Giải php nng cao chất lượng tn dụng trung v
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế là cơ sở của một quốc gia Đây là một trong các yếu tố đánhgiá sự phát triển của các quốc gia hiện nay, bên cạnh các yếu tố như văn hoá,giáo dục, y tế… một yếu tố không thể thiếu và mang tính chất quyết định tới sựphát triển kinh tế của một quốc gia là sự hoạt động của hệ thống ngân hàngthương mại Thông qua hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại, vốnđược lưu chuyển từ nơi dư thừa vốn sang nơi cần vốn góp phần vào việc sửdụng vốn xã hội một cách hiệu quả từ đó thúc đẩy sản xuất và nền kinh tế pháttriển
Hiện nay, với cơ chế mở cửa các thành phần kinh tế hoạt động một cáchbình đẳng theo hiến pháp và pháp luật Nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời vàphát triển mạnh mẽ Cùng với nó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệptrong nước như ở ngoài nước đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mớicông nghệ, trang thiết bị và mở rộng sản xuất
Để tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá, vốn được coi là vấn đề trungtâm, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn Vốn trung và dài hạn là cơ sở đểcác doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất Hiện nay, vốn trung và dài hạn củacác doanh nghiệp hiện nay được huy động từ nhiều nguồn khác nhau như tíchluỹ từ sản xuất, liên doanh liên kết, huy động từ xã hội Song trong điều kiệnhiện nay của Việt Nam nguồn vốn trung và dài hạn được doanh nghiệp nghĩ đếntrước tiên là nguồn vốn trung và dài hạn đi vay từ các Ngân hàng thương mại
Tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế đang trong thời kỳ mới chuyển đổisang cơ chế thị trường, môi trường kinh tế chưa ổn định, môi trường pháp lýđang dần được thực hiện nên hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mạiđang gặp nhiều khó khăn, nhất là chất lượng tín dụng trung – dài hạn chưa cao
mà biểu hiện là nợ quá hạn, nợ khó đòi lớn Như vậy, việc nâng cao chất lượngtín dụng trung – dài hạn là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của ngành ngânhàng Vấn đề trở nên cần thiết và bức xúc với hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp
có thị trường chủ yếu là khu vực nông thôn
Trang 2Sau một thời gian thực tập tìm hiểu về thực trang hoạt động của Ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Hoàn Kiếm, em đã quyết
định chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Quận Hoàn Kiếm” làm nội dung nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp, mục đích là nghiên
cứu và luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn để khẳng định việc nâng caochất lượng tín dụng trung và dài hạn là nhu cầu cấp thiết để đất nước từng bướchội nhập vào nền kinh tế Trong bài viết này em đã viết chia làm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về chất lượng tín dụng trung và dài hạn tại NHTM Chương II: Thực trạng tín dụng trung và dài hạn tại NHNo&PTNT chi nhánh Quận Hoàn Kiếm
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung – dài hạn tại NHNo&PTNT chi nhánh Quận Hoàn Kiếm
Do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế và thờigian nghiên cứu có hạn nên chuyên đề không tránh khỏi những khiếm khuyết
Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo và các anh chị trongphòng kinh doanh để chuyên đề này hoàn thành tốt hơn
Trang 3Tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay
và người đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhấtđịnh
Hay nói cách khác: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan
hệ kinh tế trong đó một cá nhân hay một tổ chức nhờng quyền sử dụng một khốilượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hoặc một tổ chức khác với nhữngràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thuhồi
Trong mỗi hành vi tín dụng thấy là hai bên cam kết với nhau như sau:
- Một bên thì giao ngay một số tài hoá hay tiền bạc
- Còn bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của số tào hoá đó trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó
Nhà kinh tế Pháp, Ông Louis Baundin, đã định nghĩa tín dụng như là
“một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai” ở đây thấy yếu tốthời gian đã xen lẫn vào và cũng vi sự xen lẫn đó, cho nên có thể có sự bất trắc,rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai bên đương sự đối với nhau Hai bênđương sự dựa vào sự tín nhiệm, sử dụng sự tín nhiệm của nhau nên mới có danh
từ tín dụng
Do tính đa dạng về đối tượng chuyển nhượng và các chủ thể tham giatrong quan hệ tín dụng cũng như do sự phát triển của nền kinh tế thị trường vàcác hình thức sản xuất kinh doanh đã cho ra đời nhiều hình thực tín dụng
- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng bằng hàng hoá giữa những
doanh nghiệp hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực sản xuất lưu thông hàng hoá, ược hình thành trên cơ sở mua bán chịu hàng hoá Về thực chất quan hệ tín dụngthương mại thể hiện việc kéo dài thời hạn thanh toán của người mua Do đó,
Trang 4đ-trong quan hệ tín dụng thương mại, người cho vay chính là người bán chịu hànghoá, còn người vay là người mua chịu hàng hoá.
- Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và
một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với một bên là tất cả các tổchức cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vayvừa là người cho vay
- Tín dụng nhà nước: Là quan hệ tín dụng được thực hiện bằng hình thức
tiền tệ hoặc hiện vật giữa một bên là nhà nước và một bên là tất cả các tổ chức
cá nhân trong xã hội, trong đó nhà nước là người đi vay bằng cách phát hành tínphiếu hoặc trái phiếu
- Tín dụng hợp tác xã: Là quan hệ tín dụng tập thể hình thành trong nội bộ
các xã viên hợp tác xã
- Tín dụng quốc tế: Là quan hệ tín dụng giữa các quốc gia, trong đó chủ
thể tham gia là nhà nước, ngân hàng, các doanh nghiệp và các tổ chức tài chínhtín dụng quốc tế
2 Tín dụng Ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là ngânhàng –một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là tất cảcác tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đivay vừa là người cho vay
Với tư cách là người đi vay: Ngân hàng huy động mọi nguồn tạm thời
nhàn rỗi trong xã hội bằng hình thức nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổchức cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốntrong xã hội
Với tư cách là người cho vay: Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho các doanh
nghiệp, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Đây là hình thức tín dụng chủ yếutrong nền kinh tế thị trường, nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tếmột cách linh hoạt đầy đủ và kịp thời
3 Các hình thức tín dụng ngân hàng.
Trang 5Dựa vào các tiêu thức khác nhau mà chúng ta tiến hành phân loại các hìnhthức tín dụng ngân hàng.
