1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế giám sát hiến pháp ở việt nam hiện nay thực trạng và kiến nghị

97 101 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, mặc dù đã hình thành nên một cơ chế giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tuy nhiên, cơ chế này còn bộc lộ nhiều bất cập ở quy định chung lẫn c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH

-*** -

PHAN THỊ NGÂN MSSV: 0955040056

CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

Niên khóa: 2009 - 2013 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN

Người hướng dẫn: THS NGUYỄN MẠNH HÙNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

HIẾN PHÁP 1

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát hiến pháp 1

1.2 Khái niệm giám sát Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp 6

1.2.1 Khái niệm giám sát Hiến pháp 6

1.2.2 Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp 8

1.3 Đối tượng và chủ thể giám sát Hiến pháp 11

1.3.1 Đối tượng giám sát Hiến pháp 11

1.3.2 Chủ thể giám sát Hiến pháp 14

1.4 Phân loại giám sát Hiến pháp 16

1.5 Hậu quả pháp lý khi thực hiện hoạt động giám sát hiến pháp 19

1.6 Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới 20

1.6.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung 21

1.6.2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung 27

1.6.3 Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp 37

1.6.4 Mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là cơ quan giám sát Hiến pháp 37

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI 39

2.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam qua các bản Hiến pháp 39

Trang 3

2.1.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng

hòa năm 1946 39

2.1.2 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 42

2.1.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 43

2.1.4 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 45

2.2 Những quy định của pháp luật hiện hành về cơ chế giám sát Hiến pháp 47

2.3 Đánh giá về thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 55

2.4 Phương hướng đổi mới và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát ở nước ta hiện nay 59

2.4.1 Các mô hình đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp 59

2.4.1.1 Thành lập Ủy ban giám sát Hiến pháp thuộc Quốc hội 60

2.4.1.2 Trao quyền bảo vệ Hiến pháp cho Tòa án tối cao 62

2.4.1.3 Thành lập Tòa án Hiến pháp độc lập 65

2.4.1.4 Thành lập Hội đồng Hiến pháp 67

2.4.2 Một số kiến nghị 72

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng nhà nước pháp quyền đã trở thành tất yếu chung đối với nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Nhà nước pháp quyền là nhà nước hướng tới mục tiêu chống sự lạm quyền của các cơ quan nhà nước, sự vi phạm của các cá nhân có thẩm quyền đối với các nguyên tắc của việc hành xử quyền lực để thực thi nhiệm vụ của mình Trong nhà nước pháp quyền không thể thiếu hệ thống giám sát quyền lực, việc giám sát quyền lực nhằm đảm bảo cho nhà nước vận hành trong quỹ đạo của nguyên tắc thực thi quyền lực mà khuôn khổ cho việc vận hành quyền lực chính là Hiến pháp, bởi suy cho cùng, khi nói tới việc xây dựng chính quyền không thể không nói tới Hiến pháp, cũng như vậy khi nhắc tới Hiến pháp không thể không nói tới việc xây dựng một nhà nước pháp quyền Cho nên, khi chúng ta khẳng định quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992

sửa đổi, bổ sung năm 2001 thì một vấn đề “sống còn” là phải xây dựng nên một cơ

chế bảo hiến hữu hiệu, hơn nữa, việc xây dựng một chế định bảo hiến chuyên trách

đang là xu hướng toàn cầu để bảo vệ Hiến pháp – “đạo luật gốc”, “luật mẹ” trước

bất kì sự xâm hại nào

Trong lịch sử lập hiến Việt Nam, mặc dù đã hình thành nên một cơ chế giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tuy nhiên, cơ chế này còn bộc lộ nhiều bất cập ở quy định chung lẫn chủ thể thực hiện bởi hoạt động giám sát ở Việt Nam hiện nay trao cho rất nhiều cơ quan khác nhau chứ không phải quy về cho một cơ quan – đầu mối duy nhất có quyền ra phán quyết về tính hợp hiến, việc giám sát lại chủ yếu được thực hiện qua hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Trước thực trạng hoạt động giám sát ở nước ta còn có nhiều yếu điểm, vào năm 2006, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định quyết tâm đổi mới

cơ chế giám sát Hiến pháp “Xây dựng cơ chế phán quyết những vi phạm của Hiến

Trang 6

pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp”1, để triển khai chủ trương này Đảng, Quốc hội đã thành lập một ban nghiên cứu về vấn đề trên Đảng và nhà nước tiếp tục thể hiện quyết tâm đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp tại Đai hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XI năm 2011, văn kiện chính thức được thông qua của đại hội này giới thiệu tư duy mới về kiểm soát quyền lực đồng thời chủ trương cải

cách thể chế để thực hiện hóa chủ trương này “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các

thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo vệ nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất trong đó có

sự phân công phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”, vấn đề đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp

cũng được đặt ra “…tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám

sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết đinh của các cơ quan công quyền” Đến dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nước ta đang hướng tới

việc xây dựng một cơ chế giám sát hoàn thiện hơn với việc thiết lập một cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách - Hội đồng hiến pháp Tuy nhiên, việc thành lập Hội đồng này hiện này đang tồn tại nhiều ý kiến trái chiều nhau, trong bối cảnh đó,

tác giả chọn đề tài “Cơ chế giám sát ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và kiến nghị”

để nghiên cứu và làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn góp một phần bé nhỏ trong tiến trình hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp và trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 1992

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Việc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp là một vấn đề được sự quan tâm của nhiều chủ thể khác nhau, tính đến thời điểm này đã có rất nhiều công trình khoa học, các bài viết, tạp chí, các hội thảo khoa học nghiên cứu nghiên cứu về vấn đề này điển hình như: Vào tháng 5/2005 tại thành phố Vinh, ban Công tác lập pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã tổ chức một hội nghị khoa học bàn về “cơ chế bảo hiến” với sự tham gia của các lãnh đạo cấp cao, của đại điểu Quốc hội, sau đó Ban công

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, 2006,

Tr 127

Trang 7

tác lập pháp đã xuất bản cuốn “cơ chế bảo hiến” vào đầu năm 2006; Hội nghị khoa

học quốc tế do Văn phòng Quốc hội phối hợp với Văn phòng phối hợp hỗ trợ cải cách tư pháp và pháp luật tổ chức năm 2009 Ngoài ra, còn rất nhiều sách chuyên

khảo như: Bảo hiến ở Việt Nam của Bùi Ngọc Sơn; Cơ chế giám sát Hiến pháp với

việc đảm bảo quyền con người của Văn Nhiêm, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức

Quang, Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tái phán Hiến pháp ở Việt

Nam do Đào Trí Úc, Nguyễn Như Phát (chủ biên)…, và nhiều bài khác nhau như:

Vũ Hồng Anh, Giám sát Hiến pháp, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12, 2003;

Lê Minh Tâm, Bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt nam, Tạp chí Luật học số 4, 2005; Tào Thị Quyên, Cơ chế bảo vệ Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 12, 2010; Lê Minh Tâm, Bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt nam, Tạp chí Luật học số 4, 2005; Bùi Ngọc Sơn, Tài phán Hiến pháp và vị trí của Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 16,

2009…Trong các công trình này các tác giả đã cũng đã đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận chung cũng như thực trạng của cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam theo nhiều cách tiếp cận khác nhau Mặc dù, đã được nhiều học giả nghiên cứu nhưng trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp năm 1992, vấn đề này đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, vẫn mang tính mới, tính thời sự cao Cho nên, tác giả

cố gắng tiếp cận vấn đề theo cách tham khảo, kế thừa, đúc rút kinh nghiệm và trên nền tảng định hướng mới – định hướng theo dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992

để có thể đưa ra những kiến nghị thiết thực cho việc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận

Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài, mục đích nghiên cứu của khóa luận nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của cơ chế giám sát Hiến pháp Qua

đó đưa ra một số đề xuất để hoàn thiện hơn cơ chế giám sát ở Việt Nam hiện nay

Vì thế, khóa luận có nhiệm vụ sau:

Trang 8

 Làm rõ các vấn đề lý luận về cơ chế giám sát Hiến pháp như: Lịch sử hình thành, các khái niệm về giám sát Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp, chủ thể, các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới

 Làm rõ cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay với việc phân tích các quy định của các bản Hiến pháp đặc biệt là của pháp luật hiện hành, nêu lên các thực trạng và đề xuất một số kiến nghị

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp được sử dụng trong việc nghiên cứu đề tài này là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của triết học Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về pháp luật Ngoài ra để phục vụ cho việc nghiên cứu tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…để tiếp cận và làm sáng tỏ nội dung của đề tài

5 Cơ cấu khóa luận

Ngòai Lời mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm hai chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về cơ chế giám sát Hiến pháp

Chương II: Thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay và phương hướng đổi mới

Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, tác giả rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô và các bạn đọc quan tâm tới vấn đề này Xin chân thành cảm ơn

Trang 9

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ GIÁM

SÁT HIẾN PHÁP

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát hiến pháp

Khi bàn về lịch sử hình thành của cơ chế giám sát Hiến pháp, có thể nói rằng những yếu tố ban đầu của cơ chế này xuất hiện vào thời cổ Hy Lạp khi pháp luật

của nước này có sự phân biệt giữa một “nomos” - văn bản pháp luật có chức năng như Hiến pháp và một “psephisma” – văn bản pháp luật có chức năng như một luật,

nghị định có hiệu lực pháp lý thấp hơn Một psephisma bất kể nội dung qui định về vấn đề gì cũng không được trái một nomos, nếu trái sẽ bị coi là vô hiệu2 Như vậy, việc đề cao giá trị của một nomos dần dần hình thành tính tối cao của nomos, nomos có giá trị cao hơn nên các psephisma phải tuân thủ các qui định được nêu trong đó

Sau đó, các khía cạnh của cơ chế giám sát Hiến pháp cũng dần được qui định

và áp dụng trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới như: Hiến pháp của Đức năm 1980, ở Pháp từ giữa thế kỷ XIII, Bồ Đào Nha (XVII), Na Uy, Đan Mạch, Áo từ thế kỷ XIX Với nước Anh, mặc dù, không tồn tại một Hiến pháp thành văn, tuy nhiên, tiến trình lịch sử của cơ chế giám sát Hiến pháp lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng bởi từ thời trung cổ nhà cầm quyền Anh đã khởi xướng

ra thủ tục Impeachment – thủ tục hạch tội để bãi miễn quan chức nhà nước đồng thời vào năm 1610 họ cũng đã đề xướng ra nguyên tắc tính tối thượng của Hiến pháp và quyền của Tòa án trong việc xem xét tính hợp hiến các hoạt động của Chính phủ Hơn nữa, vào năm 1688-1689 cuộc cách mạng Anh nổ ra cũng đã xác

lập nên nguyên tắc tính tối cao của Nghị viện, cho nên “Những đạo luật do Nghị

viện lập ra không bao giờ sai” là tư tưởng chi phối nước Anh trong một thời gian

2 Vũ Công Giao, Đào Trí Úc, Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nhà nước và

Pháp luật, số 1+2, 2012, tr 11

Trang 10

dài3 Và đến thế kỷ XVII, tư tưởng giám sát Hiến pháp bắt đầu hình thành bằng việc Hội đồng cơ mật có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các nước thuộc địa Anh ban hành là trái với Nghị viện Anh hay pháp luật chung nên những văn bản này bị bãi bỏ4

