1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế bảo vệ hiến pháp ở Việt Nam

87 292 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 773,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ dân chủ, Hiến pháp được xác định là bản văn chính trị - pháp lý tối cao, vừa là văn bản ghi nhận tuyên ngôn v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI THÀNH CƯƠNG

CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Lý và luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu,ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Thành Cương

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO VỆ HIẾN PHÁP 9

1.1 Vị trí, vai trò của Hiến pháp 9

1.2 Vi phạm Hiến pháp và các loại hình vi phạm Hiến pháp 11

1.3 Bảo vệ Hiến pháp và cơ chế bảo hiến 15

1.3.1 Khái niệm bảo hiến 15

1.3.2 Mô hình cơ quan bảo hiến 17

1.3.3 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23

Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 25

2.1 Chủ thể vi phạm Hiến pháp ở Việt Nam 25

2.2 Cơ chế ngăn ngừa, xử lý hành vi vi phạm Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 47

Chương 3: HOÀN THIỆN CƠ CHẾ BẢO HIẾN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 49

3.1 Sự cần thiết hoàn thiện cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay 49

3.1.1 Xuất phát từ định hướng chỉ đạo của Đảng và nhà nước 49

3.1.2 Xuất phát từ nhu cầu khắc phục những hạn chế trong hoạt động bảo hiến hiện nay 50

Trang 4

3.1.3 Xuất phát từ tính tất yếu của quá trình hô ̣i nhâ ̣p quốc tế và xu th ế

của thời đại 50

3.2 Lý do của việc Quốc hội không thông qua được một thiết chế bảo hiến riêng 51

3.3 Quan điểm, giải pháp hoàn thiện cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay 58

3.3.1 Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước để bảo vệ Hiến pháp 58

3.3.2 Vấn đề xây dựng một thiết chế bảo hiến độc lập 63

3.3.3 Nâng cao vai trò của các chủ thể quan trọng trong bảo vệ Hiến pháp 64

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 77

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lý luận về nhà nước pháp quyền được hình thành từ cuối thế kỷ thứ XIX đến nay đã phát triển thành học thuyết về Nhà nước pháp quyền , đó là kết tinh của tri thức nhân loại, là kết quả quá trình tìm tòi, sáng tạo của nhân loại hướng tới mô hình tổ chức quyền lực nhà nước trên nền tảng chủ quyền nhân dân Đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là "vị trí tối thượng của Hiến pháp, pháp luật" trong đời sống chính trị, pháp lý của quốc gia Nhắc đến nhà nước pháp quyền, người ta sẽ nói ngay đến vấn đề bảo hiến, chính vì thế, khi xem xét, đánh giá một quốc gia đã xây dựng được nhà nước pháp quyền hay chưa, người ta thường dựa trên tiêu chí Hiến pháp của quốc gia đó được bảo vệ ở mức độ nào Trên thực tế tất cả các quốc gia có Hiến pháp đều tìm kiếm, xây dựng một mô hình bảo hiến với mục tiêu đảm bảo dân chủ, nhân quyền Mức độ được bảo vệ và tôn trọng của Hiến pháp cho phép chúng

ta sơ bộ nhận định được về tình trạng bảo vệ và thực thi các quyền con người, quyền công dân của một quốc gia Điều này đồng nghĩa với việc bất kỳ quốc gia nào muốn tiến tới xây dựng nhà nước pháp quyền phải chú trọng và không được coi nhẹ vấn đề bảo vệ Hiến pháp ở đất nước mình

Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ dân chủ, Hiến pháp được xác định là bản văn chính trị - pháp lý tối cao, vừa là văn bản ghi nhận tuyên ngôn về tính hợp pháp của một chế độ, vừa là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất và có vai trò tối quan trọng trong tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích của con người Vì vậy, bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trở thành một đòi hỏi tất yếu của Nhà nước pháp quyền

Trong pháp luật nước ta, từ lâu đã có các cơ chế bảo đảm thực thi và

Trang 6

bảo vệ Hiến pháp với những tính chất, mức độ và cách thức khác nhau Trong

đó, cơ chế bảo vệ Hiến pháp có tính chất nhà nước do các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện như: Chủ tịch nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Chính phủ, Ủy ban nhân dân, Tòa án, Viện kiểm sát Tuy nhiên, bảo vệ Hiến pháp bằng các thiết chế có tính chuyên môn hay chuyên trách (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến…) mới là sự thể hiện rõ rệt về tính chất pháp quyền của nhà nước Song, tính cho đến thời điểm hiện nay, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp có tính chuyên môn hay chuyên trách vẫn chưa được tổ chức ở nước ta Đòi hỏi phải nâng cao và phát huy hơn nữa vai trò của cơ chế bảo vệ Hiến pháp đang đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết kể từ khi chúng ta quyết định xây dựng một nhà nước pháp quyền theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Muốn làm được điều đó, chúng ta cần phải khắc phục những điểm hạn chế còn tồn tại trong quá trình bảo vệ Hiến pháp mà các cơ chế bảo hiến hiện nay chưa đáp ứng được, song song với điều đó cần phải kiện toàn lại tổ chức

và hoạt động của các cơ chế bảo hiến sao cho phù hợp với những thay đổi trong điều kiện kinh tế- chính trị và xã hội của nước ta

Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2013, và phần quy định

về việc thành lập Hội đồng Hiến pháp trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

đã không được chấp nhận Nghĩa là hoạt động bảo hiến vẫn không do một cơ quan chuyên trách thực hiện, và về cơ bản cơ chế bảo hiến chưa có sự thay đổi nhiều so với những bản Hiến pháp trước Từ thực tiễn đó đặt ra việc nghiên cứu và hoàn thiện cơ chế bảo hiến theo Hiến pháp 2013 là một việc làm cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn

Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài

“Cơ chế bảo vệ hiến pháp ở Việt Nam” làm Luận án Thạc sĩ luật học,

chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Đây là đề tài mang tính cấp thiết, có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với

Trang 7

Việt Nam, góp phần trực tiếp vào bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, bảo vệ chủ quyền nhân dân, đảm bảo nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thật sự là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tuy bảo vệ Hiến pháp là một nhiệm vụ có tầm vóc lớn lao, xây dựng cơ chế bảo hiến là việc làm cấp bách, nhưng tài phán Hiến pháp mới chỉ được nghiên cứu ở nước ta trong thời gian gần đây nên khối lượng các trong trình nghiên cứu so với thế giới còn khá khiêm tốn Cho đến nay, hầu hết công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này là các bài báo, các chuyên đề, chuyên khảo trong các hội thảo, trong đó, nổi bật lên với bài viết như:

- PGS.TS Nguyễn Như Phát, Mô hình tài pháp Hiến pháp ở Cộng hòa Liên bang Đức, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 11, 2004;

- PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Mô hình cơ quan bảo hiến ở các nước trên thế giới, Tạp chí Luật học, số 5, 2004;

- GS.TSKH Đào Trí Úc, Tài phán Hiến pháp và xây dựng tài phán Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10, 2006;

- Tài liệu tham khảo về Hội thảo về cơ chế bảo hiến ở Việt Nam do Ban công tác lập pháp tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An, tháng 3, 2005

- “Cơ chế giám sát Hiến pháp theo các Hiến pháp Việt Nam và vấn đề xây dựng tài pháp Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay” của PGS.TS Trương Đắc Linh (báo cáo Hội thảo quốc tế về giám sát Hiến pháp năm 2007),

- “Về quyền giám sát tối cao của Quốc hội trong nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân” của PGS.TS Lê Minh Thông trong kỷ yếu Hội thảo “Quốc hội Việt Nam 60 năm hình thành và phát triển”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2006,

- “Những vấn đề lý luận cơ bản về thiết chế bảo hiến” và “Những vấn

Trang 8

đề cơ bản trong xây dựng định chế bảo hiến ở nước ta” của PGS.TS Vũ Thư, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5 năm 2006, số 7 năm 2007…

- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế về bảo hiến, Nxb Thờ i đa ̣i, 2009 Bên cạnh đó có một số công trình được biên soạn dưới dạng sách tham khảo đã bước đầu cung cấp thông tin cho người về kinh nghiệm và nền tài phán Hiến pháp của nước ta và một số nước khác Trong số này có thể kể đến:

- TS Nguyễn Sỹ Dũng (chủ biên), Quyền giám sát của Quốc hội, Nội dung

và thực tiễn từ góc nhìn tham chiếu, Nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội, năm 2004;

- Đặng Văn Chiến (Chủ biên), Cơ chế bảo hiến, Nhà xuất bản tư pháp,

Hà Nội, năm 2005;

- ThS Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2006

- Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hiến pháp: những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011

- GS.TSKH Đào Trí Úc và PGS.TS Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam,

Nxb Công an nhân dân, 2007

Một số đề tài nghiên cứu, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ về đề tài này, đó là:

- Đề tài nghiên cứu cấp bộ về “Tài phán Hiến pháp – Một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Như Phát (Viện trưởng Viện Nhà nước và pháp luật) chủ nhiệm đã phần nào đi sâu vào nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về vai trò của tài phán hiến pháp đối với việc duy trì và bảo vệ chế độ Nhà nước

và nền dân chủ, xu hướng phát triển của chúng trong thế giới đương đại và đặc biệt là về mô hình lý luận cho việc xây dựng tài phán hiến pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

