĩa hẹp nông nghiệp gồm trồng trọt và chăn nuôi Trong thời kỳ đổi mới, phát triển nông nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước xem “là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu” Đặc biệt, trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng khẳng định cần phải tiếp tục đổi mới đường lối phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Muốn phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, đa dạng; với tốc độ nhanh, bền vững, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng xác định là phải chuyển dịch CCKT ngành nông nghiệp Thực hiện chuyển dịch CCKTNN, nông thôn theo hướng hiện đại, tức là phải phát triển cân đối, hài hòa giữa trồng trọt và chăn nuôi; giữa các ngành nông,
Trang 5lâm nghiệp và thủy sản; chuyển mạnh sang sản xuất các sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng trên cơ
sở áp dụng quy trình sản xuất tiên tiến, đồng bộ Chuyển dịch CCKTNN phải nhằm vẫn đảm bảo vững chắc an ninh lương thực, với xây dựng các khu, vùng nông nghiệp hàng hóa và bảo vệ môi trường sinh thái Việc nghiên cứu, đánh giá khách quan, đầy đủ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch CCKTNN sẽ góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn để Đảng tiếp tục đổi mới đường lối phát triển nông nghiệp, góp phần nhanh chóng đưa đất nước đến năm 2020 về cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Vì vậy, nghiên cứu quá trình lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch CCKTNN là việc làm cần thiết nhằm khẳng định rõ hơn vai trò lãnh đạo của Đảng trong phát triển kinh tế nông nghiệp thời kỳ đổi mới Với những lý do đó, chúng tôi chọn
đề tài “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp (1996-2006)” làm Luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng
Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nông nghiệp là lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đổi mới, phát triển nông nghiệp được Đảng xác định là mặt trận hàng đầu của sự nghiệp đổi mới đất nước Do vậy, việc nghiên cứu đường lối phát triển nông nghiệp, tổng kết, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong quá trình thực hiện đường lối đó là lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các nhà quản lý, được thể hiện trong nhiều tác phẩm, nhiều công trình nghiên cứu khoa học Cho đến nay, trên những cấp độ khác nhau,
đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp nói chung và chuyển dịch CCKTNN nói riêng, có thể khái quát và phân loại thành một số nhóm sau:
2.1 Công trình khoa học nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn
Trang 6Nghiên cứu về kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch CCKT nông nghiệp là hoạt động mà nhiều cơ quan khoa học, nhiều nhà khoa học thường xuyên tiến hành Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII (1996) vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn được Đảng xác định là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, và đã có nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ do các cơ quan
nghiên cứu thực hiện Đáng chú ý là: Đề tài cấp Nhà nước Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Ban Kinh tế Trung ương, năm 1997;
Đề tài cấp Bộ Nghiên cứu tác động kinh tế của Nhà nước nhằm góp phần xóa
đói, giảm nghèo ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ do PGS,TS Ngô Quang Minh
làm Chủ nhiệm, 1996; Đề tài cấp Bộ Khảo sát những điều kiện để thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng do TS Nguyễn Thanh Tâm làm Chủ nhiệm, năm 1998; Đề
tài cấp Bộ Nghiên cứu quá trình hình thành của một số chính sách đổi mới
đột phá trong nông nghiệp, nông thôn do Viện Chính sách và Chiến lược phát
triển nông nghiệp, nông thôn, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm
2006; Đề án Chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản cả nước
đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
năm 2005; Đề tài KX02.01/06-10 Nghiên cứu dự báo chuyển dịch cơ cấu lao
động nông nghiệp, nông thôn và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở nước ta Đề tài
thuộc chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước do PGS,TS
Lê Xuân Bá làm Chủ nhiệm, năm 2009
Những đề tài này đã nêu rõ khái niệm về CCKTNN, nông thôn và quá trình chuyển dịch CCKTNN, kinh tế nông thôn; nêu lên một số giải pháp để phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa từ năm 1986 đến năm 1996; từ năm 1996 đến năm 2006; nêu lên tác động của yếu tố quản lý
Trang 7Nhà nước đối với vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, tái hiện lại bức tranh toàn cảnh của nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới; khảo sát thực tiễn ở một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Một số đề tài đã làm rõ phương hướng, mục tiêu, biện pháp chủ yếu để thực hiện chuyển dịch CCKTNN thời kỳ đổi mới, những năm từ năm 1986 đến năm 2006; đến năm 2010 và năm 2020
Nhìn chung, các công trình cấp Nhà nước, cấp Bộ nêu trên đã nghiên cứu một cách tương đối toàn diện, sâu sắc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch CCKTNN, cơ cấu lao động thời kỳ đổi mới; một số công trình còn đề xuất phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010
và năm 2020 Tuy nhiên, vấn đề Đảng lãnh đạo chuyển dịch ngành kinh tế nông nghiệp thời kỳ 1996-2006 thì chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện và sâu sắc
2.2 Các công trình, các sách chuyên ngành về kinh tế nông nghiệp, nông
thôn Đáng chú ý là:
- Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam, của Nguyễn Xuân
Thảo, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Nội dung cuốn sách gồm những vấn đề nông nghiệp, nông thôn mang tính chiến lược, những vấn
đề sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao động; phân tích, luận giải đóng góp ý kiến cho vấn đề sản xuất lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn Đây không phải là cuốn sách viết chuyên về chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhưng có một số bài đã đề cập đến các phần là những vấn đề lớn ở tầm chiến lược đối với phát triển nông nghiệp, chuyển dịch CCKTNN
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam, của PGS,TS Bùi Tất
Trang 8Thắng (Chủ biên), Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006 được biên
soạn trên kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp Nhà nước KX 02-05:
“Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nằm trong Chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước KX-
02: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa: con
đường và bước đi” Cuốn sách đã nghiên cứu tập trung vào vấn đề chuyển
dịch cơ cấu ngành, trình bày tổng quan một số vấn đề lý luận về chuyển dịch CCKT ngành trong thời kỳ CNH, những tiêu chí đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, những kinh nghiệm và bài học chính rút ra về sự chuyển dịch CCKT trong một số mô hình CNH Cuốn sách cũng nêu lên những đánh giá quá trình chuyển dịch CCKT Việt Nam trong thời kỳ thực hiện chính sách đổi mới kinh tế Trên cơ sở so sánh với nhóm NIEs trong khu vực Đông Á, đưa ra những đánh giá về tình hình CCKT vĩ mô của Việt Nam Những phân tích từ cách phân loại thống kê các khu vực kinh tế vĩ mô theo thông lệ quốc tế và từ góc độ của chỉ tiêu về cơ cấu lao động cho thấy rõ hiện trạng CCKT Việt Nam còn rất lạc hậu Cuốn sách còn phân tích, đánh giá tác động ảnh hưởng của những nhân tố mới của thế giới và trong nước đối với xu hướng chuyển dịch CCKT Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo Những bước phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của quá trình thị trường hóa toàn cầu, của sự điều chỉnh chiến lược kinh tế của các quốc gia, của những di sản kinh tế hiện có , bước chuyển dịch CCKT của Việt Nam được đánh giá có những cơ hội rất to lớn Cuốn sách cũng luận giải cơ sở của cách tiếp cận vấn đề chuyển dịch CCKT ngành trong tình hình mới Nêu
rõ quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế được đặt trên nền tảng của hội nhập và dựa vào hội nhập
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, do TS
Trang 9Nguyễn Trần Quế làm Chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội,