, những tư tưởng này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiết lập cơ chế giám sát Hiến pháp ở Hoa Kỳ

Ở Mỹ, vào cuối thế kỷ XVIII, Tòa án đã đưa ra một phán quyết tuyên bố các luật của đế chế Anh không có hiệu lực trên lãnh thổ các bang Bắc Mỹ Năm 1787, lần đầu tiên tư tưởng giám sát Hiến pháp theo chủ nghĩa hiện đại được đề cập tại hội nghị lập hiến, bằng đa số phiếu tuyệt đối hội nghị đã thông qua đề nghị trao cho Tổng thống quyền phủ quyết dự luật do Quốc hội, sau đó Willison đã lên tiếng đề nghị hội nghị bổ sung vào nghị quyết sự cần thiết phải trao cho cơ quan tư pháp lẫn chính quyền liên bang quyền bãi bỏ dự luật do Nghị viện thông qua Theo Willison

“Thẩm quyền Hiến pháp trao cho thẩm phán trong quá trình xét xử chưa thật đầy

đủ bởi lẽ trong trường hợp khi các đạo luật lại chính là Hiến pháp nhưng không công bằng, không mang tính xây dựng, thuyết phục thì thẩm phán lại không thể gây ảnh hưởng tới đạo luật này” 5 Và sau đó, có rất nhiều ý kiến ủng hộ quan điểm này

nhưng vẫn không tồn tại một điều khoản nào về quyền tài phán của nhánh tư pháp Đến năm 1788, cùng với việc đưa ra học thuyết về tính tối cao của Hiến pháp Alexander Hamilton đã phát triển và đưa ra một học thuyết không kém phần quan trọng – học thuyết về cơ chế giám sát Hiến pháp, theo đó, ngành tư pháp có nhiệm

vụ bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp nhưng tòa án lúc nào cũng phải xem Hiến pháp là một đạo luật cơ bản, phải xem trọng ý nghĩa của Hiến pháp hơn một đạo luật của viện lập pháp Thế nhưng, học thuyết của Hamilton cũng chưa đủ để xác lập một cách chắc chắn, rõ ràng về lý thuyết Hiến pháp tối cao và quyền tài phán Hiến pháp của Tòa án, phải đến vụ Mabury v Madison (1803) thì tư tưởng giám sát Hiến pháp mới được chuyển tải vào thực tiễn với vai trò to lớn của Chánh án Tòa án

Trang 11

tối cao Mỹ John Marshall Vào tháng 3 năm 1801, Tổng thống John Adam ngay trước khi rời khỏi vị trí đã cố gắng bổ nhiệm người của đảng mình vào những vị trí mới trong ngành tư pháp Tổng thống mới, John Jefferson bất bình với hành động

mà ông cho là lạm dụng quyền lực, sau khi phát hiện ra một số người bổ nhiệm chưa được thực hiện, ông đã ra lệnh cho Bộ trưởng Ngoại giao của mình là James Madison bãi bỏ các sự bổ nhiệm đó William Marbury, một trong những người được bổ nhiệm bị bãi bỏ, đã kiện, yêu cầu tòa án buộc ông James Madison tuân thủ các quyết định bổ nhiệm ông làm thẩm phán của Tổng thống John Adam Ông cho rằng Đạo luật tư pháp năm 1789 đã trao cho Tòa án tói cao liên bang quyền ban hành lệnh yêu cầu một quan chức chính trị thực hiện nhiệm vụ của họ, ông muốn Tòa án tối cao buộc Madison chấp nhận việc bổ nhiệm chính đáng của mình Vụ án này đặt Tòa án tối cao vào một tình thế khó xử khi thanh danh của ngành tư pháp có thể bị giảm sút hoặc thừa nhận tư pháp không có quyền đối trọng với hành pháp Tuy nhiên, trong tình thế tưởng chừng như bế tắc đó Chánh án Tòa án tối cao John Marshall đã đưa ra quyết định hết sức thông thái là Đạo luật tư pháp năm 1789 vi phạm quy định trong Điều 3 của Hiến pháp Hoa Kì 1787 khi trao cho tòa án thẩm quyền trong lĩnh vực đó Thông qua việc giải quyết vụ án này Chánh án Marshall đã phát triển học thuyết tối cao và quyền tài phán của ngành tư pháp Hiến pháp là

“luật cơ bản và tối cao của một quốc gia” được xem như nguyên tắc cơ bản của một xã hội, hệ quả của nguyên tắc này là “một đạo luật cơ bản của ngành lập pháp

bất hợp hiến sẽ không có hiệu lực” Một kết luận được Marshall rút ra là “bổn phận tất yếu của tư pháp” là xác định quy tắc nào được áp dụng trong một vụ án khi luật

trái Hiến pháp Marshall kết luận “Hiến pháp cao hơn thường luật của ngành hành

pháp, lập pháp Hiến pháp chứ không phải thường luật được áp dụng để giải quyết

vụ án mà cả hai đều được viện dẫn ra” 6 Từ vụ việc này Marshall đã đưa ra những tuyên bố sau:

6 Bùi Ngoc Sơn, Tài phán Hiến pháp và vị trí của Quốc hội, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 16, 2009, tr.15

Trang 12

1) Hiến pháp là luật tối cao của một đất nước

2) Những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp

3) Thẩm phán người đã từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố hủy bỏ những luật, qui định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp7

Từ những kết luận với những lập luận hợp lý của Marshall, nguyên tắc Hiến pháp tối cao và quyền tài phán đối với ngành lập pháp đã kiểm soát hệ thống pháp luật Mỹ Có một điều đặc biệt là nguyên tắc trên và ngay cả cơ chế giám sát Hiến pháp đều không được ghi nhận trong Hiến pháp mà chúng được suy luận từ bản chất của hiến pháp và quyền tư pháp Cũng cần phải lưu ý rằng, trong một nhà nước

áp dụng nguyên tắc kiềm chế đối trọng giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp như Hoa Kỳ thì việc quán triệt nguyên tắc này chính là thực hiện cơ

chế chung để bảo vệ Hiến pháp, hơn nữa ở một quốc gia với truyền thống “án lệ

mạnh” thì những phán quyết của tòa án cấp cao hơn có giá trị bắt buộc như phán

quyết của Tòa án tối cao trong vụ án trên, các tòa án cấp dưới sẽ phải từ chối áp dụng Đạo luật tư pháp năm 1789 khi giải quyết các vụ việc có tính chất tương tự Đây chính là một trong những cơ sở hình thành nên mô hình bảo hiến kiểu Mỹ và cũng chính là điểm khác biệt giữa mô hình bảo hiến này so với các mô hình còn lại, sau đó, nhiều quốc gia khác cũng đã thiết lập quyền bảo hiến của tòa theo mô hình của Mỹ

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các quốc gia Châu Âu dần dần xây dựng nên

mô hình giám sát Hiến pháp riêng mà không áp dụng mô hình của Mỹ bởi những lập luận duy lí của Marshall về logic của tài phán tư pháp không làm người Châu

Âu hài lòng, họ đứng trên những truyền thống pháp lí với những quan niệm khác biệt về Hiến pháp, quyền lực và luật pháp Đây được xem là thời kỳ của nước Áo bởi thời kỳ này chịu ảnh hưởng từ hai nhà luật học Adolf Merkl và Han Kelsen, có thể nói ý tưởng về việc thành lập Tòa án được tranh luận trong nhiều năm, từ năm

1910 đến năm 1920 tại trường đại học Viên mà người khởi xướng là Han Kelsen

7 Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb Thống Kê 2001, tr 142

Trang 13

Khi Hans Kelsen lần đầu tiên giới thiệu mô hình tài phán hiến pháp Áo – Đức, dĩ nhiên ông đã nghiên cứu mô hình Hoa Kỳ nhưng nguyên tắc Nghị viện tối cao cộng với truyền thống luật thực định lúc đó ở Châu Âu còn quá mạnh nên mô hình kiểu

Mỹ không được chấp nhận vì nếu một tòa án cấp huyện cũng có thể tuyên bố một

đạo luật của Nghị viện là vi hiến thì “lòng tự trọng” của Nghị viện sẽ bị tổn hại và

điều này rất khó chấp nhận đối với đất nước đề cao vị trí, vai trò của cơ quan quyền lực nhà nước Hơn nữa, bấy giờ ở Châu Âu hệ thống án lệ không mạnh nếu chấp nhận hệ thống tài phán Hiến pháp phi tập trung sẽ dẫn tới sự tổn hại cho nguyên tắc

hệ thống pháp luật thống nhất vì cùng một điều khoản Hiến pháp sẽ được các tòa giải thích khác nhau dù hai vụ án có những đặc điểm tương tự nhau Và nhiều nguyên nhân khác nữa như trình độ thẩm phán cũng là nguyên nhân khiến các học giả ở Châu Âu không chọn mô hình kiểu Mỹ để áp dụng Mô hình giám sát tư pháp của các học giả này dựa trên nền tảng của ba luận thuyết cơ bản sau đây:

Thứ nhất, luận thuyết về tính thống nhất: Theo luận thuyết này, Hiến pháp là văn bản quyền lực gốc, quyền lực nguyên thủy, các văn bản do cơ quan nhà nước được thiết lập bởi Hiến pháp ban hành có hiệu lực thấp hơn quyền lực gốc, do vậy phải phù hợp với Hiến pháp

Thứ hai, luận thuyết về tính tổ chức: Theo luận thuyết này Hiến pháp thiết lập nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước Trong hoạt động của mình các cơ quan nhà nước phải tuân thủ nguyên tắc đó Không một cơ quan nhà nước nào được xâm phạm thẩm quyền của các cơ quan nhà nước khác, trong nhà nước liên bang thì sự phân định thẩm quyền phải rõ hơn

Thứ ba, luận thuyết về pháp luật tự nhiên: Theo luận thuyết này Hiến pháp thiết lập nguyên tắc chung về mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, trước hết

là những nguyên tắc đảm bảo quyền con người, quyền công dân và nguyên tắc giám sát Hiến pháp và việc tuân thủ quyền con người, quyền công dân

Trang 14

1.2 Khái niệm giám sát Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp

Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật trên

toàn bộ lãnh thổ một quốc gia, là “luật mẹ” của một nhà nước Hiến pháp qui định

những vấn đề quan trọng của một quốc gia liên quan đến chế độ chính trị, tổ chức

bộ máy nhà nước, quyền công dân, quyền con người…Cho nên, Hiến pháp phải là tối cao những văn bản bất hợp hiến sẽ không có hiệu lực trên thực tế, những hành vi

vi hiến phải được xem xét theo một cơ chế riêng – cơ chế giám sát Hiến pháp Để hiểu rõ hơn về cơ chế này ta cần làm rõ các khái niệm có liên quan:

1.2.1 Khái niệm giám sát Hiến pháp

Khi nghiên cứu về giám sát Hiến pháp ta cần hiểu rõ hơn về thuật ngữ Hiến

pháp, có thể nói cội nguồn của Hiến pháp là tiếng Latinh cổ “constituons”- có thể hiểu theo nhiều nghĩa như “qui định”, “thành lập”, “tổ chức”…Tuy nhiên, lịch sử

xuất hiện của các Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới là ở lục địa Châu Mỹ vì ngay từ thế kỷ XVII khi những cư dân Anh khám phá – chinh phục lục địa ấy đã

thảo ra cái gọi là “plation convenant” – hiệp ước của các nước thuộc địa, tiếp theo