- Tào Thị Quyên, Tìm hiểu mô hình giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật của một số nước và một số kiến nghị trong điều

Trang 9

kiện của Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà

Nội, năm 2004

- Hồ Đức Anh, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việt hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006

Trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình, các nhà khoa học tập trung tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề lý luận xung quanh các cơ chế nhà nước bảo hiến ở nước ta, đồng thời xem xét chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ chế nhà nước bảo vệ Hiến pháp qua các thời kỳ, và đặt trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã thể hiện sinh động và hiện thực về thực trạng tổ chức và hoạt động của cơ chế nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp, những bất cập, hạn chế cũng như những luận giải và đề xuất khắc phục những nhược điểm đó nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của cơ chế nhà nước bảo hiến, từ đó đẩy mạnh, tăng cường hơn nữa vai trò của các cơ quan này đối với vấn đề bảo hiến, góp phần tôn vinh Hiến pháp nước ta Đây chính là nguồn nhận thức cơ bản và quan trọng, là những kiến thức, cơ sở lý luận để học viên tham khảo, vận dụng, học hỏi để thực hiện đề tài luận văn của mình Tuy nhiên, các nghiên cứu mới dừng ở Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) trở về trước, những vấn đề mới đặt ra trong Hiến pháp 2013 chưa được quan tâm, nghiên cứu Do đó, việc nghiên cứu đề tài này vẫn còn những ý nghĩa về mặt lý luận

và thực tiễn nhất định, với những kiến nghị tiếp tục hoàn thiện Hiến pháp, hoàn thiện cơ chế bảo hiến cho tương lai

3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của luận văn này là trên cơ sở tiếp cận tổng thể, phân tích, đánh giá, làm sáng tỏ khái niệm bảo hiến và những điểm còn bất cập, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan có nhiệm vụ bảo hiến đến việc

Trang 10

bảo đảm thực thi, tôn trọng các quy định của Hiến pháp nước ta, đồng thời hướng tới xây dựng, hoàn thiện cơ chế bảo hiến Trên cơ sở đó các kiến nghị được đề xuất nhằm sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa tổ chức, hoạt động và vai trò của cơ chế bảo vệ Hiến pháp; đưa ra những kiến nghị phục vụ cho sự thành lập thiết chế bảo hiến chuyên trách ở nước ta góp phần làm chặt chẽ hơn nữa tổ chức và hoạt động của cơ chế bảo vệ Hiến pháp mà mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quyền công dân, quyền con người và xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích những cơ sở lý luận cơ bản về Hiến pháp, về những vi phạm Hiến pháp và các loại hình vi phạm Hiến pháp, về vấn đề bảo vệ Hiến pháp

- Phân tích và nhận xét về thực trạng cơ chế, những điểm còn tồn tại và hạn chế của cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở nước ta

- Phân tích đánh giá những lý do chưa xây dựng được cơ chế bảo hiến chuyên trách, và đề xuất những quan điểm, giải pháp để thực thi các quy định mới về bảo hiến trong Hiến pháp 2013

4 Giới hạn của luận văn

Phạm vi của luận văn này tương đối rộng, do đề cập đến thẩm quyền, chức năng, nhiệm của của nhiều cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ Hiến pháp, thể hiện ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh thuộc nhiều lĩnh vực, không cho phép chúng ta đi vào tìm hiểu sau hay đề cập hết các khía cạnh, các mức độ thực thi chức trách, nhiệm vụ bảo hiến được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật nước ta

Trong khuôn khổ luận văn này, luận văn chỉ tập trung vào một số nội dung cơ bản như: phân tích nhu cầu bảo vệ Hiến pháp, đồng thời phân tích, đánh giá những hạn chế về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện

Trang 11

việc bảo vệ Hiến pháp, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp hiện nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận mà luận văn sử dụng để thực hiện đề tài nghiên cứu này

là quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật, về nhà nước pháp quyền, về vấn đề bảo vệ Hiến pháp, về đường lối đổi mới của đất nước được thể hiện trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng và các Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của nhà nước

Luận văn áp dụng phương pháp duy vật biện chứng của Triết học Mác – Lênin, và vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh để giải quyết các vấn đề đặt ra Các phương pháp trên được sử dụng xuyên suốt luận văn, nhưng trong từng chương, mức độ sử dụng có thể khác nhau do xuất phát từ yêu cầu của việc nghiên cứu và nội dung của đề tài

6 Giá trị khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài đã bước đầu đi vào nghiên cứu và đưa ra quan điểm cụ thể về vấn đề vi phạm Hiến pháp và cơ chế bảo vệ Hiến pháp, tập hợp những quan điểm đánh giá về thực trạng bảo vệ Hiến pháp ở nước ta hiện nay, tìm ra những bất cập, hạn chế trong quá trình thực thi nhiệm vụ bảo hiến của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trên cơ sở đó đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ bảo hiến trên cơ sở phân tích nhu cầu thực tiễn cần bảo vệ Hiến pháp ở nước ta

Các kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm mục đích đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện hơn nữa cơ chế bảo vệ Hiến pháp, nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiến ở Việt Nam hiện nay, nhất là trong bối cảnh Hiến pháp 2013 đã ra đời nhưng vẫn chưa xây dựng được cơ chế bảo hiến hoàn chỉnh

Trang 12

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc bảo vệ Hiến pháp

Chương 2: Thực trạng của việc bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam

Chương 3: Hoàn thiện cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC BẢO VỆ HIẾN PHÁP

1.1 Vị trí, vai trò của Hiến pháp

Có nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau về khái niệm “Hiến pháp”, Nhà nước cổ La Mã dùng thuật ngữ này để gọi các văn bản quy định của Nhà nước

Ở Phương Đông thuật ngữ "Hiến pháp" “được dùng với nghĩa là pháp lệnh, kỷ cương, phép nước” [4, tr.35] Ngày nay, tùy theo góc nhìn của mình

mà các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa khác nhau về Hiến pháp

Theo Montesquieu, nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp thì hiến pháp mang

một ý nghĩa chính trị: “hiến pháp tổ chức nhiều quyền lực trong nhà nước và

tương quan giữa các quyền lực đó với nhau để quyền lực, một hiện tượng đáng sợ, trở thành ôn hòa Một chính thể ôn hòa là một chính thể tốt nhất,

như Aristote đã quan niệm từ thời cổ đại Hy Lạp” [12]

Theo quan điểm của giáo sư G.I.Vedel và P.Diveger cho rằng quy pha ̣m “Hiến pháp có các quy phạm có tính cơ bản Những quy phạm pháp luâ ̣t được ban hành trái với Hiến pháp , thiếu những hình thức mà Hiến pháp đã chỉ ra, thì sẽ không có giá trị” Theo ông, Hiến pháp có mục đích quy định tính trội hơn của "quyền lập quyền", tức quyền lập hiến, phải khác với "quyền được lập ra", tức là quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp “Quyền lập hiến

có tính chất nguyên thủy và vô hạn chế, tức là khẳng định ưu thế của quyền lập hiến trên các quyền được hiến pháp thiết lập” [4, tr.35], bởi lẽ Hiến pháp do người dân làm ra còn luật do người ủy quyền của người dân, đại diện cho người dân làm ra: “Có một nguyên tắc

rõ ràng là một quyền lực ủy nhiệm thi hành trái ngược với nhiệm vụ thì sẽ bị coi như là vô hiệu lực Như vậy, không có một đạo luật nào

Trang 14

do ngành lập pháp làm ra trái ngược với Hiến pháp lại có thể coi là hợp pháp và có hiệu lực Nếu không công nhận nguyên tắc trên thì tức là xác nhận rằng người phụ tá sẽ có nhiều quyền hơn người quyền trưởng, rằng người đầy tớ mà lại có nhiều quyền hơn người chủ, rằng đại diện dân chúng lại có nhiều quyền hơn dân chúng, rằng người ủy quyền lại có quyền làm những điều mà người ủy quyền cấm đoán [24]

Về mặt nội dung, Hiến pháp là các quy tắc pháp lý quan trọng nhất của quốc gia, ấn định cơ cấu tổ chức , thẩm quyền, mối quan hê ̣ qua la ̣i các thiết chế trong bô ̣ máy nhà nước của quốc gia và quy đi ̣nh quyền , nghĩa vụ cơ bản

của công dân Francis D Wormuth trong ấn phẩm Nguồn gốc của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại đã viết:

Hiến pháp thường được định nghĩa là tổng thể các quy tắc thành văn hoặc bất thành văn, pháp lý hay siêu pháp lý quy định về chính quyền và sự vận hành của nó Tuy nhiên, có những ý tưởng

về sự hạn chế nằm trong danh từ Hiến pháp - ý tưởng về Hiến pháp như một sự sắp đặt không chỉ quy định mà còn giới hạn chính quyền, ít nhất là trong những hoạt động thường nhật của nó [23] Theo cuốn Từ điển Luâ ̣t ho ̣c của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (xuất

bản năm 1999): “Hiến pháp, đạo luật cơ bản, văn bản quy phạm pháp luật có hiê ̣u lực pháp lý cao nhất do Quốc hội thông qua , quy đi ̣nh các vấn đề quan trọng nhất và chung nhất của nhà nước Hiến pháp là văn kiê ̣n cơ bản quy

đi ̣nh tổ chức Nhà nước và viê ̣c điều hành quyền lực” [19]