2004, đã đi sâu phân tích và đánh giá một cách tổng quát sự chuyển dịch CCKT Việt Nam trong những năm 1990-2002; nêu lên những điểm mạnh, yếu, xu hướng chuyển dịch và các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch CCKT nhanh hơn Bằng những số liệu phong phú có nguồn từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, các báo, tạp chí, cơ quan trong nước, kết hợp với sự luận giải khoa học, cuốn sách đã cung cấp một bức tranh tổng quát về chuyển dịch CCKT của Việt Nam trong những năm 1990-2002
- Nông nghiệp, nông thôn Nam Bộ hướng tới thế kỷ XXI, của PGS,TS
Lâm Quang Huyên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002 Đây là công trình nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân có ý nghĩa rất quan trọng về lý luận và sinh động về thực tiễn, đã tạo dựng một bức tranh về nông nghiệp, nông thôn khu vực đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Cuốn sách đã giới thiệu những thành tựu về các mặt: sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, quan hệ sản xuất mới, nông thôn mới ở Nam
Bộ với những tư liệu phong phú, hình ảnh sống động; phân tích những thuận lợi và khó khăn, những xu hướng chung và riêng trong nông nghiệp khi bước vào thế kỷ XXI, làm rõ vai trò và nhiệm vụ của nông nghiệp, nông thôn Nam
Bộ trong quá trình CNH, HĐH đất nước
- Nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, Trung tâm tư vấn đầu tư hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn
VACVINA (CECARDE), do PTS Đặng Thọ Xương (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 Cuốn sách tập hợp nhiều nguồn tài liệu, kể
cả những số liệu điều tra và tính toán theo phương pháp mới, đặc biệt coi trọng phương pháp phân tích thống kê, cuốn sách đã đưa ra những nhận xét đánh giá thực trạng nông nghiệp, nông thôn, thực chất của những thành tựu đã
Trang 10đạt được Từ đó nêu một số giải pháp đưa nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng CNH, HĐH
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI của thời đại kinh tế tri thức, của Lê Quốc Sử, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001 Cuốn sách nêu rõ lý luận cơ bản về “cơ cấu kinh tế” nói chung và “cơ cấu kinh tế nông nghiệp” nói riêng theo hướng CNH, HĐH trong thời đại kinh tế tri thức Những mô hình về phát triển kinh tế nông nghiệp xưa và nay trên thế giới Đường lối, chủ trương và chính sách đối với nông nghiệp của Đảng từ năm 1975 đến năm 2001 Cuốn sách giới thiệu một cách khá toàn diện về vấn đề chuyển dịch CCKTNN theo hướng CNH, HĐH,
lý luận, đường lối, chủ trương và thực tiễn trong nước; khảo sát thực tiễn điều tra nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn ngoại thành TP Hồ Chí Minh
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp ở đồng bằng sông Hồng - Thực trạng và triển vọng, của TS Đặng Văn Thắng và TS Phạm Ngọc
Dương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Cuốn sách đã phác họa lại bức tranh tương đối đầy đủ các khía cạnh của chuyển dịch CCKT công
- nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 1986-2000 Bằng phương pháp phân tích tổng hợp đa ngành, kết hợp khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, với những số liệu chọn lọc phong phú, cuốn sách làm sáng rõ hơn thực trạng tiến bộ và những nguyên nhân hạn chế của quá trình chuyển dịch CCKT; trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị về định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch CCKT của vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 Những cứ liệu có tính lý luận và thực tiễn của cuốn sách góp phần vào việc nghiên cứu và hoạch định chính sách CCKT của cả nước nói chung, của đồng bằng sông Hồng nói riêng
Trang 11- Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới: Quá khứ
và hiện tại, của PGS, TS Nguyễn Văn Bích, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2007 Đây là cuốn sách tham khảo có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận một cách khá toàn diện lịch sử phát triển nông nghiệp, nông thôn
và nông dân Việt Nam trong thế kỷ XX, nhất là trong 20 năm đổi mới Cuốn sách phác họa bức tranh toàn cảnh về lĩnh vực nông nghiệp đến năm 2006, làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất, cơ chế quản lý Đặc biệt, còn nêu lên được bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam nói chung, nền nông nghiệp, nông thôn nói riêng
- Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới, của TS Lê Quang Phi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2007, đã phân tích sự lãnh đạo của Đảng trước yêu cầu khách quan của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đảng lãnh đạo đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn những năm 1996-
2006 Một số kinh nghiệm Đảng lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi, của GS,TS Nguyễn Kế Tuấn (Chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Cuốn sách được hình thành trên cơ sở kết
quả nghiên cứu đề tài khoa học “Con đường, bước đi và các giải pháp chiến
lược để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn”
mã số KX 02 - 07 thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước “Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam - Con đường và bước đi” mã số KX-02 Thông qua những lý giải có tính tổng quát về con đường,
bước đi và các giải pháp thực hiện công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp và
Trang 12nông thôn ở nước ta, cuốn sách làm rõ hơn khái niệm, mục tiêu, nội dung, bước đi và các giải pháp thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; xác định những nội dung cụ thể của CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn; xác định con đường ngắn nhất, cách đi nhanh nhất để đạt mục tiêu; xác định các chặng đường và các giải pháp cần thực hiện
- Nông nghiệp các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong những năm đổi
mới, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2006, của PGS,TS Trương Minh Dục (Chủ
biên) Cuốn sách đã làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển nông nghiệp ở miền Trung; quá trình phát triển nông nghiệp ở duyên hải Nam Trung Bộ trước năm 1986; đường lối phát triển nông nghiệp của Đảng trong những năm đổi mới và quá trình vận dụng của Đảng bộ và nhân dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trên một số lĩnh vực như chính sách đất đai, chuyển dịch CCKT, xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới trong nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, ứng dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật, các chính sách tài chính, thuế và thị trường , từ đó, rút ra một số kinh nghiệm trong việc vận dụng đường lối của Đảng để phát triển nông nghiệp ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong thời kỳ đổi mới
- Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, do
Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp thực hiện Nội dung sách gồm các tham luận của các nhà khoa học nghiên cứu
lý luận và thực tiễn, những người làm công tác lý luận, tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc Cuốn sách đã cung cấp thêm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho các nhà nghiên cứu, những người tham gia hoạch định chính sách, những hoạt động thực tiễn liên quan đến vấn
đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Trang 13Ngoài ra còn một số cuốn như: Nông nghiệp, nông thôn thời kỳ đổi mới
1986-2002, của PGS,TS Nguyễn Sinh Cúc, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội,
2003; Nông nghiệp nông thôn Việt Nam - 20 năm đổi mới và phát triển, TS Đặng Kim Sơn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông nghiệp, của Viện kinh tế nông nghiệp xuất bản, 2004; Đánh giá thực trạng của quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn giai đoạn 1996-2002, của Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp
Việt Nam xuất bản, 2004; Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát
triển nông nghiệp Việt Nam, của TS Nguyễn Từ (Chủ biên), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008