+ Căn cứ vào mục đích sử dụng
- Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và
xây dựng bất động sản nhà ở đất đai, bất động sản trong lĩnh vực thương mạidịch vụ
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ
xung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thươngmại dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất:
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động…
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: Là loại vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu
dùng như mua sắm các vật dụng đặt tiền Ngày này ngân hàng còn thực hiệncho vay để trang trải chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻtín dụng
+ Căn cứ vào tài sản thế chấp
- Cho vay có tài sản thế chấp: Ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách
hàng để đảm bảo việc trả nợ của khách hàng
Cho vay cầm cố: Là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản khách hàng
mang đến cầm cố tại ngân hàng Tài sản của khách hàng do ngân hàng bảo quản.Trong suốt thời gian cầm cố, khách hàng không được sử dụng nhượng bán, chothuê…
Cho vay thế chấp: Là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách
hàng để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng Tài sản không cần mangđến ngân hàng, khách hàng có quyền sử dụng nhưng không có quyền bán và chothuê
- Cho vay không có tài sản thế chấp (Tín dụng) : Ngân hàng cho vay trên
cơ sở tin tưởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách hàng.Ngoài ra còn có hình thức cho vay thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổchức đoàn thể chính trị – xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn
Trang 6+ Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
- Cho vay bằng tiền: Là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng
được cung cấp bằng tiền: thấu chi, tín dụng thời vụ tín dụng trả góp…
- Cho vay bằng tài sản: Phổ biến là tài trợ thuê mua.
+ Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
- Cho vay trực tiếp: Trước khi cấp tiền ra, ngân hàng có mối liên hệ trực
tiếp đối với người vay để thẩm định khách xem xét tình hình người vay…
- Cho vay gián tiếp: Ngân hàng bỏ tiền ra cho vay nhưng không có liên hệ
gì với người vay Vì dụ: cho vay hợp vốn đối với ngân hàng khác
+ Căn cứ vào thời hạn cho vay
Tín dụng có ký hạn: Là khoản tín dụng có thời gian xác định về ngày trả nợ
Tín dụng có kí hạn bảo gồm: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và dài hạn Mặc
dù hầu hết các nước điều thống nhất về điều này nhưng thời hạn cụ thể được quyđịnh theo từng loại lại không hoàn toàn đồng nhất ở Việt nam hiện nay, theoquy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng cùng với quyết định1627/2001/QĐ-NNNN ngày 31/12/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nướcViệt nam
- Cho vay ngắn hạn: tối đa đến 12 tháng được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng
- Cho vay trung –dài hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với
thời hạn thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chấtnguồn vốn vay của tổ chức tín dụng
Thời hạn cho vay trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng
Thời hạn cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không qua thờihạn hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối vớipháp nhân và không quá 15 năm đối với dự án đầu tư phục vụ đời sống
Tín dụng không kỳ hạn: Là khoản tín dụng được ứng dụng đối với khoản vay
không xác định rõ thời hạn trả nợ
4 Phân loại tín dụng
Trang 7Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của kháchhàng và mục tiêu quản lý của Ngân hàng Tín dụng Ngân hàng thương mại đượcchia làm một số loại như sau:
4.1 Phân loại theo thời gian (thời gian tín dụng)
Việc phân loại tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với Ngânhàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụngcũng như khả năng hoàn trả của khách hàng Theo thời gian, tín dụng được phânthành:
Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời gian từ 12 tháng trở xuống
Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời gian từ 12 tháng đến 60 tháng.Tín dụng dài hạn: là tín dụng có thời gian từ 60 tháng trở lên
Tài sản lưu động thường có vòng quay trên một lần trong một năm Dovậy, Ngân hàng cấp tín dụng ngắn hạn với thời gian từ 1 năm trở xuống
Các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi,trang thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu, có yêu cầu tài trợtrên 5 năm, thậm chí có thể tới 10 năm
4.2 Phân loại theo hình thức tín dụng: Gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
Chiết khấu thương phiếu là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho kháchhàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để
sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ)
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết kháchhàng phải trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định
Bảo lãnh là việc Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính thaycho khách hàng của mình Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đãcho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi
Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để khách hàng thuê theonhững thoả thuận nhất định Sau thời gian đó, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãicho ngân hàng
4.3 Phân loại theo tài sản đảm bảo.
Trang 8Tín dụng có thể được phân chia thành tín dụng có đảm bảo bằng uy tíncủa chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cấm cố tài sản
Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản
mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba đểtrả nợ cho Ngân hàng
Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàngphải ký hợp đồng đảm bảo Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạngcủa tài sản đảm bảo như quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khảnăng tài chính của người thứ 3, … có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc cókhả năng bảo quản tài sản đảm bảo
4.4 Phân loại tín dụng theo rủi ro.
Hình thức phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lãi tình antoàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời
Tín dụng lành mạnh: Các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao
Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnhnhư khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm Khách hànggặp thiên tai, khách hàng chậm nộp báo cáo tài chính…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạnngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sảnthế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
Trang 9II VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ.