đó 13 bang đầu tiên tuyên bố độc lâp của Hoa Kỳ đã lần lượt thông qua các Hiến pháp của họ như: Bang bắc Carolia (1776), bang Vermsont (1777), Masacheisetts (1780), bang New Jeysey (1783)…Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1787) – đã cho ra đời bản Hiến pháp thành văn đầu tiên của nhân loại trong lịch sử lập hiến Bước sang thế kỷ XVIII, các quốc gia Châu Âu như Balan, Pháp cũng đã thông qua Hiến pháp, cho đến nay có hơn 150 quốc gia đã có Hiến pháp thành văn8

Còn giám sát theo từ điển Tiếng Việt: “Giám sát là hoạt động theo dõi, kiểm

tra xem có thực hiện đúng những qui định hay không”9 Hay hiểu ở nghĩa rộng hơn giám sát là một hệ thống có phân chia các thiết chế nhà nước và xã hội được tổ chức

và hoạt động theo một cơ chế nhất định Còn theo từ điển Luật học Black„s Law

Trang 15

Dictionnary “giám sát tư pháp là thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét tính

hợp hiến của các đạo luật được ban hành bởi cơ quan hoặc cấp chính quyền khác”

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ giám sát hiến pháp, tuy nhiên thuật ngữ này có thể được hiểu dưới hai góc độ khác nhau như sau:

Theo nghĩa rộng: Giám sát Hiến pháp là tổng hợp cơ chế chính trị, cơ chế pháp

lý, cơ chế xã hội, cơ chế kinh tế nhằm đảm bảo sự tôn trọng Hiến pháp

Theo nghĩa hẹp: Giám sát Hiến pháp là sự bảo vệ Hiến pháp trước các hoạt động (thể hiện qua văn bản pháp luật) đã được thực hiện hoặc sẽ được thực hiện (kể từ thởi điểm thông qua) bởi một cơ chế bên ngoài

Như vậy, về cơ bản hoạt động giám sát Hiến pháp chủ yếu tập trung ở việc kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của các đạo luật – hoạt động cốt lõi của giám sát Hiến pháp, hiểu theo cách này thì giám sát Hiến pháp không nhằm vào những văn bản dưới luật mà chỉ dừng lại ở mức độ là các đạo luật do Nghị viện ban hành Tuy nhiên, nếu xem xét giám sát Hiến pháp chỉ là sự kiểm soát tính hợp hiến của các đạo luật thì chưa thật đầy đủ Thực tiễn của chế độ bảo hiến nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy rằng, hoạt động giám sát Hiến pháp còn bao gồm nhiều lĩnh vực khác nữa chẳng hạn như: Hội đồng bảo hiến của Pháp ngoài thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của các đạo luật còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về bầu cử và trưng cầu dân ý, thẩm quyền tư vấn và giám sát Hiến pháp về quyền con người Tòa

án Hiến pháp của các quốc gia Châu Âu bên cạnh chức năng chính của một cơ quan chuyên trách giám sát Hiến pháp còn thực hiện chức năng khác như: Giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp, giữa trung ương và địa phương, kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi của Tổng thống và các quan chức, giải quyết tranh chấp trong các cuộc bầu cử và trưng cầu dân ý…Tòa án thường ở Mỹ ngoài chức năng xét xử các vụ án thường còn có chức năng giám sát Hiến pháp, kiểm soát tính hợp hiến của các cuộc bầu cử Tổng thống Do đó, mặc dù cốt lõi của giám sát Hiến pháp

là kiểm soát hành vi trong lập hiến nhưng nên hiểu khái niệm này theo nghĩa rộng không nên giới hạn trong chức năng kiểm soát tính hợp hiến trong các chế định

Trang 16

chính trị được ấn định trong Hiến pháp Cho nên mới xem rằng giám sát Hiến pháp

là tư duy pháp quyền, phương thức giám sát Hiến pháp là hướng tới giám sát quyền lực nhà nước để bảo vệ Hiến pháp, là phương thức xử lý những hành vi vi phạm của công quyền

Nói tóm lại, giám sát Hiến pháp là một dạng hoạt động của cơ quan chức năng

có thẩm quyền và được thể hiện bằng cơ chế giám sát hoặc kiểm tra tính hợp hiến của văn bản do tất cả các cơ quan (những người có chức vụ) trong bộ máy công quyền, tổ chức hoặc đơn vị lực lượng vũ trang cũng như hành vi được thực hiện trên

cơ sở văn bản vi hiến đã xâm phạm các quyền tự do hiến định của công dân đồng thời giải quyết những vấn đề khác theo thẩm quyền do Hiến pháp và luật quy định

để đưa ra phán quyết mang tính pháp lý nhằm đảm bảo tính tối thượng và hiệu quả trực tiếp của các quy phạm Hiến pháp trong các lĩnh vực hoạt động của nhà nước và sinh hoạt xã hội10

1.2.2 Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp

Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền không chỉ có chức năng nhiệm vụ rất quan trọng đối với quá trình tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước mà còn có

ý nghĩa sống còn đối với việc bảo vệ một cách hữu hiệu pháp chế và trật tự pháp luật cũng như các quyền tự do hiến định của công dân, con người tránh khỏi sự xâm hại của cơ quan và chủ thể có thẩm quyền trong cơ quan công quyền Chính vì thế

cơ chế giám sát Hiến pháp cần được thành lập và hoạt động hiệu quả hơn

Theo từ điển Tiếng Việt “cơ chế” là cách thức theo đó một quá trình đang được thực hiện Theo GS.TS Triết học Phạm Ngọc Quang “cơ chế là khái niệm dùng để

chỉ một chuỗi những khâu liên kết với nhau theo logic nhất định nhờ vậy mục tiêu được thực hiện11

Tuy nhiên khái niệm “cơ chế” hiện nay cũng được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau: Theo nghĩa hẹp: “cơ chế” là tổng hợp các thiết chế, cấu

Trang 17

trúc, phương thức vận hành…của một hệ thống cụ thể, thuật ngữ này thường kết hợp với các thuật ngữ khác để hình thành thuật ngữ chuyên môn như cơ chế quản lý nhà nước, cơ chế kiểm soát quyền lực Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này bao gồm cơ chế theo nghĩa hẹp được đặt trong môi trường trong đó cơ chế hoạt động trong mối liên hệ tác động qua lại theo những nguyên tắc nhất định nhằm hướng tới những mục tiêu đã được xác định Và ngay cả cơ chế giám sát Hiến pháp hiện nay cũng đang tồn tại nhiều quan điểm chưa có sự thống nhất với nhau, các quan điểm này không phủ nhận lẫn nhau mà ngược lại còn bổ sung cho nhau Ta có thể nghiên cứu thuật ngữ này dưới hai góc độ sau: Thứ nhất, cơ chế giám sát Hiến pháp theo nghĩa rộng được hiểu là toàn bộ những yếu tố phương tiện, phương cách và biện pháp nhằm đảm bảo cho Hiến pháp được tôn trọng chống lại mọi sự vi hiến có thể xảy ra Thứ hai, thuật ngữ trên được theo nghĩa hẹp là một thiết chế được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc và quy định của pháp luật để thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo cho Hiến pháp được tôn trọng, giữ đúng vai trò của nó trong đời sống nhà nước, đời sống xã hội và chống lại mọi sự xâm phạm có thể xảy ra12 Giám sát Hiến pháp là một nhu cầu khách quan và tất yếu nhưng thuật ngữ cơ chế giám sát Hiến pháp vừa mang tính khách quan khi là một tất yếu để bảo vệ Hiến pháp, đảm bảo cho sự vận hành trong khuôn khổ pháp lý của bộ máy nhà nước, đồng thời thiết chế này cũng mang tính chủ quan khi cơ chế giám sát Hiến pháp có hiệu quả hay không, việc thành lập mô hình hay những nhân tố đảm cho sự vận hành của thiết chế và tùy thuộc vào nhận thức và điều kiện, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội hay sự phát triển về văn hóa pháp lý của quốc gia đó Thế nên, chúng ta không nên hiểu về cơ chế giám sát Hiến pháp chỉ duy nhất theo nghĩa hẹp, bởi cách hiểu như vậy chưa thật đầy đủ khi về phương diện cấu trúc: Cơ chế giám Hiến pháp được xây dựng bằng nhiều mô hình khác nhau, là một cơ quan chuyên trách độc lập với các cơ quan công quyền khác, hay là một thiết chế tồn tại ngay trong cơ quan lập pháp Về phương thức vận hành thì mô hình giám sát nào sẽ có phương thức vận hành riêng của mô hình đó

12 Lê Minh Tâm, Bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt Nam, Tạp chí Luật học số 4, 2005, tr 17

Trang 18

Từ các phân tích trên ta có thể rút ra khái niệm về cơ chế giám sát Hiến pháp “là

tổng thể các yếu tố có mối quan hệ mật thiết tương tác lẫn nhau hình thành nên một

hệ thống và phương thức vận hành của hệ thống đó để tiến hành các hoạt động bảo

vệ Hiến pháp nhằm đảm bảo sự tôn trọng, giữ gìn Hiến pháp ngăn ngừa mọi hành

vi vi phạm Hiến pháp13 Vì vai trò đặc biệt của Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền nên hiệu quả của cơ chế giám sát Hiến pháp có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Thiết chế này là công cụ phương thức quan trọng trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước

Cũng cần phân biệt thuật ngữ này với thuật ngữ bảo hiến, đây là hai thuật ngữ

mà trong giới luật học hiện nay đang có rất nhiều quan điểm Một số luật gia cho rằng hai thuật ngữ này đồng nhất với nhau, họ cho rằng đây chỉ là vấn đề thuật ngữ

vì trong nhiều tài liệu người ta sử dụng: Giám sát Hiến pháp, bảo vệ Hiến pháp, Bảo hiến…Tuy nhiên, cốt lõi của các thuật ngữ này là kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền Một số luật gia khác lại cho rằng đây là hai thuật ngữ này không đồng nhất với nhau, khi xét về phương diện thẩm quyền thì chúng đồng nhất với nhau đều nhằm bảo vệ Hiến pháp không bị vi phạm, nhưng khi xét về chủ thể thực hiện thì chúng lại có những điểm khác nhau nếu như bảo hiến là tổng hợp các biện pháp chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho Hiến pháp luôn luôn được nguyên vẹn, là bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững quy định ý chí14 Cho nên, ở bảo hiến không đề cập đến việc phải thành lập một cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ mà giao cho nhiều cơ quan khác nhau, thì ở giám sát Hiến pháp, ngoài việc thực hiện chức năng như bảo hiến nó còn có chức năng là phải thành lập một thiết chế riêng biệt để giám sát Hiến pháp hoặc thay đổi tổ chức, hoạt động của cơ quan giám sát để nó thực hiện nhiệm vụ giám sát tốt hơn