Nội dung những cuốn sách cũng nêu rõ thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, những thành tựu, khó khăn, tồn tại; những định hướng và kiến nghị, giải pháp nhằm đưa nông nghiệp, nông thôn ngày càng phát triển Những cuốn này không chỉ đề cập đến những vấn đề mang tính chiến lược, mà còn cả những vấn đề rất cơ bản, những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu của nông nghiệp, nông thôn như sử dụng đất đai, an ninh lương thực, quy hoạch các vùng kinh tế, vấn đề việc làm ở nông thôn, lợi ích người lao động ; đi sâu phân tích và đóng góp ý kiến cho phương hướng phát triển của những lĩnh vực, chuyên ngành lớn của nông nghiệp như vấn đề phát triển cây công nghiệp, vùng nguyên liệu, nuôi trồng thủy sản, phát triển lâm nghiệp Những cuốn sách này là tài liệu nghiên cứu về phát triển nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch CCKTNN rất đáng quan tâm
Một số công trình đã trình bày những bước phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam; đánh giá những thành tựu đạt được trong 20 năm đổi mới của kinh tế nông nghiệp và bước đầu đề ra những giải pháp tiếp tục phát triển nền nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH Tuy nhiên, chưa có công trình nào
Trang 14nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về Đảng lãnh đạo chuyển dịch CCKTNN những năm 1996-2006
2.3 Các công trình nghiên cứu về chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước trên lĩnh vực nông nghiệp, CCKTNN
Các công trình, các cuốn sách này chủ yếu nghiên cứu về vai trò lãnh
đạo của Đảng trên lĩnh vực nông nghiệp, CCKTNN Tiêu biểu là: Đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam, của Trương Thị Tiến, Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý
luận của Đảng (1986-2005) của Tô Huy Rứa - Hoàng Chí Bảo - Lê Ngọc
Tòng, tập 1, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; Một số vấn đề
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn nước ta, thông tin
chuyên đề của Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, số 23 tháng
7-2000; Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay của Trần Thị Minh Châu (Chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; Đổi mới tư
duy của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, của TS Lê Quang
Phi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008; Một số luận án nghiên
cứu về CNH về CCKTNN, chuyển dịch CCKTNN như: Quá trình nhận thức
của Đảng Cộng sản Việt Nam về công nghiệp hóa đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (1960-1996) của Nguyễn Thanh Tùng, Luận án Tiến
sĩ lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998; Đảng bộ tỉnh
Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ 1986 đến 2005
của Nguyễn Văn Vinh, Luận án Tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2010
Các công trình, luận án trên đã nêu khái quát về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bối cảnh về sự phát triển của nền kinh tế nói chung, nông nghiệp, nông thôn nói riêng, có thống kê số liệu qua các thời kỳ lịch sử; quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự
Trang 15điều hành, chỉ đạo của Nhà nước Nhiều cuốn sách đã làm sáng tỏ một số vấn
đề về lý luận và thực tiễn trong nông nghiệp, nông thôn, về quan hệ sản xuất,
cơ chế quản lý, bước đầu tổng kết quá trình đổi mới tư duy của Đảng về CNH, HĐH đất nước và sự chỉ đạo thực hiện, cung cấp thêm tư liệu tham khảo quý về lĩnh vực nông nghiệp và chuyển dịch CCKTNN
Các công trình nêu trên mặc dù đã đi sâu nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng, về cơ chế quản lý nông nghiệp, chính sách đất đai, thuế và chính sách phát triển nông nghiệp, vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, một số công trình đã đề cập sâu đến sự lãnh đạo của Đảng, của đảng bộ, nhưng chỉ ở một số vùng, miền, một số tỉnh trong phát triển nông nghiệp, trong chuyển dịch CCKT, ở những thời kỳ nhất định Tuy nhiên, cũng chưa
có công trình nào nghiên cứu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về chuyển dịch CCKTNN những năm 1996-2006
2.4 Ngoài ra còn có các bài viết nghiên cứu về quá trình phát triển của
nền nông nghiệp; sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hoặc một số vấn đề có liên quan đến CCKTNN, được đăng tải trên các tạp chí, website, bản tin và các phương tiện thông tin đại chúng Đáng chú ý là bài của các tác giả: Nguyễn Đình Bích, “Phát triển công nghiệp nông thôn - khâu mấu chốt trong chiến lược phát triển nhanh và bền vững nông nghiệp,
nông thôn”, Tạp chí Cộng sản, số 17, tháng 6-2003; Đỗ Kim Chung, “Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở các vùng kinh tế - lãnh
thổ Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 25, tháng 6-1999; Nguyễn
Sinh Cúc, “Tổng quan nông nghiệp nước ta sau 15 năm đổi mới
(1968-2000)”, Tạp chí Cộng sản, tháng 5-2001; Phan Diễn, “Tạo bước chuyển mạnh
hơn nữa tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”,
Tạp chí Cộng sản, số 28, tháng 10-2002; Nguyễn Tấn Dũng, “Để nông
nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, nông dân giàu hơn”, Tạp chí Cộng
Trang 16sản, số 28, tháng 10-2002; Võ Hùng Dụng, “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 301, tháng
6-2003; Nguyễn Thành Vinh, “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1996-2005)”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 5-2007
Một số chuyên đề, bản tin khoa học nghiên cứu sâu về CCKT, về CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn Đáng quan tâm là Chuyên đề “Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra”, Tài liệu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy của Viện Thông tin khoa
học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh xuất bản, tháng 4-2004 gồm nhiều bài viết của các tác giả Đây là một chuyên đề chuyên sâu
về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nội dung đề cập từ năm 1986 đến năm 2001, nội dung chuyên đề nêu rõ: Một số vấn đề chung về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra Hệ thống hóa quan điểm của Đảng về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, vấn đề Đảng lãnh đạo, chuyển dịch CCKTNN thời kỳ 1996-2006 chưa được chuyên đề bài báo nào đề cập sâu sắc và toàn diện
Các bài báo và công trình nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí, báo nêu trên chủ yếu tập trung nêu rõ thành tựu về nông nghiệp, chuyển dịch CCKTNN và nông thôn trong những năm đổi mới, đặc biệt thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
Ngoài ra, còn có nhiều công trình của các tác giả đã đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành bàn về chuyển dịch CCKTNN, những thành công và hạn chế, những bài học kinh nghiệm, phương hướng chuyển dịch CCKTNN của Đảng ở các giai đoạn lịch sử khác nhau
Các bài tham luận ở một số Hội thảo khoa học về chuyển dịch CCKTNN cũng là những nguồn tư liệu tham khảo quý giá cho quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài Đáng chú ý là Hội thảo Lý luận lần thứ tư giữa Đảng Cộng sản
Trang 17Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc với chủ đề “Những vấn đề lý luận
và thực tiễn về nông nghiệp, nông dân, nông thôn - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc” được tổ chức tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khách
Hòa, từ ngày 31-10-2008 đến ngày 02-11-2008
Hội thảo góp phần làm rõ những nhận thức lý luận và thực tiễn về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của hai nước Hội thảo đã đáp ứng nhu cầu cấp bách về lý luận cũng như tổng kết thực tiễn, phản ánh những kinh nghiệm quý báu rút ra từ quá trình thực hiện chính sách đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Việt Nam và chính sách “tam nông” của Trung Quốc; cung cấp những thông tin rất quý về tình hình phát triển nông nghiệp, nông thôn và vấn đề nông dân của Việt Nam và Trung Quốc; đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu để phù hợp với đặc điểm và điều kiện của nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Các sách, bài báo và công trình nghiên cứu các ý kiến tham luận tại Hội thảo là cơ sở để tác giả luận án có thể kế thừa, tiếp cận tư liệu và sự kiện lịch
sử, học hỏi phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài
Tuy nhiên, trong các công trình đã được công bố, hầu hết đều tập trung nghiên cứu về phát triển kinh tế nông nghiệp nói chung trên phạm vi cả nước hoặc trên một vùng kinh tế - lãnh thổ trọng điểm có nhiều điều kiện thuận lợi
và có điểm xuất phát cao hoặc chỉ trình bày, đánh giá những thành tựu của nông nghiệp với tư cách là một bộ phận cấu thành nền kinh tế; hoặc đi vào từng lĩnh vực cụ thể của kinh tế nông nghiệp như cơ chế quản lý, đổi mới chính sách, CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn , mà chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, sâu sắc vấn đề Đảng lãnh đạo, chỉ đạo quá trình chuyển dịch CCKTNN từ năm 1996 đến năm 2006
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án
Trang 183.1 Mục đích: Làm rõ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chỉ
đạo chuyển dịch CCKTNN từ năm 1996 đến năm 2006; tổng kết quá trình phát triển của kinh tế nông nghiệp dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong những năm 1996-2006; trên cơ sở đó rút ra một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch CCKTNN Quá trình Đảng tổ chức chỉ đạo thực hiện chuyển dịch CCKTNN từ năm 1996 đến năm 2006
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Quá trình Đảng lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch CCKTNN; chuyển dịch CCKTNN theo nghĩa mở rộng (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) và CCKTNN theo nghĩa hẹp (gồm trồng trọt và chăn nuôi) Về chuyển dịch CCKTNN gồm chuyển dịch CCKT ngành, chuyển dịch cơ cấu vùng và cơ cấu lao động Luận
án đi sâu nghiên cứu quá trình chuyển dịch CCKT ngành nông nghiệp
- Về thời gian: Tập trung nghiên cứu Đảng lãnh đạo, chỉ đạo quá trình chuyển dịch CCKTNN từ năm 1996 đến năm 2006
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của
Trang 19luận án
5.1 Cơ sở lý luận:
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nông nghiệp, nông thôn, về chuyển dịch CCKTNN
5.2 Nguồn tư liệu:
- Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồ Chí Minh về nông nghiệp, CCKTNN
- Các văn kiện, nghị quyết của Đại hội Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng; các chỉ thị, nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nông nghiệp, CCKTNN
- Các nghị quyết, quyết định của Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan; các nghị quyết của tỉnh, thành tiêu biểu
- Một số luận án, luận văn, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của tập thể, cá nhân các nhà khoa học
5.3 Phương pháp nghiên cứu:
Luận án được thực hiện chủ yếu theo phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, kết hợp sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh
6 Đóng góp khoa học của luận án
- Trình bày có hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, về chuyển dịch CCKTNN từ năm 1996 đến năm 2006; phân tích góp phần làm rõ thêm sự phát triển nhận thức của Đảng về CCKT ngành nông nghiệp, sự chuyển dịch CCKTNN tác động đến phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH
- Góp phần tổng kết thực tiễn và lý luận, gợi mở một số vấn đề đặt ra
Trang 20trong quá trình Đảng lãnh đạo phát triển nông nghiệp, lãnh đạo chuyển dịch CCKTNN thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
7 Kết cấu luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm
Trang 211.1.1 Yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội
Sự hình thành và biến đổi của CCKT nói chung, CCKTNN nói riêng, phản ánh nhiều mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau đa dạng và hết sức phức tạp CCKTNN thường phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên gắn liền với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định trong từng thời kỳ Mỗi vùng, mỗi địa phương cũng như mỗi quốc gia có CCKTNN khác nhau Thông thường ở các nước đang phát triển, trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do lịch
sử để lại, cùng với sự hạn chế trên nhiều mặt, CCKTNN đa số mang tính thuần nông, trồng trọt là chủ yếu; trong đó độc canh cây lương thực Nhưng với xu thế chung của thế giới, sự tiến bộ của khoa học công nghệ và sự đa dạng của nhu cầu thị trường nông sản, CCKTNN các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, đang chuyển dịch dần theo hướng phát triển toàn diện, tập trung, quy mô lớn, đa canh cây trồng, vật nuôi và dịch vụ nông nghiệp
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp tồn tại, phát triển mang tính khách quan điều đó có nghĩa là không thể áp đặt một CCKTNN chung cho một quốc gia, một vùng, một địa phương, theo ý muốn chủ quan của con người CCKTNN vốn là kết quả tổng hoà của các yếu tố khác nhau, sản xuất và dịch vụ nông nghiệp, khách quan và chủ quan Yếu tố khách quan là các điều kiện tự nhiên,
hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, mỗi vùng, mỗi địa phương Yếu tố chủ quan là vai trò lãnh đạo của
Trang 22Đảng và Nhà nước, thông qua chủ trương, đường lối của Đảng; cơ chế, chính sách của Nhà nước, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật áp dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng và chăm sóc rừng, dịch vụ nông, lâm, thủy sản Mối quan hệ, tác động của từng yếu tố đó được biểu hiện bằng tương quan số lượng và chất lượng, và phụ thuộc vào nhiều yếu tố vừa đa dạng vừa phức tạp Mỗi yếu tố đều có ảnh hưởng đến CCKT và sự chuyển dịch CCKT theo thời gian và không gian Các yếu tố gắn kết với nhau, tạo thành một hệ thống các mối quan hệ qua lại và tác động đến quá trình hình thành và biến đổi của CCKTNN nói chung, cơ cấu từng ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản nói riêng Các yếu tố đó có thể tác động theo chiều hướng tích cực, thúc đẩy quá trình đó Nhưng cũng có thể tác động theo chiều hướng tiêu cực, làm chậm quá trình chuyển dịch CCKT ở mức độ khác nhau Bởi vậy, cần nhận thức đầy đủ vai trò và mức độ tác động của từng yếu tố để từ đó đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, cơ chế và giải pháp phù hợp nhằm phát huy các mặt tích cực, hạn chế, kìm hãm các mặt tiêu cực của các yếu tố khách quan Vai trò của nhân tố khách quan đối với sự hình thành và chuyển dịch CCKTNN không phải là quyết định tất cả, nhưng
rất quan trọng và không thể thiếu
Cơ cấu của nền kinh tế thường được nói gọn là CCKT - là phạm trù kinh
tế, là thuộc tính của hệ thống kinh tế, thể hiện tính chất và trình độ phát triển
hệ thống kinh tế của một quốc gia, mà hình thức biểu hiện của nó là tỷ trọng của các bộ phận hợp thành, còn bản chất của CCKT là quan hệ tương tác giữa các bộ phận hợp thành
Chuyển dịch CCKT là việc chuyển CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác, mà trạng thái ấy được quyết định bởi các bộ phận hợp thành và kiểu kết cấu mỗi trạng thái được thể hiện trước hết qua tỷ trọng của mỗi bộ phận cấu thành hệ thống, rồi thể hiện qua tính vững chắc của hệ thống và chất
Trang 23lượng phát triển của hệ thống kinh tế
Chuyển dịch CCKTNN là sự vận động của các yếu tố cấu thành của kinh
tế nông nghiệp theo quy luật khách quan dưới sự tác động của con người vào các nhân tố ảnh hưởng để đạt theo mục tiêu xác định
Chuyển dịch CCKT ngành nông nghiệp là sự thay đổi tương quan tỷ lệ của mỗi ngành chuyên môn hóa trong tổng thể các ngành trong nông nghiệp Chuyển dịch CCKTNN là quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất nông nghiệp từ sản xuất tự cung tự cấp, phân tán, qui mô nhỏ, độc canh cây trồng, vật nuôi là chủ yếu, sang sản xuất hàng hóa, tập trung, qui mô lớn,
đa canh cây trồng, vật nuôi để tăng hiệu quả sử dụng đất đai, nguồn nước, tài nguyên rừng biển, lao động xã hội, từ đó mà tăng khối lượng nông sản hàng hóa xuất khẩu, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông dân Quá trình đó chịu tác động của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, và quy mô, tốc độ chuyển dịch CCKTNN cũng chịu tác động của các yếu tố cơ bản đó
- Yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm: đất đai, nguồn nước, vị trí địa lý, địa hình, khí