1 Tín dụng trung –dài hạn:
Là những khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng với mục đích là sửachữa khôi phục, thay thế tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật hợp lí hoá sản xuất,đổi mới công nghệ và xây dựng những công trình mới
2 Đặc điểm của tín dụng trung và dài hạn
2.1 Tính rủi ro lớn
Bản chất của tín dụng trung –dài hạn khác so với tín dụng ngắn hạn làthời hạn cho vay dài hơn Tín dụng ngắn hạn đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắnhạn do đó có tính nâng cao, có thể xem như là một bộ phận đảm bảo khả năngthanh toán của ngân hàng Trái lại, tín dụng dài hạn thương được đầu tư vào mởrộng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới trang thiết bị khoa học côngnghệ, dây chuyền sản xuất hiện đại, tức là các dự án chưa có khả năng sinh lờitrong thời gian ngắn nên thời hạn của các khoản tín dụng này thường dài và chỉđược hoản trả khi xuất hiện nguồn thu từ dự án, mà thời hạn cho vay càng dài thìtính rủi to càng cao
2.2 Lãi suất cao.
Đặc điểm này thực chất là hậu quả của đặc điểm trên Một khoản vaychứa đựng nhiều rủi ro hơn chắc chắn phải trả lãi suất cao hơn để có thể bù đắp
cho những rủi ro có thể xảy ra Tuy vậy, đã có thời kỳ (năm 1996) chúng ta duy
trì lãi suất cho vay trung và dài hạn nhỏ hơn lãi suất cho vay ngắn hạn đây làmột sự bất hợp lý mà sau này chúng ta đã chấn chỉnh được
2.3 Mục đích của vay trung và dài hạn.
Là để đầu tư mở rộng sản xuất, mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở hạtầng, đổi mới dây chuyển sản xuất… Tức là những dự án chưa thể sinh lời trongthời gian ngắn, trong khi mục đích của cho vay ngắn hạn là để phục vụ chỉ tiêu,mua nguyên vật liệu, trả tiền lương, bổ sung vốn lưu động… tức là để đáp ứngnhu cầu thanh toán ngắn hạn Chính việc sử dụng vốn vào các mục đích khác
Trang 10nhau, các khoản tín dụng đầu tư chiều rộng cũng như chiều sâu phải có thời hạndài hơn để đợi cho đến khi có nguồn thu xuất hiện từ Dự án.
3 Các vấn đề cơ bản của tín dụng trung và dài hạn
3.1 Nguồn cho vay trung –dài hạn
- Vốn tự có và các quỹ của ngân hàng
- Vốn được từ phát hành kỳ phiếu hoặc huy động tiền gửi định kỳ dài hạn
- Một phần vốn huy động trong nước có thời hạn dưới 1 năm : trên cơ sởquy định của Thống đốc ngân hàng nhà nước, mức độ chính phụ thuộc vào tìnhhình hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ
- Vốn uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự án đầu
tư của nhà nước, của các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nước
3.2 Đối tượng cho vay trung và dài hạn
Đó là các chi phí cầu thành trong tổng mức đầu tư của dự án đầu tư xâydựng mới, mở rộng, cải tạo, khôi phục, đổi mới kỹ thuật, ứng dụng khoa họccông nghệ bao gồm : giá trị vật tư, máy móc thiết bị, công nghệ chuyển giao,sáng chế và phát minh, chi phí nhân công, giá thuê và chuyển nhượng đất đài,giá thuê mua các tài sản khác trong khuôn khổ luật định, chi phí mua bảo hiểmtài sản thuộc dự án đầu tư và các chi phí khác
Mức cho vay đối với một dự án đầu tư bằng tổng mức vốn đầu tư của dự
án trừ đi vốn tự đầu tư cho dự án của bên vay, nhưng tối đa bằng 70% giá trị tàisản thế chấp, cầm cố
3.3 Thời hạn cho vay trung –dài hạn
Thời hạn cho vay là thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhậntiền vay cho đến khi bắt đầu trả nợ gốc và lãi tiền vay đã được thoả thuận tronghợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng Quy định về thời hạn tín dụngtrung và dài hạn có sự khác nhau giữa các nước, và ở Việt Nam quy định:
- Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng tới 60 tháng
- Thời hạn cho vay dài hạn trên 60 tháng nhưng không quá thời hạn hoạt độngcòn lại theo quyết định thành lập của giấy phép kinh doanh đối với pháp nhânkhông quá 15 năm đối với cho vay các dự án phục vụ đời sống
Trang 113.4 Điều kiện vay vốn
(Theo điều của quy chế cho vay đối với tổ chức tín dụng)
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu tráchnhiệm dân sự quy định của pháp luật
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, dịch vụ khả thi và có hiệu quả,hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quyđịnh của pháp luật
- Thực hiện các quy định về bảo bảm tiền vay quy định của chính phủ vàhướng dẫn của Ngân hàng nhà nước Việt nam