Trong li ̣ch sử lâ ̣p hiến của nhân loa ̣i , thời kỳ đầu, đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp chỉ là những quan hệ về tổ chức chính quyền nhà nước ở cấp trung ương, thể hiện ở nguyên tắc thiết kế , phân chia quyền lực Tuy nhiên, càng về sau này , để phù hợp với sự phát triển của dân chủ , đối tượng điều

Trang 15

chỉnh của Hiến pháp ngày càng được mở rộng Lúc này, Hiến pháp không chỉ quy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, mà còn quy định cả quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân

Mă ̣c dù còn có mô ̣t số quan điểm chưa thống nhất về thuâ ̣t ngữ “hiến

pháp” Tuy nhiên, các quan điểm đều thừa nhận : “Hiến pháp là một đạo luật

cơ bản của quốc gia, do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, quy định việc tổ chức bộ máy nhà nước , cơ cấu , thẩm quyền các cơ quan nhà nước và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân” [4, tr 35]

Về ý nghĩa chính tri ̣ , Hiến pháp là bản văn tuyên bố chủ quyền của quốc gia, ghi nhâ ̣n chính quyền hợp hiến, cách thức tổ chức, cơ chế vâ ̣n hành của quyền lực nhà nước, quyền và nghĩa vu ̣ của công dân

Về ý nghĩa pháp lý, trong các phương thức hạn chế quyền lực nhà nước, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhân dân, có vị trí tối thượng, là phương thức quan trọng nhất để hạn chế, kiểm soát quyền lực nhà nước Bởi

lẽ, “Trong các vấn đề về quyền lực, đừng nói thêm gì nữa về lòng tin vào đức tính tốt của con người, mà phải trói anh ta lại bằng sợi dây xích Hiến pháp để anh ta không còn làm được những điều ác” [3, tr.61]

1.2 Vi phạm Hiến pháp và các loại hình vi phạm Hiến pháp

Lịch sử lập hiến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã biết đến năm bản Hiến pháp, nhưng đến nay, hoạt động bảo hiến của chúng ta vẫn chưa thật sự hiệu quả, hiệu lực Một trong những lý do của hạn chế này là chúng ta chưa nghiên cứu nhằm chỉ ra các vi phạm Hiến pháp và các dấu hiệu

cơ bản của hành vi vi phạm Hiến pháp

Xuất phát từ việc ghi nhận Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia thì tất yếu có thể xảy ra vi phạm Hiến pháp Theo lý luận

chung về nhà nước và pháp luật thì “vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [16, tr.537]

Trang 16

Tuy nhiên, Hiến pháp là văn bản pháp luật có những đặc thù, do đó vi phạm Hiến pháp có đặc trưng riêng so với các vi phạm pháp luật khác Qua

nghiên cứu có thể khái quát khái niệm vi phạm Hiến pháp như sau: “Vi phạm Hiến pháp là hành vi trái Hiến pháp, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được Hiến pháp bảo vệ do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý” [18]

Qua khái niệm này, chúng ta có thể xác định dấu hiệu vi phạm Hiến pháp như sau:

Một là, về hành vi: hành vi vi phạm Hiến pháp có thể là hành động

hoặc không hành động vi phạm quy định của Hiến pháp gây thiệt hại cho xã hội, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được Hiến pháp bảo vệ

Hai là, về chủ thể thực hiện hành vi vi phạm Hiến pháp: với ý nghĩa

Hiến pháp là khế ước xã hội qua đó nhân dân là cội nguồn của quyền lực, ủy quyền cho những người đại diện cho ý chí của mình, tạo dựng nên một bộ máy công quyền, thực hiện chủ quyền nhân dân, đảm bảo trật tự công Thiết chế nhà nước được cấu trúc bởi Hiến pháp có ý nghĩa là một công cụ chính trị - pháp lý đảm bảo duy trì trật tự và thực thi các quyền và tự do cơ bản của con người, thúc đẩy tiến bộ xã hội Xét dưới góc độ pháp lý và thực tiễn cuộc sống thì chủ thể của hành vi vi phạm Hiến pháp (vi phạm bản khế ước xã hội) có thể là một trong hai bên tham gia khế ước đó Tuy nhiên, với đặc thù của bản khế ước này Khi người dân ủy quyền cho người đại diện của mình nắm lấy quyền lực thì người dân luôn ở vào vị trí yếu thế Và khi đó người dân không thể có khả năng vi phạm trật tự do Hiến pháp xác lập mà trật tự do Hiến pháp xác lập chỉ

có thể bị vi phạm bởi chủ thể có quyền lực từ Hiến pháp

Chủ thể đó có thể là cá nhân mang quyền lực do Hiến pháp xác định hoặc một cơ quan, tổ chức có quyền lực từ Hiến pháp

Ba là, khách thể vi phạm Hiến pháp: hành vi vi phạm Hiến pháp xâm

phạm tới trật tự do Hiến pháp xác lập, bao gồm:

Trang 17

- Trật tự xác lập cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước: theo quy định của Hiến pháp Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Từ đây, có thể xuất hiện tình huống là chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của Hiến pháp

- Chủ thể mang quyền lực do Hiến pháp xác lập hành động hoặc không hành động xâm phạm tới quyền của công dân được Hiến pháp ghi nhận Hiến pháp với ý nghĩa là đạo luật cơ bản của quốc gia, ngoài việc thiết lập mô hình tổ chức bộ máy nhà nước còn xác định quyền cơ bản của công dân Qua đó, cơ quan nhà nước có trách nhiệm đảm bảo quyền công dân được thực thi trên thực tế

- Chủ thể mang quyền lực do Hiến pháp xác lập ban hành văn bản quy phạm pháp luật có nội dung trái với quy định của Hiến pháp xâm phạm tính tối cao của Hiến pháp và suy cho đến cùng là xâm phạm quyền, lợi ích của công dân

Có thể khái quát ba lĩnh vực có thể xuất hiện dấu hiệu vi phạm Hiến pháp như sau:

Trong hoạt động lập pháp : luâ ̣t, nghị quyết của Quốc hội , pháp lệnh,

nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được ban hành không phù hợp với quy đi ̣nh của Hiến pháp Những viê ̣c có dấu hiê ̣u vi pha ̣m Hiến pháp trong hoạt động này chủ yếu là ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái thẩm quyền hoặc có nội dung trái với quy định của Hiến pháp, hoặc chậm hay không ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mà theo quy định của Hiến pháp thì Quốc hội phải ban hành

Trong hoạt động hành pháp: viê ̣c chấp hành Hiến pháp của các cơ quan

nhà nước trong viê ̣c thực thi pháp luâ ̣t , bao gồm viê ̣c ba n hành văn bản quy

Trang 18

phạm pháp luật và các hoạt động thi hành pháp luật không phù hợp với quy định của Hiến pháp

Trong hoạt động tư pháp , viê ̣c thực thi pháp luâ ̣t và ban hành văn bản

quy phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp , bao gồm cả hoa ̣t đô ̣ng điều tra , truy tố , xét xử, thi hành án , kiểm sát các hoa ̣t đô ̣ng tư pháp được thực hiê ̣n không đúng với quy đi ̣nh của Hiến pháp

Phân tích dưới góc độ hành vi vi phạm Hiến pháp: có hai dạng là hành

vi hành động vi hiến và hành vi không hành động vi hiến

Hành vi hành động vi hiến là hành vi của chủ thể thực hiện hành động trái với các quy định Hiến pháp, hoặc không phù hợp với Hiến pháp Đó có thể là hành vi của cơ quan ban hành văn bản pháp luật không phù hợp hoặc trái với Hiến pháp; hành vi của một cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm thẩm quyền (lạm quyền) mà Hiến pháp trao cho; hoặc hành vi của bất cứ cơ quan,

tổ chức, cá nhân nào nhân danh nhà nước ngăn cản hoặc hạn chế việc thực hiện quyền và tự do hợp pháp của người dân theo quy định của Hiến pháp

Hành vi không hành động vi hiến là hành vi không thực hiện quyền và nghĩa vụ đã được Hiến pháp quy định Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Hiến pháp giao quyền, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời những quyền và nghĩa vụ đó thì sẽ bị coi là vi phạm Hiến pháp không hành động

Trong các trường hợp mà cơ quan, cá nhân có thẩm quyền chậm trễ hoặc không thực hiện thẩm quyền ban hành văn bản quy định cụ thể về các quyền và tự do hiến định của người dân thì một số nước không bị coi là vi phạm Hiến pháp Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân, một khi Nhà nước ghi nhận và khẳng định quyền và tự do của người dân trong Hiến pháp đồng nghĩa với việc Nhà nước xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của mình phải bảo đảm thực hiện Do vậy, sự thiếu hụt hay chậm trễ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định quyền và tự do hiến định của người dân

Trang 19

cũng phải được coi là vấn đề Hiến pháp và xem xét tính hợp hiến của hành vi không hành động của cơ quan, cá nhân được trao quyền

Một nước có nền văn minh rực rỡ như Pháp mãi những năm gần đây mới bắt đầu thành lập ra Tòa án Hiến pháp để xét xử các hành vi vi hiến Trước đó, ở họ vẫn tồn tại một Hội đồng với tư cách tư vấn cho Tổng thống về các dự án luật trước khi được Quốc hội thông qua Bên cạnh đó, mặc dù được thành lập rất sớm nhưng chỉ sau vài năm khi có Hiến pháp hiện hành năm 1949, kết quả xét xử thắng kiện cho người khởi kiện là rất ít,