Trang 19

Một số vấn đề cần lưu ý nữa là, Lord brace – người đầu tiên phân loại Hiến pháp thành Hiến pháp cương tính và Hiến pháp nhu tính, khi có sự phân loại này thì vấn đề giám sát Hiến pháp chỉ đặt ra với Hiến pháp nhu tính, bởi đây là hiến pháp được sửa đổi bởi chính cơ quan lập pháp thường, theo thủ tục thường luật, do đó không có sự phân biệt hiệu lực pháp lý giữa Hiến pháp và thường luật Trong một

Hiến pháp nhu tính “một đạo luật nghịch là một đạo luật sửa đổi Hiến pháp”15 Hiến pháp không có ưu thế hơn thường luật nên nhà cầm quyền không bị giới hạn bởi Hiến pháp, nên vấn đề giám sát hiến pháp không đặt ra trong Hiến pháp nhu tính mà chỉ tồn tại trên cơ sở Hiến pháp cương tính, với loại Hiến pháp này thì hiến pháp có ưu thế hơn so với thường luật, Hiến pháp có vị trí tối cao và thường luật phải hợp hiến và việc ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp được tiến hành bởi những cơ quan và theo những thủ tục đặc biệt khác với cơ quan và thủ tục áp dụng cho thường luật Những sự phân biệt này đặt Hiến pháp ở một hệ cấp pháp lý tối cao, thường luật không thể sửa đổi được Hiến pháp và phải hợp hiến, một đạo luật trái với những điều khoản Hiến pháp là một đạo luật vi hiến nên không thể có hiêu lực pháp lý được Như vậy, trong Hiến pháp cương tính nhà cầm quyền bị giới hạn bởi hiến pháp Từ đó, vấn đề giám sát hiến pháp chỉ đặt ra với hiến pháp cương tính

1.3 Đối tƣợng và chủ thể giám sát Hiến pháp

1.3.1 Đối tƣợng giám sát Hiến pháp

Giám sát để bảo vệ tính tối cao của hiến pháp trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, là một yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Một mặt nhằm đảm bảo quyền lực tối cao của nhân dân, mặt khác nhằm đảm bảo tính hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho sự hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật, làm cơ

sở để thiết lập trật tự xây dựng nhà nước pháp quyền và tăng cường pháp chế Khi

đã xây dựng được một cơ chế giám sát Hiến pháp thì vấn đề đặt ra là cơ chế ấy cần giám sát những đối tượng nào để đảm bảo hiệu quả trong hoạt động, vì khi không xác định được hết đối tượng cần giám sát thì sẽ không đảm bảo được tính tối cao

15 Lê Đình Chân, Luật hiến pháp và các chế định chính trị, cuốn 2, Sài Gòn, 1967, tr.51

Trang 20

của Hiến pháp và Hiến pháp có thể sẽ bị vi phạm Có thể khái quát đối tượng giám sát Hiến pháp qua những nội dung sau:

Thứ nhất, đối tượng chủ yếu của giám sát Hiến pháp là các văn bản quy phạm

pháp luật có giá trị thấp hơn Hiến pháp Như đã tìm hiểu thì hiến pháp là “luật mẹ”

của một hệ thống pháp luật Các quy phạm pháp luật được các cơ quan nhà nước khác nhau ban hành phải dựa trên cơ sở Hiến pháp nhằm mục đích thi hành Hiến pháp nên các văn bản quy phạm pháp luật đó phải phù hợp với hiến pháp, những văn bản vi hiến sẽ không có hiệu lực trên thực tế, các văn bản này bao gồm:

 Các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thấp hơn Hiến pháp: Các luật, văn bản dưới luật (nghị định, thông tư…) hay các phán quyết của cơ quan tư pháp

 Các văn bản của tổ chức chính trị xã hội được nhà nước trao cho thẩm quyền quản lý nhà nước: điều lệ, nội quy, các văn bản liên tịch ban hành…

 Văn bản, điều ước quốc tế trong nội bộ quốc gia: điều ước giữa cơ quan trung ương – địa phương, chính quyền liên bang và bang về thẩm quyền16 Thứ hai, điều ước quốc tế ngày càng được nhiều quốc gia xem là đối tượng của giám sát Hiến pháp như Áo, Bungary, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hiến pháp ở những nước này quy định nếu điều ước quốc tế không phù hợp với Hiến pháp việc giám sát tính hợp hiến của các điều ước quốc tế không kéo theo sự sửa đổi điều ước quốc tế mà đẫn tới sự sửa đổi hiến pháp, ví dụ, Điều 54 Hiến pháp 1958 của Pháp

quy định: “Trong trường hợp Hội Đồng Bảo Hiến theo đề nghị của Tổng Thống

Cộng Hòa hoặc Thủ tướng Chính Phủ hay một trong hai viện của nghị viện tuyên

bố điều ước quốc tế bao hàm những điều khoản trái với Hiến pháp vì việc quyết định đưa điều ước quốc tế đó ra phê chuẩn hay phê duyệt chỉ được tiến hành sau khi sửa đổi Hiến pháp”17 Thế nên, Hội Đồng Bảo Hiến Cộng Hòa Pháp ngày 4/4/1992 tuyên bố nhiều điều khoản của hiệp ước liên minh Châu Âu không hợp hiến và tháng 6/1992 Quốc hội Pháp đã thông qua đạo luật để bổ sung quy định

16 Vũ Hồng Anh, Giám sát Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12, 2003, tr 69

17 Vũ Hồng Anh, Giám sát Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12, 2003, tr 72

Trang 21

trong hiệp ước trên vào Hiến pháp Hay là Điều 95 của Hiến pháp tây ban Nha 1978

quy định: “Việc ký kết điều ước quốc tế bao hàm những điều khoản trái Hiến pháp

này chỉ được tiến hành sau khi sửa đổi Hiến pháp, Chính phủ, một trong hai viện của nghị viện có thể yêu cầu Tòa án bảo hiến quyết định khi có sự mâu thuẫn giữa điều ước quốc tế và hiến pháp hay không”18

Qua những điều này ta có thể rút ra một đặc điểm của đối tượng giám sát hiến pháp là điều ước quốc tế - các điều ước quốc tế chưa được phê chuẩn hoặc phê duyệt mà chỉ là dự thảo của chúng Ở Việt Nam thì sao? Trong hầu hết các luật

chung và luật chuyên ngành đều có quy định: “Nếu những quy định của luật này

trái với điều ước quốc tế mà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam kí kết hoặc tham gia kí kết thì sẽ áp dụng điều ước quốc tế”, cho thấy sự ưu thế của điều

ước quốc tế so với luật nội địa Nhưng để có mối liên hệ giữa Hiến pháp và điều ước quốc tế thì hiến pháp nước ta chưa quy định rõ Một vấn đề khác đặt ra là có phải mọi văn bản pháp luật đều là đối tượng của giám sát Hiến pháp hay không? Tùy theo quy định của pháp luật từng nước mà đối tượng giám sát này sẽ có những ngoại lệ nhất định Ở Áo, theo quy định của Hiến pháp một đạo luật là đối tượng của giám sát Hiến pháp chỉ trong thời gian ba năm kể từ đạo luật được ban hành, sau thời hạn đó đạo luật không đương nhiên là đối tượng giám sát Hiến pháp19 Ở Thổ Nhĩ Kỳ, những đạo luật ban hành vào thời kỳ thành lập nền cộng hòa những sắc lệnh có hiệu lực của luật ban hành vào thời điểm khẩn cấp hoặc thiết quân luật không phải là đối tượng của giám sát Hiến pháp, một trường hợp đặc biệt khác là nếu như đạo luật được thông qua bởi trưng cầu dân ý thì không đặt ra vấn đề kiểm tra Giám sát tính hợp hiến của đạo luật ấy bởi lẽ trưng cầu dân ý là hình thức cao nhất thể hiện quyền lực, chủ quyền của nhân dân

Thứ ba, hành vi của các chủ thể có thẩm quyền cũng là đối tượng của giám sát Hiến pháp, tuy nhiên không phải tất cả các hành vi khác nhau của chủ thể có thẩm

18

Vũ Hồng Anh, Giám sát Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12, 2003, tr 72

19 Nguyễn Đăng Dung, Xây dựng cơ chế bảo hiến trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp ở Việt Nam

(tham luận tại Hội thảo quốc tế về bảo hiến do viện Nhà nước pháp luật – JOSOP tổ chức tại Tp.HCM

Trang 22

quyền đều là đối tượng của giám sát Hiến pháp Những chủ thể này có thể là Tổng thống, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ…tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia Sở dĩ như vậy là bởi chỉ có quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này mới được quy định trong Hiến pháp Khi giám sát hành vi của các chủ thể này cơ quan giám sát hiến pháp không đưa ra trách nhiệm pháp lý mà chủ yếu đưa ra trách nhiệm chính trị Thế nên, thủ tục xem xét tính hợp hiến trong hành vi của các chủ thể giống như thủ tục Impeachment – thủ tục luận tội Hoa Kỳ Tuy nhiên, cơ sở của thủ tục này không nhất thiết phải là hành vi không hợp hiến

Trên đây là các nhóm đối tượng chính của giám sát Hiến pháp, ngoài ra tùy thuộc vào từng mô hình giám sát khác nhau mà còn có những đối tượng khác nữa Nhưng tổng quát nhất đối tượng giám sát Hiến pháp vẫn bao gồm các văn bản có giá trị thấp hơn hiến pháp và hành vi của các chủ thể có thẩm quyền

Trang 23

thế giới, bởi lý luận khoa học về hiến pháp học đã chỉ ra rằng các cơ quan chính trị

có khuynh hướng nghiên cứu vấn đề chính trị hơn là vấn đề pháp lý mà bảo hiến lại

là một hành vi pháp lý Hơn nữa, cả hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp đều

có nguy cơ lạm quyền rất cao dẫn đến những vi phạm Hiến pháp, Hamilton cho

rằng: “Ngành hành pháp không những có quyền phân phối các vinh dự mà lại có

quyền sử dụng vũ lực Ngành lập pháp không những có quyền kiểm soát tài chính

mà còn có quyền quy định cá luật lệ chi phối sự tự do của các công dân”20 Đồng

thời ông cũng đưa ra lập luận: “Ngành tư pháp trái lại không có quyền sử dụng

hoặc kiểm soát tài chính, không có quyền chi phối tài sản lẫn sức mạnh của xã hội

và cũng không có quyền quyết định tích cực nào cả Có thể nói được rằng ngành tư pháp vừa không có lực lượng lại vừa không có ý chí chỉ có trí phán đoán mà thôi Cần phải dựa trên sự trợ tá của ngành hành pháp mới có thể thi hành được những quyết định của trí phán đoán của mình”21 Nhánh tư pháp có ít nguy cơ lạm quyền hơn hai nhánh còn lại, nếu như lập pháp, hành pháp là những nhánh quyền lực đại diện cho công quyền thì tư pháp đại diện cho công lý để bảo vệ quyền công dân, quyền con người và bảo vệ Hiến pháp khỏi những vi phạm Vì thế, tư pháp là công

cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền thiểu số trong khi hai nhánh còn lại lại phúc đáp theo