3.5 Lãi suất cho vay.
Lãi suất cho vay biểu hiện giá cả của khoản tiền mà người cho vay đòi hỏikhi tạm thời trao quyền sử dụng khoản tiền cuả mình cho người khác
Do đặc điểm của khoản vay trung và dài hạn là thời gian vay vốn lâu nên
nó chứa đựng nhiều rủi ro hơn những khoản vay ngắn hạn vì thế, lãi suất củanhững khoản vay dài hạn thường cao hơn khoản vay ngắn hạn Để giảm rủi ro
về thay đổi lãi suất cho cả Ngân hàng và khách hàng, đối với món dài hạnthường áp dụng lãi suất thả nổi
Ở Việt Nam, mức lãi suất còn phụ thuộc vào mức lãi suất trần do Ngânhàng nhà nước qui định Lãi suất trần được ấn định thời kỳ 03 tháng và cácNgân hàng thương mại sẽ căn cứ vào đó để điều chỉnh lãi suất cho vay
4 Vai trò của tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung –dài hạn có vai trò đặc biệt quan trọng cho sự phát triểnkinh tế đất nước và đảm bảo phát triển kinh tế theo chiều sâu, thúc đẩy sự dịchchuyển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước Đây là vaitrò to lớn của tín dụng trung và dài hạn
4.1 Tín dụng trung & dài hạn giúp các doanh nghiệp có khả năng đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất
Trang 12Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định sự tồn tại, phát triển bình đẳnggiữa các thành phần kinh tế: Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công tyliên doanh, công ty tư nhân, hợp tác xã… Trong cơ chế thị trường, với sự cạnhtranh gay gắt, quyết liệt, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp luôn phải đặt mình trước sựđổi mới về sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho thị trường Điều này đồng nghĩa vớidoanh nghiệp phải không ngừng đổi mới đầu tư trang thiết bị hiện đại, mở rộngdây chuyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm thì mới thắng được trongcạnh tranh và chiếm lĩnh được thị trường Do đó, vấn đề đầu tư cho phát triển,sản xuất được đưa ra như một yêu cầu bức thiết đối với mỗi doanh nghiệp Đốivới các doanh nghiệp nhà nước, ngoài nguồn vốn ngân sách hạn hẹp, họ phảichủ động tìm kiếm các nguồn vốn trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đổimới, phát triển và mở rộng sản xuất đảm bảo giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh
tế Còn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nguồn vốn tự có ban đầuphải được hỗ trợ bằng nguồn vốn bên ngoài
Mục đích của tín dụng trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp là đầu tưvào mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị công nghệhiện đại, tức là đầu tư theo chiều sâu nên ta có thể thấy tác động trực tiếp của tíndụng trung và dài hạn đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản cốđịnh hình thành từ vốn vay dài hạn sẽ cải tạo, nâng cấp hiện đại hoá cơ sở sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính nhờ công nghệ hiện đại mà doanhnghiệp có thể nâng cao được năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm, dẫnđến sản phẩm sản xuất ra có tính hấp dẫn thu hút khách hàng, sẽ thúc đẩy chiếmlĩnh thị trường Kết quả là tăng khả năng sinh lời, tăng thu nhập cho người laođộng đồng thời các khoản thực hiện nghĩa vụ với nhà nước như thuế thu nhập,VAT cũng tăng
Trang 134.2 Có tác động trực tiếp tới chính bản thân Ngân hàng.
Tín dụng trung và dài hạn là một bộ phận của tín dụng ngân hàng, đónggóp một phần quan trọng của tín dụng ngân hàng Khi ngân hàng có khả năngcung ứng vốn cho phương án lớn, chương trình kinh tế hoặc dự án tầm cỡ thìcàng cao vị thế của ngân hàng và đa dạng các mối quan hệ đối ngoại
4.3 Tác động của tín dụng trung và dài hạn đối với nền kinh tế.
Trong điều kiện thị trường vốn của ta chưa phát triển hoàn thiện thì hiệntại và thời gian tới tín dụng trung và dài hạn của Ngân hàng vẫn đóng vai tròquyết định cho tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Vì vậy,nâng cao chất lượng tín dụng trung và dài hạn là điều kiện cần thiết góp phầnthúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nứơc
III CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1 Chất lượng tín dụng trung & dài hạn
Chất lượng tín dụng trung & dài hạn là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêucầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng trung & dài hạn, đảm bảo an toànhay hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho Ngân hàng, phù hợp và phục vụ sựphát triển kinh tế xã hội
Để có được chất lượng tín dụng tốt thì hoạt động tín dụng phải có hiệuquả và quản hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín tronghoạt động Hiểu đúng bản chất về chất lượng tín dụng, phân tích, đánh giá đúngchất lượng tín dụng hiện tại cũng như xác định chính xác các nguyên nhân củanhững tồn tài về chất lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tìm được các biệnpháp quản lý thích hợp để có thể đững vững trong nền kinh tế thị trường hoạtđộng sôi động và có sự cạnh tranh gay gắt
2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trung & dài hạn
Chất lượng tín dụng trung và dài hạn biểu hiện qua hai nhóm chỉ tiêu địnhtính và định lượng
2.1 Nhóm chỉ tiêu định tính
Trang 14- Nhóm chỉ tiêu định tính được thể hiện qua các quy chế, chế độ thể hệ tíndụng
- Cho vay phải tuân chủ các nguyên tắc căn bản và chung nhất, đó là:
* Sử đụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tíndụng
* Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận tronghợp đồng tín dụng