“theo thống kê cho thấy trong khoảng 1,5 % Nhưng con số nhỏ nhoi đó cũng

đủ sức mạnh cho việc răn đe các cơ quan công quyền trong việc đối nhân xử thế với công dân, ở mặc người công dân nhỏ bé cũng cảm nhận được vị thế lớn lao của mình được Hiến pháp bảo vệ” [22]

Hiến pháp là bản văn chính trị - pháp lý, đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý tối cao, nhưng trên thực tế vi phạm Hiến pháp vẫn có thể xảy ra và việc nghiên cứu các dấu hiệu của vi phạm Hiến pháp là cần thiết Qua đó tìm cách đề ra biện pháp hữu hiệu để đấu tranh phòng chống các hành vi vi hiến, xây dựng và từng bước hoàn thiện cơ chế bảo hiến phù hợp với điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của Việt Nam hiện nay Hiến pháp được bảo vệ tốt có nghĩa là nền móng chính trị - pháp quyền của quốc gia được duy trì, làm cho trật tự công thêm vững bền, ổn định chính trị và xã hội được đảm bảo Do đó hoạt động lập hiến không thể được coi là hoàn hảo, nếu như không tính tới việc xây dựng mô hình hữu hiệu để bảo vệ Hiến pháp

1.3 Bảo vệ Hiến pháp và cơ chế bảo hiến

1.3.1 Khái niệm bảo hiến

Hiện nay, chưa có khái niệm thống nhất về bảo hiến, do còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Quan điểm thứ nhất, quan niệm bảo hiến là toàn

Trang 20

bộ hoạt động kiểm tra, giám sát, xét xử của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo vị trí, vai trò tối thượng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật; sự phân quyền trong hệ thống bộ máy nhà nước; quyền công dân ghi nhận trong Hiến pháp – Đây là quan điểm bảo hiến theo nghĩa rộng Quan điểm thứ hai cho rằng, bảo hiến là hoạt động của cơ quan có chức năng tài phán Hiến pháp theo thủ tục đặc biệt được Hiến pháp quy định

Cơ sở của bảo hiến xuất phát từ cơ sở Hiến pháp là khuôn mẫu của dân chủ, tồn tại trong một chế độ dân chủ Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến Bằng quyền lập hiến, nhân dân ủy quyền cho nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Chủ quyền nhà nước phát sinh từ chủ quyền của nhân dân Với ý nghĩa như vậy, chủ quyền của nhân dân là nền tảng, là gốc rễ, chủ quyền các cơ quan nhà nước được hình thành trên cơ sở chủ quyền của nhân dân Do đó, ý chí của nhân dân phải được tôn trọng hơn ý chí của nhà nước

Thông thường, chủ thể bảo hiến có thẩm quyền:

- Thẩm quyền giải thích Hiến pháp , đảm bảo nô ̣i dung của Hiến pháp phải được hiểu thống nhất từ mọi góc nhìn khác nhau , để từ đó các chủ thể có hành vi ứng xử hợp hiến;

- Thẩm quyền liên quan tới việc bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia: giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo các văn bản quy phạm pháp luật ban hành phù hợp với quy định của Hiến pháp;

- Thẩm quyền liên quan đến việc tuân thủ nguyên tắc phân công hoặc phân chia quyền lực: xem xét những tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp);

- Thẩm quyền liên quan đến việc bảo vệ các quyền con người, quyền công dân do Hiến pháp quy định;

Trang 21

- Thẩm quyền liên quan đến việc bảo vệ Hiến pháp khỏi sự xâm phạm của cơ quan nhà nước cấp cao, ở nhiều nước còn là của các đảng phái chính trị

1.3.2 Mô hình cơ quan bảo hiến

Cơ quan chuyên trách bảo hiến là một thiết chế quyền lực nhà nước đặc biệt, hình thành ở những nước mà các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân công tương đối rõ rệt Mô hình này còn được xác định là mô hình bảo hiến tập trung Theo mô hình này, chức năng phán quyết về những vi phạm Hiến pháp được trao cho một cơ quan chuyên trách là Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng Hiến pháp Cơ quan này tồn tại độc lập với cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Thẩm quyền của cơ quan này là xem xét và ra phán quyết về tính hợp hiến của các đạo luật và điều ước quốc tế; giải quyết các khiếu kiện về Hiến pháp; giải thích Hiến pháp; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền giữa các nhánh quyền lực, giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, các tranh chấp liên quan đến kết quả bầu cử, các khiếu nại

về trưng cầu ý dân; luận tội nguyên thủ quốc gia và các quan chức cao cấp khác của nhà nước khi có hành vi vi hiến…

Mỹ là quốc gia đầu tiên xác lập quyền giám sát Hiến pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án tư pháp và đã xây dựng mô hình cơ quan bảo hiến riêng Do

đó, mô hình này còn được gọi là mô hình kiểu Mỹ hay mô hình bảo hiến phi tập trung Nguyên lý của mô hình này là vi phạm Hiến pháp cũng như vi phạm pháp luật thông thường khác cần được Tòa án tư pháp phán xét theo quy trình tố tụng Trong mô hình này , thẩm quyền giám sát Hiến pháp được giao cho các Tòa án có thẩm quyền chung thực hiê ̣n Theo đó, bất kỳ Tòa án nào cũng có thể ra phán quyết về tính hợp hiến của các đạo lu ật Hoạt động bảo hiến gắn liền với việc giải quyết các vụ việc cụ thể tại Tòa án Tư tưởng tam quyền phân lâ ̣p chính là nguồn gốc cho sự hình thành mô hình bảo hiến kiểu Mỹ, nên phần lớn các quốc gia áp du ̣ng triê ̣t đ ể học thuyết tam quyền phân lâ ̣p đều lựa cho ̣n mô hình bảo hiến này

Trang 22

Mô hình kết hợp những yếu tố của hai mô hình bảo hiến bằng cơ quan chuyên trách và bảo hiến bằng Tòa án tư pháp Ở các nước áp dụng

mô hình này , thẩm q uyền bảo hiến được trao cho cả cơ quan bảo hiến

chuyên trách và Tòa án thuô ̣c hê ̣ thống tư pháp Cơ quan chuyên trách có chức năng bảo hiến (Tòa án Hiến pháp ) và Tòa án tối cao có thẩm quyền đối với những vu ̣ viê ̣c cu ̣ thể đư ợc quy định trong Hiến pháp , đồng thời các Tòa án khác khi giải quyết một vụ việc cụ thể có quyền xem xét tính hợp hiến của các đa ̣o luâ ̣t và được quyền không áp du ̣ng các đa ̣o luâ ̣t được xác định là không phù hợp với Hiến p háp

Khác với nhiều nước trên thế giới, bảo hiến ở nước ta không giao cho một cơ quan chuyên trách có chức năng bảo vệ Hiến pháp hoặc giao cho Tòa

án tư pháp mà giao cho nhiều cơ quan nhà nước, nhiều người giữ những chức

vụ nhất định Những quy định hiện hành về bảo hiến ở Việt Nam hiện nay thì chủ thể thực hiện hoạt động bảo hiến bao gồm:

- Cơ quan quyền lực nhà nước : Quốc hội, Ủy ban thườ ng vu ̣ Quốc hô ̣i,

Hô ̣i đồng dân tô ̣c và các Ủy ban thuô ̣c Quốc hô ̣i, Hội đồng nhân dân;

- Cơ quan hành chính nhà nước: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ , Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp;

- Cơ quan tư pháp : Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Bảo vệ Hiến pháp bằng chế định Chủ tịch nước

Về nội dung hoạt động bảo hiến ở Việt Nam bao gồm các hoạt động:

- Giải thích Hiến pháp: giải thích Hiến pháp là giải thích quy phạm mang tính quyền lực nhà nước và có tính chất bắt buộc đối với những đối tượng nhất định Quy định trong văn bản giải thích Hiến pháp có thể được đặt

ra trong trường hợp quy định của Hiến pháp không được hiểu một cách thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật hoặc có sự xung đột giữa các quy phạm pháp luật với nhau Để cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị và mọi công

Trang 23

dân tôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp, bên cạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để công dân tự nguyện chấp hành, xử lý nghiêm minh hành vi vi phạm thì việc giải thích Hiến pháp để có cách hiểu và

áp dụng Hiến pháp một cách thống nhất có ‎ ý nghĩa rất quan tro ̣ng

Theo quy đi ̣nh tại Điều 74 Hiến pháp 2013 và Luật tổ chức Quốc hội , thẩm quyền giải thích Hiến pháp thuô ̣c về Ủy ban thường vu ̣ Quốc hội , cơ quan thường trực của Quốc hội

- Giám sát, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật , bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp, đảm bảo sự đồng bô ̣, thống nhất của hê ̣ thống pháp luâ ̣t

Theo quy đi ̣nh hiê ̣n hành , thẩm quyền giám sát , kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật như sau:

Quốc hô ̣i thực hiê ̣n quyền giám sát tối cao đối với văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban thường vu ̣ Quốc hội , Chủ tịch nước , Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bô ̣ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ , Tòa án nhân dân tối cao, Viê ̣n kiểm sát nhân dân tối cao , văn bản quy phạm pháp luật liên ti ̣ch giữa các chủ thể có thẩm quyền , văn bản quy phạm pháp luật của Hô ̣i đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân;