đa số Với ý nghĩa như vậy, tư pháp không những là nhánh quyền lực có ít nguy cơ lạm quyền, ít nguy hiểm đối với các quyền hiến định của công dân, mà còn là một nhánh quyền lực được tạo ra nhằm giải quyết những khiếu nại của công dân khi các quyền hiến định của họ bị xâm phạm Chính vì thế, hiện nay các hầu hết quốc gia trên thế giới tư pháp có vai trò kiểm soát đối trọng vói hai nhánh quyền lực còn lại,

và như một tất yếu giám sát Hiến pháp trao về cho tư pháp đang chiếm ưu thế, đối với mô hình bảo hiến phi tập trung thẩm quyền này được trao cho tất cả các tòa, với

mô hình bảo hiến tập trung thì sẽ trao cho tòa án chuyên trách, hay là sự kết hợp của

cả tòa án thường và tòa chuyên trách trong mô hình bảo hiến hỗn hợp

20 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.12

21 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr.13

Trang 24

1.4 Phân loại giám sát Hiến pháp

Có thể nói hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động có khả năng vi hiến rất cao, nên đối tượng cơ bản và cốt yếu của hoạt động giám sát Hiến pháp là các văn bản pháp quy Dựa vào những tiêu chí cụ thể cơ chế giám sát Hiến pháp có thể được phân thành các loại như sau:

Một là, căn cứ vào thời điểm thực hiện hoạt động giám sát Hiến pháp thì có thể chia thành hoạt động giám sát Hiến pháp trước và giám sát sau:

 Giám sát trước: Đây là hình thức kiểm tra và giám sát hoạt động ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ngay từ giai đoạn soạn thảo, trước khi văn bản đó

có hiệu lực pháp luật Ưu điểm lớn nhất của hình thức này là hạn chế việc thông qua những văn bản không hợp hiến, hơn nữa, hình thức này có thể tránh được việc hủy

bỏ những văn bản liên quan được ban hành trên cơ sở văn bản không hợp hiến làm cho hoạt động lập pháp ổn định hơn, hạn chế lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức…Ngược lại, hình thức này cũng tồn tại những hạn chế như: Với hình thức này

sẽ tạo điều kiện cho cơ quan giám sát Hiến pháp can thiệp quá sâu vào hoạt động lập pháp của cơ quan có thẩm quyền, một quốc gia áp dụng mô hình giám sát này trong quá trình giám sát phát hiện ra văn bản không hợp hiến nhưng văn bản đó sẽ không bị hủy bỏ nếu như không có quy trình để hủy bỏ đương nhiên văn bản đó vẫn

sẽ được ban hành

 Giám sát sau: Đây là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến đối với các văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực pháp lý và hoạt động của các quan chức nhà nước có thẩm quyền Ưu điểm của hình thức này là không can thiệp qua sâu vào hoạt động lập pháp của Nghị viện, khả năng kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản này có tính đến thực tế áp dụng của Tòa án và cơ quan hành chính Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của hình thức này là các văn bản khi chưa có hiệu lực thì không thể giám sát mà phải đợi văn bản có hiệu lực

Hai là, căn cứ vào hình thức thực hiện, giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể:

Trang 25

 Giám sát trừu tượng: Là việc cơ quan giám sát Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật không gắn với vụ việc và lợi ích cụ thể nào nên tất cả hoạt động giám sát trước đều là giám sát trừu tượng Ở các nước áp dụng hình thức này Hiến pháp sẽ quy định rõ những chủ thể nào có quyền giám sát Hiến pháp

 Giám sát cụ thể: Là loại giám sát được cơ quan giám sát Hiến pháp thực hiện gắn liền với một vụ việc cụ thể, để giải quyết vụ việc đó đòi hỏi phải đưa phán quyết về tính hợp hiến của văn bản được áp dụng trong trường hợp đó nên giám sát

cụ thể thường là giám sát sau, chủ thể có quyền đề nghị tiến hành giám sát Hiến pháp chủ yếu ở đây là các pháp nhân và thể nhân – những chủ thể có quyền lợi bị xâm hại trực tiếp Nếu như giám sát trừu tượng cho phép cơ quan bảo hiến có một cái nhìn tổng quát về mối quan hệ giữa Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo tính thống nhất của hoạt động giám sát Hiến pháp, đáp ứng nguyên tắc phân chia quyền lực thì giám sát cụ thể cho phép cơ quan bảo hiến có khả năng bảo

vệ quyền công dân, quyền con người một cách hữu hiệu và linh hoạt nhất22

Ba là, căn cứ vào cơ sở phát sinh thẩm quyền giám sát Hiến pháp, hoạt động giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát bắt buộc và giám sát không bắt buộc:

 Giám sát bắt buộc là trường hợp pháp luật quy định văn bản quy phạm pháp luật phải được cơ quan giám sát Hiến pháp phải kiểm tra trước khi văn bản đó có hiệu lực pháp luật

 Giám sát không bắt buộc là việc thực hiện giám sát Hiến pháp theo yêu cầu của các chủ thể thẩm quyền, hiện nay, phần lớn các trường hợp giám sát Hiến pháp đều là giám sát không bắt buộc

Bốn là, căn cứ vào vị trí thực hiện hoạt động giám sát Hiến pháp, được chia thành giám sát bên trong và giám sát bên ngoài:

22 Vũ Hồng Anh, Giám sát Hiến pháp, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12, 2003, tr.15

Trang 26

 Giám sát bên trong là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật do chính cơ quan ban hành văn bản đó thực hiện, như giám sát của Quốc hội ở Việt Nam, Cuba…

 Giám sát bên ngoài là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước ban hành được thực hiện bởi một cơ quan khác, thông thường giám sát bên ngoài là giám sát sau

Năm là, căn cứ vào kết quả của hoạt động giám sát, giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát chính trị và giám sát tư pháp:

 Giám sát chính trị là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản hay hành

vi chỉ mang tính chất bắt buộc chứ không gắn với bất cứ hậu quả pháp lý nào

 Giám sát tư pháp là hoạt động giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật hay hành vi gắn với hậu quả pháp lý, ví dụ, việc cơ quan giám sát Hiến pháp tuyên bố một văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với Hiến pháp

sẽ dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bản đó

Sáu là, căn cứ vào đối tượng giám sát, giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát toàn bộ và giám sát một phần:

 Giám sát toàn bộ là hoạt động giám sát Hiến pháp bao trùm lên mọi quan hệ

xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp

 Giám sát Hiến pháp một phần là hoạt động giám sát Hiến pháp liên quan đến một lĩnh vực nhất định, như quy định về quyền công dân, quyền con người hay mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương

Bảy là, căn cứ vào nội dung của hoạt động giám sát, giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát hình thức và giám sát nội dung:

 Giám sát hình thức là hoạt động kiểm tra việc tuân thủ những yêu cầu, điều kiện của các văn bản pháp quy, tức là văn bản có được ban hành đúng thẩm quyền hay không, việc ban hành có tuân thủ trình tự thủ tục không

Trang 27

 Giám sát nội dung là hoạt động kiểm tra nội dung của văn bản pháp quy có phù hợp với các quy định của Hiến pháp không

Tám là, căn cứ vào hiệu lực theo thời gian, giám sát Hiến pháp được phân thành giám sát có hiệu lực hồi tố và giám sát không có hiệu lực hồi tố:

 Giám sát có hiệu lực hồi tố là việc quyết định của cơ quan giám sát Hiến pháp về tính không hợp hiến của văn bản pháp quy có hiệu lực hồi tố Cho nên, văn bản bị tuyên là vi hiến sẽ bị coi là không có hiệu lực kể từ thời điểm ban hành, những mối quan hệ phát sinh hay hình thành trên cơ sở văn bản không hợp hiến đó

sẽ bị bãi bỏ quay trở về nguyên trạng như trước khi ban hành văn bản đó Cơ quan nhà nước phải bồi thường thiệt hại vì đã ban hành văn bản vi hiến gây thiệt hại cho các chủ thể Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc hồi tố sẽ gây ra nhiều rắc rối nhất

là trong trường hợp văn bản đó đã được áp dụng trong một thời gian dài

 Giám sát Hiến pháp không có hiệu lực hồi tố là văn bản bị tuyên là vi hiến thì sẽ không còn hiệu lực kể từ ngày tuyên bố, những hậu quả pháp lý đã phát sinh trước thời điểm văn bản quy phạm pháp luật này bị tuyên là không hợp hiến vẫn được thừa nhận

1.5 Hậu quả pháp lý khi thực hiện hoạt động giám sát hiến pháp

Hiến pháp là văn bản thể hiện rõ nhất sự tập trung ý chí của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Các cơ quan cá nhân có thẩm quyền buộc phải tuân thủ Hiến pháp, luôn thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở xem Hiến pháp là đạo luật gốc, không được ban hành văn bản trái với Hiến pháp hay có những hành vi vi hiến Nhưng thực tế cho thấy sự vi hiến vẫn xảy ra, khi đó cơ quan giám sát Hiến pháp sẽ thực hiện hoạt động giám sát, kết thúc quá trình giám sát sẽ có thể phát sinh những hậu quả pháp lý sau:

Thứ nhất, Nghị viện hoặc cơ quan khác sẽ ra nghị quyết, quyết định đình chỉ thi hành, hủy bỏ, sửa dổi một phần hay toàn bộ những văn bản đó

Trang 28

Thứ hai, cơ quan giám sát Hiến pháp tuyên một đạo luật không còn giá trị pháp

lý nghĩa là đạo luật vi hiến sẽ bị từ chối áp dụng trên thực tế Mặc dù, các đạo luật

bị tuyên bố là không hợp hiến về mặt hình thức vẫn tiếp tục có hiệu lực nhưng Tòa

án sẽ không áp dụng luật đó trong hoạt động xét xử nữa, hậu quả thực tế là cơ quan hành pháp sẽ không thể áp dụng văn bản vi hiến đó để áp dụng vào trong cá quan hệ của xã hội vì nó không được sự công nhận của tòa án Một ví dụ cụ thể minh họa: Vào năm 1905, Tòa án liên bang Hoa Kỳ đã bác bỏ một luật của tiểu bang New York khi đạo luật này giới hạn số giờ làm việc của những người làm bánh mì trong một ngày

Thứ ba, cơ quan giám sát Hiến pháp hủy bỏ, tuyên bố đạo luật vi hiến Điều 62

Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958 quy định: “Một điều khoản bị tuyên bố là

không hợp hiến thì không thể được ban bố hoặc đưa ra thi hành, các quyết định của Hội đồng Bảo hiến không thể bị kháng nghị, các cơ quan hành chính cơ quan tư pháp có nghĩa vụ phải chấp hành”23

Hành vi trái với Hiến pháp của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền bắt buộc phải chấm dứt ngay và phải chịu những hậu quả pháp lý khác nhau: Ví dụ, trong quá trình xét xử và ra các phán quyết nếu thẩm phán cố tình vi phạm Hiến pháp dẫn đến gây thiệt hại cho người khác thì Tòa án có thể tuyên bản án đó vi phạm Hiến pháp, người có lỗi phải bồi thường thiệt hại, người khiếu kiện không phải chịu bất

kỳ một khoản lệ phí nào Luật pháp của Cộng hòa Liên bang Đức quy định Tòa án Hiến pháp tuyên bố bản án của Tòa án thường đã vi phạm Hiến pháp thì bản án đó phải được xem xét lại

Như vậy, hậu quả pháp lý mà các chủ thể phải gánh chịu khi vi phạm những quy

định của Hiến pháp là rất đa dạng, chính sự đa dạng của những “chế tài” này đã góp

phần tăng tính hiệu quả trong hoạt đọng giám sát của các cơ quan

1.6 Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới

23Vũ Văn Nhiêm, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người, Nxb Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2013, tr 106