Những nguyên tắc này được trải qua các thời đại khác nhau, tồn tại dướinhiều phương thức sản xuất và được đúc kết thành chuẩn tắc Chúng hình thànhnhư một quy luật phát triển nội tại của tín dụng, là điều luật bất khả vi phạm,tước bỏ, tách rời trong quan hệ tín dụng Các nguyên tắc ấy tạo nên sự vữngchắc cho tín dụng Vì vậy, một trong những nguyên tắc bị coi nhẹ hoặc nhấnmạnh sẽ gây sự mất thăng bằng đó Và kết quả tất yếu là sự phá vỡ trong quan
hệ tín dụng, làm tiêu tan dần vai trò tác dụng của nó, trở thành vật cản kìm hãmhoặc đẩy lùi sự phát triển của nền kinh tế
Trang 152.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng
- Chỉ tiêu lợi nhuận
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung và dài hạn Lợinhuận ở đây phải hiểu là chênh lệch giữa chi phí đầu vào (tức là lãi suất huyđộng) và thu nhập từ lãi suất cho vay của tín dụng trung – dài hạn xét cho cùngthì khoản tín dụng dù không có nợ quá hạn, nợ quá hạn khó dòi thì cũng chỉnhằm mục đích tăng lợi nhuận cho Ngân hàng Chỉ tiêu này đặc biệt quan trọngvới các Ngân hàng chưa phát triển các dịch vụ Ngân hàng thu từ hoạt động tíndụng là chủ yếu
Tuy nhiên đối với một số dự án trung – dài hạn theo kế hoạch nhà nướcthì chỉ tiêu này đôi khi tỏ ra không đầy đủ để phản ánh chất lượng tín dụng trung– dài hạn Vì mục tiêu kinh tế xã hội hay chiến lược phát triển các ngành côngnghiệp mũi nhọn, những ngành công nghiệp non trẻ thì đôi khi mục tiêu lợinhuận phải là hàng đầu Lúc này lợi nhuận không phản ánh thực chất của khoảntín dụng
- Chỉ tiêu vòng quay vốn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu nợ của Ngân hàng theo kế hoạch tronghợp đồng tín dụng ở mức nào Nếu vong quay vốn lớn chứng tỏ Ngân hàng thuhồi được vốn, hoạt động tín dụng có hiệu quả Trong trường hợp ngược lại, chỉtiêu đó báo động cho ngân hàng về những bất ổn có thể xảy ra trong quá trìnhthu hồi vốn Từ đó, Ngân hàng sớm có biện pháp đôn đốc khách hàng, kịp thờingăn ngừa rủi ro có thể xảy ra Đồng thời, đây cũng là cơ sở quyết định cho vaytrong những quan hệ tín dụng tiếp theo
Lợi nhuận từ tín dụng trung –dài hạnTổng dư nợ tín dụng trung –dài hạn
Thu nợ trung – dài hạnTổng dư nợ trung – dài hạn
Trang 16- Chỉ tiêu nợ quá hạn
Đến kỳ hạn trả nợ và lãi tiền vay, nếu bên vay không đủ tiền để trả vàkhông được gia hạn thì ngân hàng sẽ chuyển số nợ đó sang nợ quá hạn Nợ quáhạn là chỉ tiêu phản ánh mặt trái của chất lượng tín dụng trung – dài hạn Nợ quáhạn rõ ràng là điều không mong muốn của các Ngân hàng nhưng Ngân hàngnông nghiệp cũng không căn cứ vào chỉ tiêu này làm thước đo chuẩn để đánhgiá chất lượng tín dụng của món vay Không phải cứ nợ quá hạn cao thì đánh giáchất lượng tín dụng không tốt, không có khả năng thu hồi nợ và ngược lại Trênthực tế, các ngân hàng luôn cố gắng hạ thấp nhất tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quáhạn dưới 3% được coi là có thể chấp nhận được
- Chỉ tiêu nợ quá hạn khó dòi
Nếu tỷ lệ cao thì khoản tín dụng có chất lượng thấp, không những thế nếu
tỷ lệ này bao hàm toàn bộ gốc và lãi của hợp đồng tín dụng thì vốn đầu tư củaNgân hàng đã bị lãng phí một cách vô ích Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan dẫn đến tính trạng này Yêu cầu đối với cán bộ tín dụng là phảikiểm soát, kiềm chế tỷ lệ này ở mức thấp nhất
- Chỉ tiêu sử dụng vốn
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá hiệu quả Ngân hàng, thể hiện quy mô tíndụng Nếu tỷ lệ tổng dư nợ so với số dư tiền gửi lớn, chứng tỏ ngân hàng đã cảithiện được phần nào mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn, tạo đượctính cân đối giữa hai hoạt động cơ bản ấy
Nợ quá hạn tín dụng trung – dài hạn
Tổng dư nợ tín dụng trung – dài hạn
Nợ quá hạn khó dòi trung – dài hạn Tổng dư nợ trung – dài hạn
Tổng dư nợ cho vay Vốn huy động
Trang 173 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng trung – dài hạn
Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng trung và dài hạn chính
là những nhân tố gây ra sự biến động tốt hoặc xấu của chỉ tiêu đánh giá chấtlượng Có nhiều nhân tố, chủ quan và khách quan, nhân tố bên trong và bênngoài nhưng tựu chung lại có thể phân thành 4 nhóm nhân tố chính:
- Môi trường kinh tế
- Môi trường pháp lý
- Nhân tố phía ngân hàng
- Nhân tố từ phía khách hàng
Trang 183.1 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của môi trường kinh tế đến hoạt động kinhdoanh tiền tệ của ngân hàng sẽ thấy được ảnh hưởng cuả nó tới chất lượng tíndụng Bất kì một ngân hàng cũng chịu sự chi phối của những chu kỳ kinh tế.Trong giải đoạn nền kinh tế hưng thịnh thì các doanh nghiệp làm ăn phát đạt,xuất hiện nhiều nhu cầu mở rộng sản xuất, nên nhu cầu tín dụng cũng tăng, hoạtđộng tín dụng của ngân hàng sẽ phát triển Trong giai đoạn nền kinh tế suy thoáithì tất yếu nhu cầu tín dụng giảm vì hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ dosản phẩm không tiêu thụ được, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế cũng giảmsút Lúc này Ngân hàng sẽ dư thừa, ứ đọng một lượng vốn lớn, nguồn vốn huyđộng được sử dụng không hiệu quả có nghĩa là chất lượng tín dụng giảm
3.2 Nhóm nhân tố thuộc về môi trường pháp luật
Môi trường pháp luật được hiểu là một hệ thống luật và văn bản pháp lýliên quan đến hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nóiriêng Những hoạt động này muốn có hiệu quả thì phải có một hệ thống phápluật đồng bộ, thống thất đầy đủ đi kèm hỗ trợ Pháp luật đã trở thành một bộphận không thể thiếu trong cơ chế thị trường có sự quản tý của nhà nước Không