hậu, thời tiết, hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi, rừng, biển Nhóm yếu tố tự nhiên có vai trò quyết định đối với sự hình thành và biến đổi của CCKTNN Bởi vì, trong CCKTNN, đối tượng chính là cây trồng, vật nuôi Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đều gắn liền với các yếu tố tự nhiên một cách chặt chẽ vì cây trồng, vật nuôi đều chịu tác động trực tiếp của các yếu tố sinh học, đất đai, rừng, biển, thời tiết, khí hậu, nguồn nước Quá trình phát triển cây trồng, vật nuôi gắn liền với các điều kiện tự nhiên của từng vùng, từng địa phương Vì vậy, cần tận dụng những điều kiện thuận lợi, tránh những yếu tố không thuận lợi của tự nhiên để tạo ra nhiều sản phẩm nông nghiệp, với chi phí thấp nhất mà đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất trên từng đơn vị diện tích đất đai, mặt nước hoặc trên đầu gia súc, gia cầm, nhằm tăng thu
Trang 24nhập, cải thiện đời sống cho người lao động
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế Nguồn nước là nguồn sống của đất đai, cây trồng, vật nuôi Vì vậy, chuyển dịch CCKTNN của từng vùng, từng địa phương cũng như cả nước trước hết phụ thuộc vào yếu tố đất đai và nguồn nước
Về đất đai, theo số liệu Bộ Tài nguyên và Môi trường, năm 2000, trong
hơn 33,069 triệu ha đất tự nhiên của cả nước, đất nông nghiệp có 20,948 triệu
ha (theo phân loại của Luật Đất đai năm 1993), được phân chia ra như sau:
đất sản xuất nông nghiệp có 8,868 triệu ha, đất lâm nghiệp có 11,688 triệu ha, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản có 368,4 nghìn ha, đất làm muối 18 nghìn
ha, đất nông nghiệp khác 5,19 nghìn ha [156]
Đất nông nghiệp: ở Việt Nam, đất nông nghiệp vốn đã ít lại chủ yếu là
đất rừng, chiếm 55,79%, còn đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 42,37%, trong đó đất trồng cây hàng năm (trước đây gọi là đất canh tác) chỉ có 6,2 triệu ha, chiếm 29,7%, đất lúa có 4,47 triệu ha, chiếm 21,35% tổng diện tích đất nông nghiệp Đặc biệt đất chuyên trồng lúa nước, với hệ thống thủy lợi khá ổn định chỉ có 3,14 triệu ha, chiếm 15,0%; đất trồng lúa nước còn lại năng suất không ổn định là 1,1 triệu ha, chủ yếu gieo cấy một vụ lúa, phổ biến
là lúa mùa, do tưới tiêu chưa ổn định, đất trồng lúa nương là 199 nghìn ha Yếu tố đất đai như trên là yêu cầu và điều kiện để thực hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp giữa đất trồng lúa với các loại đất nông nghiệp khác [156]
Đất sản xuất nông nghiệp: là một trong những quốc gia có đất sản xuất
nông nghiệp bình quân đầu người thấp, năm 2000 nước ta bình quân chỉ còn 1.142m2/người, thuộc nước thấp nhất châu Á, lại phân bổ không đều giữa các vùng Đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người vùng miền núi phía Bắc: 970m2/người; vùng đồng bằng sông Hồng 506m2/người; Bắc Trung Bộ
Trang 25689m2/người, Duyên hải miền Trung 720m2/người; Tây Nguyên 2.098m2/người; Đông Nam Bộ 1.077m2/người, đồng bằng sông Cửu Long 1.875m2/người [156]
Đất lâm nghiệp: các vùng có diện tích đất lâm nghiệp nhiều gồm: Vùng
miền núi, trung du Bắc Bộ, có 5294,8 nghìn ha Vùng Bắc Trung Bộ có 3135,8 nghìn ha Vùng Tây Nguyên có 3073,7 nghìn ha (năm 2000), chiếm tỷ trọng lớn trong tổng quỹ đất nông nghiệp cả nước [156] Trong những năm đổi mới, đặc biệt là bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, hoạt động lâm nghiệp từ chỗ dựa vào thành phần kinh tế quốc doanh là chủ yếu đã chuyển sang phát triển lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của nhiều thành phần kinh
tế Hình thức khai thác cũng chuyển từ khai thác rừng tự nhiên là chính sang trồng và chăm sóc rừng, đã tạo thuận lợi cho quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất lâm nghiệp và cơ cấu sử dụng đất rừng theo hướng tăng hiệu quả sử dụng đất
Đất nuôi trồng thủy sản: năm 2000 cả nước có 368,4 nghìn ha, chiếm
1,76% tổng diện tích đất nông nghiệp; có 1,13 triệu ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng, chủ yếu là do tăng diện tích đất có mặt nước chuyên dùng của các hồ chứa nước mới xây dựng, có thể tận dụng để nuôi thủy sản [150]
Bờ biển Việt Nam có chiều dài 3.260km, bao bọc lãnh thổ ở 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam; trung bình 100km2
đất liền có 1km bờ biển (cao gấp
6 lần tỷ lệ của thế giới) Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, 90 cảng biển lớn nhỏ và gần 100 địa điểm có thể xây dựng cảng (kể cả cảng ở quy mô trung chuyển thế giới) Ven bờ biển có nhiều loại khoáng sản và vật liệu xây dựng phục vụ phát triển công nghiệp và hơn 6 vạn ha ruộng muối
Ngoài bờ biển dài là lợi thế, Việt Nam còn có nhiều vịnh đẹp (Hạ Long, Bái Tử Long, Vân Phong, Cam Ranh, Nha Trang ) và 2.779 hòn đảo lớn, nhỏ với tổng diện tích 1.636km2 Tuy các đảo phân bố không đều, nhưng các
Trang 26vùng biển ven bờ đều có các đảo che chắn ở mức độ khác nhau Dân số vùng duyên hải chiếm khoảng 39% dân số cả nước Ven bờ biển có nhiều vũng, vịnh, đầm phá, trong đất liền có nhiều sông cụt, thùng đào, thùng đấu và hàng chục nghìn ha mặt nước trên sông, trên hồ thủy lợi, thủy điện có khả năng nuôi trồng thủy sản lồng bè Đây là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến
xu hướng phát triển và chuyển dịch CCKT trong ngành thủy sản nói chung, nuôi trồng thủy sản nói riêng
Lợi thế về biển và nguồn hải sản dưới biển, ven bờ, có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và tốc độ chuyển dịch CCKT và lao động nông nghiệp cả nước, nhất là vùng ven biển Biển và nguồn lợi hải sản trên biển là thế mạnh của đất nước, có tác động đến chuyển dịch CCKTNN của 28 tỉnh ven biển Tiềm năng kinh tế thủy sản biển nước ta rất lớn Theo đánh giá của FAO, năm
1996, Việt Nam đứng thứ 25; năm 1997 đứng thứ 27 thế giới về xuất khẩu thủy sản Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa khai thác hết tiềm năng kinh tế thủy sản biển, mà nguyên nhân chính là năng lực tàu và ngư cụ đánh bắt còn yếu Trên 80% tàu thuyền đánh bắt hải sản thuộc loại nhỏ, lắp máy dưới 45 CV, nên khả năng đánh bắt xa bờ dài ngày rất hạn chế Trình độ lao động nghề cá nói chung, đánh bắt hải sản nói riêng còn thấp, phần lớn chưa được đào tạo Mặc dù vậy, nhưng những điều kiện thuận lợi vẫn là yếu tố cơ bản
Đất làm muối, năm 2000 cả nước có 18,6 nghìn ha, tập trung nhiều nhất
ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (4.280 ha, chiếm 30,4%) và duyên hải Nam Trung Bộ (3.850 ha, chiếm 27,3%) [156]
Về nguồn nước: trong chuyển dịch CCKTNN, nhất là trồng trọt và chăn
nuôi, nguồn nước có vai trò quyết định đến qui mô và tốc độ Bởi lẽ, đất không có nước sẽ trở thành đất hoang, vùng đất thiếu nước không thể sản xuất các cây trồng, vật nuôi cần nhiều nước Vì vậy, chuyển dịch CCKTNN nhất thiết phải quan tâm đến yếu tố nguồn nước Nguồn nước cho sản xuất nông
Trang 27nghiệp khá dồi dào, do lượng mưa trung bình hàng năm khá lớn (phổ biến trên 2.000mm/năm) Hệ thống sông suối phân bố tương đối đều giữa các vùng, miền và có lưu lượng dòng chảy lớn, nhất là 2 hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long Hệ thống các hồ đập chứa nước của các công trình thủy điện, thủy lợi đã xây dựng và đưa vào sử dụng, nguồn nước dự trữ khá lớn, có tác dụng điều hoà lượng nước trong mùa mưa và mùa khô, hỗ trợ đắc lực cho sản
xuất nông nghiệp Tuy nhiên, do đặc điểm cấu tạo địa hình, mặc dù sông ngòi
phân bố khá đều trên các vùng lãnh thổ, nhưng do độ dốc cao, dòng chảy ngắn, đặc biệt do nạn phá rừng đầu nguồn nghiêm trọng, lượng mưa phân bổ không đều giữa các tháng trong năm, nên trữ lượng nguồn nước mặt không điều hoà được giữa các tháng theo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi Về mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 11, lượng nước rất lớn, gây lũ lụt, ngập úng cho sản xuất vụ mùa Ngược lại, về mùa khô, từ tháng 12 đến tháng
7, lượng mưa giảm mạnh, nguồn nước sông suối khô cạn, gây nên hạn hán trên diện rộng và nạn cháy rừng Hầu như năm nào cũng có tình trạng lượng
mưa trung bình chênh lệch giữa các tháng trong năm quá lớn
Các điều kiện khác như thời tiết khí hậu, giờ nắng trong năm khá thuận
lợi cho quá trình chuyển dịch CCKTNN Nhiệt độ trung bình cả nước trong năm 260C-270C; giờ nắng bình quân năm từ 2.200 đến 2.300 giờ, độ ẩm tương đối 79%-82%, tuỳ theo các vùng và các tháng trong năm có sự chênh lệch khác nhau Khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp với phát triển các nông sản nhiệt đới cả 4 mùa trong năm Miền Bắc có mùa Đông, có điều kiện để tăng thêm diện tích cây trồng vụ Đông, xen giữa 2 vụ lúa Cây trồng vụ Đông