Trang 29

Vấn đề bảo hiến hiện nay đã trở thành một tất yếu chung, để thực hiện giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật hay các hành vi thì mỗi quốc gia dựa vào đặc điểm của quốc gia mình sẽ thiết lập nên một thiết chế riêng đảm bảo sự phù hợp về mọi mặt Hiện nay trên thế giới có bốn mô hình giám sát Hiến pháp chính: Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung, mô hình giám sát Hiến pháp tập trung, mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp, mô hình cơ quan lập hiến đồng thời là

cơ quan giám sát Hiến pháp

1.6.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung

Mô hình này được xây dựng trên cơ sở học thuyết tam quyền phân lập, tiêu biểu cho mô hình là Mỹ Hiện nay theo nghiên cứu của Arne Mavcic những quốc gia và vùng lãnh thổ sau đây đang áp dụng mô hình này: Đan Mạch, Etonia, Ireland, Nauy, Thụy Điển, Botswana, Gambia, Ghân, Guinea, Kenya, Malawi, Nambia, Nigeria, Xây- sen, Sierra Leone, Swadiland, Tandania, Isarel, Bangladesh, Fiji, Hong Kong,

Ấn Độ, Nhật Bản, …24 Tìm hiểu về mô hình này thông qua các khía cạnh sau đây: Chủ thể giám sát Hiến pháp: Trong mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung, thẩm quyền giám sát tính hợp hiến được trao cho tất cả các Tòa, mà không tồn tại một cơ quan chuyên trách nào để thực hiện hoạt động này Hình thức này tồn tại ở hai dạng sau:

 Thẩm quyền giám sát Hiến pháp được trao cho tất cả các Tòa án trong hệ thống cơ quan tư pháp dạng này tồn tại ở các nước Bắc Âu, Mỹ, Nhật Bản, ở các quốc gia này Hiến pháp được tôn trọng và ưu tiên áp dụng so với các văn bản quy phạm pháp luật khác là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành tư pháp, vì thế, tất

cả các tòa sẽ có thẩm quyền giám sát chứ không riêng một tòa án cấp nào Ở Mỹ, tất

cả các tòa bao gồm Tòa án các bang, Tòa án Liên bang, Tòa án Tối cao Liên bang đều có thẩm quyền này Các vấn đề liên quan đến Hiến pháp luôn được giải quyết trước tòa khi chúng phát sinh trong một vụ việc cụ thể và việc xem xét tính hợp

24 Đào Trí Úc, Vũ Công Giao, Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nghiên cứu

Lập pháp, số1+2, 2012, tr 11

Trang 30

hiến là cần thiết để giải quyết vấn đề, tuy nhiên, phán quyết của Tòa án cấp cao nhất thường có giá trị bắt buộc tuân theo hơn vì thế trong trường hợp tòa án xác nhận văn bản luật không hợp hiến thì vụ việc ấy sẽ được chuyển lên Tòa án tối cao từ đó Tòa án tối cao sẽ xem xét và đưa ra phán quyết về tính hợp hiến

 Thẩm quyền giám sát Hiến pháp được trao cho Tòa án cấp cao nhất thực hiện, dạng này chủ yếu tồn tại ở Gana, Namia…Bên cạnh đó Tòa án cấp cao nhất của các chủ thể liên bang cũng có quyền giám sát Hiến pháp như ở Canada, song Tòa án Tối cao liên bang vẫn là cấp tòa có thẩm quyền chung thẩm khi xem xét một vấn đề liên quan đến Hiến pháp

Số lượng của thẩm phán không lớn dao động từ 7 – 20 thẩm phán, họ phải là những thẩm phán chuyên nghiệp có thâm niên làm việc trong Tòa án hoặc các ngành luật tư sẽ có nhiệm kì theo độ tuổi nhất định trừ thẩm phán Tòa án tối cao Mỹ,

họ sẽ có nhiệm kỳ suốt đời và chỉ khi “có sự bất thường về trí tuệ hoặc thể chất” họ

mới bị bãi miễn, thế nhưng trình tự để phế truất cũng vô cùng phức tạp

Thẩm quyền: Hệ thống cơ quan tư pháp làm nhiệm vụ giám sát Hiến pháp cũng

sẽ có những chức năng như cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách ở các quốc gia khác Thế nhưng, thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong mô hình này luôn gắn với một vụ việc cụ thể, có thể nói cơ quan tư pháp ở các nước này là cơ quan kiêm nhiệm vừa thực hiện chức năng của một cơ quan tư pháp thông thường vừa thực hiện chức năng của một cơ quan bảo hiến Thẩm quyền bảo hiến được cụ thể hóa như sau:

Thứ nhất, khi nói đến thẩm quyền của cơ quan giám sát Hiến pháp người ta sẽ nghĩ ngay tới thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật bởi suy cho cùng đây chính là cốt lõi của hoạt động giám sát Hiến pháp Thẩm quyền bảo hiến được giao cho tất cả các tòa nhưng phán quyết của Tòa án tối cao có giá trị pháp lý hơn bởi hậu quả cuối cùng chỉ được khẳng định sau khi vị thẩm phán

Trang 31

cao nhất trong hệ thống tư pháp ra phán quyết25 Ở Mỹ, trong lĩnh vực bảo hiến thẩm quyền của Tòa án tối cao liên bang là độc tôn cả Nghị viện và Tổng thống không thể can thiệp vào quyết định của Tòa án tối cao liên bang về việc xem xét giá trị pháp lý hay sự giải thích của một đạo luật, vì thế, Tòa án tối cao liên bang có thẩm quyền rất lớn trong việc phán xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật Cho nên, trong giai đoạn 1861 – 1937 đã làm vô hiệu hóa 72 dự luật của Nghị viện và hàng trăm dự luật khác của tiểu bang

Thứ hai, một thẩm quyền không kém phần quan trọng của cơ quan giám sát Hiến pháp là giải thích Hiến pháp và các đạo luật Thông thường với các quốc gia

áp dụng mô hình này, án lệ là một nguồn luật có vị trí rất quan trọng bên cạnh pháp luật thành văn, chính vì vai trò quan trọng của án lệ buộc các thẩm phán trong quá trình xét xử phải tiến hành giải thích pháp luật để đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật và bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp Trong nhiều trường hợp các quy định của Hiến pháp và luật chỉ dừng lại ở mức chung chung, là những nguyên tắc áp dụng chứ không phải là một quy định cụ thể có thể áp dụng trực tiếp để giải quyết vấn đề Quá trình này thực hiện khi Tòa án tiến hành xem xét một vụ việc cụ thể và các quy định và các quy định đó có liên quan tới việc giải quyết vụ việc đó, những nội dung được Tòa án giải thích, đặc biệt là Tòa án tối cao có giá trị bắt buộc với các bên liên quan, trở thành khuôn mẫu chung cho các vụ việc tương tự xảy ra sau này Chánh

án Marshall đã đưa ra tuyên bố cho nhiệm vụ giải thích pháp luật của Tòa án:

“Thẩm quyền và nhiệm vụ minh bạch của ngành tư pháp là giải thích pháp luật

Tòa án áp dụng luật vào những trường hợp riêng biệt nên phải giải thích pháp luật Nếu hai luật chống nhau Tòa án định cách thi hành một luật Nếu thông luật ngược với hiến luật, nếu cả thông luật và hiến luật cùng được áp dụng cho một trường hợp

cụ thể, Tòa án phải phán quyết là theo thông luật hay hiến luật, đó là nhiệm vụ của ngành tư pháp Giả sử Hiến pháp được kính trọng hơn thông luật thì Hiến pháp

25

Vũ Văn Nhiêm, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, 2013, tr 60

Trang 32

được áp dụng” 26

Một ví dụ minh chứng cho điều này là: Đầu thế kỷ XIX bang New York đã đưa ra một đạo luật yêu cầu mọi người lái tàu thủy đi lại giữa bang New York và bang New Jersay phải có giấy phép của bang New York, Ogden có giấy phép nhưng Gibbons đã thì không có, vì vậy để cạnh tranh với Gibbons, Ogden

đã kiện Gibbons ra Tòa án bang New York mặc dù Gibbons có giấy phép liên bang

để đi lại trong vùng ven biển năm 1793, nhưng Tòa án bang New York vẫn xử Gibbons thua kiện vì không có giấy phép của bang này, không đồng ý với quyết định của Tòa, Gibbons đã kiện lên Tòa án tối cao và các thẩm phán của bang New York không hợp hiến và đã vi phạm đến quyền của Nghị viện trong vấn đề thương mại, Tòa án đã ra phán quyết rằng: Quy định thương mại tức là toàn quyền với vấn

đề này, nó sẽ loại trừ hoạt động của tất cả những ai thực hiện hoạt động cùng về vấn

đề đó27

Thế nhưng, có ý kiến cho rằng việc xác định một điều khoản trái Hiến pháp

đôi khi mang tính chất chủ quan như Gs Lê Đình Chân nhận định: “Những cái gì

mà thẩm phán Mỹ tưởng nhìn thấy được ở chính văn hay tinh thần hiến pháp thực

ra chỉ là những cái nằm trong đầu óc, trong thành kiến hay thâm tâm họ”28 Nhưng

dù là chủ quan hay khách quan cũng không thể phủ nhận vai trò hết sức quan trọng của Tòa án trong việc giải thích pháp luật

Ngoài ra tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội mà cơ quan giám sát Hiến pháp của các quốc gia còn có thêm những thẩm quyền khác nữa Ví dụ như ở

Mỹ năm 1974, trong vụ án Watergate vai trò của Tòa án tối cao đã nổi bật lên trong việc buộc tổng thống Nixon phải giao đủ tài liệu liên quan đến vụ án này mặc dù Tổng thống đã dùng tới chiêu bài cuối cùng là đặc quyền của Tổng thống trong việc giữ bí mật các tài liệu liên quan đến mình được quy định trong Hiến pháp Chính quyền này của Tòa án tối cao đã mở đường cho Nghị viện với thủ tục đàn hạch cách chức Tổng thống trước thời hạn

Trang 33

Phương pháp giám sát: Giám sát cụ thể là phương pháp được áp dụng trong mô hình này, chỉ đặt trong một trường hợp cụ thể liên quan đến lợi ích của một cá nhân hay một cơ quan, tổ chức cụ thể thì mới phát sinh việc giám sát tính hợp hiến của hành vi hay văn bản quy phạm pháp luật Bên khởi kiện phải có nghĩa vụ chứng minh đạo luật, hành vi đó không những vi hiến mà còn xâm hại đến lợi ích của mình Tuy nhiên, vấn đề xem xét tính hợp hiến chỉ đặt ra khi kết quả của việc xem xét ấy cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà các bên đang yêu cầu Nếu Tòa nhận thấy rằng việc xem xét tính hợp hiến là không cần thiết đến mức thay đổi quyền và nghĩa vụ của các bên hoặc đang tồn tại một phương án giải quyết khác thì vấn đề giám sát Hiến pháp sẽ không được thực hiện Với phương pháp giám sát này ngành

tư pháp sẽ có ít điều kiện để can thiệp sâu vào hoạt động của ngành lập pháp

Trình tự thủ tục: Như đã phân tích ở trên giám sát Hiến pháp trong mô hình này

là giám sát sau gắn liền với một vụ việc cụ thể và ở mô hình này không tồn tại một thủ tục riêng biệt để xem xét tính hợp hiến của những đối tượng giám sát Các Tòa