có pháp luật hoặc hệ thống pháp luật không đầy đủ, không phù hợp với nhữngyêu cầu phát triển của nền kinh tế thì mọi hoạt động trong nền kinh tế sẽ trở nênhỗn độn, không thể tiến hành trôi chảy Pháp luật đã tạo lập tinh lang pháp lýgiúp cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi và đạt kết quảcao Chỉ trong trưòng hợp các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng, chấp hành luậtpháp một cách nghiêm minh thì quan hệ tín dụng mới đạt kết quả mong muốnđem lại chất lượng cho hoạt động tín dụng ngân hàng
Hiện nay hệ thống văn bản pháp luật chưa đồng bộ đã gây khó khăn chongân hàng khi ký kết, thực hiện các hợp đồng tín dụng Thực tế cho thấy rằng,luật ngân hàng còn nhiều sơ hở, chưa đồng bộ với các quy định, văn bản dướiluật Điều này ảnh hưởng đến việc quản lý chất lượng tín dụng của ngân hàng
Sự thay đổi chủ trương, chính sách của nhà nước cũng gây ảnh hưởng đếnkhả năng trả nợ của doanh nghiệp nhất là về cơ cấu kinh tế, chính sách xuất
Trang 19nhập khẩu, do thay đổi một cách đột ngột, gây xáo trộn sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm hay chưa có phương
án kinh doanh mới dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó dòi
Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp còn nhiều sơ hở, nhà nướccho phép nhiều doanh ngiệp được sản xuất kinh doanh với nhiều chức năng,nhiệm vụ vượt quá trình độ, năng lực quản lý dẫn đến rủi ro thua lỗ làm giảm sútchất lượng tín dụng
3.3 Nhóm nhân tố thuộc về phía Ngân hàng
* Thẩm định dự án
Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quantoàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án để
ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư
Mục đích của việc thẩm định dự án là nhằm giúp các ngân hàng có các kếtluận chính xác về tính khả thi, tính hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ và nhữngkhả năng rủi ro có thể xảy ra của dự án để ra quyết định cho vay hay từ chối đầu
tư, xác định số tiền vay, thời gian cho vay, mức thu nợ hợp lý phù hợp với nănglực của doanh nghiệp, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệuquả cao
* Chất lượng nhân sự
Con người ở đâu và bao giờ cũng vậy luôn là yếu tố quyết định đến sựthành bại của công việc Với ngành ngân hàng, khi các nghiệp vụ ngân hàngngày càng phát triển mở rộng thì đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao để cóthế sử dụng các phương tiện hiện đại, nắm bắt kịp thời các thông tin về kinh tế,thị trường phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
* Lãi suất tín dụng trung – dài hạn: NHTM là tổ chức kinh doanh nhằm mục
tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp khác nhau, các chủ đầu tư khác nhau, bản thântừng dự án có mức lợi nhuận khác, lãi có mức rủi ro, khối lượng vay vốn thờihạn vay vốn khác nhau Việc đáp ứng lãi suất khác nhau ở từng dự án là có hiệuquả nhằm khuyên khích cả doanh nghiệp và ngân hàng vay vốn trung và dài hạn
* Chính sách tín dụng
Trang 20Chính sách tín dụng có một ý nghĩa to lớn quyết định đến sự thành cônghay thiết bị của cả hệ thống ngân hàng Do vậy, khi xây dựng chính sách tíndụng cần phải đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền lợi của người gửi tiền, củangân hàng và của người sử dụng vốn vay Đồng thời chính sách tín dụng phảiphù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế của Đảng, Nhà nước và cần đượcdựa trên những cơ sở thực tiễn và khoa học nhất định.
Đối với các ngân hàng thương mại một chính sách tín dụng đúng đắn phảiđảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro,tuân thủ pháp luật và đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước đảm bảo côngbằng xã hội
Trang 21* Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng
Trang thiết bị góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tíndụng của Ngân hàng Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức quản lý ngânhàng, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay và thực hiện nghiệp vụ giao dịch vớikhách hàng Đặc biệt với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin hiệnnay, các trang thiết bị tin học đã góp cho ngân hàng cập nhật được thông tinnhanh chống, kịp thời, chính xác Trên cơ sở đó đưa ra quyết định tín dụng đúngđắn, không bỏ lỡ thời cơ trong kinh doanh, giúp cho quá trình quản lý tiền vay
và thanh toánh được thuận tiện nhanh chóng và chính xác
3.4 Nhóm nhân tố thuộc về phía khách hàng
Để đảm bảo khoản tín dụng được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả,mang lại lợi ích cho ngân hàng, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế xã hội thì khách hàng có vai trò hết sức quan trọng Một khách hàng có tưcách đạo đức tốt, có tình hình tài chính vững vàng, có thu nhập sẽ sẵn sàng hoàntrả đầy đủ những khoản vay vốn của ngân hàng khi đến hạn
Năng lực của khách hàng được hiểu là khả năng của doanh nghiệp trongviệc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn đòi hỏi của tín dụng trung – dài hạn Điềukiện tín dụng được đưa ra nhằm tiêu chuẩn hoá khả năng của doanh nghiệptrong quá trình vay vốn đồng thời đảm bảo cho khả năng thu hồi vốn của ngânhàng Khả năng đáp ứng các điều kiện tín dụng thể hiện ở các mặt sau:
+Năng lực thị trường của doanh nghiệp
Năng lực thị trường của doanh nghiệp được lượng hoá theo các mặt: Khốilượng sản phẩm tiêu thụ, chất lượng sản phẩm như thế nào? Có phù hợp với thịhiếu của người tiêu dùng hay không? Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường?Quá khứ, hiện tại và tương lai phát triển của doanh nghiệp? Hệ thống tiêu thụsản phẩm của doanh nghiệp, mối quan hệ với các bạn hàng, với các đối tác?