có ưu điểm đa dạng, nhất là các loại rau, quả, cây lương thực, thực phẩm, hoa, cây cảnh, vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước, vừa là nông sản xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Ở các tỉnh phía Nam, tuy không có vụ Đông như miền Bắc, nhưng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, giờ nắng nhiều hơn miền Bắc,
Trang 28độ ẩm không khí thấp, rất thích hợp với các cây trồng, vật nuôi vùng nhiệt đới, các loại trái cây quý hiếm để xuất khẩu, có thể phát triển mạnh ngành nuôi trồng thủy sản, nhất là tôm, cá tra, cá basa , với quy mô lớn
Khí hậu, thời tiết 2 miền Nam, Bắc bổ sung cho nhau, tạo thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi phát triển toàn diện, đa dạng trên phạm vi cả nước và là một trong những điều kiện cần thiết cho quá trình chuyển dịch CCKTNN Bên cạnh các yếu tố thuận lợi, có nhiều yếu tố không thuận lợi, thậm chí là bất lợi Đó là, đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người ít, lại phân bổ không đều giữa các vùng, các địa phương và giảm nhanh trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Địa hình dốc, rừng đầu nguồn suy giảm, khả năng giữ nước, bảo vệ hệ sinh thái cây trồng vật nuôi hạn chế Đất bạc màu nhiều và có xu hướng tăng dần Rừng nghèo và cạn kiệt chiếm tỷ lệ lớn
và tăng nhanh do tình trạng đốt phá rừng tăng, diện tích rừng trồng mới phát triển chậm Biển và bờ biển dài cũng có nhiều bất lợi, bão, gió, áp thấp nhiệt đới diễn ra thường xuyên Nguồn lợi hải sản biển ven bờ ngày càng cạn kiệt, nguồn hải sản xa bờ tuy giàu nhưng việc khai thác lại bị hạn chế nhiều mặt
về năng lực tàu thuyền, ngư cụ Mâu thuẫn giữa đất đai và lao động, việc làm ngày càng gay gắt, mà chưa có giải pháp thích hợp Hạn hán, bão lũ lớn, nắng nóng, độ ẩm không khí, lượng mưa, giờ nắng phân bố không đều giữa các vùng miền, các tháng trong năm, đó cũng là những yếu tố bất lợi gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và chuyển dịch CCKT nói riêng
Chuyển dịch CCKTNN chịu tác động trực tiếp của yếu tố môi trường sinh thái đất, nước, rừng, biển, khí hậu, nguồn nước kết quả sản xuất và dịch
vụ trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng, khai thác thủy sản Nếu chuyển dịch theo đúng quy hoạch, có sự đầu tư thoả đáng, tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm túc thì chuyển dịch CCKTNN không chỉ làm tăng
Trang 29của cải vật chất cho xã hội, mà còn tác động trực tiếp đến cân bằng môi trường sinh thái và ngược lại Môi trường sinh thái có tác dụng đối với quy
mô, tốc độ và hiệu quả của chuyển dịch CCKTNN nói chung, từng ngành sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản , nói riêng Tuy nhiên, vai trò môi trường sinh thái trong phát triển kinh tế nông nghiệp chưa được coi trọng đúng mức, đặc biệt trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất ngành
- Yếu tố kinh tế - xã hội
Về kinh tế: nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong CCKT quốc
dân xét trên nhiều góc độ Là một nước đang phát triển, Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân cư chủ yếu sống ở nông thôn, lao động, việc làm và thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp Trong quá trình phát triển từ cơ chế bao cấp đến những năm đầu của sự nghiệp đổi mới, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong CCKT Năm 1988, hai năm sau Đại hội VI của Đảng (năm 1986), cả nước tiến hành công cuộc đổi mới, ngành nông nghiệp chiếm 46,03% GDP; công nghiệp và xây dựng chiếm 22,94% và dịch vụ chiếm 31,03% Đến năm 1996, cả nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH theo Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, Việt Nam về cơ bản vẫn là một nước nông nghiệp Kết thúc kế hoạch 5 năm (1991-1995), khu vực nông nghiệp vẫn chiếm 27,18% GDP cả nước, gần tương đương với công nghiệp (28,76%) [60]
Nông sản, thủy sản có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu Vì vậy, chuyển dịch CCKTNN không chỉ đảm bảo an ninh lương thực quốc gia bền vững, mà còn phải đáp ứng yêu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, cung cấp nông sản xuất khẩu và bảo vệ môi trường sinh thái Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN, thị trường quyết định và ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô và tốc độ chuyển dịch CCKTNN
Trang 30Bởi lẽ, CCKT thực chất cũng chỉ tồn tại và vận động theo quy luật cung - cầu Nông sản hàng hóa sản xuất ra nhất thiết phải đáp ứng với nhu cầu của xã hội
cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng và thời gian Thị trường quyết định đầu ra cho nông sản hàng hóa Trong những năm 1996-2000, sản xuất nông nghiệp
đã từng bước chuyển dịch theo tín hiệu thị trường, nhưng còn mang nặng tính
tự phát Tình trạng sản xuất theo truyền thống là phổ biến, chưa chuyển đổi sang sản xuất các loại sản phẩm mà thị trường đang cần Vì vậy, không ít nông sản hàng hóa khó tiêu thụ hoặc chỉ bán giá thấp, lợi nhuận không tương xứng với đầu tư và công sức bỏ ra Tình hình này đã diễn ra cả đối với một số mặt hàng chủ lực như lúa gạo, chè, cà phê, cây ăn quả, rau xanh , trong khi tiềm năng đất đai, lao động và kinh nghiệm sản xuất của nông dân còn rất lớn,
do nhiều nguyên nhân, trong đó có yếu tố thông tin thị trường chưa đầy đủ, thiếu kịp thời, độ tin cậy thấp Tác động của công nghiệp vào quá trình chuyển dịch CCKTNN còn mờ nhạt Đầu tư cho nông nghiệp và kinh tế nông thôn và nông dân chưa tương xứng Nông nghiệp còn tụt hậu so với công nghiệp và dịch vụ Tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn, nhất là hộ thuần nông còn cao, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị về thu nhập và đời sống ngày càng lớn, cơ sở hạ tầng nông thôn còn yếu Thực chất đó là những vấn đề kinh tế - xã hội có tác động trực tiếp đến quy mô và tốc độ chuyển dịch CCKTNN cần được nghiên cứu, giải quyết một cách đồng bộ Để khắc phục hoặc hạn chế những bất cập đó, cần phải có những chủ trương và giải pháp đồng bộ của Đảng và Nhà nước, sự phối hợp giữa các bộ ngành, sự chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách chuyển dịch CCKTNN
Về xã hội: chuyển dịch CCKTNN chịu tác động của nhiều vấn đề xã hội,
trong đó có tốc độ tăng tự nhiên của dân số, lao động, việc làm, tình trạng nghèo đói, phân tầng xã hội, cơ sở hạ tầng nông thôn, môi trường sinh thái
Trang 31Dân số nông thôn Việt Nam năm 1995 là 57,9 triệu người, chiếm 79,5% dân số cả nước Năm 2000 dân số khoảng 80 triệu người, trong đó có hơn 40 triệu lao động Ở khu vực nông thôn, trên 90% dân số sống bằng nghề nông
Tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số cả nước năm 1996 là 1,65%, năm 2000 là 1,36%, năm 2006 là 1,24%, bình quân tăng 1,1 triệu người/năm Dân số tăng kéo theo nhu cầu tiêu dùng về lương thực, thực phẩm tăng Vấn đề an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông sản cũng tác động trực tiếp đến quá trình chuyển dịch CCKTNN Trong khi đó quỹ đất sản xuất nông nghiệp, nhất là đất trồng lúa giảm dần, nên ruộng đất bình quân nhân khẩu và lao động giảm nhanh, lao động nông nghiệp dư thừa hàng năm lên tới 6-7 triệu
Trang 32Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy các nước phát triển nông nghiệp đều đầu tư mạnh vào hàng hóa và dịch vụ công cộng như kết cấu hạ tầng, thông tin liên lạc hay chương trình tín dụng, đào tạo, chuyển giao công nghệ, nhằm giảm chi phí giao dịch, biến nông thôn thành địa bàn đầu tư hấp dẫn; xóa bỏ rào cản, tạo cơ hội cho doanh nghiệp sản xuất trực tiếp với nguồn vật tư nguyên liệu đầu vào, với hoạt động chế biến và với hệ thống phân phối, đặc biệt với ngành công nghiệp chế biến nông sản; các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn đều hướng tới các mục tiêu: Tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng và khuyến khích các doanh nghiệp nông thôn phát triển
Về yêu cầu củng cố quốc phòng an ninh: Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Đảng tiếp tục xác định bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh; quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế Chuyển dịch CCKTNN có tác động trực tiếp đến nhiệm vụ quốc phòng -