án thường ở Mỹ khi giải quyết một vấn đề cụ thể mà phát hiện đạo luật có khả năng

vi hiến thì có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của các bên đệ đơn lên Tòa án tối cao xem xét Như vậy, việc giám sát tính hợp hiến được thực hiện ngay trong cả thủ tục thường tại tòa án Khi nhận được đơn của các tòa cấp dưới, Tòa án tối cao sẽ tiến hành xem xét tính hợp hiến của đạo luật và ra phán quyết, phán quyết của Tòa án trong mô hình này mang những nét rất đặc trưng là việc xét xử của thẩm phán chỉ đóng vai trò trung gian, chính luật sư mới là người dẫn dắt vụ án đi đến thời điểm ra phán quyết Phán quyết của Tòa án tối cao có giá trị pháp lý cao nhất và có tính bắt buộc khi xem xét những vụ việc tương tự

Hậu quả pháp lý: Trong mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung Tòa án chỉ có quyền tuyên bố một đạo luật là vi hiến hay không chứ không có thẩm quyền hủy bỏ hay tuyên bố đạo luật đó vô hiệu, chính vì để giới hạn quyền lực của nhánh tư pháp nên Hiến pháp đã không trao cho tư pháp quyền hủy bỏ một văn bản quy phạm pháp luật của ngành lập pháp Với hình thức giám sát sau nên các phán quyết chỉ có

Trang 34

giá trị bắt buộc với các bên của vụ việc nhưng các nước áp dụng mô hình này thường đề cao án lệ xem án lệ là một nguồn luật quan trọng nên những phán quyết của Tòa án tối cao sẽ mang tính chất bắt buộc đối với các Tòa cấp dưới khi giải quết

vụ việc có tính chất tương tự Vì thế, mặc dù không được hủy bỏ, không được tuyên

vô hiệu và về mặt hình thức đạo luật đang có hiệu lực nhưng sẽ bị các tòa từ chối áp dụng trong quá trình xét xử, cơ quan hành pháp cũng không thể đưa đạo luật đó áp dụng vào cuộc sống vì sẽ không được Tòa án công nhận, cho nên cơ quan có thẩm quyền sẽ phải hủy bỏ, thay thế, sửa đổi một phần hay toàn bộ văn bản đó

Đặc điểm của mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung:

 Giám sát Hiến pháp thuộc thẩm quyền của tất cả các tòa trong hệ thống cơ quan tư pháp: Ở Mỹ và các nước áp dụng mô hình này không tồn tại một cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách nào để thực hiện hoạt động giám sát tính hợp hiến của các đối tượng mà thẩm quyền này giao về cho tất cả các tòa, ở Mỹ thì từ Tòa án bang, Tòa án liên bang, Tòa án tối cao và không có một giới hạn đặc biệt nào về thẩm quyền giám sát của các tòa này Hệ thống tòa án Mỹ được chia làm ba cấp: Cấp sơ thẩm có thẩm quyền xem xét hầu hết các vụ việc dân sự, hình sự bao gồm Tòa sơ thẩm của bang và Tòa sơ thẩm liên bang, khi giải quyết vụ việc thuộc các lĩnh vực trên thì vấn đề hiến định có thể được đưa ra xem xét Cấp phúc thẩm có thẩm quyền xem xét lại các phán quyết của Tòa sơ thẩm khi có được đệ trình lên và các quyết định của cơ quan hành chính, hơn nữa, còn xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và hành vi của chủ thể hiến định Tòa tối cao có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và một thẩm quyền rất quan trọng là xem xét tính hợp hiến của các đạo luật của liên bang lẫn tiểu bang

 Quyền giám sát Hiến pháp gắn liền với một vụ việc cụ thể, dù được thực hiện bởi tất cả các tòa trong hệ thống cơ quan tư pháp nhưng phải đặt trong bối cảnh của một vụ việc, một lợi ích cụ thể, bên khởi kiện phải chứng minh được thiệt hại

đã ra và ảnh hưởng đến lợi ích tư Đặc điểm này được Tòa án tối cao giải thích là để giới hạn phạm vi giám sát của các tòa, nếu như không có quy định này thì ắt hẳn

Trang 35

các tòa sẽ thực hiện chức năng giám sát trừu tượng dẫn đến hoạt động không hiệu quả

 Tòa án chỉ tuyên một đạo luật vi hiến khi sự bất hợp hiến của đạo luật đó được chứng minh rõ ràng và không thể phủ nhận Trong vụ án Fletcher kiện Peak (1910) Chánh án Tòa án tối cao Hoa kỳ đã khẳng định sự trái ngược giữa Hiến pháp

và một đạo luật chỉ được xem xét khi các thẩm phán thấy rõ sự trái ngược đó một cách rõ ràng và Tòa án chỉ tuyên bố đạo luật vi hiến khi sự tuyên bố đó là hoàn toàn cần thiết để giải quyết vụ án29 Điều đó có nghĩa là vấn đề xem xét tính hợp hiến sẽ không được thực hiện khi có một giải pháp khác làm thỏa mãn yêu cầu của các bên Luận điểm này được Tòa án tối cao phát triển và giải thích một cách rõ ràng hơn Tòa án giải thích các đạo luật nếu có thể theo hướng hạn chế xem xét tính hợp hiến của các đạo luật

 Đạo luật bị tuyên là vi hiến thì đạo luật đó không còn giá trị áp dụng Về nguyên tắc đạo luật bị tuyên là vi hiến thì về hình thức đạo luật vẫn còn giá trị pháp

lý, nhưng theo nguyên tắc án lệ thì đạo luật đó sẽ bị từ chối áp dụng trên thực tế, vì thế đạo luật sẽ mất giá trị pháp lý kể từ khi bị tuyên là vi hiến

 Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến của tòa án chỉ có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các bên trong vụ việc cụ thể (trừ những vụ việc được áp dụng nguyên tắc án lệ) Bởi mô hình này áp dụng phương pháp giám sát sau, phải liên quan đến quyền của một cá nhân, tổ chức cụ thể trong khi đó tòa án lại chỉ có quyền tuyên đạo luật đó vi hiến hay không chứ không có quyền hủy bỏ hay tuyên vô hiệu

 Phán quyết của tòa án không có giá trị chung thẩm, quyền xem xét tính hợp hiến được trao cho tất cả các tòa nên phán quyết của các tòa cấp dưới có thể bị xem xét lại bởi tòa án cấp cao hơn

1.6.2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung

Mô hình này còn được gọi là mô hình của Áo, bởi như đã đề cập ở trên nó được xác lập trên lý thuyết của Adolf Merkl và Hankelsen, trong đó kết hợp nguyên tắc

29Thái Vĩnh Thắng, Nhu cầu bảo hiến và cơ quan bảo hiến phù hợp với Việt nam, Tạp chí Nhà nước và pháp

luật, số 5, 2009, tr 8

Trang 36

giữa tính tối cao của Nghị viện với sự tối cao của Hiến pháp Cũng như nghiên cứu

về mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung, khi nghiên cứu về mô hình này ta cũng sẽ xem xét các khía cạnh sau:

Chủ thể giám sát: Các quốc gia áp dụng mô hình giám sát Hiến pháp tập trung

đã xây dựng được cơ quan bảo hiến chuyên trách, đó có thể là một Tòa án Hiến pháp như Đức, Bồ Đào Nha, Cộng Hòa Séc, Slovakia, American…Đó cũng có thể

là một Hội đồng Bảo hiến như Pháp, Mozambia, Maroco, Kzakhstan…Có thể nói quốc gia áp dụng thành công nhất mô hình bảo hiến bằng Tòa án Hiến pháp là Đức, Tòa án Hiến pháp Đức là cơ quan đặc biệt nằm ngoài hệ thống tòa án thường, Tòa

án Hiến pháp Đức gồm 16 thành viên được chia thành hai phòng nhỏ, mỗi phòng gồm 8 thành viên, hai phòng hoạt động như hai tòa án riêng biệt để giải quyết những vụ việc mà tùy theo từng lĩnh vực mỗi phòng có thẩm quyền Các thẩm phán của Tòa án Hiến pháp sẽ được bầu từ hai viện và phải được hai phần ba tổng số nghị sĩ của hai viện thông qua, trong đó Hội đồng liên bang sẽ đại diện cho các tiểu bang để bỏ phiếu cho các ứng cử viên tại cuộc họp toàn thể Nghị viện liên bang Đức sẽ thành lập một Ủy ban thẩm phán bầu cử để bỏ phiếu cho các ứng cử viên này Thông thường khoảng 1/2 số thẩm phán của Tòa án Hiến pháp là các cựu thẩm phán trong các tòa án thường, số còn lại là những giáo sư về luật Hiến pháp Các thẩm phán làm việc theo nhiệm kỳ 12 năm và không được gia hạn hay bổ nhiệm lại, không được kiêm nhiệm, không được nắm giữ bất cứ nhiệm vụ chính trị nào Còn

mô hình giám sát Hiến pháp bằng Hội đồng Bảo hiến thì Pháp là quốc gia được nhắc đến đầu tiên khi nghiên cứu về thiết chế này Ở Pháp, Hội đồng Bảo hiến được thành lập vào năm 1958, số lượng thành viên của Hội đồng Bảo hiến là 9 với nhiệm

kì 9 năm không được bổ nhiệm lại, thông thường 1/3 số lượng thành viên của tòa này do Tổng thống bổ nhiệm, 1/3 do Chủ tịch thượng viện bổ nhiệm, 1/3 số lượng thành viên còn lại do Chủ tịch hạ viện bổ nhiệm Cũng giống như Tòa án Hiến pháp các thành viên không thể kiêm nhiệm, không thể đồng thời là thành viên của Chính phủ, Nghị viện hay bất cứ một chức vụ gì liên quan đến công quyền hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh, thẩm phán của Hội đồng Bảo hiến thường được chọn từ

Trang 37

các thẩm phán của tòa án, các công tố viên, các luật sư, các giáo sư đại học danh tiếng

Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp: Có thể nói thẩm quyền quan trọng và tất yếu của một thiết chế bảo hiến là xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, mục đích của giám sát Hiến pháp là đảm bảo cho quyền lực không vượt lên trên Hiến pháp, đảm bảo sự thống nhất của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của công dân, vì thế tất cả văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn Hiến pháp và điều ước quốc tế đều là đối tượng giám sát Hiến pháp

Thứ hai, thẩm quyền giải thích Hiến pháp, cũng như tòa án Mỹ, Tòa án Hiến pháp của các quốc gia cũng có thẩm quyền này, ở phần lớn các quốc gia Tòa án Hiến pháp thực hiện quyền giải thích Hiến pháp gắn liền với một vụ việc cụ thể và không mang tính bắt buộc chung, còn ở một số quốc gia như Hunggari, Bungari…thì Tòa án thực hiện quyền này theo một quy trình độc lập và không gắn với một vụ việc cụ thể nào và chỉ thực hiện được quyền giám sát khi có sự yêu cầu của những chủ thể nhất định

Thứ ba, thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử và trưng cầu dân