Ủy ban thường vụ Quốc hội có quyền: Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên

Hô ̣i đồng dân tô ̣c, các Ủy ban của Quốc hội giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ , Thủ tướng Chính phủ , Bô ̣ trưởng, Thủ trưởng cơ

Trang 24

quan ngang bô ̣ , văn bản quy phạm pháp luật liên ti ̣ch giữa các chủ thể có thẩm quyền Ủy ban pháp luật của Quốc hội còn giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, Viê ̣n kiểm sát nhân dân tối cao;

Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các bộ , cơ quan ngang bô ̣, Hô ̣i đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

Bô ̣ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của các bô ̣, cơ quan ngang bô ̣, Hô ̣i đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về những nô ̣i dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực mình phụ trách;

Hô ̣i đồng nhân dân, Thường trực Hô ̣i đồng nhân dân, đa ̣i biểu Hô ̣i đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân , Chủ tịch Ủy ban nhân dân trong phạm vi nhiệm

vụ, quyền ha ̣n của mình giám sát , kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của

Hô ̣i đồng nhân dân , Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp ; Hô ̣i đồng nhân dân giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp

Viê ̣c kiểm tra, giám sát văn bản quy phạm pháp luật , bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hê ̣ thống pháp luâ ̣t

Trước khi công bố pháp lê ̣nh , nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh , nghị quyết trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày pháp lê ̣nh , nghị quyết được thông qua Trong trường hợp này, Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến ; nếu Ủy ban thường vu ̣ Quốc hội không nhất trí với ý kiến của Chủ ti ̣ch nước thì trình Quốc hội quyết đi ̣nh ta ̣i kỳ họp gần nhất

Viê ̣c giám sát , kiểm tra được thực hiê ̣n đối với cả các văn bản quy phạm pháp luật đã có hiê ̣u lực

Về chủ thể có quyền yêu cầu bảo vệ Hiến pháp: Khi phát hiện vi phạm

Hiến pháp, theo quy định hiện nay chỉ một số chủ thể có thẩm quyền mới có quyền yêu cầu việc bảo hiến

Trang 25

Thủ tục bảo hiến: Thông qua hoa ̣t đô ̣ng giám sát , kiểm tra, tự kiểm tra

của cơ quan công quyền và hoạt động kiểm tra việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Như vâ ̣y, xét dưới góc đô ̣ pháp lý hoạt động bảo hiến ở Việt Nam có

mô ̣t số đă ̣c điểm sau:

Một là, thẩm quyền bảo hiến được giao cho nhiều cơ quan cùng thực

hiện, hình thành cơ chế bảo hiến phi tập trung;

Hai là, hoạt động bảo hiến thực hiện thông qua các hoạt động giám sát,

kiểm tra, tự kiểm tra của các chủ thể có thẩm quyền; khi phát hiện có hành vi

vi phạm Hiến pháp, các chủ thể này tự mình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý;

Ba là, hoạt động bảo hiến chủ yếu ở Việt Nam là xem xét và bảo đảm

tính hợp hiến, hợp pháp và tính đồng bộ thống nhất của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Như vậy, đối chiếu với khái niệm về bảo hiến thì về mặt nội dung bảo hiến của Việt Nam hiện nay vẫn còn bỏ trống:

Một là , bảo đảm tính tối thượng của Hiến pháp đối với văn bản do

Quốc hội ban hành;

Hai là, bảo đảm trật tự của Hiến pháp trong vấn đề phân công thực hiện

quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;

Ba là, giám sát hoạt động của cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân; Bốn là, cụ thể hóa các quy đi ̣nh của Hiến pháp để thống nhất thực hiện

trên thực tế

1.3.3 Cơ chế bảo vệ Hiến pháp

Theo nghĩa rộng, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là toàn bộ những yếu tố, phương tiện, phương cách và biện pháp nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn

trọng, chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp có thể xảy ra “Với nghĩa hẹp, cơ chế bảo vệ Hiến pháp là một thiết chế được tổ chức và hoạt động theo những nguyên

Trang 26

tắc và quy định của pháp luật, để thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm cho Hiến pháp được tôn trọng, chống lại mọi sự vi phạm có thể xảy ra” [17]

Như vậy, có thể hiểu cơ chế bảo vệ Hiến pháp là một tổng thể các yếu

tố có quan hệ mật thiết, tương tác lẫn nhau, hình thành một hệ thống và phương thức vận hành của hệ thống đó để tiến hành hoạt động bảo vệ Hiến pháp, nhằm bảo đảm sự tôn trọng, giữ gìn Hiến pháp, ngăn ngừa và chống lại mọi hành vi vi phạm Hiến pháp

Cơ chế bảo vệ Hiến pháp bao gồm các yếu tố: thể chế, thiết chế và phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp

Thể chế bảo vệ Hiến pháp: thể chế bảo vệ Hiến pháp là các nguyên tắc, quy phạm được sắp xếp một cách logic, hợp thành một hệ thống thống nhất, định hướng và điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo vệ Hiến pháp

Thiết chế bảo vệ Hiến pháp: là việc các cơ quan nhà nước, cá nhân được Hiến pháp quy định nhiệm vụ và quyền hạn tiến hành các hoạt động bảo

vệ Hiến pháp Việc tổ chức các thiết chế bảo vệ Hiến pháp phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống pháp lý của mỗi nước

Phương thức vận hành của cơ chế bảo vệ Hiến pháp: để thiết chế bảo

vệ hiến pháp hoạt động và thể chế bảo vệ Hiến pháp được thực thi, phải có phương thức vận hành Phương thức vận hành cơ chế bảo vệ Hiến pháp tồn tại song song với thiết chế và thể chế bảo vệ Hiến pháp Trong cơ chế bảo vệ Hiến pháp, thể chế và thiết chế là những yếu tố thuộc diện cấu trúc, còn nguyên tắc và phương thức hoạt động thể hiện mối quan hệ và quy trình vận hành Như vậy, phương thức vận hành là phương pháp, hình thức, biện pháp thực hiện hoạt động bảo vệ Hiến pháp của thiết chế được giao thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Hiến pháp là một đạo luật cơ bản của quốc gia , do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành, quy định việc tổ chức bô ̣ máy nhà nước , cơ cấu, thẩm quyền các cơ quan nhà nước và quyền , nghĩa vụ cơ bản của công dân , được coi là có giá trị pháp lý cao nhất

Vi phạm Hiến pháp là hành vi trái Hiến pháp, xâm phạm đến các quan

hệ xã hội được Hiến pháp bảo vệ do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Có hai dạng vi phạm Hiến pháp thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động

Bảo hiến là toàn bộ những yếu tố , cách thức, biện pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp Theo nghĩa hẹp bảo hiến thường gắn với việc cơ quan có thẩm quyền phán xét và ra quyết định về sự phù hợp với Hiến pháp của các đạo luật do cơ quan lập pháp

và các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan hành pháp ban hành, đồng thời

ra phán quyết đối với các hành vi vi phạm Hiến pháp của các cơ quan nhà nước và các cá nhân được Hiến pháp quy định quyền và nghĩa vụ Thẩm quyền phán quyết này được quy định trong Hiến pháp , nhằm bảo đảm cho Hiến pháp trở thành đạo luật có hiệu lực tối cao trong hệ thống pháp luật

Nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật cũng như trong đời sống xã hội, mỗi quốc gia đều xây dựng mô ̣t mô hình bảo hiến phù hợp với điều kiê ̣n chính tri ̣, kinh tế, văn hóa, xã hội và truyền thống của mình Tuy nhiên, về tổng thể các mô hình bảo hiến đều xác đi ̣nh pha ̣m vi thẩm quyền của cơ quan bảo hiến bao gồm các hoạt động cơ bản như:

- Giải thích Hiến pháp nhằm bảo đảm cho các nguyên tắc, quy định của Hiến pháp được nhận thức đầy đủ, thống nhất;

- Giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, văn bản dưới luật, điều ước

Trang 28

quốc tế nhằm đảm bảo cho quy định của các văn bản này phù hợp và không được mâu thuẫn với các nguyên tắc và những quy định của Hiến pháp;

- Giải quyết mâu thuẫn về thẩm quyền giữa các cơ quan cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp), bảo đảm sự phối hợp và cân bằng quyền lực nhà nước, bảo đảm việc thực hiện quyền và trách nhiệm của các cơ quan công quyền không được vượt quá khuôn khổ mà Hiến pháp đã đặt ra;

- Bảo vệ Hiến pháp khỏi sự xâm phạm của các đảng phái chính trị Trên thực tế, tùy vào từng mô hình, cách thức áp dụng và điều kiện chính trị - xã hội của mỗi nước mà cơ quan bảo hiến ở mỗi nước được giao một phần, toàn bộ hoặc được trao một số thẩm quyền khác ngoài những

quyền hạn và trách nhiệm nêu trên

Trang 29

Chương 2

THỰC TRẠNG CƠ CHẾ BẢO VỆ HIẾN PHÁP

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Chủ thể vi phạm Hiến pháp ở Việt Nam