an ninh và khi hoạch định chủ trương chuyển dịch CCKTNN Đảng coi yêu cầu bảo vệ Tổ quốc là một yếu tố tác động Trong đó đặc biệt chú trọng phát triển kinh
tế biển đảo, rừng với đảm bảo an ninh quốc phòng
Chiến lược CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực hiện chuyển dịch CCKTNN theo hướng sản xuất hàng hóa lớn của một số nước châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia , đều nhấn mạnh đến chính sách đầu tư phát triển đồng bộ về kết cấu hạ tầng nông thôn, dịch vụ tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, các ưu đãi về thuế, cải thiện thủ tục hành chính nhằm biến nông thôn thành địa bàn đầu tư hấp dẫn cho các doanh nghiệp hoạt động và phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt vào công nghiệp chế biến nông sản; thúc đẩy các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và khuyến nông, cung cấp các thông tin về nông nghiệp và công nghiệp nông thôn, nên nông nghiệp các nước này phát triển cả về tốc độ tăng trưởng quy
mô và phát triển bền vững Các chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp cũng
Trang 33hỗ trợ rất lớn đến quá trình CNH, HĐH nông thôn Những kinh nghiệm của các nước có giá trị để Đảng tham khảo trong quá trình hoạch định chủ trương, đường lối về chuyển dịch CCKTNN
1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam 10 năm đầu đổi mới (1986-1995)
Trên cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực
tế của thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng sớm khẳng định, muốn tiến hành công nghiệp hóa XHCN phải coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, phải tập trung nguồn lực đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN, tạo ra nguồn tích lũy ban đầu cho công nghiệp hóa
Với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự
thật”, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã phân tích,
đánh giá tình hình đất nước Đại hội khẳng định, dứt khoát phải bố trí lại cơ
cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tập trung mọi nguồn lực vào việc thực
hiện ba chương trình kinh tế; quyết tâm xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế - “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”[52, tr.63-65]
Đại hội VI nêu lên những nội dung quan trọng trong chính sách phát
triển nông nghiệp như: đổi mới cơ cấu sản xuất; thực hiện chính sách kinh tế
nhiều thành phần trong nông nghiệp; đổi mới chính sách đất đai; điều chỉnh chính sách đầu tư và tài chính nhằm giải phóng sức sản xuất; phát triển kinh
tế hàng hóa đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp, nông sản cho xuất khẩu, từng bước cải thiện đời sống nông dân và xây dựng nông thôn mới Nội dung chủ đạo của phát triển nông nghiệp là: “Tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là
Trang 34mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa” [52, tr.47]
Mục tiêu của phát triển nông nghiệp trong 5 năm (1986-1990) là “bảo đảm về ăn cho toàn xã hội và bước đầu có dự trữ” Để hoàn thành mục tiêu
đó, Đại hội VI chủ trương thực hiện một hệ thống chính sách khuyến khích sản xuất: hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động; bảo đảm vật tư phục vụ sản xuất; ổn định mức khoán hợp lý; miễn thuế nông nghiệp trong một thời gian để khuyến khích tăng vụ hoặc mở thêm diện tích; làm tốt công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng ruộng đất; ngoài nghĩa
vụ thuế, các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và hợp tác xã đều thông qua các hợp đồng mua và bán do các tổ chức kinh doanh nhà nước đảm nhiệm theo nguyên tắc bình đẳng, ngang giá [52, tr.158]
Những chủ trương của Đại hội VI của Đảng mở đường cho nền nông nghiệp vận động, phát triển theo một quỹ đạo mới: từ một nền nông nghiệp được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền nông nghiệp vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; từ nền nông nghiệp tự cấp, tự túc, khép kín chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa, hướng về xuất khẩu Đây cũng là những định hướng lớn có tính chất bước ngoặt trong việc hình thành tư duy lý luận của Đảng về chuyển dịch CCKTNN, với những bước đi, cách làm phù hợp
Nhằm triển khai và cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội VI, Nghị quyết Hội
nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI (4-1987) về Giải
quyết những vấn đề cấp bách về phân phối, lưu thông nêu rõ những vấn đề
cấp bách về phân phối lưu thông trên lĩnh vực nông nghiệp: cải tiến chính sách thuế nông nghiệp; ổn định mức thuế, mức khoán đến năm 1990; xóa bỏ chế độ trao đổi hiện vật giữa Nhà nước và nông dân, chuyển sang thực hiện chế độ hợp đồng kinh tế; mọi quan hệ trao đổi, mua bán giữa nhà nước với
Trang 35nông dân được thực hiện theo nguyên tắc bình đẳng Những chủ trương và giải pháp nhằm xử lý đúng đắn các lợi ích kinh tế, tạo ra động lực phát triển sản xuất nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
VI (8-1987) về Chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở quốc doanh
sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đổi mới quản lý nhà nước về
kinh tế thể hiện quyết tâm của Đảng trong việc hình thành cơ chế mới về quản
lý kinh tế góp phần tạo ra nét mới nhằm giải phóng và tăng cường sức lao động trong hoạt động sản xuất nông nghiệp
Trước thực trạng của nông nghiệp, trước yêu cầu bức bách của thực tiễn,
ngày 5-4-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10/NQ-TW về Đổi mới quản lý
kinh tế nông nghiệp và tiếp đó là Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp
hành Trung ương khóa VI, ngày 29-3-1989 Đây là những văn kiện cụ thể hóa đường lối đổi mới kinh tế do Đại hội VI đề ra, giải quyết một cách toàn diện vấn đề đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, có tác động trực tiếp và sâu sắc, tạo ra những bước chuyển căn bản và sâu rộng trong quá trình phát triển nông nghiệp [53] Nội dung đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp trong Nghị quyết
số 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI thể hiện trên một số điểm cơ bản là: sắp xếp và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, từng bước chuyển dịch CCKTNN và kinh tế nông thôn phù hợp với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng theo hướng sản xuất hàng hóa và công nghiệp hóa nông thôn; chuyển nền nông nghiệp còn mang nặng tính tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa; khẳng định vai trò của HTX trong đổi mới; chuyển các HTX sang sản xuất hàng hóa và hạch toán kinh doanh XHCN; khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ
và thực hiện điều chỉnh một bước về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất Tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm hộ và hộ xã viên;
Trang 36khắc phục tình trạng phân chia ruộng đất manh mún và giao khoán ruộng đất
ổn định cho hộ nông dân trong 15 năm, ổn định mức khoán trong 5 năm; sắp xếp và đổi mới quản lý đối với các đơn vị quốc doanh hoạt động trên lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp để các đơn vị này thực sự trở thành các trung tâm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của mỗi vùng, thực hiện chuyển hoạt động của các đơn vị này sang hạch toán kinh doanh XHCN; tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích phát triển đối với kinh tế cá thể, tư nhân trong nông, lâm, ngư nghiệp Khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng liên doanh, liên kết để phát triển sản xuất Khắc phục chủ nghĩa bình quân và tình trạng bao cấp tràn lan trong phân phối, xóa bỏ chế độ phân phối theo công điểm và hiện vật; thực hiện cơ chế phân phối theo lao động và cổ phần đóng góp của xã viên trong HTX và tập đoàn sản xuất; sản phẩm còn lại sau thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và nghĩa vụ hợp đồng với HTX, xã viên được tự do lưu thông ở những nơi nào có lợi nhất Quan hệ mua bán trên thị trường được thực hiện theo đúng nguyên tắc thuận mua vừa bán
Những nội dung cơ bản của Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
Cùng với đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp, Quốc hội, Chính phủ điều chỉnh nhiều chính sách kinh tế vĩ mô, nhằm tạo ra một sự tác động toàn diện,