Nghiên cứu năng lực thị trường của doanh nghiệp cho biết khả năng mởrộng đầu tư của doanh nghiệp cũng như định hướng đầu tư của doanh nghiệpnhằm kiểm tra sự phù hợp của dự án hoạt động với khả năng của doanh nghiệp
+ Năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Trang 22Năng lực sản xuất của doanh nghiệp biểu hiện giá trị công cụ lao động màchủ yếu là tài sản cố định, biểu hiện cụ thể là quá trình sản xuất sản phẩm, côngnghệ sản xuất, các nhu cầu đầu tư trước đây.
Nghiên cứu năng lực sản xuất của doanh nghiệp cho biết quy mô, sản xuấtcủa doanh nghiệp, sự phù hợp của quy mô đó với thị trường, cơ cấu và khả nănglàm chủ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
+ Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở số vốn tự có của doanhnghiệp và tỷ trọng vốn tự có trên tổng nguồn vốn huy động Ngoài ra, năng lựctài chính của doanh nghiệp còn thể hiện ở khả năng thanh toán của doanh nghiệpđối với các khoản nợ Năng lực tài chính của doanh nghiệp trong tín dụng trung– dài hạn còn đòi hỏi doanh nghiệp có số vốn lưu động tối thiểu cho việc duy trìhoạt động thường xuyên của tài sản cố định Vì vậy, năng lực tài chính củadoanh nghiệp càng cao thì càng thuận lợi cho Ngân hàng trong việc nâng caochất lượng tín dụng
Trang 23+ Năng lực quản lý doanh nghiệp
Việc xem xét khả năng thích nghi của bộ máy quản lý doanh nghiệp vóibiến động của cơ chế thị trường là điều cần thiết trước khi Ngân hàng quyết địnhcho vay Ngoài ra, việc xem xét việc phù hợp của hệ thống hạch toán kế toán vàquản lý tài chính của doanh nghiệp với quy định của pháp luật sẽ cho kết quảđánh giá về năng lực quản lý của doanh nghiệp một cách chính xác hơn
3.5 Các yếu tố tự nhiên
Đây là những nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịchbệnh… khi xảy ra thường gây ra hiệu quả lớn tác động đến cả ngân hàng vàkhách hàng, ngân hàng không có khả năng thu hồi đựoc vốn Điều đó ảnh hưởngđến chất lượng tín dụng Trước sự tác động của các yếu tố này, Ngân hàng khitiến hành đầu tư cần phải cân nhắc, báo cáo một cách cụ thể, chủ động phòngngừa nhằm giảm thiểu rủi ro
Như vậy, việc nắm vững các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụngngân hàng nói chung cũng như chất lượng tín dụng trung – dài hạn nói riêng vàbiết tận dụng các nhân tố này trong hoàn cảnh thực tế của Ngân hàng mình sẽtạo ra một chất lượng tín dụng tốt, góp phần vào sự phát triển vững mạnh củangân hàng và của nền kinh tế quốc dân
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NHNN & PTNT CHI
NHÁNH QUẬN HOÀN KIẾM
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN HOÀN KIẾM (NHNo&PTNT)
Trang 241 Lịch sử ra đời cuả NHNo&PTNT chi nhánh Quận Hoàn Kiếm:
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn được thành lập năm 1995
đã quyết định thành lập Ngân hàng chi nhánh khu vực Đồng xuân vào thàng 07năm 1995 Lúc đầu Ngân hàng chỉ hoạt động nhỏ bé chủ yếu hoạt động nguồnvốn và cho vay cho các hộ sản xuất nhỏ, năm 1995 Ngân hàng có dự án 4,5 tỷđồng nguồn vốn có 5 tỷ đồng thuộc Ngân hàng cấp IV
Cho đến năm 1999 thì chi nhánh Ngân hàng khu vực chợ Đồng xuân đãchuyển thành Ngân hàng No& PTNT quận Hoàn Kiếm thuộc Ngân hàng cấp III
2 Chức năng và nhiệm vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Quận Hoàn Kiếm
và của các phòng.
2.1 Chức năng và nhiệm vụ của NHNo&PTNT chi nhánh Quận Hoàn Kiếm.
2.1.1 Chức năng
- Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ theo lệnh của Giám đốc NHNo
- Đầu mối thực hiện các nhiệm vụ theo uỷ quyền của NHNo
- Trực tiếp kinh doanh đa năng trên địa bàn trong khu vực
- Huy động vốn
+ Khai thác và nhận tiền gửi không kỳ hạn, có ký hạn, tiền gửi thanh toáncủa các tổ chức, và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước và ngoàinước bằng đồng tiền Viêt nam và ngoại tệ
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu Ngân hàng và thựchiện các hình thức huy động vốn khác theo quy định của chi nhánh NHNo
+ Tiếp nhận các nguồn vốn tài trợ, vốn uỷ thác của chính phủ, các tổ chứckinh tế, cá nhân trong và ngoài nước
Trang 25+ Vay vốn ngắn hạn, trung và dài hạn theo quy định của NHNo.
- Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bằng đồng tiền Việt nam và ngoại tệ đốivới khách hàng
- Đầu tư dưới các hình thức như: hùn vốn, liền doanh, và các hình thức đầu tưkhác đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác khi được NHNo cho phép
Trang 262.2 Chức năng và nhiệm vụ của các phòng.