Hiến pháp với tư cách là đạo luật cơ bản của có hiệu lực pháp lý tối cao được làm ra, được thông qua không phải cho nhân dân thực hiện Người thực hiện chính, chủ thể thực thực hiện chính là các cơ quan nhà nước thông qua các cán bộ, công chức của nhà nước Cơ quan nhà nước, cá nhân trong thành phần các cơ quan nhà nước càng cao bao nhiêu thì càng phải có trách nhiệm tuân thủ Hiến pháp bấy nhiêu

Những người dân bình thường không có khả năng vi phạm Hiến pháp Một khi Hiến pháp được thi hành nghiêm chỉnh thì người dân chỉ được lợi mà thôi, không có điều ngược lại Bởi lẽ đối tượng điều chỉnh ở nghĩa hẹp nhất của Hiến pháp là giới hạn quyền lực nhà nước Điều này cũng là dễ hiểu, vì bản thân sự hiện diện của một bản Hiến pháp thành văn và sự đòi hỏi việc tuân thủ bản Hiến pháp này đã bao hàm sự giới hạn quyền lực nhà nước Cũng như những đạo luật khác, sự hiện diện của nó đã đòi hỏi một sự tuân thủ Nếu không có sự tuân thủ thì cũng chẳng cần đến việc chuẩn bị, việc thảo luận, rồi thông qua chúng Đúng như trong tác phẩm chuyên luận về Những

nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền đã nhận định: “Trong tất cả mọi thời đại, các nhà lãnh đạo trong một nền dân chủ hợp hiến hành động trong phạm

vi mà pháp quyền quy định và chế ước quyền lực của họ” [25]

Trong khi đó quan chức nhà nước cũng là những con người mà không phải thiên thần, bên cạnh những có đức tính vị tha, hoàn hảo, con người còn

có lòng vị kỷ, và cố chấp cùng những tham lam Khi tiếp cận với quyền lực nhà nước, người phương Tây luôn cho rằng con người có bản tính ác, với

Trang 30

nhưng biểu hiện như trên, phải kìm chế bản bản tính này của con người khi họ

có quyền lực nhà nước Đó là lý do cho sự ra đời của Hiến pháp Từ chỗ quyền lực nhà nước thuộc về nhà vua không bị bất cứ một ràng buộc nào đến chỗ có một bản hiến pháp thành văn quy định sự hạn chế quyền lực nhà nước

là cả một bước tiến của phương Tây

Ngược lại, Lâm Ngữ Đường, một nhà nghiên cứu văn hoá Trung Quốc

rất nổi tiếng, trong tác phẩm nổi tiếng “My country and my people,”cho rằng,

một bản hiến pháp là phải có quy định ngăn ngừa bản tính xấu vốn có của con người cầm quyền lực nhà nước không hề có ở phương Đông Ông viết:

Theo tiêu chuẩn quốc gia, nền chính trị của chúng ta (Trung Quốc) có những đặc điểm rõ ràng là thiếu một hiến pháp và thiếu quan niệm về quyền lợi của công dân Những đặc điểm đó mà tồn tại là do nền triết lý chính trị và một tình trạng đặc thù vậy Một triết lý dung hoà đạo đức khác hẳn với một triết lý hiệu lực Nền triết lý pha trộn đạo đức vào chính trị tạo ra một khái niệm căn bản của hiến pháp trong đó đã dự định bọn người thống trị có thể trở nên những người đồi bại; nếu họ lạm dụng quyền lực làm tổn hại đến quyền lợi của chúng ta, lúc đó ta có thể trông cậy vào hiến pháp làm vũ khí để bảo vệ quyền lợi của mình Khái niệm đối với Chính phủ của người Trung Quốc khác hẳn với khái niệm dự đoán nói trên Họ chỉ biết rằng Chính phủ là cha mẹ của dân, có thể gọi nó là phụ mẫu chính phủ” hay “Chính phủ hiền năng” Cái Chính phủ soi xét đến quyền lợi của người dân hệt như cha mẹ lo liệu cho con cái vậy Vì thế, nhân dân ta (Trung Quốc) lấy quyền “tiện nghi hành sự” (tuỳ ý nên làm sao làm vậy) giao phó cho chính phủ, lại còn cho một tín nhiệm vô thời hạn nữa[9]

Trang 31

Trong Báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1997 dưới tiêu đề: “Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi” không những chỉ ra nhận định tương tự, mà còn đưa ra cách thức để chế ước những khuyết tật của nhà nước:

Một nhà nước hoạt động có hiệu quả có thể đóng góp rất nhiều cho sự phát triển bền vững và giảm đói nghèo Nhưng chẳng

có đảm bảo nào cho rằng mọi can thiệp của nhà nước đều sẽ mang lại lợi ích cho xã hội Độc quyền của nhà nước về cưỡng chế, cái mang lại cho nhà nước quyền lực can thiệp một cách có hiệu lực vào hoạt động kinh tế, cũng mang lại cho nhà nước quyền can thiệp một cách độc đoán chuyên quyền Quyền lực này, cộng với việc thâm nhập nguồn thông tin, mà dân chúng bình thường không có được, tạo ra những cơ hội cho các công chức xúc tiến những lợi ích của riêng họ hay những bạn bè hoặc đồng minh của họ, làm thiệt hại cho lợi ích chung Những khả năng kiếm lợi và tham nhũng là rất lớn Do đó, các nước phải cố gắng thiết lập và nuôi dưỡng những cơ chế mang lại cho các cơ quan nhà nước sự mềm dẻo và sự khuyến khích để hoạt động vì lợi ích chung, đồng thời kiềm chế những hành vi độc đoán tham nhũng trong cách cư xử với các doanh nghiệp và công dân [13]

Những cơ chế này chính là những quy định chế ước quyền lực trong pháp luật mỗi quốc gia, mà trước hết là phải nói đến Hiến pháp Tất cả những

nhận định đó được gọi là Chủ nghĩa Hiến pháp (Constitutionalism), mà cốt lõi

là sự giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ nhân quyền, là một phần hoặc

tương đương với học thuyết nhà nước pháp quyền (The Rule of Law)

Với vị trí địa lý thuộc phương Đông, cả một thời gian dài của lịch sử phong kiến phụ thuộc Trung Quốc, và sau đấy của chế độ thực dân nửa phong kiến, Việt Nam không có Hiến pháp, mãi sau này của Nhà nước dân chủ nhân

Trang 32

dân, rồi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa mới có Hiến pháp, nhưng với sự ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Trung Quốc, cũng gần như vậy ở chế độ xã hội chủ nghĩa tập trung ở Việt Nam, mặc dù đã có Hiến pháp, nhưng lại ít chú trọng đến việc thực thi Hiến pháp Vì vậy, việc nghiên cứu, phân tích các hành vi vi phạm Hiến pháp không được đặt ra Không nhưng thế một trong những lý do quan trọng từ lâu nay trong nhận thức của chúng ta những lầm tưởng rằng Hiến pháp cũng như các đạo luật thường khác được ban hành ra chỉ để cho nhân dân phải thực hiện Nhận thức phổ biến này được minh chứng

bằng biểu hiện của câu khẩu hiệu nói ở trên: Toàn Đảng, Toàn dân nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật

Thứ đến là cũng từ lâu nay, từ các giới chức cho đến người dân, đều có một hiểu biết không đúng cho rằng, Hiến pháp là đạo luật tối cao chỉ tập trung quy định những nguyên tắc chung, mà muốn cho những quy định chung này thực hiện cần phải được cụ thể hoá bằng các đạo luật

Trong khi các hành vi vi hiến không phải là không có, hoạt động bảo hiến ở Việt Nam chỉ được hiểu và quy định ở nghĩa rộng bao gồm các hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước cấp trên đối với các cơ nhà nước cấp dưới và cho đến tận hành vi tuân thủ Hiến pháp của các công dân Càng thấp bao nhiêu càng có khả năng vi phạm hiến pháp bấy nhiêu, theo nguyên tắc

của chế độ phong kiến xưa kia:“Hình phạt không đến đại phu và lễ nhạc không thể đến kẻ thứ dân” Cuối cùng, Hiến pháp giao cho Quốc hội được

quyền giám sát tối cao đối với các hoạt động tuân thủ Hiến pháp của mọi cơ quan nhà nước

Việc quy định chế độ bảo hiến theo chiều đi xuống như ở phần trên đã nêu là một điều phi lý, vì chính Quốc hội mới là chủ thể có nguy cơ cao nhất cho việc vi phạm Hiến pháp Thứ đến là các cơ quan hành pháp mà đứng đầu

là Thủ tướng Chính phủ trong danh sách các chủ thể vi phạm Hiến pháp Như

Trang 33

trên đã phân tích, khác với những đạo luật bình thường, sự vi phạm các quy định của Hiến pháp chỉ có những chủ thể nắm quyền lực nhà nước, càng cao bao nhiêu càng có khả năng vi phạm Hiến pháp bấy nhiêu