ý, đây là một thẩm quyền rất đặc biệt của Tòa án Hiến pháp Về nguyên tắc, Tòa án Hiến pháp không có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các cuộc bầu cử bởi đây

là hình thức thể hiện quyền lực cao nhất của xã hội chủ quyền của nhân dân, thế nhưng Tòa án vẫn có quyền xem xét, đánh giá tính hợp hiến của thủ tục trưng cầu dân ý Như vậy, Tòa án Hiến pháp có thể xem xét tính hợp hiến của các cuộc trưng cầu dân ý và các cuộc bầu cử và giải quyết tranh chấp liên quan đến cuộc bầu cử đó khi nó được tiến hành trái với quy định của Hiến pháp và các đạo luật, nhưng tất nhiên là không thể xem xét lại kết quả của cuộc trưng cầu dân ý

Thứ ba, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền, Tòa án Hiến pháp được trao cho thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa các cơ quan thuộc các nhánh quyền lực khác nhau, giữa chính quyền trung ương và địa phương Đây là một thẩm quyền nhằm

Trang 38

đảm bảo sự cân bằng quyền lực giữa các nhánh quyền lực, tránh sự lạm quyền của các cơ quan nhà nước cũng như phân định và bảo vệ lợi ích giữa các chính quyền trung ương – địa phương

Ngoài ra cũng tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia mà Tòa án Hiến pháp sẽ

có thêm những thẩm quyền khác nữa

Thẩm quyền của Hội đồng Bảo hiến: Hội đồng Bảo hiến của mỗi quốc gia sẽ có những thẩm quyền khác nhau nhưng xét một cách tổng quan thì Hội đồng Bảo hiến của các nước sẽ có những thẩm quyền chung sau: Thứ nhất, xem xét tính hợp hiến của các đạo luật và giải thích Hiến pháp, việc giải thích Hiến pháp của Hội đồng mang tính chất chính thức và bắt buộc đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân và ngay cả chính với Hội đồng Thứ hai, giám sát Hiến pháp về quyền công dân, quyền con người Thứ ba, thẩm quyền tư vấn: Thẩm quyền tư vấn của Hội đồng bảo hiến mang nặng tính chất chính trị và có vai trò quan trong trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước…

Phương pháp giám sát: Ở mô hình giám sát Hiến pháp tập trung việc giám sát được Tòa án Hiến pháp và Hội đồng bảo hiến theo hình thức giám sát trước hoặc giám sát sau, cơ quan giám sát sẽ có thẩm quyền giám sát những văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế chưa được ký quyết định ban hành hoặc thông qua, ngoài ra cơ quan giám sát ở mô hình này cũng có thể thực hiện giám sát sau khi có yêu cầu của các chủ thể nhất định được quy định trong Hiến pháp, ở Pháp các chủ thể đó bao gồm: Tổng thống, Chủ tịch thượng viện, Chủ tịch hạ viện, hay là 60 nghị sĩ trong tổng số nghi sĩ của hai viện đưa ra yêu cầu xem xét tính hợp hiến

Trình tự thủ tục: Khác với cơ quan giám sát Hiến pháp của các quốc gia áp dụng

mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung không có thủ tục riêng để thực hiện thẩm quyền của mình, thì các quốc gia áp dụng mô hình giám sát Hiến pháp tập trung khi

họ thiết lập nên một thiết chế chuyên trách, độc lập họ cũng đã xây dựng nên trình

Trang 39

tự xem xét riêng biệt cho các thiết chế này Đối với Tòa án Hiến pháp, khi một vụ việc được xem xét tại đây thông thường sẽ trải qua quy trình bao gồm ba giai đoạn: Thứ nhất là thụ lý hồ sơ, việc thụ lý có thể được giao cho các chủ thể hiến định như Tổng thư ký, Chánh án Tòa Hiến pháp…Thứ hai là xem xét sơ bộ, trong giai đoạn này tòa án sẽ xem xét sự phù hợp về mọi mặt như sự phù hợp giữa yêu cầu với thẩm quyền của Tòa, sự phù hợp về mặt thời gian…Thứ ba là giai đoạn ra phán quyết, vụ việc sau khi xem xét sơ bộ xong sẽ được trình lên Hội đồng xét xử của Tòa án Hiến pháp, hội đồng này làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số, thành phần của hội đồng xét xử sẽ tùy thuộc vào tính chất của vụ việc Thông thường, Tòa

án Hiến pháp sẽ thảo luận và ra phán quyết một cách công khai, nhưng một số quốc gia có qui định khác buộc Tòa phải thảo luận và ra phán quyết tại các phiên họp kín, phán quyết sẽ được chuyển tới các bên liên quan và đăng công khai trên công báo hoặc tạp chí của Tòa án Hiến pháp30 Còn Hội đồng bảo hiến lúc mới thành lập thì việc xem xét tính hợp hiến thông qua các phiên họp kín, dần dần nó trở nên công khai hơn biểu hiện là vào năm 1983 quyết định khởi tố vụ việc và quyết định của Hội đồng bảo hiến đã được đăng trên công báo Tính hợp lệ của phiên họp chỉ được đảm bảo khi có 2/3 thành viên tham dự, phán quyết phải được ra trong một thời hạn nhất định

Hậu quả pháp lý: Đối với Tòa án Hiến pháp, hầu hết các quốc gia đều quy định cho Tòa án Hiến pháp có thẩm quyền tuyên bố văn bản quy phạm pháp luật là vi hiến, rộng hơn thì một số quốc gia khác trao cho Tòa án Hiến pháp thẩm quyền hủy

bỏ, đình chỉ thi hành đối với những văn bản vi hiến khi văn bản đó đã có hiệu lực, văn bản chưa có hiệu lực pháp luật thì sẽ không được thông qua hoặc ban hành Một

số quốc gia lại không trao cho Tòa án thẩm quyền hủy bỏ, đình chỉ mà Tòa án chỉ

có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện Trong trường hợp tòa án tuyên một hoặc nhiều qui định vi hiến (mà không phải là toàn bộ văn bản) thì các qui định còn lại vẫn có hiệu lực pháp luật Với các hành vi vi phạm tòa án sẽ xem xét và ra phán quyết về sự có vi hiến hay không trong hành vi của các chủ thể, khi kết luận

30 Đặng Văn Chiến, Cơ chế bảo hiến, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2005

Trang 40

có sự vi hiến thì chủ thể đó bị kỷ luật, nếu vi phạm pháp luật hình sự thì bị truy tố theo mức độ nghiêm trọng của hành vi, trong nhiều trường hợp những chủ thể này còn phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra Trong thẩm quyền giải thích Hiến pháp thì hệ quả pháp lý trong trường hợp này là sự bắt buộc phải tuân theo khi giải quyết những vụ việc mang tính chất tương tự Với thẩm quyền giám sát tính hợp hiến của các cuộc bầu cử, cuộc trưng cầu dân ý và giải quyết tranh chấp

về thẩm quyền thì Tòa án Hiến pháp sẽ giải quyết các tranh chấp về bầu cử, giám sát quá trình bầu cử đảm bảo cho cuộc bầu cử được tiến hành một cách hợp pháp Đối với tranh chấp về thẩm quyền thì tòa án phải xác định rõ ràng thẩm quyền thuộc

về cơ quan nào

Xuất phát từ vai trò và tính chất chính trị - pháp lý của Tòa án Hiến pháp mà những phán quyết của Tòa sẽ có giá trị bắt buộc, mang tính chất thi hành ngay sau khi được công bố và phán quyết này mang giá trị chung thẩm

Hội đồng bảo hiến: Kết thúc quá trình giám sát Hiến pháp Hội đồng bảo hiến sẽ ban hành một phán quyết dưới hình thức là quyết định Quyết định của Hội đồng bảo hiến cũng giống như phán quyết của Tòa án Hiến pháp là có hiệu lực bắt buộc không thể bị xem xét lại bởi bất cứ một cơ quan nào Quyết định của Hội đồng bảo hiến phải có chữ kí của Chủ tịch Hội đồng bảo hiến, Tổng thư ký và các bên liên quan Quyết định của Hội đồng bảo hiến phải được đăng trên công báo và gửi cho

cá bên liên quan, ngoài ra trong một số trường hợp còn phải gửi cho Tổng thống, Nghị viện…

Đặc điểm của mô hình giám sát Hiến pháp tập trung:

 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung được thực hiện thông qua hoạt động chủ yếu của hai thiết chế là Tòa án Hiến pháp và Hội đồng bảo hiến Cơ quan giám sát trong mô hình này có vị trí tương đối độc lập với các cơ quan thuộc nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, bao gồm những thẩm phán có chuyên môn cao được bầu, bổ nhiệm theo thủ tục đặc biệt Đây là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phán

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
14. Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Tư pháp
15. Nguyễn Như Phát (chủ biên), Tài phán Hiến pháp - Một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt nam, Nxb. Khoa học xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán Hiến pháp - Một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
16. Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh, Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực ở nhà nước ta hiện nay, Nxb. CAND, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực ở nhà nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb. CAND
17. Đặng Văn Chiến, Cơ chế bảo hiến, Nxb.Tư pháp, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo hiến
Nhà XB: Nxb.Tư pháp
18. Lê Đình Chân, Luật Hiến pháp, khuôn mẫu dân chủ, cuốn I, Sài Gòn, 1974 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hiến pháp, khuôn mẫu dân chủ
19. Lê Đình Chân, Luật hiến pháp và các chế định chính trị, cuốn 2, Sài Gòn, 1967 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hiến pháp và các chế định chính trị
20. Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb. Thống Kê 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001
Nhà XB: Nxb. Thống Kê 2001
21. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb,Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
22. Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí, Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp kinh nghiệm thế giới và Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
23. Vũ Văn Nhiêm, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, 2013.III. Tạp chí khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam
24. Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam và triển vọng một “dạng thức yếu”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 13, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến chuyên trách ở Việt Nam và triển vọng một “dạng thức yếu”
25. Bùi Ngọc Sơn, Cơ sở của Tòa Hiến pháp, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của Tòa Hiến pháp
26. Bùi Ngọc Sơn, Tài phán Hiến pháp và vị trí Quốc hội, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 16, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán Hiến pháp và vị trí Quốc hội
27. Đinh Ngọc Vượng, Cơ quan bảo hiến một số nước trên thế giới, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 14, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan bảo hiến một số nước trên thế giới
28. Lê Minh Tâm, Bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt Nam, Tạp chí Luật học số 4, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến và cơ chế bảo hiến Việt Nam
29. Lê Văn Cảm, Kiểm tra Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền và mô hình lí luận về tổ chức thực thi chế định này ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra Hiến pháp trong nhà nước pháp quyền và mô hình lí luận về tổ chức thực thi chế định này ở Việt Nam
30. Nguyễn Đức Lam, Cơ chế bảo hiến – Góc nhìn tham khảo, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo hiến – Góc nhìn tham khảo
31. Nguyễn Thị Việt Hương, Trương Thị Hồng Hà, Góp ý các quy định về Quốc hội trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý các quy định về Quốc hội trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
32. Phạm Hữu Nghị, Các điều kiện của việc xây dựng cơ chế giám sát và phán quyết các hành vi vi phạm Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 5, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều kiện của việc xây dựng cơ chế giám sát và phán quyết các hành vi vi phạm Hiến pháp ở Việt Nam

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w