có hiệu quả đối với phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng Sau Quyết định 25/CP, ngày 21-01-1981, về quyền chủ động sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp quốc doanh, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 217/QĐ-HĐBT tháng 11-1987, nhằm phát huy quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh; tháng 1-1988, Quốc hội
Trang 37thông qua Luật Đất đai; Luật Đầu tư nước ngoài, thể hiện chính sách mở cửa
của Đảng và Nhà nước Năm 1989, Nhà nước triển khai thực hiện cải cách tài chính, hệ thống ngân hàng chuyển thành 2 cấp: Ngân hàng Trung ương chịu trách nhiệm triển khai chính sách tiền tệ; ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm kinh doanh tiền, tín dụng và hoạt động theo cơ chế tự hạch toán; xóa
bỏ hẳn chính sách “ngăn sông cấm chợ”, chia cắt thị trường theo địa phương,
tự do hóa thương mại (trừ một số mặt hàng); xóa bỏ chế độ độc quyền xuất nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp thuộc Bộ Ngoại thương (nhưng vẫn chỉ cho phép doanh nghiệp quốc doanh tham gia xuất nhập khẩu); thực hiện điều chỉnh một bước chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp; năm
1989, triển khai cải cách các doanh nghiệp Nhà nước; năm 1990, Quốc hội
thông qua Luật Doanh nghiệp tư nhân
Từ năm 1991 đến năm 1995, Đảng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công cuộc đổi mới trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động Trước năm 1991, công cuộc đổi mới đất nước đã giành được những thành tựu quan trọng Tuy vậy, về cơ bản đất nước vẫn chưa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội Việt Nam vẫn là nước kinh tế chậm phát triển, với nông nghiệp vẫn còn lạc hậu Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) đã xác định mục tiêu kinh tế: “Đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định, phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy từ nội bộ
nền kinh tế” [55, tr.62] Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000
Đại hội đã đưa ra khái niệm “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
và kinh tế nông thôn”, xác định phương hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm tiếp theo là: “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với
Trang 38công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện nền kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới” [55, tr.63]; xác định mục tiêu, tốc độ tăng trưởng bình quân của nông nghiệp khoảng 4-5% Trong nông nghiệp hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý về nông, lâm, ngư nghiệp phù hợp với sinh thái vùng; gắn phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và kết cấu
hạ tầng ở nông thôn Đại hội nhấn mạnh việc thực hiện các nhiệm vụ này nhằm phát triển nền kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, có vị trí quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội [55]
Cụ thể hóa đường lối của Đại hội VII, ngày 10-6-1993, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ra Nghị quyết số 05-NQ/TƯ
về Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Đây là lần đầu
tiên Trung ương có một nghị quyết chuyên đề bàn về chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới Nghị quyết 05 đã quyết định một số vấn đề cơ bản của chiến lược phát triển nông nghiệp và kinh tế, xã hội nông thôn đến năm 2000 Đó là: Thực hiện đổi mới CCKTNN; thực hiện chính sách giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài cho hộ nông dân với 5 quyền; kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần; khuyến khích sản xuất thay thế nhập khẩu; đổi mới chính sách vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường tín dụng, ban hành Luật đất đai, tăng đầu tư cho khoa học, tổ chức hệ thống khuyến nông, thực hiện chính sách xã hội nông thôn
Trên cơ sở đánh giá thực trạng sản xuất nông nghiệp từ sau Đại hội VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII
đã đề ra mục tiêu chuyển dịch kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng toàn diện Phát triển nhanh và vững chắc nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, giải quyết vững chắc vấn đề lương thực -
Trang 39thực phẩm của nhân dân, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, bảo vệ tài nguyên, môi trường; tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân [56]
Nghị quyết đã xác định phương hướng và giải pháp cụ thể phát triển nông nghiệp, trong đó vấn đề đầu tiên là CCKTNN và CCKT nông thôn Nghị quyết chỉ rõ trên cơ sở xúc tiến công cuộc công nghiệp hóa nói chung, công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn nói riêng mà “thực hiện sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả
công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn” [56, tr.63]
CCKT nông thôn là tổng thể các ngành, lĩnh vực bộ phận kinh tế trên địa bàn nông thôn với vị trí, tỷ trọng tương ứng trên địa bàn nông thôn Chúng có mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành
Chuyển dịch CCKT nông thôn là quá trình chuyển dịch theo hướng tăng kinh tế công nghiệp và dịch vụ, giảm kinh tế nông nghiệp
Thực hiện đổi mới cơ cấu tổng giá trị sản phẩm, cơ cấu tổng thu nhập,
cơ cấu sản phẩm hàng hóa, cơ cấu đầu tư và cơ cấu lao động trong CCKTNN Xây dựng hợp lý cơ cấu nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; trong nội bộ ngành nông nghiệp, cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi cũng phải được chuyển dịch theo hướng tích cực; thực hiện chuyển nền nông nghiệp độc canh sang nền nông nghiệp đa canh theo hướng sản xuất hàng hóa; từ độc canh cây lương thực sang trồng các loại cây công nghiệp dài và ngắn ngày; từ trồng trọt sang kết hợp trồng trọt với chăn nuôi Quá trình chuyển dịch CCKT sẽ kéo theo quá trình phân công lại lao động xã hội, từ lao động trồng lúa chuyển sang lao động trồng các loại cây hoa màu, cây công nghiệp, chăn nuôi, làm các dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp khác Trong quá trình đó,
tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, tỷ trọng các ngành tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng, tỷ trọng chăn nuôi, thủy sản tăng dần, tỷ trọng trồng trọt giảm dần Đây là nội dung của tiến trình chuyển nông nghiệp sang sản xuất hàng
Trang 40hóa, đồng thời cũng là yêu cầu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trong phương hướng và giải pháp, cùng với vấn đề đổi mới CCKTNN, Nghị quyết cũng đề cập đến những vấn đề căn cốt cho nông nghiệp phát triển như vấn đề phát triển kinh tế nhiều thành phần; giao quyền sử dụng đất lâu dài cho hộ nông dân; đổi mới chính sách vĩ mô của Nhà nước; đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị [56]
Thực hiện Nghị quyết 10, tiếp đó là việc triển khai Nghị quyết Đại hội VII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VII đã đem lại thành tựu trong nông nghiệp, góp phần khắc phục một bước rất quan trọng tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội
Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1-1994) khẳng định đất nước bước vào thời kỳ mới, “thời kỳ đẩy tới một bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [58, tr.22] Nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo được Đảng xác định là “Thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [58, tr.25] Tiếp đó tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (7-1994), đã xác định rõ hơn
vị trí của CNH, HĐH nông nghiệp và nêu lên những phương hướng cơ bản về phát triển nông nghiệp, trong đó có nhấn mạnh việc xây dựng các vùng tập trung chuyên canh, đẩy mạnh áp dụng công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ sinh học vào sản xuất, tạo ra nguồn nguyên liệu lớn, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp chế biến hiện đại, tiến tới một nền “nông nghiệp sạch”, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế [59]
Cụ thể hóa và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và các nghị quyết Hội nghị Trung ương khóa VII về nông nghiệp, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành và bổ sung nhiều chính sách, văn bản pháp luật quan trọng Chính sách về đất đai tiếp tục được thực hiện theo tinh thần Luật đất đai đã ban hành năm 1993 Nghị định số 12/CP, ngày 2-3-1993 của Chính phủ quy định về