Nhà nước có trách nhiệm giải phóng tôi khỏi sự nô lệ của người hàng xóm, thì cũng có khả năng nô lệ hóa tôi Khả năng vi phạm hiến pháp nằm ngay trong trách nhiệm thi hành Hiến pháp Nhà nước không phải là những thiên thần bao giờ cũng đúng Họ có hai việc cần phải làm song song với nhau

theo cách nói của J Madisson: “một là Chính phủ phải quản lý được người

Vì vậy, việc vi phạm Hiến pháp trước hết phải kể đến cơ quan Quốc hội – lập pháp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ – hành pháp; cơ quan Chính phủ – bộ và các cơ quan ngang bộ và cơ quan Tòa án – tư pháp Người dân chỉ có thể vi phạm luật và pháp luật, mà không có cơ hội cho việc vi phạm Hiến pháp Ví dụ một hành vi giết người, tức là hành vi xâm phạm quy định của Bộ luật Hình sự do Quốc hội – lập pháp ban hành, mà không xâm phạm tới các mối quan hệ được quy định trọng Hiến pháp Đó là hành vi vi phạm pháp luật – vi pháp, mà không phải là hành vi vi hiến Nếu như có chăng chỉ là hành

vi vi phạm gián tiếp các quy định của Hiến pháp: Quyền được bảo vệ mạng sống – quyền được sống của con người được Hiến pháp bảo vệ

Hoạt động bảo hiến, hay cụ thể hơn ở nghĩa hẹp là hoạt động tài phán Hiến pháp phần nhiều tập trung vào hoạt động lập pháp của Quốc hội, tức là hoạt động ban hành các văn bản luật mẫu thuẫn với Hiến pháp Đáng tiếc là Hiến pháp trước đây và Hiến pháp 2013 hiện nay của Việt Nam lại giao nhiệm vụ giám sát việc tuân thủ Hiến pháp cho rất nhiều chủ thể: Từ Ủy ban nhân dân cấp cơ sở cho đến cuối cùng cao nhất và nặng nề nhất là Quốc hội

Theo Hiến pháp 1992 quy định thẩm quyền của Quốc hội: “Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng

Trang 34

Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” [14] Nhưng trên thực tế, thẩm

quyền này chưa lần nào được Quốc hội thực hiện, do nhiều nguyên nhân

Thứ nhất, quá trình soạn thảo, thông qua các dự án luật, pháp lệnh tại Quốc hội, theo quy định của luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008, cần phải đảm bảo triệt để tính hợp hiến và hợp pháp trong toàn bộ quá trình soạn thảo, thông qua các dự án luật, pháp lệnh trước khi chính thức ban hành Nhưng những dự án luật, pháp lệnh trên được Quốc hội thông qua, thì khâu giám sát các dự thảo luật, pháp lệnh có vấn đề

Để đảm bảo tính hợp hiến trong nội dung văn bản khi ban hành, tránh tình trạng có sự mâu thuẫn, chồng chéo với các văn bản pháp luật của

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và các văn bản do cơ quan nhà nước khác ban hành, lại vừa đảm bảo tính khả thi của các văn bản này trong đời sống xã hội Với ý nghĩa như vậy, thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của các dự thảo luật, pháp lệnh được trao cho Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thực hiện Song khi phát hiện có dấu hiệu vi hiến trong nội dung các dự án luật, pháp lệnh các cơ quan này lại không có thẩm quyền

xử lý như buộc các chủ thể đã soạn thảo ra dự thảo luật, pháp lệnh phải sửa đổi nội dung văn bản cho phù hợp với các quy định của Hiến pháp mà chỉ

có quyền kiến nghị, báo cáo lên Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội

về tính hợp hiến của văn bản Đây chính là điểm kém ưu việt trong công tác kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản pháp luật nước ta so với thiết chế bảo hiến chuyên trách ở các nước trên thế giới Khi phát hiện nội dung các văn bản pháp luật chứa đựng những dấu hiệu trái với các quy định của Hiến pháp, thiết chế bảo hiến chuyên trách các nước sẽ ra phán quyết buộc các chủ thể phải sửa đổi nội dung văn bản cho phù hợp với Hiến pháp, kịp thời xử lý trước khi văn bản được ban hành mà không cần phải

Trang 35

báo cáo hay chờ đợi phương án xử lý từ bất kỳ chủ thể nào Phương án xử

lý những văn bản vi hiến này hiện vẫn còn là vấn đề bỏ ngỏ, cả lý luận, thực tiễn và quy định pháp luật đều không đề cập đến

Thứ hai, Quốc hội có trách nhiệm giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh

và giao nhiệm vụ cho Ủy ban thường vụ Quốc hội thực hiện, nhưng thực sự vẫn chưa đạt được hiệu quả cao Việc giải thích Hiến pháp có tác dụng đảm bảo sự thống nhất, ổn định trong cách hiểu về nội dung các quy định của Hiến pháp, là cơ sở để viện dẫn, áp dụng các quy phạm Hiến pháp một cách đúng đắn, hợp lý, đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng để bảo vệ sự toàn vẹn, bất khả xâm phạm của Hiến pháp Nhưng công tác giải thích Hiến pháp và pháp luật ở nước ta lại được thực hiện một cách rất hời hợt nếu không muốn nói là yếu kém và hầu như không được chú trọng Bằng chứng là trong thời gian qua, Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan được trao thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh nhưng thực tế cho thấy, cơ quan này hiếm khi sử dụng thẩm quyền này vì nhiều lý do khác nhau Trong số các lý do đó, sự quá tải về số lượng công việc mà Ủy ban thường vụ Quốc hội phải đảm nhiệm cộng thêm sự thiếu hụt nhân sự có trình độ chuyên môn pháp lý là những nguyên nhân chính dẫn đến vai trò giải thích Hiến pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội có phần bị xao nhãng và hoạt động giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh bị lu mờ so với các hoạt động bảo hiến khác

Có thể đánh giá khái quát các dạng vi phạm Hiến pháp của Quốc hội qua những ví dụ dưới đây:

Hiến pháp 1980 quy định việc khám, chữa bệnh không mất tiền, nhưng Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 lại quy định người bệnh phải nộp tiền viện phí

Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định:

Quyền và nghĩa vụ của người dân do Hiến pháp và Luật quy

Trang 36

định Theo quy định này, các văn bản dưới luật không được quy định về nghĩa vụ hoặc quy định hạn chế quyền của người dân Nhưng trên thực tế vì lý do cần đáp ứng ki ̣p thời c ác yêu cầu về quản lý Nhà nước và xã hội nên Quốc hội vẫn giao Ủy ban thường

vụ Quốc hội ban hành một số pháp lệnh quy định về quyền và nghĩa

vụ của công dân như Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích ngày 16-6-1995; Pháp lện h tín ngưỡng , tôn giáo ngày 12-7-2004; Pháp

lê ̣nh về hàm , cấp ngoa ̣i giao ngày 12-6-1995 và đặc biệt là Pháp

lê ̣nh xử lý vi pha ̣m hành chính… Khoản 4 Điều 84 của Hiến pháp năm 1992 xác định Quốc hội có nhiệm vụ "quy đi ̣nh, sửa đổi hoă ̣c bãi bỏ các thứ thuế " Tuy nhiên , Quốc hội vẫn giao cho Ủy ban thường vu ̣ Quốc hội ban hành pháp lê ̣nh để quy đi ̣nh mô ̣t số thứ thuế như Pháp lê ̣nh thuế nhà , đất ngày 31-7-1992; Pháp lệnh thuế bổ sung đối với hô ̣ gia đình sử du ̣ng đất nông nghiê ̣p vượt quá ha ̣n mức diê ̣n tích ngày 29-3-1994; Pháp lệnh thuế tài nguyên ngày 16-4-1998 Nhiều ý kiến không đồng ý cách uỷ quyền này và cho rằng đây là một dạng vi phạm Hiến pháp, vì Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể thay thế vị trí của Quốc hội để quy định những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền cơ bản của người dân [18]

Hiến pháp năm 1992 quy định rất nhiều điều khoản phải có sự ban hành luật để thực thi, nhưng mãi cho đến hiện nay gần 20 năm bản Hiến pháp có hiệu lực nhưng những văn luật phải ban hành vẫn cho có dự thảo Điều 69 Hiến pháp 1992 quy định: Người dân có quyền lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật Cho đến nay vẫn chưa có Luật Biểu tình

Ủy ban pháp luật của Quốc hội khóa XI cho rằng dự án Luật kiểm toán Nhà nước có nhiều nội dung vi hiến, cụ thể như Quốc hội thành lập cơ quan kiểm toán nhà nước, bầu Tổng kiểm toán là những quyền không được Hiến

Trang 37

pháp 1992 giao cho Quốc hội, chỉ đến Hiến pháp 2013 mới giao cho Quốc hội những quyền này Nhưng do không có cơ chế bảo hiến chuyên trách như ở nhiều nước khác trên thế giới, nên Luật kiểm toán Nhà nước vẫn được Quốc hội khóa XI thông qua tại Kỳ họp thứ 7, ngày 14/6/2005

Điều 19 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và các Điều 16, 49 Luật

tổ chức Quốc hội năm 2001 (được sửa đổi bổ sung năm 2007) quy định về việc chất vấn và trả lời chất vấn tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội

là trái với Điều 98 Hiến pháp 1992

Nghị quyết số 26/2008/QH12 ngày 15/11/2008 của Quốc hội khóa XII về thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường cũng là một hoạt động vi hiến vì trái với quy định tại Điều 18 và Điều 123 Hiến pháp 1992

Hiến pháp 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2013, đến nay gần hai năm nhưng để triển khai Hiến pháp 2013, các cơ quan nhà nước phải hoàn thiện 29 luật về tổ chức bộ máy nhà nước, luật về tổ chức Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân… Liên quan trực tiếp quyền con người cũng có 12 luật cần xây dựng, đều là những dự luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc như Luật Lập hội, Luật Trưng cầu dân ý, Luật Biểu tình…