2.1 Chức năng nhiệm vụ của Giám đốc và Phó giám đốc tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Quận Hoàn Kiếm
3/ Đề nghị các vấn đề liên quan đến tổ chức, cán bộ, đào tạo và nghiệp vụkinh doanh lên Giám đốc chi nhánh NHNo và PTNT loại I, II xem xét về quyếtđịnh theo phân cấp uỷ quyền của Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp
4/ Thực hiện cơ chế lãi suất, tỷ lệ hoa hồng, lệ phí và tiền thưởng, tiềnphạt áp dụng từng kỳ cho khách hàng trong giới hạn phần lãi suất do Ngân hàngNhà nước quy định, Ngân hàng Nông nghiệp hướng dẫn thực hiện trên địa bàn
5/ Tổ chức việc hạch toán kinh tế, phân phối tiền lương, thưởng và phúclợi khác đến người lao động theo kết quả kinh doanh, phù hợp với chế độ khoántài chính và quy định khác của Ngân hàng Nông nghiệp
6/ Chấp hành chế độ giao ban thường xuyên tại chi nhánh và trên địa bànhoạt động, báo cáo định kỳ, đột xuất các hoạt động của chi nhánh lên chi nhánhNHNo và PTNT cấp trên theo quy định
7/ Phân công cho Phó giám đốc tham dự các cuộc họp trong, ngoài ngành
có liên quan trực tiếp đến hoạt động của chi nhánh NHNo&PTNT: Khi giám đốc
đi vắng trên 1 ngày nhất thiết phải uỷ quyền bằng văn bản cho một phó giám đốcchi đạo, điều hành công việc chung
2.1.2 Phó Giám Đốc:
Trang 27Theo Điều 16 trong quy định của NHNo&PTNT nêu lên về nhiệm vụ củaPhó Giám đốc của chi nhánh NHNo&PTNT như sau:
1 Được thay mặt Giám đốc điều hành một số công việc khi Giám đốcvắng mặt ( theo văn bản uỷ quyền của Giám đốc ) và báo cáo lại kết quả côngviệc khi Phó Giám đốc có mặt tại đơn vị
2 Giúp Giám đốc chỉ đạo điều hành một số nghiệp vụ do Giám đốc phâncông phụ trách và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về các quyết định của mình
3 Bàn bạc và tham gia ý kiến với Giám đốc trong việc thực hiện cácnghiệp vụ của Ngân hàng theo nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủtrưởng
2.2 Chức năng và nghiệp vụ của các phòng.
2.2.1 Phòng tín dụng – kinh doanh
1 Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại kháchhàng và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàngnhằm, mở rộng theo hướng đầu tư tín dụng khép kín: sản xuất, chếbiến, tiêu thụ, xuất khẩu và gắn tín dụng sản xuất, lưu thông và tiêudùng
2 Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kinh tế kỹ thuật, danh mục kháchhàng lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao
3 thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủyquyền
4 Thẩm định các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình ngân hàng nông nghiệpcấp trên theo phân cấp ủy quyền
5 Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trongnước, nước ngoài trực tiếp làm dịch vụ ủy thác nguồn vốn thuộc chínhphủ, bộ ngành khác và các tổ chức kinh tế, các nhân trong và ngoàinước
6 Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm, thử nghiệmtrong địa bàn, đồng thời theo dõi, đánh giá, sơ kết, tổng kết; đề xuấttổng giám đốc cho phép nhân rộng
Trang 287 Thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân
và đề xuất hướng khắc phục
8 Giúp giám đốc chi nhánh chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của cácchi nhánh NHNo & PTNT trực thuộc trên địa bàn
9 Tổng hợp, báo cáo và kiểm tra chuyên đề theo quy định
10.Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc chi nhánh NHNo & PTNT
3 Quản lý và sử dụng các qũy chuyên dùng theo quy định của NHNo &PTNT trên địa bàn
4 Tổng hợp, lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạch tóan, kế toán, quyết toán vàcác báo cáo theo quy định
5 Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo luật định
6 Thực hiện nghiệp vụ thanh toán trong và ngoài nứơc
7 Chấp hành quy định về an toàn kho qũy và định mức tồn qũy theo quyđịnh
8 Quản lý, sử dụng thiết bị thông tin, điện tóan phục vụ nghiệp vụ kinhdoanh theo quy định của NHNo & PTNT
9 Chấp hành chế độ báo cáo và kiểm tra chuyên đề
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc chi nhánh NHNo & PTNT giao
3 Cơ cấu tổ chức:
Giám đốc
Phòng KD Phòng giao
dịchPhòng kế toán
Phó giám đốc
Trang 29Căn cứ vào tính chất đặc điểm và chức năng nhiệm vụ, trong chỉ đạo điềuhành thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh trên địa bàn hoạt động
Trong quá trình hoạt động và phát triển của chi nhánh, từ ngày mới thànhlập cơ cấu tổ chức của chi nhánh còn rất đơn giản nhưng từ đó đến này chinhánh
đã không ngừng đổi mới cơ cấu nhằm đạt được một mạng lưới hoạt động phùhợp với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương cơ cấu tổ chức của chinhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được bổ chi như sau:
4 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Quận Hoàn Kiếm.
Chi nhánh NHNo và PTNT Quận Hoàn kiếm cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốnnhưng đã từng bước khẳng định mình trong năm 2001
Nguồn vốn là: 193 tỷ đồng 1,5 lần so với đầu năm, số tuyết đối là 148 tỷ,
sử dụng vốn là 58tỷ
Để tăng khả năng cạnh tranh, chi nhánh có một số giải pháp sau:
+ Mở rộng thêm mạng lưới như phòng giao dịch
+ Tăng thiết bị công nghệ, phương tiện đầy đủ để thực hiện tới các dịch
vụ bán hàng
+ Có chính sách chiến lược khách hàng
+ Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên
+ Đổi mới các phòng làm việc, phương thực tiếp cận với các doanhnghiệp để phục vụ khách hàng được tốt hơn