Những vấn đề này lẽ ra phải được thiết kế, soạn thảo và phải được thông qua cùng với việc thông qua Hiến pháp 2013, nhưng đến nay nhất là đối với các luật về tổ chức của các cơ quan nhà nước ở trung ương chưa được thông qua vẫn chưa có vấn đề gì, chưa thấy ai đề cập đến trách nhiệm của Quốc hội đã không thực hiện đúng quy định của Hiến pháp 2013 Thực tế cũng cho thấy, một số quyền con người, quyền công dân cho đến hôm nay còn đang bị "treo" hoặc bị chậm cụ thể hóa, một phần do chưa được đưa vào chương trình xây dựng luật của Quốc hội và một phần do lỗi của các cơ quan chuẩn bị dự án luật, trình lên chưa bảo đảm tính khả thi, chậm tiến độ, nhưng lỗi chính vẫn thuộc về Quốc hội - cơ quan duy nhất có quyền làm luật

Trang 38

Chủ tịch nước theo quy định của Hiến pháp có quyền: “quyết định phong hàm, cấp sỹ quan cao cấp trong lực lượng vũ trang ” Tuy nhiên, theo quy định của Luật sỹ quan Quân đội nhân dân và Luật Công an nhân dân thì Chủ tịch nước được phong hàm cấp từ thượng tướng, đô đốc hải quân trở lên Như vậy hai luật này đã hạn chế quyền của Chủ tịch nước trong việc phong hàm cấp cho sỹ quan cao cấp trong lực lượng vũ trang Hiến pháp 1992 quy định cho Chủ tịch nước có quyền đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về các vấn đề quy định tại điểm 8 và điểm 9, Điều 91 trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua, tuy nhiên có nhiều pháp lệnh còn

vi hiến nhưng chưa thấy Chủ tịch nước thực hiện quyền này Điều 103 Hiến pháp 1992 chỉ quy định Chủ tịch nước có quyền đặc xá, tuy nhiên Bộ luật Tố tụng hình sự quy định quyền của Chủ tịch nước được ân xá cho người bị kết

án tử hình, trên thực tế Chủ tịch nước thực hiện quyền này nhiều lần, như vậy Chủ tịch nước đang thực hiện quyền do đạo luật dưới Hiến pháp quy định, chứ trong quy định của Hiến pháp không có

Trong hoạt động hành pháp, không tuân thủ Hiến pháp được biểu hiện dưới hai hình thức chủ yếu: ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật có nội dung trái với Hiến pháp về các quyền cơ bản của người dân; và việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, của

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ không đúng nguyên tắc Hiến pháp, không đúng chức năng, thẩm quyền đã được Hiến pháp quy định

Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định: “Quyền và nghĩa vụ của công dân

do Hiến pháp và luật quy định” [18] Vì vậy, xét theo quy định này thì các

văn bản dưới luật không được quy định mới về nghĩa vụ hoặc quy định hạn chế quyền của công dân so với quy định của luật Tuy nhiên, trong thực tế xây dựng văn bản pháp luật trong lĩnh vực pháp luật dân sự - kinh tế, nguyên tắc

Trang 39

này chưa được bảo đảm thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để Một trong

số những nguyên nhân gây nên tình trạng này là chưa có sự thống nhất trong quan niệm về nội dung nguyên tắc mà Hiến pháp đã đặt ra Trong quá trình soạn thảo văn bản, việc tranh cãi về việc có quy định mới về quyền và nghĩa

vụ của công dân hay không là điều không đơn giản Trong lĩnh vực kinh doanh, tình trạng các văn bản dưới luật quy định điều kiện kinh doanh, đặt ra các loại “giấy phép con”, không dựa trên quy định của luật làm hạn chế quyền

tự do kinh doanh của công dân chính là một biểu hiện vi phạm nguyên tắc về thẩm quyền ban hành văn bản quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân đã được Hiến pháp quy định Chính vì vậy, Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005

đã quy định: “Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp không được quy định về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh”

Đối với các Quyết định số 16/2007/QĐ-BGTVT, số BGTVT ngày 26/3/2007 của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn thực hiện Nghị định số 110/2006/NĐ-CP ngày 28/9/2006 của Chính phủ về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô, đang được đánh giá có dấu hiệu vi hiến rõ nét Trong khi Luật Giao thông đường bộ và Nghị định số 110/2006/NĐ-CP không quy định thì các Quyết định số 16, 17/2007/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải đã đặt thêm một điều kiện mới cho các hợp tác xã kinh doanh vận tải, như: chỉ được sử dụng xe của hợp tác xã hoặc thuê của một tổ chức cho thuê khác Quy định này buộc các xã viên hợp tác xã phải chuyển quyền sở hữu xe của mình cho hợp tác xã thì mới đủ điều kiện kinh doanh Như vậy là quy định này của Bộ Giao thông Vận tải đã đặt ra một hạn chế mới về quyền kinh doanh vận tải, trong khi Luật Giao thông đường bộ không có quy định về vấn

17/2007/QĐ-đề này Đây có thể coi là một biểu hiện của vi phạm Hiến pháp về thẩm quyền quy định hạn chế quyền tự do kinh doanh của công dân

Trang 40

Điều 84 Hiến pháp năm 1992 quy định Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền: “quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế” Điều đó có nghĩa việc quy định mới các loại thuế, phí phải do văn bản luật hoặc các văn bản pháp luật khác do Quốc hội ban hành quy định; các văn bản dưới luật không được quy định thêm bất kỳ loại thuế, phí nào Tuy nhiên, trong thực tiễn nguyên tắc này không được bảo đảm thực hiện Trước khi ban hành Pháp lệnh phí, lệ phí thì việc các bộ, ngành, địa phương tuỳ tiện đặt ra các loại phí, lệ phí là một tình trạng xảy ra khá phổ biến

Điều 68 Hiến pháp năm 1992 quy định “Công dân có quyền tự do đi lại

và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật” Nghị quyết số 23/2011/NQ-HĐND ngày 24-12-2011 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành (có hiệu lực năm 2012)

về những giải pháp phát triển kinh tế xã hội năm 2012, trong đó có quy định tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê, mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án, tiền sự… nội dung này đã vi phạm quy định của Hiến pháp

Thực tiễn nước ta những năm qua có những Thông tư của Bộ trưởng, Nghị định của Chính phủ, Luật của Quốc hội không phù hợp, thậm chí trái với các quy định của Hiến pháp nhưng không có cơ quan nào có ý kiến gì, coi

đó là chuyện bình thường như một lẽ đương nhiên, nhất là khi các văn bản này "có lợi cho quốc kế, dân sinh", với cách nghĩ "cái gì có lợi cho dân, cho nước thì kiên quyết làm" Ví dụ:

+ Nghị định số 27-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ)

ngày 9-3-1988 "Về kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải" đã thừa nhận thành phần kinh tế tư nhân, công

nhận hình thức sở hữu tư nhân, trong khi Hiến pháp năm 1980 không thừa nhận thành phần kinh tế và hình thức sở hữu tư nhân Vì vậy, phần mở đầu của Nghị

Ngày đăng: 25/03/2015, 15:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24 - 5 - 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24 - 5 - 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
2. Nguyễn Đăng Dung (2001), Luật Hiến pháp đối chiếu, NXB TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hiến pháp đối chiếu
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB TP Hồ Chí Minh
Năm: 2001
3. Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực nhà nước, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
4. Nguyễn Đăng Dung (2006), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 BCH TW khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 BCH TW khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, tr.126-127, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
9. Lâm Ngữ Đường (2001), Trung Hoa đất nước con người, tr.320-321, NXB Văn hoá Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Hoa đất nước con người
Tác giả: Lâm Ngữ Đường
Nhà XB: NXB Văn hoá Thông tin Hà Nội
Năm: 2001
10. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1973), Hiến pháp và các văn bản pháp luật, tr.15, NXB Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp và các văn bản pháp luật
Tác giả: Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
Nhà XB: NXB Tiến bộ
Năm: 1973
11. Jean-Jacques Rouseau (2004), Bàn về khế ước xã hội, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khế ước xã hội
Tác giả: Jean-Jacques Rouseau
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2004
12. MontesQuieu (1996), Tinh thần pháp luật, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Tác giả: MontesQuieu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
13. Ngân hàng thế giới (1998) Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo về tinh hình phát triển thế giới 1997, tr.126, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Báo cáo về tinh hình phát triển thế giới 1997
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992), Hiến pháp Việt Nam, (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
16. Hoàng Thị Kim Quế (2005), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Hoàng Thị Kim Quế
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
17. Lê Minh Tâm (2005), “Bảo hiến, cơ chế bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt Nam”, Tạp chí Luật học, (4), tr.33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến, cơ chế bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt Nam”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Lê Minh Tâm
Năm: 2005
18. Nguyễn Mậu Tuân (2011) Bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền, Luận văn tiến sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến trong Nhà nước pháp quyền
20. Thomas L. Friedman (2006), Thế giới phẳng, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới phẳng
Tác giả: Thomas L. Friedman
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
21. Umbach (2003), Hội thảo về Tòa án Hiến pháp CHLBDD, ngày 14/3 2003 do Ủy ban Pháp luật Quốc hội Việt Nam tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về Tòa án Hiến pháp CHLBDD
Tác giả: Umbach
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN